Lương thực, thực phẩm là những nhu cầu cấp thiết hàng ngày đối với sự sống và phát triển của con người. Theo đà phát triển của xã hội, đời sống của con người càng cao thì yêu cầu về chất lượng lương thực càng cao. Chất lượng thức ăn không đơn thuần chỉ là ăn no mà càng ngày càng cần phải ngon và đa dạng. Chính vì vậy tạo ra xu hướng giảm khẩu phần lương thực đồng thời tăng khẩu phần rau quả trong các bữa ăn.
Trang 1MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Lương thực, thực phẩm là những nhu cầu cấp thiết hàng ngày đối với sự sống
và phát triển của con người Theo đà phát triển của xã hội, đời sống của con ngườicàng cao thì yêu cầu về chất lượng lương thực càng cao Chất lượng thức ăn khôngđơn thuần chỉ là ăn no mà càng ngày càng cần phải ngon và đa dạng Chính vì vậytạo ra xu hướng giảm khẩu phần lương thực đồng thời tăng khẩu phần rau quả trongcác bữa ăn
Trên thế giới, các nước có mức sống cao cũng là những nước có nhu cầu sảnphẩm rau quả rất lớn bao gồm cả rau quả tươi và rau quả chế biến Rau quả ngoàitác dụng cung cấp lượng lớn chất khoáng và vitamin cho cơ thể con người nó còn
có tác dụng quan trọng khác như làm các loại dược liệu.Vì thế ở những nước nàyrau quả là một ngành kinh tế quan trọng thúc đẩy sự phát triển của ngành nôngnghiệp nói riêng và nền kinh tế xã hội nói chung Nhưng do nhiều nguyên nhânkhác nhau, một số nước không có đủ điều kiện để phát triển ngành rau quả đáp ứng
đủ nhu cầu và đa dạng chủng loại mà thị trường yêu cầu vì thế những nước này đãdung chính sách nhập khẩu rau quả hàng năm Nó đã kích thích phát triển ngành rauquả trên toàn thế giới
Việt Nam với khí hậu nhiệt đới và ôn đới với 7 vùng sinh thái khác nhau.Nên
có khả năng trồng luân canh rau quả một cách phong phú đa dạng Là một tiềmnăng phát triển kinh tế quan trọng
Nhu cầu về rau quả của thị trường trong nước và quốc tế đang tăng lên nhanhchóng từng ngày.Phát triển sản xuất rau quả gắn với công nghiệp chế biến phục vụtiêu dùng và xuất khẩu đã trở thành một trong các mục tiêu của trương trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.Nhưng ngành chế biến rau quả ở Việt Nam nóichung và Tổng công ty rau quả, nông sản nói riêng vẫn chưa theo kịp yêu cầu củathị trường Do vậy ngành rau quả cần đẩy mạnh sản xuất để đáp ứng nhu cầu đặt ra.Muốn làm được điều đó trước hết chúng ta cần phải có nguồn cung cấp nguyên liệuhợp lý
Trên thực tế, việc cung cấp nguyên liệu ở Tổng công ty rau quả,nông sản luôncòn gặp nhiều vấn đề khúc mắc Như vùng nguyên liệu manh mún, nhỏ bé, kĩ thuậtlạc hậu Quy hoạch chưa hợp lý Nơi có nguyên liệu thì chưa xây dựng kịp nhà máy,nơi có nhà máy thì lại thiếu nguyên liệu hoặc giá nguyên liệu quá cao Vì vậy vấn
Trang 2đề quy hoạch và tổ chức vùng nguyên liệu là một vấn đề lớn mà lâu nay đã nhiềunăm Tổng công ty rau quả, nông sản tích cực làm nhưng chưa thu được hiệu quảmong muốn Đó là vấn đề rất khoa học, cần kiên trì, nhẫn nại và tính tổ chức caomới có thể giải quyết được.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, để ngành rau quả có thể theo kịp, hòa nhậpvới sự phát triển chung của thế giới Chúng ta cần nhanh chóng tìm ra giải phápnhằm đáp ứng đử nguyên liệu cho các nhà máy chế biến này
Trước tình hình thực tế về vùng nguyên liệu rau quả cũng như yêu cầu đặt rađối với việc cung cấp rau quả phục vụ cho các nhà máy chế biến thuộc tổng công tyrau quả, nông sản Em xin đưa ra một vài ý kiến về việc giải quyết vấn đề này với
đề tài “Một số giải pháp phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất cho các nhà máy chế biến thuộc Tổng công ty rau quả,nông sản Việt Nam”
- Đề xuất một số giả pháp nhằm phát triển vùng nguyên liệu rau quả phục vụ chocác nhà máy chế biến thuộc tổng công ty Rau quả và nông sản Việt Nam
3.Phạm vi,đối tượng nghiên cứu.
- Các vùng sản xuất nguyên liệu phục vụ các đơn vị thuộc tổng công ty
4.Phương pháp nghiên cứu.
-Thu thập số liệu qua tình hình sản xuất và chế biến của các nhà máy trongTổng công ty
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS Vũ Thị Minh cùng các cô chú trongphòng Kế hoạch - Tổng hợp của Tổng công ty rau quả, nông sản đã tận tình giúp đỡ
em hoàn thành đề tài này
Do thời gian nghiên cứu và trình độ bản thân có hạn nên bài viết của emkhông tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong được sự chỉ bảo của thầy cô và cácbạn để bài viết của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 4 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Vũ Minh Đức
Trang 4PHẦN 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN VÙNG NGUYÊN
LIỆU RAU QUẢ PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN
1 Tầm quan trọng của rau quả
1.1 Vai trò của rau quả đối với nền kinh tế
Lịch sử loài người cho thấy rằng ngay từ thủa xa xưa, rau quả là một trongcác nguồn thức ăn có sẵn trong tự nhiên của con người nguyên thủy Giá trị dinhdưỡng và sinh tố của các loại rau quả đã khiến chúng được con người sử dụng ngàycàng nhiều trong cuộc sống hàng ngàn năm nay Theo tài liệu của FAO, sản lượngquả của toàn thế giới năm 2000 đạt 429,4 triệu tấn/năm (tăng 22%) so với năm
1990, rau tăng 29,8% trong khi đó mức tăng tương ứng của lúa gạo là 10,8%, khoaitây 10,6%
Do giá trị dinh dưỡng và hương vị phong phú mà các loại rau quả là loại thức
ăn không thể thiếu được trong đời sống con người và mức tiêu thụ ngày càng tăng
Rau quả ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn trong cơ cấu kinh tế nông nghiệpnhư ở Nhật Bản trong 4 thập kỷ qua tỷ trọng rau quả trong tổng giá trị nông sản đãtăng lên như sau: 15% (1960), 25% (1970), 26% (1980), 34% (1990) trong khi đólúa gạo từ 47% (1960) giảm xuống còn 28% (1990)
Trước tình hình các nông sản xuất khẩu truyền thống (ngũ cốc, sản phẩmchăn nuôi, đường, đồ uống nhiệt đới…) trên thế giới có xu hướng tăng chậm hoặckhông tăng, nhiều nước đang phát triển rất chú trọng chiến lược xuất khẩu các nôngsản không truyền thống như rau quả Ví dụ: Giá trị rau quả xuất khẩu giai đoạn
1983 – 1985 của Trung Quốc đạt 552 triệu USD tăng 8,6 lần giai đoạn 1961 – 1963
So sánh tương tự Thái Lan đạt 295 triệu USD (tăng 49,1 lần) Đài Loan đạt 544 triệuUSD (tăng 14,3 lần)
Rau quả đã chiếm vị trí đáng kể trong cơ cấu nông sản xuất khẩu ở nhiềunước trên thế giới Theo FAO tỷ trọng rau quả trong tổng giá trị nông sản xuất khẩunăm 1996 ở một số nước như sau: Trung Quốc 23,8%, Thái Lan 18,1%, Hàn Quốc14,4%
Trang 5B ng 1: T tr ng di n tích rau qu trong c c u s n xu t ảng 1: Tỷ trọng diện tích rau quả trong cơ cấu sản xuất ỷ trọng diện tích rau quả trong cơ cấu sản xuất ọng diện tích rau quả trong cơ cấu sản xuất ện tích rau quả trong cơ cấu sản xuất ảng 1: Tỷ trọng diện tích rau quả trong cơ cấu sản xuất ơ cấu sản xuất ấu sản xuất ảng 1: Tỷ trọng diện tích rau quả trong cơ cấu sản xuất ấu sản xuất
ng nh tr ng tr t c a Vi t Nam ành trồng trọt của Việt Nam ồng trọt của Việt Nam ọng diện tích rau quả trong cơ cấu sản xuất ủa Việt Nam ện tích rau quả trong cơ cấu sản xuất
%
Trong đó
Cây công nghiệp 16,7 28,3 18,4 19,5 19,1 18,1
(Nguồn: Theo số liệu thống kê nông - lâm - thuỷ sản Việt Nam 1999 – 2000)
1.2 Vai trò của rau quả đối với đời sống con người
