THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI WESTERN BANK
Trang 1MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG 3
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
I Tín dụng và rủi ro tín dụng của ngân hàng 3
1 Tín dụng ngân hàng 3
1.1 Khái niệm: 3
1.2 Vai trò tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế 3
2 Rủi ro tín dụng 5
2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 5
2.2 Các loại rủi ro tín dụng 5
2.3 Thiệt hại từ rủi ro tín dụng 6
2.4 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng 8
2.5 Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng 12
II Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 13
1 Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng 13
1.1 Sự cần thiết của công tác quản trị rủi ro tín dụng 13
1.2 Nhiệm vụ của quản trị rủi ro tín dụng 14
2 Đo lường rủi ro tín dụng 14
2.1 Mô hình định tính -Mô hình 6C 15
2.2 Các mô hình định lượng 15
2.3 Mô hình phân tích và quản trị rủi ro tín dụng với khách hàng thể nhân 26
4 Các biện pháp phòng ngừa và hạn chế RRTD 28
4.1 Khai thác có hiệu quả thông tin trong hoạt động tín dụng 28
4.2 Thắt chặt và thực hiện đúng quy trình tín dụng: 29
4.3 Xử lý nợ quá hạn và nợ khó đòi 30
Trang 2CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO 31
TẠI WESTERN BANK 31
I Giới thiệu về ngân hàng Miền Tây 31
II Khái quát hoạt động tín dụng tại ngân hàng Miền Tây 31
1 Hoạt động tín dụng tại ngân hàng Miền Tây 31
1.1 Đối tượng khách hàng: 31
1.2 Các khoản cho vay đối với khách hàng cá nhân: 32
1.3 Nợ quá hạn và vấn đề xử lý nợ quá hạn 32
2 Quản trị RRTD tại ngân hàng Miền Tây 32
III Thực hiện mô hình hóa trong phân tích và QTRR tín dụng 34
1 Lựa chọn biến 34
2 Phân tích theo phương pháp đa nhân tố 47
3 Phân tích khác biệt 49
KẾT LUẬN 55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 3MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại (NHTM) là định chế tài chính trung gian thựchiện nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ tài chính Tại ViệtNam hiện nay thu nhập cơ bản của các NHTM vẫn chủ yếu từ hoạt động tíndụng, với nhiều áp lực và rủi ro Trong các cuộc họp tại BASEL, dưới sự bảotrợ của ngân hàng thanh toán quốc tế, ngân hàng Nhà Nước Việt Nam đã đưa
ra những yêu cầu cụ thể về quản trị rủi ro nội bộ đối với các NHTM
1 Lý do chọn đề tài.
Trên thực tế cho thấy thất bại của NHTM trong hoạt động tín dụng gắnchặt với việc thiếu hiểu biết về khách hàng Một trong những vấn đề quan trọngtrong quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại là sử dụng phương phápphân tích chấm điểm, đưa ra mô hình để có thể phân loại rủi ro tín dụng với mỗikhách hàng một cách thường xuyên Do vậy vấn đề xây dựng hoàn thiện hệthống quản trị rủi ro ngày càng được các NHTM quan tâm, coi trọng, nhằm ngănngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, giảm bớt tỉ lệ nợ xấu phải trích lập dự phòng rủi
ro, đáp ứng các yêu cầu của ngân hàng Nhà nước
Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, xếp hạng rủi ro chủ yếu do cáccông ty xếp hạng cung cấp, và mới chỉ dừng lại ở một số doanh nghiệp niêm yết,song kết quả cũng kém chính xác do thông tin không đầy đủ, có nhiều doanhnghiệp được đánh giá là độ an toàn cao thì lại trở lên rủi ro thể hiện qua sự mấtgiá liên tục của cổ phiếu Nhiều tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn đôi khi đã coithường các quy tắc về xung đột lợi ích mà chỉ chú ý đến lợi nhuận khi xếp hạng
Do đó buộc các NHTM phải chủ động phát triển mô hình quản trị rủi ro nội bộ.Tuy nhiên, chỉ tiêu cơ bản trong chấm điểm và xếp hạng tín dụng khách hànghiện nay của một số NHTM vẫn chưa phản ánh chính xác rủi ro và xếp hạng tínnhiệm đối với khách hàng thể nhân vẫn chưa được chú trọng
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mô hình các chỉ tiêu đánh giá tínhđiểm tín dụng đối với khách hàng thể nhân của NHTM trong giai đoạn 2008,
Trang 42009 Đây là giai đoạn mà hệ thống quản trị rủi ro tín dụng nội bộ đã được cácNHTM điều chỉnh nhiều về các chỉ tiêu đánh giá và xây dựng hoàn thiện.
3 Phương pháp nghiên cứu và tiếp cận vấn đề.
Chuyên đề sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống để tiếp cậnchuyên môn về đối tượng nghiên cứu Trong đó chủ yếu dựa vào các phươngpháp thống kê thực hành như phương pháp phân tích khác biệt và phươngpháp thành phần chính để xây dựng mô hình đánh giá rủi ro đối với kháchhàng thể nhân
4.Kết cấu của chuyên đề.
