Đề làm tốt công tác chăm sóc sức khoé cho nhân dân các dânhuyện là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó việc củng cố mạng lưới y tế cơ sở là việc làm thường xuyên, liên tục của ngành đế
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
LƯỜNG DUY BÂN
THỤC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ NHU CẦU
ĐƯỢC ĐÁP ỨNG CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ THÔN, BẢN HUYỆN BẮC YÊN, TỈNH SƠN LA NĂM 2013-2014
LUẬN ÁN BÁC Sĩ CHUYÊN KHOA CẤP II
THAI BINH - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
Trang 3THƯC TRANG HOAT ĐÔNG VÀ NHU CẦU
• • • • ĐƯỢC ĐÁP ỨNG CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ THÔN, BẢN HUYỆN BẮC YÊN, TỈNH SƠN LA NĂM 2013-2014
Chuyên ngành : QUẢN LÝ Y TÉ
Mã số: 62727605
LUÂN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
1 GS.TS LƯƠNG XUÂN HIÉN
2 PGS.TS VŨ PHONG TÚC
Trang 4Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đạihọc,
Khoa Y tế Công cộng Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã giúp đờ tôitrong
suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận án
Đặc biệt tôi xin được bày tở lòng biết ơn sâu sắc tới Nhà giáonhân
dân, GS.TS Lương Xuân Hiến - Hiệu Trưởng Trường Đại học Y DượcThái Bình, PGS.TS Vũ Phong Túc đã tận tình hướng dần, giúp đỡ tôitrong
suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Sở Y tế, cán bộ, viênchức
Văn phòng Sở Y tế tỉnh Sơn La, UBND huyện Bắc Yên, Lành đạo và cán
bộ, viên chức Trung tâm Y tế, Phòng Y tế, UBND các xã thuộc huyệnBắc
Yên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và triển khainghiên
cứu đề tài
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các anh, chị trong lớp
Trang 7CSSKND Chăm sóc sức khoẻ nhân dân
CSSK Chăm sóc sức khoẻ
CSBVSKND Chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân
CSSKBĐ Chăm sóc sức khoe ban đầu
DS-KHHGĐ Dân số - Kế hoạch hoá gia đình
KHHGĐ Ke hoạch hóa gia đình
KCB Khám chữa bệnh
NVYTTB Nhân viên y tế thôn bản
NVYT Nhân viên y tế
PKĐKKV Phòng khám đa khoa khu vực
QĐ Quyết định
TTGDSK Truyền thông giáo dục sức khóe
TTYT Trung tâm Y tế
WHO World Health Organization- Tổ chức Y tế Thế giới
SDD Suy dinh dưỡng
XHCN Xã hội chủ nghĩa
YTTB Y tế thôn bản
Trang 93.6 3.7 TÀI LIỆU THAM KHẢO
3.8 PHỤ LỤC
Trang 113.11 Một số lý do ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của nhân viênYTTB 54
Trang 123.14 Đề làm tốt công tác chăm sóc sức khoé cho nhân dân các dân
huyện là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó việc củng cố mạng lưới y tế cơ
sở là việc làm thường xuyên, liên tục của ngành đế tuyến y tế cơ sở thực hiệnngày càng tốt hơn các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu có chất lượng, đảmbảo mục tiêu công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân Trong đó đặc biệtchú trọng đến việc xây dựng và kiện toàn đội ngũ nhân viên y tế thôn bản
3.15 Trong Chi thị số 06-CT/TW ngày 22 tháng 01 năm 2002 của
hành Trung ương Đảng “về củng cố và hoàn thiện mạng lưới cơ sở” đã xácđịnh: "Mạng lưới y tế cơ sở gồm y tế thôn, bán, xã, phường là tuyến y tếtrực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ
cơ bản với chi phí thấp, góp phần thực hiện công bằng xã hội, xoá đói giảmnghèo, xây dựng nếp sống văn hoá, trật tự an toàn xã hội, tạo niềm tin củanhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa Phấn đấu đến năm 2015, 100% thôn,