Trước đây, trong nền kinh tế tự cấp tự túc hàng hoá khan hiếm không có sẵnbán trên thị trường, hầu hết gia đình nào cũng có một khoảnh đất để trồng rau quả vìnhư ta đã biết nó là thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của conngười Rau quả có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng quyết định sự tồn tại củacon người Các loại rau quả là nguồn dinh dưỡng quý giá của con người ở mọi lứatuổi và ngành nghề khác nhau Trong rau quả có các loại đường dễ tiêu, axit hữu cơ,prôtêin, lipit, chất khoáng, pectin, tananh, các hợp chất thơm và các chất khác, cónhiều loại vitamin như: A, B1, B2, B6, PP Đặc biệt là vitamin C rất cần thiết cho
cơ thể con người, vitamin A cần thiết cho trẻ em Trong khẩu phần ăn của conngười không những cần đầy đủ calo mà cần có vitamin, muối khoáng, các axit hữu
cơ và các hoạt chất khác để các hoạt động sinh lý được tiến hành bình thường Nhucầu về calo dựa vào việc cung cấp đạm, mỡ hydratcacbon từ động vật và thực vật,còn vitamin và các hợp chất khác thì chủ yếu dựa vào rau quả
Theo sự phát triển của đời sống xã hội, nhiều nhà dinh dưỡng học của ViệtNam cũng như thế giới đã nghiên cứu về khẩu phần thức ăn cho người Việt Namtính rằng hàng ngày cơ thể chúng ta cần khoảng 1300 – 1500 calo năng lượng đểsống và hoạt động Để có được năng lượng này, nhu cầu tiêu dùng rau quả hàngngày trung bình cho một người vào khoảng 300 – 400 gam (tức là vào khoảng 9 –
12 kg /người /tháng)
Theo nghiên cứu của ông Porolle – nhà khoa học Pháp, từ năm 1942 ông đãtính ra rằng bình quân một người tiêu dùng trong ngày khoảng 400 gam rau quả (tức
Trang 6là khoảng 12 kg /tháng) Theo số liệu thống kê hiện nay tính bình quân chúng tamới chỉ sản xuất được 7 – 8 kg /người /tháng Như thế là còn thiếu 4 – 5 kg, đó làđiều chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa trong điều kiện hiện nay nước ta rất có ưuthế phát triển sản xuất nông nghiệp.
Ngoài ra rau quả còn là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thựcphẩm như rau quả đông lạnh, nước giải khát và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị nếuđược tổ chức khai thác tốt
Hơn thế nữa, rau quả còn được dùng làm dược liệu để chữa một số bệnh phổbiến thường gặp rất có hiệu quả như: tỏi, tía tô…
Do vậy, phát triển sản xuất rau quả ngoài vai trò cung cấp các chất dinhdưỡng cần thiết cho cơ thể, nó còn góp phần tạo công ăn việc làm, xoá đói giảmnghèo, tăng thu nhập cho người nông dân và ngoại tệ cho đất nước
Như vậy, có thể nói rằng vai trò to lớn của rau quả đối với đời sống conngười thì không ai có thể phủ nhận được Khi đời sống của con người ngày càngđược nâng cao thì họ càng đòi hỏi cao hơn về chủng loại rau quả Do đó, bên cạnhviệc sản xuất thì chế biến rau quả cũng có tầm quan trọng rất lớn, đáp ứng được nhucầu ngày càng phong phú của con người
1.3 Sự cần thiết phải chế biến rau quả
Rau quả là sản phẩm của ngành nông nghiệp mang tính sinh học rất đậm nét.Trong quá trình sản xuất ra các loại rau quả người nông dân thường xuyên phải sửdụng các chất hoá học để kích thích sự tăng trưởng của cây trồng cũng như bảo vệ
nó Bởi vì để có được các loại rau quả xanh, tươi cung cấp cho người tiêu dùng thìngười sản xuất phải trải qua một quá trình chống chọi với thiên nhiên dịch bệnh Đểhạn chế được sự tấn công của sâu bệnh thì người sản xuất phải sử dụng các loạithuốc hoá học cho cây trồng Vì vậy trong nhiều loại rau quả vẫn còn bị ảnh hưởngbởi các chất hoá học này và đôi khi còn gây ngộ độc nguy hại cho sức khoẻ conngười
Mặt khác, rau quả là sản phẩm tươi sống nên rất dễ hư hỏng và thời gian bảoquản thường ngắn Bên cạnh đó sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau quảnói riêng có tính thời vụ rất sâu sắc Khi đến mùa vụ thì sản phẩm nhiều, ứ đọng,giá rẻ đôi khi không bán được hoặc có bán được thì vẫn lỗ Điều này đã gây tâm lýchán nản cho người nông dân làm cho cuộc sống của họ vốn đã khó khăn lại càngkhó hơn
Trang 7Đứng trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra là phải có các nhà máy chế biến rauquả Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng cao, họkhông chỉ có nhu cầu về sản phẩm tươi sống mà còn có nhu cầu về các sản phẩmchế biến từ rau quả Vả lại, do tính mùa vụ nên một số loại rau quả chỉ thu hoạchđược ở những thời điểm nhất định trong năm mà nhu cầu về sản phẩm đó thì lại ởmọi thời điểm Việc hình thành công nghiệp chế biến rau quả sẽ tạo thêm việc làmthu hút lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộ mặtkinh tế nông thôn Mặt khác thông qua chế biến, sẽ làm tăng giá trị và tăng khảnăng tiêu thụ của sản phẩm rau quả do đó cũng góp phần làm tăng lợi nhuận chongười sản xuất.
Do vậy trong tương lai ngành rau quả sẽ có triển vọng phát triển rất lớn.Nhưng để nâng cao hiệu quả của ngành rau quả thì vấn đề đặt ra là phải phát triểncông nghiệp chế biến Chỉ bằng con đường đó thì người sản xuất mới tăng được lợinhuận và đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng rau quả ngày càng cao và đa dạng trongnước cũng như quốc tế
2 Vai trò, đặc điểm của ngành công nghiệp chế biến rau quả
2.1 Khái niệm về công nghiệp chế biến rau quả
Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất của xã hội.Công nghiệp bao gồm ba loại hoạt động chủ yếu: Khai thác tài nguyên thiên nhiêntạo ra nguồn nguyên liệu, sản xuất và chế biến sản phẩm của công nghiệp khai thác
và nông nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu khác nhau của
xã hội, khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sảnxuất và trong sinh hoạt Để thực hiện được ba loại hoạt động cơ bản đó, dưới sựphân công lao động xã hội trên cơ sở tiến bộ của khoa học công nghệ, trong nền sảnxuất kinh tế quốc dân hình thành hệ thống các ngành công nghiệp
Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản: Chế biến là việc sử dụng các yếu tốđầu vào như khoa học công nghệ, nguyên nhiên liệu, sức lao động và trí tuệ của conngười làm thay đổi hoàn toàn về chất của các nguyên liệu nguyên thủy, tạo ra sảnphẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng đa dạng và có mẫu mã, chất lượng tốt đápứng nhu cầu ngày càng cao của con người
Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thì hoạt động chếbiến Nông – Lâm – Thủy sản và ngành nghề trong nông thôn cũng có những bướcphát triển nhất định, làm cho các sản phẩm có nguồn gốc từ nông nghiệp ngày càngtrở lên phong phú và đa dạng về mẫu mã, đảm bảo tốt về chất lượng, tăng thu nhập
Trang 8cho khu vực nông thôn, hình thành các nhà máy chế biến Song sản xuất chế biếnrau quả không đòi hỏi trình độ quá cao về kỹ thuật, công nghệ và trình độ lao độngcủa người dân như những ngành công nghiệp khác vì vậy ngày càng được quan tâm
và phát triển
Hiện nay, việc tạo ra sự đa dạng trong các sản phẩm rau quả là hết sức cầnthiết nhằm nâng cao khả năng tiêu thụ các sản phẩm này
Qua những vấn đề trên ta có thể có khái niệm về chế biến rau quả như sau:
“Chế biến rau quả là việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật tiên tiến trong công nghiệp áp dụng vào nông nghiệp nhằm tạo ra sự đa dạng về mẫu mã và đảm bảo về chất lượng các sản phẩm rau quả đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường”.