Bài viết gồm 2 phần chính:
Chương I: Nêu một số cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng và đưa
ra một số mô hình điểm số được sử dụng để xếp hạng tín dụng khách hàng thểnhân tại Mỹ và Việt Nam
Chương II: Thực trạng QTRRTD tại ngân hàng Miền Tây và trên cơ sở
lý thuyết để xây dựng mô hình điểm số xếp hạng tín dụng khách hàng thểnhân áp dụng trong phân tích và QTRR
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của chuyên đề.
Bài viết trình bày sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống quản trị rủi rotín dụng nội bộ tại NHTM Đề tài nghiên cứu tập trung vào việc sử dụngphương pháp phân tích khác biệt khi xây dựng mô hình phân tích tín dụngkhách hàng thể nhân
Kết quả của đề tài nghiên cứu này có thể được áp dụng vào công tácthực tiễn vì ngân hàng Miền Tây đang trong quá trình hoàn thiện quy trình tíndụng trong đó có các vấn đề liên quan đến quản trị rủi ro tín dụng áp dụng vớikhách hàng thể nhân
Xây dựng thành công hệ thống đánh giá phân tích đối với khách hàngkhông chỉ giúp NHTM phân loại nợ trung thực hơn, mà còn là công cụ tư vấngiúp các nhà quản trị có định hướng chiến lược kinh doanh rõ ràng áp dụngphù hợp cho từng nhóm đối tượng khách hàng
Trang 5CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Mục tiêu nghiên cứu của chương này là tiếp cận một số lý luận hiện đạitrong lĩnh vực quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng thể nhân; đồng thờitham khảo một số công trình khoa học của các tác giả nước ngoài đã công bốnhư: mô hình điểm số tín dụng đa biến của Altman trong sự báo nguy cơ vỡ
nợ của doanh nghiệp, mô hình chấm điểm tín dụng cá nhân trong nghiên cứucủa Stefanie Kleimeier đề xuất áp dụng cho các ngân hàng thương mại tạiViệt Nam, mô hình điểm số tín nhiệm cá nhân của FICO áp dụng tại Mỹ.Thông qua đó đưa ra được mô hình lý thuyết áp dụng để hoàn thiện cho hệthống quản trị rủi ro đối với khách hàng thể nhân của ngân hàng Miền Tây
I Tín dụng và rủi ro tín dụng của ngân hàng.
1 Tín dụng ngân hàng.
1.1 Khái niệm:
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động trên lĩnh vựctiền tệ Trong đó hoạt động tài trợ cho khách hàng trên cơ sở tín nhiệm là hoạtđộng chủ yếu đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Chất lượng và quy mô của tíndụng ảnh hưởng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là một khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ kinh tếgiữa bên cho vay là ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác với bên đivay, trong đó bên cho vay chuyển giao cho bên đi vay một lượng giá trị trongmột thời gian nhất định theo những điều kiện mà hai bên đã thỏa thuận như vềthời gian và phương thức thanh toán, lãi suất, tài sản đảm bảo…
1.2 Vai trò tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế vận động theo cácquy luật khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu… Các doanhnghiệp để có thể đứng vững trên thương trường, yếu tố quan trọng nhất là
Trang 6vốn, với ca nhân, nhu cầu sử dụng vốn trong tiêu dùng, hay đầu tư cũng rấtlớn và có xu hướng ngày càng tăng trong giai đoạn hiện nay Tín dụng ngânhàng lại là một trong những nguồn vốn tối ưu mà cá nhân hay doanh nghiệpđều có thể khai thác Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức mạnh mẽtrong việc thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và góp phần điều khiển nền kinh tếthị trường Cụ thể, vai trò đó được thể hiện trên các khía cạnh như :
Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình lưu thông liêntục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế, tạo
cơ chế phân phối vốn một cách có hiệu quả
Thực tế, do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất tiêudùng hay tiết kiệm luôn không có sự ăn khớp về thời gian, khối lượng giữalượng tiền cần thiết để dự trữ và lượng tiền dùng để chi tiêu Vì vậy mà việcluân chuyển tiền tệ trong dân chúng có nơi thừa vốn, lại có nơi thiếu vốn Khi
đó nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời của các doanh nghiệp cùng với nguồn tiền tiếtkiệm trong dân cư và nguồn kết dư từ ngân sách… sẽ được ngân hàng thươngmại huy động Sau đó sử dụng để đầu tư cho những cá nhân hay những doanhnghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá thunhập của dân chúng
Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát, ngân hàng sẽ chỉ cho vay đối vớinhững dự án có tính khả thi cao, những cá nhân có khả năng thanh toán cao.Điều này tạo nên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả
Thứ hai: Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế
Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sởhữu và vốn vay; các cá nhân tiêu dùng trên nguồn tiền tích lũy được và mộtphần đi vay Một trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đây là nguồn tàitrợ hiệu quả vì nó thỏa mãn nhu cầu vốn về cả khối lượng và thời gian Tuynhiên, muốn được ngân hàng cho vay, các cá nhân hay doanh nghiệp đều phảinâng cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo những nguyên tắc tíndụng Muốn được như vậy, các doanh nghiệp sẽ phải xây dựng những dự án
Trang 7có suất sinh lời cao, cá nhân sẽ phấn đấu tăng thu nhập Chính những điều đó
sẽ làm tăng hiệu quả nền kinh tế
Bên cạnh đó, một trong những quy định tín dụng của ngân hàng là khâugiám sát việc sử dụng vốn vay Như vậy bắt buộc khách hàng vay vốn phải sựdụng vốn vay đúng mục đích, đồng thời bộ phận giám sát tín dụng của ngânhàng cũng sẽ tư vấn giúp cho khách hàng lường trước được những khó khăntrong việc phát triển vốn… Điều này cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế
Ngoài ra tín dụng ngân hàng còn góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh
tế, các chính sách tiền tệ và thúc đẩy quá trình mở rộng các mối quan hệ giaolưu kinh tế quốc tế
Như vậy tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với sự pháttriển kinh tế xã hội đất nước