Trang 13
12-bản có nhân viên y tế với trình độ sơ học trở lên Có chính sách đãi ngộ thíchhợp để khuyến khích cán bộ y té làm việc tại trạm y tế xã, phường, đặc biệt là
ở miền núi, vùng sâu, vùng xa
Trang 14
13-3.16 Tại Sơn La, mạng lưới Y tế thôn bản đã được đào tạo và hình
năm 1994, đến nay toàn tỉnh đã có trên 95% số thôn bản có nhân viên y tếthônbản hoạt động Y tê thôn bản đã góp phân rât lớn vào việc chăm sóc sứckhoẻ ban đầu cho cộng đồng, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa
3.17 Huyện Bẳc Yên là một huyện nghèo của tinh Sơn La với 16 xã,
152 bản, tiểu khu, có 135 nhân viên YTTB Huyện có 7 dân tộc anh em cùngsinh sống trong đó dân tộc Mông chiếm 42,7% còn lại là dân tộc Thái, Kinh,Mường, Dao, Khơ mú, Tày Dân số của huyện Bắc Yên hiện có hơn 62.077người, giao thông đi lại khó khăn nhất vào mùa mưa lũ Tỷ lệ hộ nghèo chiếmtrên 37%
3.18 Tuy nhiên, mặc dù đã được kiện toàn về mặt số lượng nhưng
đó có thể đề xuất các giải pháp khắc phục, nhàm nâng cao chất lượng hoạtđộng của nhân viên y tế thôn bản, bảo đảm cho mọi người dân sống ở cácvùng khác nhau của huyện Bắc Yên được hưởng các dịch vụ chăm sóc y tế tạituyến cơ sở với chất lượng ngày càng cao, đảm bảo phúc lợi phố cập, chúng
Trang 15
14-tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng hoạt động và nhu cầucần được đáp ứng của đội ngũ nhân viên y tế thôn bản huyện Bắc Yên củatỉnh Sơn La năm 2013-2014 ” và đề xuất một số giải pháp.
3.20 MỤC TIÊU NGHIÊN cứu
3.21 Đảnh giá thực trạng hoạt động và nhu cầu cần được đáp ứng của đội
ngũ nhân viên y tế thôn bán huyện Bắc Yên của tỉnh Sơn La năm 2013-20ỉ4.
Trang 16
15-3.22 Chương 1 TÓNG QUAN
1.1 Môt số khái niêm và nôi dung hoat đông của y tế thôn bản
Y tế cơ sở đóng vai trò hết sức quan trọng trong chăm sóc sức khỏenhân dân, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe ban đầu, xây dựng củng cố và hoànthiện y tế cơ sở là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước trong đó ngành Y tế đóngvai trò nòng cốt thể hiện trong Thông tư số 07/TT-BYT, ngày 28 tháng 5 năm
1997 của Bộ Y tế nhấn mạnh phải kiện toàn mạng lưới Y tế cơ sớ: “ Trạm Y
tế xã, phường (gọi tắt là Y tế cơ sở) “ Trạm y tế xã, phường (gọi tắt là y tế cơ sở) ¡à nơi cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏa han đầu Dưới trạm y tế có y
tế thôn, bản, các nhân viên YTTB và người tình nguyên hoạt động dưới sự chỉ đạo và quản lý trực tiếp của y tế cơ sở, được chính quyền và nhân dân thôn, bàn hỗ trợ về mặt tài chỉnh ”
Y tế thôn bản nằm trong hệ thống y tế cơ sở, đóng vai trò quan trọngtrong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu Nhân viên y tế thôn bàn là nhữngngười gần dân nhất Họ sống ngay tại thôn bản, hiểu rõ được tình hình đờisống và bệnh tật ở mồi gia đình Nhân viên y tế thôn bân được coi là cánh tayvươn dài của y tế cơ sở, có nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sức khỏe, pháthiện sớm dịch bệnh, xử trí sơ cứu ban đầu, chăm sóc người mắc bệnh nhẹ vàmạn tính, quản lý thai nghén Vai trò của YTTB rất quan trọng trongCSSKBĐ cho nhân dân, hướng dẫn nhân dân biết và sử dụng thuốc hợp lý, antoàn; đưa dịch vụ y tế, dịch vụ dân số tới người dân, giám sát dịch tế tại thônbản