Hiện nay hoạt động chế biến nông, lâm, thuỷ sản ở nước ta chưa phát triểntheo kịp với nhu cầu chế biến nông, lâm, thuỷ sản và nhu cầu việc làm trong nôngthôn Cả ở quy mô chế biến công nghiệp tập trung và chế biến quy mô nhỏ trang trạigia đình đều còn trì trệ, mặc dù đây là khâu quan trọng để tạo ra hàng hoá nông sản
đủ tiêu chuẩn chất lượng tham gia vào thị trường nông sản trong và ngoài nước Vìvậy, cần phải tạo ra các mô hình “mẫu” có hàm lượng khoa học cao, làm động lựcthúc đẩy nông nghiệp phát triển có định hướng, ổn định và có hiệu quả kinh tế cao
Qua khái niệm trên, công nghiệp chế biến rau quả gồm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Sơ chế và bảo quản Giai đoạn này được tiến hành ngay sau khithu hoạch, nằm ngoài xí nghiệp chế biến, chủ yếu sử dụng lao động thủ công truyềnthống với phương tiện bảo quản và vận chuyển chuyên dùng Nó quyết định mức độtổn thất sau khi thu hoạch và chất lượng nguyên liệu đưa đến xí nghiệp chế biến.Đây là giai đoạn quan trọng có ý nghĩa xác định thứ hạng sản phẩm ở giai đoạn sau
Giai đoạn 2: Chế biến công nghiệp Giai đoạn này diễn ra trong các xí nghiệpcông nghiệp chế biến Nó sử dụng lao động kỹ thuật cùng với máy móc thiết bịcông nghệ cần thiết Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định mức độ chất lượng sảnphẩm chế biến và mức độ tăng giá trị của sản phẩm
2.2 Đặc điểm của ngành công nghiệp chế biến rau quả
2.2.1 Công nghiệp chế biến rau quả đòi hỏi các nhà máy chế biến phải gắn với vùng nguyên liệu
Bất kỳ ngành công nghiệp chế biến nào cũng cần phải có nguyên liệu Việcđưa nguyên liệu đến các nhà máy là vấn đề mà bất cứ lĩnh vực nào cũng phải đặt ra.Nhất là đối với rau quả là những sản phẩm tươi sống, cồng kềnh và dễ dập nát
Trang 9Vùng nguyên liệu và công nghiệp chế biến rau quả có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽtrên các lĩnh vực đặc tính kỹ thuật của dây chuyền sản xuất và tính hiệu quả kinh tế.
Xét trên góc độ đặc tính kỹ thuật của dây chuyền sản xuất thì việc trồng vùngnguyên liệu rau quả là một giải pháp đáp ứng yêu cầu đầu vào đối với khối lượnglớn cho các cơ sở công nghiệp chế biến rau quả
Xét trên hiệu quả kinh tế, nhà máy chế biến gắn với vùng nguyên liệu cónhiều lợi ích đó là năng suất cao giảm giá thành sản phẩm Khi cự ly vận chuyểnngắn, thu gom nguyên liệu được khai thác tập trung thì chi phí vận chuyển giảm vàhao hụt về chất lượng sản phẩm cũng giảm đi Ngoài ra các khoản chi phí gián tiếpnhư làm đường khai thác, kiểm tra chất lượng đầu vào như cân đo đong đếm cũngđơn giản hơn và giảm hơn Mặt khác, vùng nguyên liệu và các nhà máy chế biến rauquả được gắn với nhau sẽ giảm được đầu mối thu mua cung ứng nguyên liệu chokhâu chế biến Chỉ cần một đầu mối duy nhất là công ty nguyên liệu đại diện chonhà máy và từ đó ngăn chặn được tình trạng tranh mua tranh bán, mua tranh báncướp gây thiệt hại cho người trồng nguyên liệu
Như vậy để sản xuất rau quả phát triển bền vững đòi hỏi phải giải quyết tốtmối quan hệ giữa vùng nguyên liệu với nhà máy chế biến Kinh nghiệm ở nhiều nơicho thấy nên có sự liên kết chặt chẽ giữa người nông dân, nhà máy chế biến, các tổchức tín dụng, xử lý hài hòa lợi ích và trách nhiệm lẫn nhau cùng hợp tác phát triểnsản xuất kinh doanh Về phía nhà máy chế biến cần nhận thức rõ tầm quan trọngcủa việc phát triển vùng nguyên liệu gắn với sản xuất từ đó đề ra hướng tổ chứcnghiên cứu sản xuất cây gì con gì, hàng hoá gì thích hợp với điều kiện tự nhiênvùng dự án và điều kiện cơ sở vật chất hiện có của nhà máy để lập phương án kinhdoanh có tính khả thi cao
2.2.2 Công nghiệp chế biến rau quả cần khối lượng nguyên liệu lớn và ổn định
Mỗi nhà máy chế biến rau quả có một công suất nhất định Để các nhà máy
có thể hoạt động hết công suất thì cần có khối lượng nguyên liệu lớn và ổn định.Sản phẩm của nông nghiệp mang tính thời vụ, do vậy việc lập kế hoạch cung cấpnguyên liệu cho các nhà máy chế biến cần bố trí đất đai, chủng loại nguyên liệu mộtcách hợp lý nhất để đáp ứng nguyên liệu cho các nhà máy hoạt động đảm bảo vớithời gian và công suất tối đa nhất Điều đó có nghĩa là việc quy hoạch vùng nguyênliệu cần phải đa dạng hoá các cây nguyên liệu để làm sao nhà máy có thể hoạt độngquanh năm Bởi vì các cây nông nghiệp mang tính thời vụ cho nên phải tránh tìnhtrạng tập trung vào một hai nguyên liệu chính thì thời gian sản xuất ngắn do đó nhà
Trang 10máy hoạt động không liên tục trong năm sẽ dẫn đến hàng loạt các vấn đề khác kéotheo: Công nhân không có việc làm, họ không đảm bảo được đời sống, công nhân
bỏ nhà máy đến khi nhà máy có nguyên liệu hoạt động trở lại thì lại không có côngnhân làm
Bên cạnh đó, với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, các dâychuyền máy móc thiết bị ngày càng được cải tiến theo hướng hiện đại Cho nên khimua máy móc về chúng ta phải làm sao hoạt động với thời gian lớn nhất để tránh sựhao mòn vô hình Nhưng thực tế hiện nay ở nước ta máy móc thiết bị chúng ta mua
về thường là đồ thải của các nước tiên tiến, khi đưa vào sản xuất lại hoạt độngkhông hết công suất thiết kế Nhìn chung, các dây chuyền thiết bị chế biến nước ta
là lạc hậu so với thế giới Như vậy, vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là phải quyhoạch vùng nguyên liệu hợp lý để làm sao các nhà máy chế biến hoạt động với côngsuất tối đa Điều đó, trước mắt là đảm bảo được đời sống của người lao động, sau làgóp phần vào việc tăng trưởng nền kinh tế
2.3 Vai trò của ngành công nghiệp chế biến rau quả
2.3.1 Đối với nền nông nghiệp hàng hoá
Nông nghiệp là một ngành kinh tế quốc dân, một trong những bộ phận chủyếu của sản xuất vật chất, sản xuất lương thực thực phẩm cho xã hội và nguyên liệucung cấp cho công nghiệp chế biến
Công nghiệp và nông nghiệp có quan hệ với nhau rất khăng khít Công nghiệp
có nhiệm vụ của công nghiệp, nông nghiệp có nhiệm vụ của nông nghiệp, mỗi ngànhsản xuất ra những sản phẩm khác nhau và đáp ứng yêu cầu khác nhau của nền kinh tế,song hai ngành phát triển không tách rời nhau mà có quan hệ với nhau rất hữu cơ,ngành này phát triển sẽ tạo điều kiện thúc đẩy ngành kia phát triển và ngược lại Chủtịch Hồ Chí Minh thường ví công nghiệp và nông nghiệp như “hai chân của conngười”, “hai chân của nền kinh tế”, “hai chân đi khoẻ và đi đều thì bước tiến sẽ nhanh
và nhanh chóng đi đến đích”