2 Rủi ro tín dụng.
2.1.Khái niệm rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng là rủi ro do một hoặc một nhóm khách hàng không thựchiện nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng Hay nói cách khác rủi ro xảy ra khixuất hiện những biến cố không lường trước được do nguyên nhân chủ quanhay khách quan mà khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng một cáchđầy đủ cả gốc lẫn lãi khi đến hạn
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn baogồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như bảo lãnh,cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng,tín dụng thuê mua, cho vay đồng tài trợ
2.2 Các loại rủi ro tín dụng.
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tùy theo mục đích,yêu cầu nghiên cứu Nếu phân loại căn cứ theo cơ cấu các loại hình rủi ro cóthể chia thành hai loại chính như sau:
Thứ nhất: Rủi ro đọng vốn: Là các khoản cho vay mà khi đến hạnkhách hàng vẫn chưa thu hồi được vốn để trả cho ngân hàng Việc sai hẹn này
Trang 8ảnh hưởng trực tiếp đến khách hàng sử dụng vốn và gây cản trở khó khăn khingân hàng chi trả cho người gửi tiền Thông thường trường hợp này kháchhàng sẽ xin ngân hàng gia hạn thêm thời gian trả nợ Nếu lí do của kháchhàng không được ngân hàng chấp nhận, khách hàng sẽ phải chịu lãi suất phạt,khoản tiền thu hồi chậm này có thể làm đảo lộn kế hoạch kinh doanh củangân hàng, và tiềm ẩn nguy cơ mất vốn
Thứ hai: Rủi ro mất vốn: Là rủi ro khi ngân hàng cho vay mà không đòiđược nợ Do bản chất của ngân hàng là ứng trước tiền cho người vay, sau mộtchu kỳ sản xuất kinh doanh hay tích lũy thu nhập thì khách hàng mới có tiềntrả nợ ngân hàng Nội dung ứng trước của tín dụng ngân hàng càng cao thìmức độ rủi ro càng lớn Ngân hàng cho vay tín chấp mức độ rủi ro cao hơncho vay có tài sản thế chấp Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rủi ronày thường chiếm tỷ trọng lớn nhất ảnh hưởng đến tài sản kinh doanh Vì trênthực tế, hơn70% tài sản của ngân hàng là các khoản cho vay và đầu tư tài trợ;đây là nguồn đem lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng, do đó nếu các khoảnvay của ngân hàng không được hoàn trả, ngân hàng sẽ mất cả vốn lẫn lãi Sốtiền thiệt hại này khi đã vượt quá vốn tự có của ngân hàng sẽ khiến ngân hànglâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, dẫn đến phá sản
Trong hai loại rủi ro trên, rủi ro mất vốn là quan trọng hơn cả, vì vậymuốn tránh rủi ro này, hoạt động thẩm định và giám sát khách hàng phải tiếnhành thật chính xác và chặt chẽ