Trang 17
16-3.23 Nhận thức được vai trò quan trọng của YTTB trong công tácCSSK.BĐ
tại cộng đồng, Đảng, Chính phủ, Bộ Y tế đã ra nhiều Nghị quyết, Chỉ thị,
Trang 18
17-3.25 Quyêt định vê tăng cường và củng cô mạng lưới Y tê cơ sở trong đócó
3.26 YTTB
3.27 Một trong những văn bản có ý nghĩa quan trọng đôi với YTTBlà
Thông tư số 07/2013/TT-BYT, Ngày 08 tháng 3 năm 2013 của Bộ Y tế
đã quy định tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản
3.28 Nhân viên y tế thôn, bản làm công tác chăm sóc sức khỏe banđầu;
chăm sóc sức khóe bà mẹ và trẻ em, kế hoạch hóa gia đình; tuyên truyền giáo dục sức khỏe tại cộng đồng; hướng dẫn vệ sinh phòng bệnh; sơ cứu banđầu và chăm sóc bệnh thông thường; Thực các chương trinh Y tế
-3.29 Nhân viên YTTB chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của trạm
sự quản lý của trưởng bản Nhân viên y tế thôn bản có mỗi quan hệ phối hợpvới các tố chức quần chúng, đoàn thể tại bản đế triển khai công tác chăm sócsức khỏe cho nhân tại thôn bản
1.2 Một số mô hình hoạt động của YTTB
1.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới
3.30 Mô hình xây dựng đội ngũ nhân viên y tế cộng đồng được chú
nhiều nước trên Thế giới Nhưng chủ yếu là những người tình nguyện khôngđược đào tạo đầy đủ kiến thức về y tế nên khả năng hạn chế Hiện nay một sốnước trên thế giới đã có các mô hình như:
3.31 Thái Lan: Xây dựng hai loại nhân viên y tế cộng đồng đó là thông tin
viên y tế và nhân viên y tế tình nguyện thôn, bản Thông tin viên được đào tạo
bồi dưỡng kiến thức đổ họ tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cho một nhóm 10
-15 hộ gia đình Cứ 10 thông tin viên y tế có một nhân viên y tế tình nguyện,
Trang 19
18-cải thiện sức khoẻ, phòng bệnh và giải quyết một sổ bệnh đơn giản Ở Thái Lan có 42.325 nhân viên y tế tình nguyện và 434.803 thông tin viên y tế, 95%
số làng bản có đội ngũ này [44], [106],
Trang 20
19-3.32 Trung Quốc: Trong hai thập liên 60 và 70 của thế kỷ XX đã
một triệu rưỡi "Bác sỳ chân đất" từ nông dân và xây dựng 600.000 trạm y tế
xã "Bác sỹ chân đất" đảm nhiệm việc chừa bệnh và phòng bệnh tại thôn, bàn.Tại xã có trạm y tế xã hồ trợ cho YTTB, phòng y tế huyện là cơ sở quản lýnhà nước thấp nhất có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát các hoạt động y
tế huyện Hệ thống y tế nông thôn được nhà nước và cộng đồng đóng góp tàichính Nhà nước chi trả lương cho cán bộ y tế, cho các hoạt động của các y tế
cơ sở trong huyện và các chương trình y tế Dự phòng Cộng đồng trả tiềnnhân viên y tế ngoài Nhà nước (bác sỳ chân đất) [44],
3.33 Phần Lan: Công tác CSSKBĐ thực hiện ở cộng đồng thì thuộc
trò của các hiệp hội (Y tế và nhiều ngành khác) Hiệp hội tổ chức dân chúngthực hiện CSSKBĐ tó ra rất hiệu quả, đội ngũ tình nguyện tham gia vào việctuyên truyền giáo dục sức khoẻ, chăm sóc sức khoẻ cho người già, cung cấpcác dịch vụ y tế [44], [146],
3.34 MôZămBich: Đã sử dụng những người hoạt động tình nguyện
cộng đồng nông thôn và thành thị Họ đi đến từng nhà, từng gia đình đề tuyêntruyền và thực hiện một số chương trình y tế, trong đó thành công nhất là thựchiện chương trình TCMR [44],
Trang 213.35 Nê Pan: Người ta đã xây dựng đội ngũ nhàn viên y tế làng làm