Nông nghiệp là cơ sở của công nghiệp, nông nghiệp phát triển không nhữnggiải quyết nhu cầu lương thực thực phẩm cho toàn xã hội, tạo nguồn cung cấpnguyên liệu cho công nghiệp mà còn tạo ra những mặt hàng xuất khẩu để tích luỹngoại tệ, nhưng nông nghiệp hàng hoá không thể phát triển mạnh nếu không có sựtác động của công nghiệp và trực tiếp nhất là công nghiệp chế biến rau quả Trongnền kinh tế tự cung tự cấp sản xuất để tiêu dùng là chủ yếu Khi chuyển sang nềnnông nghiệp hàng hoá sản xuất ra sản phẩm là để bán mà muốn bán được sản phẩm
Trang 11với giá cao thì phải thông qua chế biến Sự phát triển của ngành công nghiệp chếbiến rau quả sẽ tạo thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, góp phần giảiquyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệptheo hướng công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, làm tăng kim ngạch xuất khẩu.Chính sự phát triển của công nghiệp chế biến, sự tác động của công nghiệp chế biếnrau quả vào nền nông nghiệp hàng hoá tạo cơ sở giải quyết những vấn đề xã hội,nâng cao trình độ dân trí… là mục tiêu của quá trình phát triển, song cũng là cơ sở
xã hội của quá trình phát triển công nghiệp
Công nghiệp chế biến rau quả vừa có vai trò trực tiếp vừa có vai trò gián tiếptới sự phát triển nông nghiệp hàng hoá, tạo ra cầu nối giữa công nghiệp và nôngnghiệp, là khâu đột phá để công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, tạođiều kiện thuận lợi để nền nông nghiệp hàng hoá phát triển mạnh hơn nữa
2.3.2 Đối với nền kinh tế quốc dân
Với lịch sử phát triển của mình công nghiệp chế biến rau quả càng khẳngđịnh vai trò chiến lược quan trọng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của xã hội,đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và tạo nguồn thu lớncho ngân sách Nhà nước, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động,nâng cao đời sống văn hoá và trình độ dân trí Do vậy ngành chế biến rau quả có vaitrò quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của mỗi quốc gia Riêng Việt Nammột nước có diện tích trồng rau quả dồi dào và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho pháttriển các loại rau quả, công nghiệp chế biến rau quả đã góp một phần không nhỏ vào
sự phát triển kinh tế nước nhà Hàng năm ngành rau quả đã góp vào tổng sản phẩmquốc dân (GDP) thông qua tổng giá trị sản lượng của ngành
Ngoài việc góp phần trực tiếp vào việc gia tăng GDP của nền kinh tế, ngànhcông nghiệp chế biến rau quả còn gián tiếp làm thay đổi những quan niệm về cuộcsống, làm tăng trình độ văn hóa đó chính là những động lực thúc đẩy quá trình tăngtrưởng kinh tế
Bên cạnh đó với việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả ngành công nghiệpchế biến rau quả đã tạo ra một nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, tăng thêmkhả năng chi tiêu cho Chính phủ, cho các công trình khác phục vụ sự nghiệp côngnghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Hơn nữa đối với Việt Nam có dân số khoảng 80 triệu người, có nguồn laođộng khoảng 40 triệu người, với tỷ lệ thất nghiệp ở nông thôn là rất cao Vì vậy việc
Trang 12phát triển công nghiệp chế biến là hết sức cần thiết góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệptăng thu nhập và ổn định đời sống cho người lao động.
Như vậy có thể nói ngành công nghiệp chế biến rau quả có vai trò quan trọngtrong hệ thống các ngành của nền kinh tế quốc dân Ngành chế biến rau quả pháttriển là một trong những yếu tố chính đảm bảo sự ổn định trên thị trường hàng hoátiêu dùng cũng như thị trường nguyên liệu cho sản xuất
3 Sự cần thiết phải xây dựng vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến rau quả
3.1 Khái niệm vùng nguyên liệu
Vùng nguyên liệu là một khái niệm tổng quát về vùng mà trong đó có thể xácđịnh được những phần diện tích thích hợp với mục đích kinh doanh, phát triển cáccây để làm nguyên liệu Ranh giới vùng nguyên liệu được hoạch định theo địa giớihành chính huyện xã Ranh giới này chỉ mang tính định hướng sản xuất trong vùng
mà không phải là ranh giới phân định việc sử dụng đất đai Xác định phạm vi vùngnguyên liệu dựa trên các yếu tố địa lý, cự ly, mức độ tập trung sản xuất, năng lực vềgiao thông vận tải và bố trí cơ cấu cây trồng đảm bảo cung ứng sản phẩm nguyênliệu đều cho các tháng trong năm để nhà máy có đủ nguyên liệu hoạt động từ 10 –
12 tháng
3.2 Vai trò của vùng nguyên liệu đối với công nghiệp chế biến rau quả
Nguyên liệu là vấn đề sống còn của các nhà máy chế biến, không có nguyênliệu thì sẽ không có nhà máy Mặt khác với sự phát triển của khoa học công nghệ thìcác dây truyền thiết bị chế biến cũng ngày càng hiện đại, vì vậy nhu cầu nguyên liệu
là rất lớn Do đó có thể nói vùng nguyên liệu có vai trò vô cùng quan trọng mangtính sống còn đối với các nhà máy chế biến
Nguồn nguyên liệu phải được xây dựng tập trung, quy hoạch thành vùng đủlớn để áp dụng được tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghiệp hoá hiện đại hóangành nông nghiệp Sở dĩ như vậy là vì dưới góc độ hiệu quả kinh tế, trồng và khaithác nguyên liệu theo vùng đưa lại nhiều lợi ích: Đó là giảm cự ly vận chuyển vàthu gom nguyên liệu do các cây trồng được thu hoạch theo mùa vụ nhất định, nên
độ đồng đều cao, tỷ lệ hao hụt thấp Mặt khác, khi số cơ sở trồng nguyên liệu rauquả càng nhiều thì mức độ phức tạp trong thu mua nguyên liệu ngày càng gia tăng,mối liên hệ giữa cơ sở chế biến rau quả và cơ sở trồng nguyên liệu khó được thiếtlập trên cơ sở hợp đồng mua bán mà trở thành quan hệ mua bán thoả thuận đứt đoạnngay trên thị trường Khi đó trên thị trường sẽ xuất hiện những khuyết tật làm thiệt
Trang 13hại đến người sản xuất, ví dụ khi có nhiều người cùng bán nguyên liệu rau quả caohơn nhu cầu của các nhà máy chế biến thì giá mua có thể giảm đi Nếu các hộ cónguyên liệu bán ở xa nhà máy thì họ không nhận được thông tin về thị trường, ít cókhả năng bán nguyên liệu trực tiếp cho các nhà máy chế biến rau quả nên phải bánqua trung gian môi giới với giá thấp Hoặc khi giá nguyên liệu tăng lên nhưngnguồn nguyên liệu lại có hạn thì dễ dẫn đến tình trạng đưa cả nguyên liệu không đủchất lượng vào bán Khi quy mô của mỗi cơ sở trồng nguyên liệu quá nhỏ, thì mốiquan hệ giữa các nhà máy chế biến và người trồng nguyên liệu không đem lại lợiích lớn cho cả hai phía Khi lợi ích này không mang tính kinh tế tích cực thì nhàmáy chế biến khó phát triển và cơ sở trồng rau quả sẽ chú trọng hoạt động sản xuấtkhác
Như vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất chung cho cả khâu chế biến và khâutrồng nguyên liệu đòi hỏi khi xây dựng vùng nguyên liệu rau quả cần giảm đến mứctối thiểu số cơ sở trồng nguyên liệu manh mún nhỏ lẻ, các cơ sở trồng nguyên liệucần đạt quy mô càng lớn càng tốt, tránh việc có quá nhiều cơ sở trồng nguyên liệu