2.3 Thiệt hại từ rủi ro tín dụng.
2.3.1 Đối với ngân hàng
Ngân hàng là đối tượng trực tiếp chịu sự ảnh hưởng của rủi ro tín dụng,ban đầu là ngân hàng bị thiệt hại về tài sản, sau đó là dẫn tới sự mất uy tín củangân hàng, làm giảm tính lành mạnh trong hoạt động của ngân hàng Nghiêmtrọng hơn thế là sự mất niềm tin của khách hàng vào tiềm lực tài chính củangân hàng, dẫn tới rủi ro thanh khoản có thể đẩy ngân hàng tới bờ vực phásản và đe dọa sự ổn định toàn bộ hệ thống ngân hàng
Trang 9Mặt khác khi khách hàng nhìn vào tình hình nợ quá hạn của ngân hàngthì người gửi tiền có thể nghi ngờ và không gửi tiền vào ngân hàng đó nữa,khi đó sẽ làm cho nguồn vốn của ngân hàng giảm; đồng thời những ngườiđang gửi tiền sẽ có xu hướng muốn rút tiền ra khỏi ngân hàng đó Vì thế sẽảnh hưởng mạnh đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Những rủi ro ở cấp độ trung bình có thể ảnh hưởng trực tiếp đến lợinhuận của ngân hàng Vì khi xảy ra rủi ro tín dụng, sẽ xuất hiện các khoảnvay có nguy cơ không thu hồi được, và để khắc phục điều đó, ngân hàng phảithiết lập những quỹ dự phòng rủi ro Những khoản dự phòng này được tính làchi phí, như thế sẽ làm giảm lợi nhuận và ảnh hưởng đến quy mô hoạt độngcủa ngân hàng
2.3.2 Đối với nền kinh tế
Khi rủi ro tín dụng xảy ra thì không chỉ ngân hàng chịu ảnh hưởng màngay cả nền kinh tế xã hội cũng bị tác động như nguồn thu nhập của ngườigửi tiền không được đảm bảo như trước, những dự án đầu tư mở rộng sảnxuất kinh doanh cũng bị ảnh hưởng
Có thể nói ngân hàng là một mấu chốt quan trọng trong nền kinh tếnhất là như nước ta, mọi hoạt động kinh doanh đều thông qua ngân hàng Dù
là các ngân hàng khác nhau nhưng mối quan hệ của các ngân hàng là rất chặtchẽ tạo thành một hệ thống liên kết không tách rời Vì vậy khi rủi ro tín dụngcủa một ngân hàng xảy ra có nguy cơ làm ngân hàng đó đổ vỡ sẽ làm ảnhhưởng dây chuyền đến các ngân hàng khác, như vậy sẽ làm rối loạn toàn bộnền kinh tế Như vậy nếu rủi ro tín dụng ở mức độ lớn sẽ là một trong nhữngnguyên nhân gây ra khủng hoảng kinh tế
2.3.3 Đối với người đi vay
Đối với người đi vay khi rủi ro tín dụng xảy ra thì các chủ thể kinh tếchủ yếu dựa vào nguồn vốn ngân hàng sẽ bị giảm hoặc mất nguồn vốn đầu tư
để hoạt động và mở rộng qui mô, ảnh hưởng đến tính liên tục của quá trìnhsản xuất kinh doanh Đối với những chủ thể trực tiếp gây ra rủi ro tín dụng thì
Trang 10sẽ gần như mất hẳn uy tín trong khả năng trả nợ, và như thế sẽ gần như khôngthể tìm được nguồn tài trợ từ bất cứ ngân hàng nào khác
2.4 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng.
2.4.1 Các nguyên nhân từ phía khách hàng
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp thường xuyên phải đương đầu với cạnh tranh và chịu sự chi phối rấtlớn của quy luật cung cầu, giá cả thị trường nên cũng phải thường xuyên đốimặt với rủi ro từ nhiều phía kể cả các rủi ro thuần tuý như thiên tai, dịch hoạ,trộm cắp có khi do giá cả thay đổi, khả năng quản lý kém sự thay đổi cơ chếchính sách của nhà nước dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp làm cho kinhdoanh gặp khó khăn thua lỗ, thậm chí phá sản Đồng thời hoạt động kinhdoanh của các doanh nghiệp cũng không thể thoát ly khỏi mối quan hệ với
NH Chính vì vậy rủi ro của NHTM là cộng hưởng rủi ro của các doanhnghiệp
Nếu đứng trên góc độ tư cách đạo đức của người đi vay <khách hàng>thì nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng từ phía khách hàng có thể chia làmhai trường hợp lớn: khách hàng gian lận hoặc khách hàng không gian lận
Khách hàng gian lận, cố ý lừa ngân hàng
Điều này được thể hiện qua việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sởhữu tài sản Doanh nghiệp có thể nộp báo cáo tài chính không chính xác, cố ýđưa ra số liệu sai sự thật, phản ánh không đúng thực trạng SXKD và tình hìnhtài chính của đơn vị Những món cho vay trên cơ sở những thông tin giả nhưvậy dễ đưa đến rủi ro cho NH Bên cạnh đó lợi dụng khe hở về giấy tờ sở hữutài sản, doanh nghiệp có thể đem thế chấp một tài sản ở nhiều ngân hàng khácnhau Khi không thu được nợ, các NHTM phát mãi tài sản thì mới biết bị lừa
Ngoài ra, khách hàng có thể gian lận ngân hàng thể hiện qua việc sửdụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh,không đúng phương án đã nêu nên không trả được nợ đúng hạn hoặc khôngtrả được nợ Doanh nghiệp có thể vay vốn ngắn hạn nhưng lại dùng để mua