hình sức khoẻ của nhân dân trong cộng đồng [44], [152],
3.36 Yemen: Các Trung tâm công cộng ở Yemen bao gồm hướng
tế (Health Guides) và các bà đỡ (Traditional Birth Attendants) làm việc tại cácthôn, các cộng đồng 200 - 5.000 dân Các hướng dẫn viên được đào tạo 3 tuầntrong 3 tháng Trình độ các hướng dần viên y tế rất khác nhau, có ngườikhông biết chừ, có người lại tốt nghiệp đại học, 10% là giáo viên phổ thông.Nhiệm vụ chính được tiến hành bởi các hướng dẫn viên là liên quan tới sốtrét, sốt nhiễm khuẩn, mắt, bệnh nhiễm khuấn đường hô hấp, thiếu máu và sửdụng thuốc an toàn [44], [138],
3.37 Các hướng dẫn viên y tế được trả lương và làm việc tại các đơn
các hướng dẫn viên y tế đã bao quát được khoảng 80% dân Tuy vậy, rất khóđánh giá về các khía cạnh chất lượng việc làm của hướng dần viên y tế [44],
Trang 223.38 Zimbabue: Năm 1987 hơn 5.000 nhân viên y tế thôn bản đã
tạo trước khi Bộ y tế chuyển giao cho Bộ công tác phụ nữ Nhân viên YTTBđược cộng đồng lựa chọn Người được chọn phái là người lớn, được tínnhiệm, có thể đọc hoặc viết được ngôn ngũ' địa phương Các nhân viên YTTBđược đào tạo 3 tháng (2 tháng lý thuyết và 1 tháng thực hành) tại cấp huyện
và thôn, dưới sự giám sát của huấn luyện viên lâm sàng và các lãnh đạo cộngđồng Sau đào tạo, các nhân viên y tế làng trở thành các nhân viên y tế khôngchính thức, được giám sát chú yếu bởi các y tá từ các bệnh viện Họ được tiếpnhận khuyến khích số tiền là 35 dolla ZIMBABWE/1 tháng, 01 chiếc xe đạp
và 01 túi thuốc, cộng đồng không chi gì thêm Việc đào tạo lại được thực hiệnsau một năm [44], [127]
Trang 231.2.2 Nghiên cứu tại Việt Nam
1.2.2.1 Thòi kỳ trước đổi mới (1978 - 1986)
- Đây là thời kỳ khó khăn của đất nước: Khủng hoảng kinh tế trầmtrọng, lạm phát tăng cao (587,20 - 1985) Phần lớn dân cư đói ăn do thiếulương thực, ngoài ra nước ta còn bị cắt nguồn viện trợ từ các nước xã hội chủnghĩa đông âu và Liên xô (cũ), cộng với sự cấm vận toàn diện cùa Mỹ cácyếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ hoạt động của xã hội nói chungtrong đó có hoạt động của y tể tuyến cơ sở
- Ngay sau khi có tuyên ngôn Alma - Ata (1978) nước ta đã chấp nhận
và cam kết thực hiện 8 nội dung của chăm sức sức khoẻ ban đầu và thêm hainội dung: Quản lí sức khoẻ và củng cố mạng lưới y tế cơ sờ Do tiếp cận vớinhững khái niệm mới, những phương pháp, kỹ năng mới về y tế công đồng,cùng với những khó khăn về kinh tế của đất nước nên chúng ta còn lúng túngtrong việc thực hiện các nội dung CSSKBĐ Song màng lưới y tế xã vần hoạtđộng do còn được bao cấp (Năm 1985 có 8.970 trạm y tể xã hoạt động)
- Do vẫn được bao cấp về thuốc và được miễn phí khi sử dụng các dịch
vụ CSSK ncn mọi người khi ốm đau đều tiếp cận dề dàng với trạm y tế xã vàcác dịch vụ y tế nhà nước Song do suy thoái kinh tế, ngân sách dành cho y tếgiảm sút, thiếu thuốc thiết yếu, chất lượng dịch vụ y tế giảm sút không đápứng được nhu cầu CSSK ngày càng tăng của nhân dân
1.2.2.2 Thòi kỳ đổi mói (1987 - 1999)
Trang 243.39 Đại hội Đáng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) quyết định
"đổi