có quy mô nhỏ và phân tán Chỉ có như vậy thì ngành chế biến rau quả mới pháttriển lên tầm cao mới góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệpnông thôn
4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển vùng nguyên liệu
4.1 Nhân tố tự nhiên
Sản xuất rau quả hiện nay chủ yếu vẫn được tiến hành ngoài trời lệ thuộcnhiều vào điều kiện tự nhiên và mang tính khu vực rõ rệt Mặt khác, rau quả lànhững cơ thể sống, chúng sinh trưởng và phát triển theo những quy luật sinh họcnhất định Do đó chúng rất nhạy cảm với môi trường tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên bao gồm: Vị trí địa lý, đất đai, thời tiết khí hậu, địa hình
là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển vùng nguyên liệu rau quả
4.1.1 Vị trí địa lý
Lãnh thổ nước ta kéo dài suốt sườn Đông và sườn Nam của bán đảo ĐôngDương, chiếm phần lớn diện tích của bán đảo này và nằm ở vị trí gần trung tâm củakhu vực Đông Nam Á, đồng thời có những nét riêng biệt độc đáo
Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều loài động thực vật từ Trung Hoa xuống,
Ấn Độ sang làm cho lớp động thực vật của nước ta ngày càng phong phú trong đó
có những loài rau quả mà không phải nước nào cũng có như: dứa, xoài, vải, nhãn…
Trang 144.1.2 Đất đai
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam Châu Á, đất nước có chiều dài trên 15 vĩ
độ với mấy ngàn km giáp biển Đông Đất đai nước ta phong phú, cả nước có 13nhóm đất chính Tiềm năng đất nông nghiệp là 10 - 11,257 triệu ha trong đó khoảnggần 8 triệu ha trồng cây hàng năm Hiện nay Việt Nam mới chỉ sử dụng hết 65%quỹ đất nông nghiệp, trong đó đất trồng cây hàng năm là 5,6 triệu ha nhưng đất sửdụng trồng rau quả chưa thực sự chiếm tỷ lệ lớn Với một tỷ lệ đất nông nghiệp nhưvậy đó là điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại rau quả khác nhau ở mọi miềnđất nước
Việt Nam còn là một trong những vùng bắt nguồn của một số loại rau quảnhư: Cam, quýt, chuối… và có nguồn gen di truyền thực vật phong phú, đa dạng vềrau quả, gia vị và hoa
Bên cạnh những lợi thế sinh thái, rau quả nước ta cũng bị ảnh hưởng của một
số hạn chế và bất lợi của khí hậu đối với nông nghiệp như: Bão, lụt, thời tiết kém ổnđịnh do gió mùa Đông Bắc dẫn tới rủi ro về chất lượng
4.1.4 Địa hình
Là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc trồng rau quả Dải đều khắp từ Bắctới Nam là địa hình núi cao, đến đồng bằng sông suối và ven biển đã tạo nên nhữnglợi thế sinh thái so với nhiều nước khác Các hệ thống giao thông đường bộ, đườngbiển và hàng không thuận tiện cho việc giao lưu hàng hoá quốc tế và khu vực
Trang 15Những đặc điểm tự nhiên hết sức vốn có của Việt Nam đã tạo cho nền nôngnghiệp nước ta một lợi thế so sánh hơn hẳn nước khác Vì nó đã tạo cho nước tanhững mặt hàng rau quả có giá trị xuất khẩu cao, xuất khẩu tương đối thuận lợi vàđược khách hàng thế giới ưa chuộng, có uy tín về nhiều mặt
4.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
4.2.1 Lao động
Là yếu tố sản xuất, là nhân tố quyết định tới sự phát triển của mọi ngành sảnxuất trong đó có ngành sản xuất rau quả Nguồn lực lao động là tổng thể sức laođộng tham gia vào hoạt động sản xuất
Nguồn lực lao động có vai trò rất quan trọng đối với sản xuất nói chung.Trong nông nghiệp, nguồn lực lao động bao gồm người trong độ tuổi từ 16 – 60 đốivới nam và từ 16 – 55 đối với nữ, những người ngoài độ tuổi trên cũng có thể thamgia vào sản xuất nông nghiệp
Về chất lượng của nguồn lực lao động bao gồm thể lực và trí lực Thể lựcđược biểu hiện thông qua sức khoẻ, sự dẻo dai của người lao động Còn trí lực thểhiện thông qua trình độ chuyên môn của người lao động
Đặc biệt trong sản xuất rau quả yêu cầu của lao động phải đủ số lượng, cósức khoẻ, có khả năng áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ kỹ thuật, có thái độnghiêm túc trong sản xuất
Việt Nam là một nước nông nghiệp, hiện tại gần 80% dân số cả nước sống ởnông thôn và khoảng 68% lực lượng lao động toàn xã hội làm việc trong khu vựcnày Do vậy, có thể nói lực lượng lao động của nước ta rất dồi dào và có thể cungcấp đủ lao động cho sản xuất rau quả
Người nông dân nước ta cần cù sáng tạo, qua thế hệ đã tích luỹ được nhiềukinh nghiệm trồng trọt các giống rau, bưởi, cam, quýt, hồng, xoài, thanh long Nông dân ở nhiều vùng rau quả truyền thống đã thu được năng suất và lợi nhuậncao Tuy nhiên, chỉ với kinh nghiệm thì nhiều vấn đề chưa giải quyết nhất là cáckhâu như: Giống, phòng trừ sâu bệnh, xử lý sau thu hoạch Nhìn chung, trình độ dântrí của nước ta còn thấp so với nhiều nước trên thế giới
Lực lượng lao động rất quan trọng trong sản xuất nói chung và sản xuấtnông nghiệp nói riêng, nên lao động phải được sử dụng hợp lý bằng cách tái sảnxuất sức lao động (ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí…) và được đào tạo trình độ chuyênmôn, để lực lượng lao động ngày càng trở nên tốt hơn nhằm đáp ứng yêu cầu hiệnnay
Trang 164.2.2 Vốn
Vốn được hiểu theo nghĩa rộng là tiềm năng phục vụ sản xuất gồm: Tư liệusản xuất, lao động, tri thức, khả năng tổ chức, điều kiện tự nhiên… Trong sản xuấtkinh doanh vốn được hiểu là giá trị của các đầu vào Đó là điều kiện vật chất cầnthiết để tiến hành phát triển các vùng nguyên liệu rau quả
4.2.3 Tiến bộ khoa học công nghệ trong nông nghiệp
- Khoa học công nghệ về giống
Trong lĩnh vực giống việc nghiên cứu tuyển chọn, lai tạo các giống rau quảmới có năng suất cao, chất lượng tốt là điều kiện cơ bản để phát triển vùng nguyênliệu rau quả
- Khoa học công nghệ trong khâu sản xuất
Hiện nay, với tiến bộ khoa học công nghệ kỹ thuật mới, các chủng loại phânbón vi sinh đã được sản xuất, thuốc diệt trừ sâu bệnh và vi sinh vật… đã được chếtạo và ứng dụng một cách khả quan Điều này cho phép sản xuất rau quả theo đúngyêu cầu đặt ra
- Khoa học công nghệ trong lĩnh vực chế biến bảo quản
Trong lĩnh vực chế biến, bảo quản với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật mới,các sản phẩm rau quả thực phẩm có thể được chế biến, đóng hộp theo nhiều phươngpháp khác nhau như muối, dầm dấm, sấy khô Rau quả cũng được bảo quản bằng nhiềuphương pháp khác nhau mà không cần sử dụng hoá chất như bảo quản bằng kholạnh… cho phép đảm bảo độ an toàn vệ sinh thực phẩm
Như vậy, tiến bộ khoa học công nghệ là nhân tố thúc đẩy sản xuất phát triển
4.2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phát triển vùng nguyên liệu rauquả Cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng: Điện, đường, hệ thốngthuỷ lợi kênh mương
Trang 174.2.6 Cơ chế chính sách, các nhân tố vĩ mô.