Trang 11sắm tài sản cố định và bất động sản Việc giá nhà đất đột ngột giảm xuốnglàm doanh nghiệp kinh doanh nhà đất bị thua lỗ nặng không thể trả được nợngân hàng Ngân hàng có phát mãi tài sản thế chấp đi nữa cũng không đủkhoản cho vay vì tài sản thế chấp cũng là nhà đất nên cũng giảm giá trị
Việc khách hàng gian lận gây ra rủi ro cho ngân hàng còn thể hiện quanhững hoạt động của người đi vay có tư cách kém như cố tình không trả nợngân hàng hoặc lừa đảo ngân hàng rồi bỏ trốn
Khách hàng không cố tình gian lận
Không chỉ khi khách hàng có ý không tốt ngân hàng mới gặp rủi ro màngay cả khi khách hàng đi vay có đủ tư cách, không có ý gian lận, ngân hàngvẫn có thể gặp rủi ro tín dụng Đó là khi khách hàng có trình độ kém, năng lựcquản lý yếu, không có đầu óc kinh doanh nên không thể đưa phương án kinhdoanh của mình đạt hiệu quả, không thể đưa doanh nghiệp của mình thắngtrong cạnh tranh nên việc trả nợ ngân hàng là rất khó khăn
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp bị lừa đảo trong kinh doanh hoặc bạn hàngcủa doanh nghiệp gặp rủi ro thì ngân hàng cũng gặp khó khăn trong việc thu
nợ đúng hạn
Bên cạnh đó, nhiều nguyên nhân rủi ro khách quan như thiên tai, trộmcắp có thể gây thiệt hại cho doanh nghiệp và có nguy cơ dẫn đến rủi ro tíndụng cho ngân hàng
2.4.2 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Các khoản cho vay có vấn đề và các thiệt hại cho vay có thể xảy ra do
sơ hở về thủ tục trong nội bộ ngân hàng Đây được gọi là các hoạt động chovay không hoàn hảo và nó xuất hiện do các nguyên nhân sau đây:
- Do thông tin tín dụng không đầy đủ Ngân hàng có một cái nhìnkhông toàn diện về bản thân khách hàng cũng như tình hình tài chính của họ.Điều đó dẫn đến sự sai lệch trong việc đánh giá hiệu quả của các khoản vay,cho vay quá khả năng chi trả của khách hàng
Trang 12- Trình độ chuyên môn của cán bộ ngân hàng nói chung và của cán bộtín dụng nói riêng còn hạn chế.
Hiện nay nhiều cán bộ tín dụng ngân hàng thiếu năng lực xử lý cácthông tin tín dụng để bảo vệ và giám sát khoản vay Cán bộ tín dụng không cókhả năng phân tích thẩm định dự án; kiến thức thị trường, kiến thức xã hộicũng bị hạn chế nên nhiều khi cho vay mà không đánh giá được liệu dự ánhay phương án đó có khả thi không
- Ngân hàng quá chú trọng về lợi tức, đặt mong muốn về lợi tức caohơn các khoản cho vay lành mạnh, do vậy rủi ro của khoản vay càng cao
- Sự cạnh tranh không lành mạnh với các ngân hàng khác để mongmuốn có tỷ trọng cho vay nhiều hơn Cạnh tranh không lành mạnh ở đây cóthể hiểu rằng ngân hàng đã bỏ qua một số bước kiểm định các khoản cho vay,
hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng nhằm lôi kéokhách hàng
- Hoạt động kiểm tra, kiểm soát chưa được tiến hành thường xuyên.Nhân viên tín dụng không nắm bắt được tình hình tín dụng của khách hàngcũng như môi trường tín dụng của nền kinh tế Do vậy, hoạt động sai sót,không nắm bắt kịp thời các khoản cho vay có vấn đề
2.4.3 Các nguyên nhân từ môi trường kinh doanh
Môi trường kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủđóng vai trò quyết định đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân nói chung
và lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, tín dụng của các ngân hàng thương mại nóiriêng
Chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ bao gồm các chính sách vềkinh tế, tài chính tiền tệ, kinh tế đối ngoại Chỉ cần chính phủ thay đổi mộttrong các chính sách trên, lập tức sẽ có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp và người chịu tác động trực tiếp là các ngânhàng thương mại và hoạt động kinh doanh của ngân hàng khác nhau luôn gắn
Trang 13bó mật thiết với hoạt động của các doanh nghiệp Chính vì vậy nếu chính sáchkinh tế vĩ mô của Chính phủ đúng đắn phù hợp với thực tiễn thì nó sẽ gópphần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tạo điều kiện cho các doanhnghiệp làm ăn có hiệu quả, nhưng ngược lại cũng sẽ kìm hãm sự phát triểnsản xuất kinh doanh làm cho các doanh nghiệp gặp khó khăn thậm chí thua lỗ,phá sản.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các yếu tố pháp lý là điều kiệnđảm bảo cho hoạt động kinh doanh, đặc biệt là các hoạt động tín dụng của cácngân hàng thương mại Nhưng cũng chính vì vậy, nếu môi trường pháp lýchưa hoàn chỉnh thiếu đồng bộ cũng sẽ gây khó khăn, bất lợi cho cả doanhnghiệp và ngân hàng
Môi trường kinh tế, môi trường pháp lý tạo nên môi trường kinh doanhcủa các doanh nghiệp đồng thời tạo nên môi trường cho vay của các ngânhàng thương mại Môi trường cho vay có ảnh hưởng, tác động tích cực haytiêu cực đến hoạt động tín dụng, nó sẽ góp phần làm hạn chế hoặc tăng thêmrủi ro trong các hoạt động tín dụng của các NHTM