mới" chuyển nền kinh tế cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần Sau khi cóNghị quyết khoán 10 - nông nghiệp khoán sản phẩm đến từng hộ gia đinh.Những năm đầu của thập niên 90, y tế xã do không còn được bao cấp nênthiếu điều kiện hoạt động do nhiều trạm y tế xã bị xuống cấp thậm chí cónơitan rã, hoạt động chăm sức sức khoe ở nông thôn sa sút và tạm thời ngừngtrệ,
người dân tự lo lấy về sức khoe bệnh tật của mình Từ khi có Nghị quyết cúaban chấp hành Trung Ương Đảng khoá VIII, Chính phủ đã có QĐ58/TTg vàquyết định 131/TTg qui định một số vấn đề về tổ chức, chế độ chính sách, trảlương cho cán bộ y tế xã
3.40 Từ đó đến nay mạng lưới y tế xã từng bước được khôi phục lại,
tế xã được củng cố về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, chất lượng cán bộngày càng được nâng lên, cán bộ có trình độ đại học và trung học chuyênnghiệp chiếm tý lệ cao, mồi trạm y tế xã ít nhất đã có 3 - 4 cán bộ y tế đượcvào biên chế chính thức, hoạt động của trạm y tế xã đã đi vào nề nếp Chứcnăng nhiệm vụ của trạm y tế xã đã được qui định cụ thế Đội ngũ nhân viên y
tế thôn bản cũng được cúng cố và phát trien ở giai đoạn này Tuy nhiên quamột số điều tra mạng lưới nhân viên y tế thôn bàn còn có rất nhiều tồn tại, hạnchế cần khắc phục như tuối đời cao, trình độ chuyên môn không đồng đều,thậm chí chưa qua đào tạo chuyên môn
Trang 251.2.2.3 Giai đoạn từ 2000 đến nay
3.41 Tại lề kỷ niệm ngày Thầy Thuốc Việt Nam 27/2/2000, trong bàiphát
biểu hướng về cơ sở, nâng cao y đức và trình đô chuyên môn đế làm trònnhiên vụ CS&BVSKND, Bộ Trưởng Bộ Y tế Đồ Nguyên Phương nhấn mạnh:
“ Tiếp tục hướng về cơ sở bàng những hành động cụ thề, phát động trong toànngành phong trào vận động các thầy thuốc tình nguyện về công tác có thờihạn 6 tháng tại các nơi có nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa, trong đó có ưutiên cho miền núi phía Bắc” Có tuyến trên về hồ trợ, tuyến huyện sẽ có điềukiện đưa bác sỹ về xã để góp phần củng cố y tế cơ sở xây dựng mạng lưới cán
bộ y tế cộng đồng đế vận động nhân dân làm tốt công tác nâng cao và giữ gìnsức khỏe ngay tại cơ sở [37],
Trang 263.42 Mục tiêu tông quát trong chiên lược chăm sóc và bảo vệ sức
dân giai đoạn 2001-2010 cũng ghi: “Phấn đấu đổ mọi người dân được hưởngcác dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng cácdịch vụ y tế có chất lượng Mọi người đều được sống trong cộng đồng antoàn, phát triển về thế chất và tinh thần Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao thểlực, tăng tuổi thọ và phát triền giống nòi” Một trong mười nhiệm vụ trọngtâm của ngành y tế năm 2001 năm đầu thực hiện chiến lược cũng nêu: “Củng
cố và phát triển hệ thống cơ sở, đảm bảo đủ cán bộ y tế thôn, bản, tăng cườngđưa Bác sỳ về xã, nhất là các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa”[8], [41 ]
3.43 Chỉ thị số 06-CT/TW, ngày 22/01/2002 của Ban Bí thư Trungương
Đảng: “Về củng cố và hoàn thiện mạng lưới cơ sở” đã chỉ rõ: Mạng lưới y tế
cơ sở (gồm y tế thôn, bản, xã, phường, quận, huyện, thị xã) là tuyển y tế trựctiếp gần dân nhất, đảm bảo mọi người dân được CSSK cơ bản với chi phíthấp, góp phần thực hiện công bàng xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nếpsống văn hóa, trật tự an toàn xã hội, tạo niềm tin của nhân dàn với chế độXHCN Các cấp ủy Đảng và Chính quyền cần quán triệt, nhận thức rõ tầmquan trọng đặc biệt của mạng lưới y tế cơ sở, có kế hoạch thiết thực để tăngcường lãnh đạo, chỉ đạo việc củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở tại địaphương Trong thư gửi cán bộ y tế nhân ngày thầy thuốc Việt Nam27/02/2002, Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh đã nhấn mạnh : “ Củng cố vànâng cao chất lượng y tế cơ sở là thiết thực phục vụ đại đa số nhân dân, đảmbảo công bằng và đúng định hướng XHCN”,“ Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