Là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất rau quả.Nếu chính sách đúng nó sẽ tạo điều kiện và kích thích ngành rau quả phát triển sảnxuất và tăng khối lượng xuất khẩu Nhưng ngược lại nếu cơ chế chính sách màkhông đúng nó sẽ cản trở việc phát triển sản xuất rau quả
Gồm các chủ trương chính sách của Nhà nước, các cấp tác động trực tiếp vàosản xuất hoặc gắn trực tiếp thông qua thị trường Sự can thiệp có chủ định của Nhànước có thể thông qua thuế, trợ giá, điều hoà giá, ra quyết định thành lập… Cácchính sách đó đều có tác động đến giá, đến sự hình thành các vùng sản xuất, cụ thểchính sách trong sản xuất rau quả như khi thời vụ thì Nhà nước áp dụng biện pháptrợ giá để cho hoạt động này diễn ra liên tục và kịp thời
4.2.7 Những nhân tố thuộc quản lý vi mô
Là những chiến lược, chính sách và biện pháp kinh doanh của cơ sở sản xuấtkinh doanh Những nhân tố này rất phức tạp và thường có tác dụng làm cho sảnphẩm thích ứng với thị trường
Do hoàn cảnh nước ta một thời gian dài phải tập trung cho sản xuất lươngthực, nên khả năng đầu tư cho các ngành sản xuất rau quả có giới hạn Trong đóngành rau quả chưa được đầu tư đúng mức do vậy chưa phát huy được tiềm năngvốn có Những năm gần đây, Nhà nước đã có chính sách đầu tư cho ngành rau quảthích đáng hơn, công tác nghiên cứu khoa học được nhà nước quan tâm hơn, chonên ngành rau quả đã có sự phát triển nhất định Song các chính sách khuyến khíchsản xuất rau quả còn nhiều hạn chế chưa khuyến khích ngành rau quả phát triểnmạnh
5 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của việc phát triển vùng nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến
5.1 Chỉ tiêu kết quả
- Diện tích vùng nguyên liệu
- Số hộ (cơ sở) sản xuất nguyên liệu
Tổng sản lượng nguyên liệu
- Năng suất vùng nguyên liệu =
Diện tích vùng nguyên liệu
- Sản lượng = Năng suất * Diện tích
- Giá trị sản lượng = Sản lượng * Đơn giá
- Giá trị sản phẩm hàng hoá = Giá trị sản lượng * % bán
Trang 18- Lợi nhuận = Giỏ trị sản lượng – Chi phớ vật chất dịch vụ – Chi phớ lao động
- Thu nhập = Giỏ trị sản lượng – Chi phớ vật chất dịch vụ – Chi phớ thuờ laođộng
5.2 Chỉ tiờu hiệu quả
- Tỷ suất nụng sản hàng húa:
- Thu nhập trờn 1000 đ chi phớ sản xuất
Thu nhập trờn 1000 đ Tổng thu nhập
- Mức độ đáp ứng yêu cầu về nguyên liệu
Mức độ đỏp ứng yờu cầu Khối lượng nguyờn liệu cung cấp
về nguyờn liệu Tổng nhu cầu nguyờn liệu
Trang 19PHẦN 2 THỰC TRẠNG CUNG CẤP NGUYÊN LIỆU PHỤC VỤ CHO CÁC NHÀ MÁY CHẾ BIẾN RAU QUẢ THUỘC TỔNG CÔNG TY RAU
QUẢ, NÔNG SẢN
1 Tổng quan về Tổng công ty rau quả, nông sản
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tổng công ty rau quả, nông sản
Tổng công ty rau quả, nông sản được thành lập và chính thức đi vào hoạtđộng từ ngày 01/7/2003, trên cơ sở sáp nhập Tổng công ty Nông sản và TPCB vàTổng công ty rau quả Việt Nam theo quyết định số 66/2003/QĐ/BNN - TCCB ngày11/6/2003 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT
Tên doanh nghiệp: Tổng công ty rau quả, nông sản
Tên giao dịch quốc tế: Viet Nam National Vegetable, Fruit and AgriculturalProduct Corporation
Viết tắt: VEGETEXO VIET NAM
Trụ sở giao dịch: Số 2 Phạm Ngọc Thạch quận Đống Đa, Hà Nội
Tên cơ quan sáng lập: Bộ NN & PTNT
- Tổng công ty rau quả Việt Nam được thành lập theo quyết định số63/NNTCCB/QĐ ngày 11/2/1988 trên cơ sở hợp nhất công ty rau quả Trung ương,liên hiệp các xí nghiệp Phủ Quỳ và Tổng công ty xuất khẩu rau quả Quyết địnhthành lập Tổng công ty là nhằm tạo nên sự thống nhất giữa ba khối (nông nghiệp,công nghiệp, kinh doanh xuất nhập khẩu) tạo nên sự phối hợp và sự thích ứng tốttrong ngành
- Tổng công ty nông sản và thực phẩm chế biến được thành lập theo quyếtđịnh số 409 NNT- TTCP QĐ ngày 30/12/1995 của Bộ NN & PTNT trên cơ sở cácđơn vị:
Công ty xuất nhập khẩu công nghiệp thực phẩm
Công ty xuất nhập khẩu nông sản Hà Nội
Công ty xuất nhập khẩu nông sản Đà Nẵng
Công ty xuất nhập khẩu nông sản TP Hồ Chí Minh
Công ty vận tải và đại lý vận tải
Trang 201.2 Chức năng, nhiệm vụ và các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Tổng công
ty rau quả, nông sản
1.2.1 Chức năng
- Hoạch định chiến lược phát triển chung, tập trung các nguồn lực (vốn, kĩthuật, nhân sự ) để giải quyết các vấn đề cơ bản then chốt như: Đổi mới giống câytrồng, công nghệ, quy hoạch và đầu tư phát triển nhằm không ngừng nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh
- Tổ chức quản lý kinh doanh
+ Tổ chức bộ máy kinh doanh phù hợp đổi mới trang thiết bị đặt chinhánh văn phòng đại diện của Tổng công ty trong và ngoài nước
+ Mở rộng kinh doanh lựa chọn thị trường, thống nhất thị trường giữa cácđơn vị thành viên được xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của Nhà nước
+ Quy định khung giá, xây dựng và áp dụng các định mức lao động mới
và các đối tác nước ngoài
+ Tổ chức công tác tiếp thị, hoạch định chiến lược mặt hàng, giá cả nhằmtăng khả năng cạnh tranh trên thị trường
- Quản lý sử dụng vốn đất đai tài nguyên các nguồn lực khác, đầu tư, liêndoanh, liên kết, chuyển nhượng, thay thế, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản
1.2.2 Nhiệm vụ
- Phải đăng kí kinh doanh theo đúng ngành nghề kinh doanh đã đăng kí trongđiều lệ của Tổng công ty, các quy định và pháp luật hiện hành của Nhà nước vàpháp luật hiện hành
- Bảo toàn và phát triển nguồn vốn Nhà nước giao
- Nộp ngân sách Nhà nước và các địa phương
- Thực hiện chế độ thu chi, hoá đơn chứng từ theo chế độ hạch toán Nhànước
- Chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp của Nhà nước trong quá trình hoạt độngkinh doanh Thực hiện đường lối chính sách của Nhà nước
- Kinh doanh trong phạm vi ngành nghề đăng kí Nghiêm chỉnh thực hiệnchế độ bảo hộ lao động, môi trường của Nhà nước
1.2.3 Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của Tổng công ty
* Sản xuất, chế biến, kinh doanh và xuất nhập khẩu trực tiếp:
- Rau, quả, nông, lâm, thuỷ hải sản, thực phẩm đồ uống
- Giống: Rau, hoa, quả, nông, lâm, thuỷ hải sản
Trang 21- Các sản phẩm cơ khí, máy móc thiết bị phụ tùng phương tiện vận tảichuyên ngành rau, quả, nông, lâm, thuỷ hải sản, chế biến thực phẩm.