Môi trường xã hội
Những biến động lớn về kinh tế chính trị trên thế giới luôn có ảnhhưởng tới công việc kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như của các ngânhàng Ngày nay, cùng với sự mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá, chính trị giữacác nước đời sống kinh tế thế giới cũng có nhiều biến đổi Muốn phát triểnkinh tế một cách toàn diện cần thực hiện mở cửa nền kinh tế để tiếp thunhững thành tựu khoa học kĩ thuật hiện đại của những nước phát triển, trao
Trang 14đổi, xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ với nước ngoài, đầu tư hoặc vay tiềncủa nước ngoài Tất cả các hoạt động đó tạo nên mối quan hệ kinh tế đốingoại của mỗi quốc gia Những thay đổi về chính trị rất có thể dẫn đến sựbiến động cán cân thương mại quốc tế, tỷ giá hối đoái giá các đồng tiền làmbiến động thị trường trong nước như giá cả nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch
vụ, mức lãi suất thị trường, mức cầu tiền tệ trực tiếp ảnh hưởng đến hoạtđộng sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp và người chịu tác động làcác ngân hàng thương mại
2.5 Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng ẩn chứa trong các khoản cho vay có vấn đề, được biết hiệnbằng nhiều dấu hiệu Tuy nhiên qua thực tiễn hoạt động tín dụng người ta cũngrút ra một số dấu hiệu cơ bản chỉ ra khó khăn tài chính của người đi vay và chính
đó là những cảnh báo đối với cán bộ tín dụng, với ngân hàng Ví dụ như :
- Việc trì hoãn nộp báo cáo tài chính:
Báo cáo tài chính là tài liệu quan trọng giúp ngân hàng hiểu được tìnhhình sản xuất kinh doanh năng lực tài chính của người đi vay, báo hiệu khảnăng hoàn trả các khoản nợ Việc trì hoãn nộp báo cáo tài chính có thể donhiều nguyên nhân khác nhau nhưng có thể thấy được tình hình hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp có những dấu hiệu không bình thường Vì vậy,doanh nghiệp không muốn ngân hàng biết sớm về sự sa sút năng lực tài chínhcủa mình
- Gia tăng bất bình thường hàng tồn kho, các khoản bán chịu và cáckhoản nợ:
Định mức tồn kế hoạch nguyên liệu, hàng hoá hợp lí là điều kiện cầnthiết để các doanh nghiệp đảm bảo ổn định sản xuất kinh doanh, song nếumức tồn kho vượt quá mức giới hạn cho phép chứng tỏ khả năng tiêu thụ sảnphẩm của doanh nghiệp là không bình thường Sự gia tăng hàng tồn kho nhưgiá cả, chất lượng, chủng loại hàng hoá dẫn đến doanh thu, thu nhập kém
Trang 15Đồng thời với sự gia tăng tồn kho, giảm sút doanh thu thì các khoảnvay cũng gia tăng chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp giảm sútlàm cho khả năng trả nợ ngân hàng là khó khăn.
- Giảm bất thường giá bán:
Điều này nếu không nằm trong chiến lược marketing của doanh nghiệpthì tức là doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính
- Hoàn trả nợ vay và lãi không đúng hạn:
Khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thìluân chuyển vốn cũng mất ổn định dẫn đến khả năng thanh toán gặp nhiềukhó khăn không thể hoàn trả nợ vay và lãi cho ngân hàng đúng kỳ hạn
Nếu tình trạng này diễn ra thường xuyên và mức độ ngày càng lớn thìđây chính là dấu hiệu rõ ràng nhất của rủi ro tín dụng
Ngoài các dấu hiệu trên thì còn rất nhiều yếu tố khác như doanh nghiệpthay đổi tổ chức, công nhân không có việc làm hay quan hệ giữa ngân hàng
và người vay trở nên kém thân thiện cũng là những dấu hiệu của rủi ro tíndụng, đòi hỏi các cán bộ tín dụng phải sát với thực tiễn và có những biện phápthích hợp làm giảm nguy cơ rủi ro có thể xảy ra
II Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại.
1 Những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng.
1.1 Sự cần thiết của công tác quản trị rủi ro tín dụng.
Để hạn chế những rủi ro phải làm tốt từ khâu phòng ngừa cho đến khâugiải quyết hậu quả do rủi ro gây ra, cụ thể là:
Dự báo, phát hiện rủi ro tiềm ẩn: phát hiện những biến cố không có lợi,ngăn chặn các tình huống không có lợi đã và đang xảy ra, có thể lan ra phạm
vi rộng
Giải quyết hậu quả rủi ro để hạn chế các thiệt hại đối với tài sản và thunhập của ngân hàng Đây là quá trình logic chặt chẽ Do đó, cần có quản trị đểđảm bảo tính thống nhất
Trang 16Phòng chống rủi ro được thực hiện bởi các nhân viên, cán bộ lãnh đạongân hàng Trong ngân hàng, nhân viên có suy nghĩ và hành động khác, cóthể trái ngược hoặc cản trở nhau Vì vậy, cần phải có quản trị để mọi ngườihành động một cách thống nhất.