Trang 27nhân dân là một việc đặc biệt liên quan đến tài sản vô giá là sinh mệnh cùacon người” [2], [20], [22], [46],
3.44 Chiến lược quốc gia y tế dự phòng Việt Nam đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020 về việc củng cố, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở đã nêu:
Trang 283.45 Tiêp tục củng cô và hoàn thiện mạng lưới y tê cơ sở cả vê cơ sởvật
chất, trang thiết bị và cán bộ y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tuyến cơ
sở, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cơ bản của toàn dân, đồng thời thựchiện được một số kỹ thuật trong khám, điều trị một số bệnh chuyên khoa vềmắt, răng, tai, mũi, họng Sức khỏe sinh sản và sức khỏe trẻ em, củng cố tổchức, mạng lưới và hoạt động chuyên môn của y tế xã Đến năm 2010 hầu hếtcác xã, phường có trạm y tế kiên cố phù hợp với điều kiện kinh tế, địa lý, môitrường sinh thái và nhu cầu khám chừa bệnh của nhân dân trên địa bàn
3.47 Bảo đảm mồi thôn, bản có từ 1 đến 2 nhân viên y tế có trình độ
học y trở lên hoạt động [25]
3.48 Cùng với sự phát triển của hệ thống y tế cơ sở, YTTB cũng dầnđược
Trang 29củng cố và phát triển Mạng lưới YTTB đã được kiện toàn và phát triển rộngkhắp trên toàn quốc và hoạt động có hiệu quả Theo thống kê của Vụ Tố chứcCán bộ - Bộ Y tế năm 1998 cả nước có 83.737 thôn, ấp, bản, chỉ có 41.135thôn, bản, ấp có nhân viên có nhân viên y tế hoạt động bằng 49,12%; năm
2000 cả nước có 106.585 thôn bản ấp đã có 77.643 thôn bản ấp có nhân viên
y tế hoạt động, đạt tỷ lệ 72,84% [49],
Trang 303.49 Đen năm 2002 mức độ bao phủ YTTB đã được rộng khắp cả
cuộc điều tra y tế quốc gia năm 2002, tỷ lệ bao phú YTTB các vùng như sau:Đồng bằng sông Hồng 62%; vùng Đông Bắc 83%; vùng Tây bắc 95%; Bắctrung bộ 66,6%; Nam trung bộ 76,1%; Tây nguyên 82,5%; Đông nam trung
bộ 60,7%; Đồng bằng sông cửu long 72,3%
3.50 Đến 31/12/2002 tổng số tổ dân phố của phường trong cả nướclà
32.063: trong đó có 7.434 tổ dân phố có nhân viên y tế hoạt động chiếm tỷ lệ23,19% Tống số thôn bản ấp của xã, thị trấn là 87.246; trong đó có 78.793thôn bản ấp có nhân viên y tế hoạt động, chiếm tỷ lệ 90,31% [48]
3.51 Đen cuối năm 2003 cả nước có 29.074 tổ dân phổ thì có 16.976
1.3 Hệ thống y tế xã phường ỏ’ Việt Nam
3.52 Hệ thống tổ chức y tế nước ta đã được chia thành 3 tuyến làtuyến
Trung ương, tuyến tỉnh, tuyến y tế cơ sở Tuyến y tế cơ sớ bao gồm cả tuyếnhuyện và tuyến xã: có trạm y tế xã và y tế thôn bản Khái niệm y tế cơ sởđược xác định bao gồm y tế tuyến huyện và y tế tuyến xã
3.53 Y tế cơ sở là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân
Trang 31trong hệ thống y tế Nhà nước có nhiệm vụ thực hiện các dịc vụ kỹ thuật chămsóc sức khỏe ban đầu, phát hiện dịch sớm, chữa và đờ đẻ thường, vận độngnhân dân thục hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đinh, vệ sinh phòng bệnh,tăng cường sức khỏe.