- Phân bón hoá chất, nguyên nhiên nhiên liệu vật tư phục vụ chuyên ngànhrau, quả, nông, lâm, thuỷ hải sản, chế biến thực phẩm
* Kinh doanh tài chính, tham gia thị trường chứng khoán (chỉ hoạt động khi
có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành)
* Sản xuất kinh doanh các lĩnh vực khác:
- Giao nhận kho cảng vận tải và đại lý vận tải
- Bất động sản xây lắp công nghiệp và dân dụng
- Du lịch, khách sạn, nhà hàng cho thuê
- Tiếp nhận và thực hiện các dự án hỗ trợ đầu tư phát triển
* Liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước để pháttriển sản xuất kinh doanh của Tổng công ty
Trang 221.3 Cơ cấu tổ chức của Tổng công ty rau quả, nông sản
Sơ đồ 1: Sơ đồ cơ cấu bộ máy quản lý của Tổng công ty
Trang 231.4 Hệ thống các nhà máy chế biến rau quả thuộc Tổng công ty
1.4.1 Công suất của các nhà máy và nhu cầu nguyên liệu
Bảng 2: Hệ thống các nhà máy chế biến rau quả thuộc Tổng công ty
Trung tâm CBQR Công suất tấn/ năm Nhu cầu nl tấn/ năm
11 Công ty XNK rau quả Thanh Hoá 2.500 5.000
Trang 24Tổng công ty rau quả, nông sản là doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớnnhất trong toàn ngành, bao gồm các đơn vị thành viên là các doanh nghiệp hạchtoán độc lập, các liên doanh và công ty cổ phần và các đơn vị sự nghiệp có quan hệgắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ thông tin, đào tạo nghiêncứu, tiếp thị hoạt động trong lĩnh vực chế biến rau quả và trồng nguyên liệu Trongthời gian qua Tổng công ty tập trung phân công chuyên môn hoá và hợp tác sảnxuất khép kín để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, nâng cao hiệu quả kinh doanhcủa các đơn vị thành viên và toàn Tổng công ty đáp ứng nhu cầu về rau quả trên thịtrường trong nước cũng như quốc tế.
Tổng công ty có một hệ thống các nhà máy chế biến nằm rải rác ở các địaphương trong cả nước nhằm tận dụng những lợi thế của từng vùng về nguyên liệu.Hiện Tổng công ty có 15 trung tâm chế biến rau quả với tổng công suất thiết kếkhoảng 89.500 tấn sản phẩm / năm trong đó Công ty thực phầm xuất khẩu ĐồngGiao và Công ty liên doanh DONA NEWTOVEWR có công suất lớn nhất, tổngcông suất các dây chuyền chế biến của hai công ty này chiếm gần 50% tổng côngsuất của tất cả các nhà máy chế biến thuộc Tổng công ty Nhu cầu nguyên liệu hàngnăm của tất cả các nhà máy chế biến khoảng 330.500 tấn Như vậy nhu cầu nguyênliệu cho các nhà máy chế biến là rất lớn nhưng với tiềm năng và lợi thế của nước tathì đó là điều Tổng công ty có thể làm được thậm chí còn hơn thế nữa Nhưng hiệnnay mức độ đáp ứng nhu cầu nguyên liệu của Tổng công ty là rất thấp do đó Tổngcông ty cần có kế hoạch xây dựng phát triển vùng nguyên liệu trong cũng như ngoàiTổng công ty nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu nguyên liệu của các nhà máy chế biến
1.4.2 Chủng loại mặt hàng
Cùng với xu hướng tiêu dùng ngày càng cao của thị trường trong nước cũngnhư xuất khẩu Tổng công ty đã không ngừng mở rộng chủng loại mặt hàng, nângcao chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của các thị trường khó tính như:
Trang 25- Gia vị các loại.
Bảng 3: Định hướng sản phẩm và thị trường của Tổng công ty
Sản phẩm chủ lực Sản phẩm đa dạng khác Thị trường chính
1 Rau quả tươi
- Bắp cải, khoai tây, hành
tây, cà rốt, dưa hấu, gừng,
tỏi, nghệ
- Chuối tiêu, vải
- Hoa lay ơn, loa kèn,
phong lan…
- Su hào, súp lơ, tỏi tây, đậuquả, cà chua, dưa chuột,nấm hương…
- Thanh long, nhãn, camquýt, bưởi chanh, xoài, dứa,chôm chôm, đu đủ, sầuriêng, măng cụt…
- Hoa, cây cảnh khác
- Liên bang Nga, một sốnước châu á như: NhậtBản…
- Đông Bắc á, Liên bangNga, Trung Quốc, Trungcận đông…
- Nhật Bản, Liên bangNga
2 Đồ hộp, nước quả, đông
lạnh
- Dứa, dưa chuột, vải,
chôm chôm, xoài, thanh
long, đu đủ, mơ
-Nước giải khát , hoa quả
tự nhiên
- Dứa đông lạnh
- Cô đặc và pure: dứa,
xoài, cà chua
- Chuối, ổi, na, ngô, đậu cô
ve, đậu Hà Lan, măng tre,nấm, rau, gia vị khác
- Rau quả đông lạnh khácPure quả khác
Liên bang Nga, Tây Bắc
Âu, Đông Âu, Mỹ, NhậtBản, Trung Quốc và một
số nước á, úc
Mỹ, Đức
3 Rau quả sấy muối
- Chuối sấy, nhân hạt điều
- Dưa chuột, nấm muối
Các loại hoa quả sấy khácCác loại rau quả muối khác
Liên bang Nga, Nhật , Mỹ
và một số nước Bắc Mỹ
4 Gia vị
- Hạt tiêu, ớt, tỏi, gừng Nghệ, quế, hồi, riềng
Châu Phi, Liên bang Nga,Trung Đông…
(Nguồn: Tổng công ty rau quả, nông sản)
Như vậy để các nhà máy chế biến hoạt động với công suất tối đa, chủng loạimặt hàng ngày càng đa dạng phong phú thì vấn đề cần thiết nhất là phải cung cấp
Trang 26nguyên liệu đầy đủ hợp lý Nhưng thực tế trong những năm qua tình hình phát triểnvùng nguyên liệu và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thuộc Tổngcông ty còn rất nhiều bất cập.