Quản trị đề ra những mục tiêu cụ thể giúp ngân hàng đi đúng hướng,phải có kế hoạch hành động cụ thể và hiệu quả phù hợp với mục tiêu đề ra
1.2 Nhiệm vụ của quản trị rủi ro tín dụng.
Hoạch định phương hướng và kế hoạch phòng chống rủi ro Phươnghướng nhằm vào dự đoán xác định rủi ro có thể xảy ra đến đâu, trong điềukiện nào, nguyên nhân dẫn đến rủi ro, hậu quả ra sao…
Phương hướng tổ chức phòng chống rủi ro có khoa học nhằm chỉ ranhững mục tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thểchấp nhận được
Tham gia xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soátphòng chống rủi ro, phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựachọn những công cụ kỹ thuật phòng chống rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyếthậu quả do rủi ro gây ra một cách nghiêm túc
Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạchphòng chống rủi ro đã hoạch định, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, các sai sót khithực hiện giao dịch Nâng cao công tác phòng chống rủi ro trên cơ sở đó đềnghị các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống quản trịrủi ro
2 Đo lường rủi ro tín dụng.
Một trong những tính chất cơ bản của tài chính hiện đại là tính rủi ro,
và vì vậy tất cả các mô hình tài chính hiện đại đều được đặt trong môi trườngrủi ro Do đó, cần thiết phải có một khái niệm rủi ro và phải xây dựng công cụ
để đo lường nó Có thể sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đánh giá rủi rotín dụng.Các mô hình này rất đa dạng bao gồm các mô hình định tính và môhình định lượng
Trang 172.1 Mô hình định tính -Mô hình 6C
Đối với mỗi khoản vay, câu hỏi đầu tiên của ngân hàng là liệu kháchhàng có thiện chí và khả năng thanh toán khi khoản vay đến hạn hay không?Điều này liên quan đến việc nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh – 6C” của kháchhàng bao gồm:
- Tư cách người vay (Character): CBTD phải chắc chắn rằng người vay
có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn
- Năng lực của người vay (Capacity): Người đi vay phải có năng lựcpháp luật và năng lực hành vi dân sự, người vay phải là đại diện hợp pháp củadoanh nghiệp
- Thu nhập của người vay (Cashflow): xác định nguồn trả nợ của kháchhàng vay
- Bảo đảm tiền vay (Collateral): là nguồn thu thứ hai có thể dùng để trả
nợ vay cho ngân hàng
- Các điều kiện (Conditions): ngân hàng quy định các điều kiện tùytheo chính sách tín dụng từng thời kỳ
- Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi củaluật pháp, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩncủa ngân hàng
Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của môhình này là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập,khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của CBTD
2.2 Các mô hình định lượng.
2.2.1 Các nghiên cứu về xếp hạng tín dụng trên thị trường tài chính Mỹ Các công ty xếp hạng tín nhiệm của Mỹ được hình thành từ rất sớm so vớithế giới, bao gồm : Những tổ chức chuyên về xếp hạng tín nhiệm các công
cụ nợ của doanh nghiệp và xếp hạng tín nhiệm quốc gia hoạt động trênthị trường tài chính quốc tế như Moody’s và S&P; Và những tổ chức chuyên
về XHTD cá nhân như Equifax, Experian và TransUnion Do khó có thể tiếp
Trang 18cận mô hình tính điểm xếp hạng tín nhiệm của các tổ chức này một cách đầy
đủ nên đề tài nghiên cứu này chỉ trình bày khái quát về phương pháp và hệthống ký hiệu trong xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp đối với các công cụ
nợ và XHTD đối với cá nhân do những tổ chức tín nhiệm của Mỹ công bốcông khai Nghiên cứu này cũng tiếp cận một lý thuyết rất nổi tiếng củaAltman về chỉ số khả năng vỡ nợ đối với doanh nghiệp, đây là mô hình toánhọc về chỉ số tín dụng gồm nhiều biến số có thể dự báo tương đối chính xáctrên 90% các trường hợp vỡ nợ trên thị trường tài chính ở những nước pháttriển như Mỹ và Anh, qua đó, đề tài nghiên cứu đề xuất hướng nghiêncứu vận dụng nhằm bổ sung cho mô hình tính điểm tín dụng một biến sốđang sử dụng tại các tổ chức tín nhiệm và các NHTM Việt nam
2.2.1.1 Hệ thống xếp hạng tín dụng của Moody’s và S&P
Moody’s Investors Service (Moody’s) và Standard & Poor's (S&P) là hai
tổ chức tín nhiệm có uy tín và lâu đời tại Mỹ và cũng là những tổ chức tiênphong trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm trên thế giới, sau đó có thêm FitchInvestors Service Ngày nay, các tổ chức tín nhiệm này của Mỹ hoạt động trêncác thị trường tài chính lớn và cả những thị trường mới nổi trên toàn cầu Kếtquả xếp hạng tín nhiệm của các tổ chức này được đánh giá rất cao
Phương pháp xếp hạng tín nhiệm của Moody’s tập trung vào bốn lĩnhvực chính là đánh giá môi trường ngành, đánh giá tình hình tài chính,đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh, đánh giá khả năng quản trị doanhnghiệp chú trọng vào quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ Đối với Moody’sxếp hạng chất lượng công cụ nợ dài hạn của doanh nghiệp cao nhất từ Aaa
sau đó thấp dần đến C được thể hiện trong Bảng 1 So với Moody’s thì hệ
thống ký hiệu xếp hạng công cụ nợ dài hạn của S&P có thêm ký hiệu r, nếu
ký hiệu xếp hạng doanh nghiệp có kèm thêm ký hiệu này có nghĩa cần chú ýnhững rủi ro phi tín dụng có liên quan
Trang 19Bảng 1 : Hệ thống ký hiệu xếp hạng công cụ nợ dài hạn của Moody’s
Đầu tưAa1
Chất lượng caoAa2
Trang 202.2.1.2 Mô hình điểm số tín dụng cá nhân của FICO.