Trang 323.54 Mô hình tổ chức và hoạt động y tế địa phương là lấy Trung tâm
huyện làm hạt nhân, trạm y tế và YTTB là mạng lưới Đây là mô hìnhchămsóc sức khỏe áp dụng cho 80% dân sô sông ở các vùng nông thôn, nhămnâng
cao chất lượng, hiệu quả các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu tại cơ sở.Trạm y tế xã sẽ không thế hoạt động có hiệu quả nếu thiếu sự chỉ đạo, giámsát chặt chẽ của Trung tâm Y tế huyện và UBND xã, cũng như nếu không cómột mạng lưới YTTB mạnh, được tồ chức tốt và hoạt động tích cực Do vậycủng cố y tế cơ sở không chỉ là củng cố trạm y tế xã mà còn cần tăng cườngvai trò chỉ đạo và hồ trợ các tuyến huyện, củng cố và phát triển mạng lướiYTTB và các hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân tại mỗi gia đình.Trong 3khâu đó không được coi nhẹ vai trò bất kỳ khâu nào Hiện tại, sự thiếu vắngcủa đội ngũ YTTB là khâu yếu nhất của hệ thống y tế cơ sở hiện nay Trạm y
tế xã sẽ không làm gì được nhiều nếu không có YTTB, vì YTTB chính là lực
lượng “Chân rết” của Trạm y tế trong các hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức
khỏe nhân dân tại cộng đồng Do đó, xây dựng, hoàn thiện hệ thống y tế cơ sở
từ xã, phường đến thôn, bản, phải coi là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách[24]
3.55 Để thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe, trước hết cầntạo
điều kiện cho nhân dân tiếp cận, sử dụng các dịch vụ y tế cơ bản ngay tại cơ
sở và coi đó là quyền của người dân về chăm sóc sức khỏe nhất là đối vớingười dân tộc thiểu số, vùng cao, miền núi
Trang 333.56 Y tế Việt Nam lấy nền tảng là công bằng, coi trọng hiệu quả Mục tiêu nhất quán của nền y tế Việt Nam từ trước đến nay là “phấn đấu để mọi người dân đều được quan tâm chăm sóc sức khỏe” Thực hiện cho thấy chăm sóc sức khỏe ban đầu đã được phổ cập và thực hiện từ nhiều năm nay ở nước ta Trong đó y tế cơ sở có vai trò cực kỳ quan trọng, là tuyến kỹ thuật đầu tiên đảm bảo cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu kịp thời, tại chồ, trực tiếp đến từng gia đình và từng người trong cộng đồng, đảm bảo sức khỏe cho khoảng 80% dân số Kinh phí đầu tư không quá lớn, người dân có thể
Trang 343.57 chấp nhận và cũng không đòi hỏi Nhà nước phải bò vốn nhiều,
y tế xã là trung tâm của các hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ban đầutại xã Củng cổ y tế cơ sở cần đặt trọng tâm vào củng cố trạm y tế xã.[35]
3.59 Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc sứckhỏe
nhân dân trong tình hình mới, ngày 20/5/2004 cũng đã nhấn mạnh tầm quantrọng của y tế cơ sở và khắng định vai trò trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏenhân dân [1],
3.60 Đối với mạng lưới y tế thôn bản: Hiện nay Bộ Y tế thống nhất
hoạt động quán lý mạng lưới YTTB trong cả nước như sau: Nhà nước đảmbảo điều kiện tối thiểu đổ tất cá các xã, phường đều có trạm y tế hoạt độngthường xuyên Chính quyền địa phương (UBND xã) đảm bảo tất cả các thôn,
Trang 35bản đều có cán bộ y té Do điều kiện dân ở xa các trạm y tế, vai trò cúa mạnglưới YTTB là hết sức quan trọng Mạng lưới này hoạt động dưới sự hướngdần chuyên môn trực tiếp của trạm y tế xã, phường và được ủy ban nhân dân
xã, phường đám báo điều kiện tối thiểu đế hoạt động Tại từng thôn, bản có 1cán bộ y tế biết khám thai, đỡ đẻ, khám chừa bệnh thông thường và cung cấpthuốc thiết yếu [15], [29]
Trang 363.61 Vê quản lý: YTTB là mạng lưới chân rêt của y tê cơ sở, chịu sự
hướng dần về chuycn môn, nghiệp vụ của trạm y tế xã Theo Chỉ thị số03/1999/BYT ngày 10/3/1999 của Bộ Y tế có ghi: Nhanh chóng hoàn thiện hệthống YTTB với 5 yêu cầu:
3.62 + Thống nhất về tổ chức chi đạo và chức năng, nhiệm vụ củaYTTB
theo quy định của Bộ y tế
3.63 + Có nội dung hoạt động phù họp với trình độ cán bộ từngvùng
3.64 + Có lịch sinh hoạt thường xuyên với trạm y tế cơ sớ