2.Thực trạng một số vùng nguyên liệu và tình hình cung cấp nguyên liệu phục vụ các nhà máy chế biến thuộc Tổng công ty
2.1 Các vùng rau quả truyền thống chủ yếu ở nước ta
Rau quả nước ta được trồng rất sớm từ mấy ngàn năm nay trong quá trìnhphát triển nông nghiệp Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trải dài trên 15
vĩ độ lại tiếp giáp với biển Đông, thiên nhiên ưu đãi cho chúng ta nhiều lợi thế vềđịa lý, sinh thái so với nước khác Điều kiện tự nhiên cho phép chúng ta trồng đượcnhiều loại rau quả nhiệt đới, á nhiệt đới và một số rau quả gốc ôn đới, vụ mùa thuhoạch kế tiếp nhau nhiều tháng trong năm Cả nước hiện nay có 26 nông trường và
6 trạm trại từ Bắc vào Nam chuyên sản xuất các loại rau quả và một số loại câycông nghiệp khác như: quả có múi, dứa, chuối, đu đủ, bắp cải, dưa chuột, tiêu, điều,măng tre, lạc tiên… với đặc trưng kỹ thuật phân thành các mùa rõ rệt trong năm vàtrong vùng với các loại cây trồng có thể phân bố thành từng vùng chuyên canh rõrệt
Trang 27B ng 4: Các vùng s n xu t rau qu c a Vi t Nam ảng 4: Các vùng sản xuất rau quả của Việt Nam ảng 4: Các vùng sản xuất rau quả của Việt Nam ất rau quả của Việt Nam ảng 4: Các vùng sản xuất rau quả của Việt Nam ủa Việt Nam ệt Nam
TT Vùng kinh tế Các vùng rau quả truyền thống chủ yếu
1 Miền núi và
trung du phía
Bắc
- Giống su hào: Sa Pa, Hà Giang
- Giống bắp cải: Bắc Hà, Lạng Sơn
- Tỏi, gừng, nghệ: Các tỉnh
- Mận, mơ, đào: Lào Cai, Sơn La
- Xoài: Sơn La
- Vải: Bắc Giang, Quảng Ninh
- Cam, quýt: Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lạng Sơn,Hoà Bình
- Chuối: Vĩnh Phúc, Yên Bái
- Dứa: Lạng Sơn, Lào Cai, Ninh Bình, Vĩnh Phúc
2 Đồng bằng
sông Hồng
- Rau các loại: tỏi ớt, giống rau đồng bằng, hoa cây cảnh: HàNội, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên
- Chuối: Các tỉnh ven sông Hồng
- Vải nhãn: Hải Dương, Hưng Yên
- Dứa: Ninh Bình, Hà Tây
- Hồng xiêm: Hà Nội
3 Khu 4 - Cam, quýt, bưởi: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình
- ớt: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế
- Tiêu: Quảng Trị
4 Duyên hải
miền Trung
- ? t: Quảng Nam, Đà Nẵng
- Tỏi: Bình Định, Quảng Ngãi
- Hành tây: Ninh Thuận
- Rau: Khánh Hoà
- Xoài: Nha Trang
- Nho: Ninh Thuận
- Dứa: Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Quảng Ngãi
- Dưa hấu: Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hoà
- Thanh long: Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hoà
5 Tây Nguyên - Rau ôn đới: Đà Lạt
- Hồ tiêu: Đắk Lắk
- Hoa: Đà Lạt
6 Đông Nam Bộ - Rau: Thành phố Hồ Chí Minh
- Hồ tiêu: Sông Bé, Đồng Nai, Tây Ninh
Trang 28- Chôm chôm, sầu riêng và các quả nhiệt đới khác: Đồng Nai,Sông Bé, Tây Ninh
- Bưởi: Biên Hoà
7 Đồng bằng
Long
- Dưa hấu: Tiền Giang và các tỉnh
- Hồ tiêu: Kiên Giang
- Hạt giống rau muống: An Giang, Đồng Tháp
- Rau: Vĩnh Long, Sóc Trăng
- Chuối: Các tỉnh
- Dứa: Kiên Giang, Minh Hải, Tiền Giang
- Cam: Tiền Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Vĩnh Long
- Nhãn: Tiền Giang
- Cây cảnh: Bến Tre
- Hoa: Thành phố Hồ Chí Minh
(Nguồn: Tổng công ty rau quả, nông sản)
2.2 Thực trạng một số vùng nguyên liệu của Tổng công ty
2.2.1 Tình hình sử dụng đất đai của các đơn vị trực thuộc
Đất của Tổng công ty hiện có ít do chuyển trả một số nông trường về cáctỉnh, một số công ty trả bớt đất cho địa phương Do đó nguyên liệu cung cấp chocác nhà máy không đủ nên các đơn vị trong Tổng công ty đã phải cùng địa phươngquy hoạch phát triển vùng nguyên liệu thêm ngoài công ty Cụ thể như Công ty thựcphẩm xuất khẩu Đồng Giao đến nay đã hợp đồng với bên ngoài 900 ha, còn các đơn
vị khác như Công ty xuất nhập khẩu rau quả I, Công ty LUVECO, Công ty cổ phầnthực phẩm xuất khẩu Hưng Yên, Công ty GN và XNK Hải Phòng thì phải quyhoạch vùng nguyên liệu ngoài đơn vị
Trang 29Bảng 5: Tình hình sử dụng đất đai của các đơn vị năm 2008
Đơn vị: Ha
Công ty TPXK Đồng Giao
Công ty rau quả
Hà Tĩnh
Công ty TPXK Bắc Giang
Công
ty rau quả Sa Pa
Công ty CB
TPXK Kiên Giang
Công ty CB TPXK Quảng Ngãi
Tổng diện tích đang
quản lý
16.905,7 5.046,0 5.141,0 584,0 882,7 4.130,5 1.121,5
1/ Đất đang sử dụng 12.754,2 3.108,6 4.789,0 543,0 95,9 3.326,6 891,22/ Đất chưa sử dụng 4.151,4 1.937,4 352,0 41,0 786,8 803,9 230,3Đất có khả năng
nông nghiệp
(Nguồn: Tổng công ty rau quả, nông sản)
Qua bảng trên ta thấy tổng diện tích đất đang sử dụng là 12.754,2 ha chiếm75% trong tổng diện tích đang quản lý Như vậy là vẫn còn 25% diện tích chưađược sử dụng trong đó đất có khả năng nông nghiệp là 1.395,7 ha nhưng trong đó
dự kiến sử dụng là 1.031,8 ha còn lại 365,0 ha là trả lại địa phương
Một nghịch lý là nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy đều thiếu trong khi
đó diện tích đất chưa được sử dụng ở một số đơn vị vẫn còn lớn
Như vậy các đơn vị cần có kế hoạch bố trí các cây trồng một cách hợp lýnhất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai
Trang 302.2.2 Thực trạng diện tích cây trồng nguyên liệu
Bảng 6: Diện tích cây trồng nguyên liệu giai đoạn 2007 - 2009
Đơn vị: Ha
(%)
2009/2008 (%)
Tổng diện tích đất quản lý 8.794,3 10.117,4 10.463 115,04 103,42
1 Cây lương thực 2.400,0 2.068,0 2.600 86,17 125,73
2 Cây CN dài ngày 570,0 369,3 493 64,79 133,49
3 Cây ăn quả 2.569,3 4.780,1 4.920 186,05 102,93
(Nguồn: Tổng công ty rau quả, nông sản)
Qua bảng trên ta thấy tổng diện tích canh tác các loại cây đã không ngừngtăng lên Năm 2008 tăng1.323,1 ha so với năm 2007 Năm 2009 tăng 345,6 ha sovới năm 2008 Trong đó diện tích của từng loại cây trồng đều tăng lên, chỉ có diệntích cây công nghiệp ngắn ngày và cây rừng có xu hướng giảm sút Nguyên nhândiện tích cây công nghiệp ngắn ngày và cây rừng giảm là do các đơn vị trong Tổngcông ty đã có chủ trương chuyển đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày và cây rừng
để trồng các cây khác có giá trị kinh tế cao hơn trong đó chủ yếu là thay bằng câydứa
Tóm lại diện tích trồng nguyên liệu của Tổng công ty được tăng thêm cả vềdiện tích trong Tổng công ty cũng như diện tích liên kết với các vùng bên ngoài.Cùng với sự tăng lên về diện tích thì năng suất của từng loại cây trồng cũng tăng lênkhông ngừng do Tổng công ty đã áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ, giốngcây trồng có năng suất cao vào sản xuất nông nghiệp Vì vậy Tổng công ty đã đạtđược những kết quả đáng khích lệ về sản lượng