nhân viên YTTB
3.67 + YTTB hoạt động dưới sự quản lý và chỉ đạo vê chuyên môn
y tế cơ sở Được đào tạo trình độ y tá sơ cấp, Được cấp một túi trong đó cómột số thuốc và trang thiết bị thiết yếu, được trả thù lao từ 2 nguồn, ngân sáchNhà nước và đóng góp cộng đồng [23], [29],
1.4 Một số nghiên cứu, đánh giá về hoạt động của YTTB
Trang 373.68 Qua hơn nữa thế kỳ thực hiện đường lối đúng đắn của Đảng vàNhà
nước về phát triển sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, ngành y tế đã thuđược những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực phòng bệnh, chữa bênh, sảnxuất thuốc, phát triển khoa học y dược cũng như chăm sóc sức khỏe ban đầu.Trong những thành tựu quan trọng đó, xây dựng và phát triển y tế cơ sở trong
đó có y tế xã, phường, thôn, bản, được đánh giá là một trong những thành tựuquan trọng nhất, nồi bật nhất mang lại lợi ích thiết thật trong chăm sóc vàbảovệ sức khỏe nhân dân ở khắc mọi miền từ đồng bằng đến miền núi cao, hảiđảo, vùng sâu, vùng xa cua cả nước
3.69 Trong những năm gần đây, sự quan tâm chỉ đạo công tác chăm
khỏe nhân dân của Đảng và Nhà nước ta thể hiện qua các Nghị quyết Đại hộiĐảng lần thứ VI và thứ VII, VIII, IX Đặc biệt, Hội nghị lần thứ 4 Ban chấphành Trung ương khóa VII đã quyết định những vấn đề cấp bách của sựnghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, trong đó nhấn mạnh vai tròquan trọng cùa công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu và củng cố y tế cơ sở lànhiệm vụ cấp bách của ngành y tế [7], [13], [27]
3.70 Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác chăm sóc sức
đời sống cho nhân dân, đặc biệt là những người dân còn gặp nhiều khó khănsống ở vùng nông thôn miền núi, vùng sâu, vùng xa, những vùng kinh tế pháttriển chậm Bản thân họ chỉ có khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế ởgần nhất, chất lượng thấp và giá cả phù hợp với khả năng chi trả Do đó đầu
tư cho phát triển và nâng cao chất lượng phục vụ của y tế cơ sở chính là đầu
Trang 38tư cho vùng nghèo, người nghèo, góp phần xóa đói giám nghèo, thực hiệncông bầng trong chăm sóc sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống chonhân dân, yếu tố quan trọng để ổn định chính trị - xã hội Kết quả điều tra củađơn vị chăm sóc sức khóe ban đầu - Bộ Y tế ở hai tỉnh Sơn La và Cao Bằng
về sử dụng y tế tại đây như sau:
- Số người dân miền núi ốm mà không được chừa bệnh nhiều gấp 4 lần
so với nhân dân miền xuôi
- Số người dân miền núi tự mua thuốc chữa bệnh ở nhà không cần pháikhám bệnh nhiều gấp 2 lần so với nhân dân miền xuôi
- Sổ người dân miền núi tiếp cận với trạm y tế chỉ bằng 1/4 so với nhândân miền xuôi [10], [34]
Trang 393.71 Năm 1999 Bộ Y tế cũng đưa ra kết quả hoạt động khám chữa
cứ 7-10 người đi khám bệnh mới có 1 người phải vào điều trị nội trú Còn lại,phần lớn mắc chứng bệnh thông thường được trạm y tế cơ sở hướng dần vàchừa khỏi tại nhà và trạm y tế [17]
Trang 403.72 Tại huyện ứng Hòa tỉnh Hà Tây(1994), trung bình trong 1.000
354 người ốm (35,40%) có nhu cầu khám chữa bệnh Trong 354 người ốm có
336 người (95,00%) mắc các chứng bệnh thông thường được chữa khỏi ngaytại nhà và cộng đồng, chỉ có 18 bệnh nhân phải gửi đi khám và điều trị ởtuyến bệnh viện Trong thời kỳ đổi mới, một cuộc điều tra ở 500 hộ gia đình
có 10 xã thuộc huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình (1992) cho biết trong 74 hộ giađình có trường hợp ốm xảy ra trong 2 tuần lễ thì 36,60% tự chừa ở nhà; 44%chừa ở trạm y tế xã; 8,1% chừa ở y, bác sỹ tư; 1,33% chừa ở thầy lang hoặc
cúng lề và chi có 9,7% chừa bệnh ở bệnh viện hoặc PKĐKKV Như vậy, số
bệnh nhân có nhu cầu khám chừa bệnh tại cộng đồng là rất cao (tống cộng90,3%) Tuy nhiên, chỉ có hơn một nửa (35,7%) các trường hợp ốm đauđượcdịch vụ y tế Nhà nước phục vụ, số còn lại nằm ngoài sự kiểm soát của