Điểm số tín dụng (Credit score) cá nhân là một phương tiện kiểm soáttín dụng được gắn cho mỗi cá nhân tại một số nước phát triển giúp tổ chứctín dụng ước lượng mức rủi ro khi cho vay Điểm tín dụng càng thấp thì mứcrủi ro của nhà cho vay càng cao Fair Isaac Corp đã xây dựng mô hình điểm
số tín dụng FICO thấp nhất là 300 và cao nhất là 850 áp dụng cho cá nhân
dựa vào tỷ trọng của 5 chỉ số phân tích được trình bày trong Bảng 2.
Bảng 2 : Tỷ trọng các tiêu chí đánh giá trong mô hình điểm số tín dụng
35% Lịch sử trả nợ (Payment history) : Thời gian trễ hạn càng dài và số
tiền trễ hạn càng cao thì điểm số tín dụng càng thấp
30% Dư nợ tại các tổ chức tín dụng (Amounts owed) : Nợ quá nhiều so với
mức cho phép đặc biệt là đối với thẻ tín dụng sẽ làm giảm điểm số tíndụng
15% Độ dài của lịch sử tín dụng (Length of credit history) : Thông tin càng
nhiều năm càng đáng tin cậy và điểm số tín dụng sẽ càng cao
10% Số lần vay nợ mới (New credit) : Vay nợ thường xuyên bị xem là dấu
hiệu có khó khăn về tài chính nên điểm số tín dụng càng thấp
10% Các loại tín dụng được sử dụng (Types of credit used) : Các loại nợ
khác nhau sẽ được tính điểm số tín dụng khác nhau
(Nguồn : //en http w i kipedia o r g)
Mô hình điểm số tín dụng FICO được áp dụng rộng rãi tại Mỹ do cácthông tin liên quan đến tình trạng tín dụng của mọi người có thể được ngânhàng kiểm tra dễ dàng qua các công ty dữ liệu tín dụng (Credit reportingcompanies) Công ty dữ liệu tín dụng thực hiện ghi nhận và cập nhật thông
Trang 21tin từ các tổ chức tín dụng, phân tích và cho điểm đối với từng người Theo
mô hình điểm số tín dụng của FICO thì người có điểm số tín dụng ở mức
700 được xem là tốt, đối với cá nhân có điểm số tín dụng thấp hơn 620 sẽ cóthể bị ngân hàng e ngại khi xét cho vay
II.2.2 Một số nghiên cứu về xếp hạng tín dụng khách hàng cá nhân tạiViệt Nam
II.2.2.1 Nghiên cứu của Stefanie Kleimeier về mô hình điểm số tíndụng cá nhân áp dụng cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Stefanie Kleimeier đã tiến hành nghiên cứu chi tiết nguồn số liệu đượctổng hợp từ các NHTM tại Việt nam theo hai mươi hai biến số bao gồm
độ tuổi, thu nhập, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thời gian công tác, tìnhtrạng cư ngụ, giới tính, tình trạng hôn nhân, mục đích vay… để xác địnhmức ảnh hưởng của các biến số này đến rủi ro tín dụng và qua đó thiết lậpmột mô hình điểm số tín dụng cá nhân áp dụng cho các ngân hàng thương mạitại Việt nam
Nghiên cứu của Stefanie Kleimeier đã xây dựng mô hình chấmđiểm tín dụng cá nhân gồm hai phần là chấm điểm nhân thân và năng lực trả
nợ, chấm điểm quan hệ với ngân hàng như trình bày tại Bảng 3 Căn cứ vào
tổng điểm đạt được để xếp loại theo mười mức giảm dần từ Aaa đến D như
trình trong Bảng 4 Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này không đưa ra
cách tính điểm cụ thể cho từng chỉ tiêu, để vận dụng được mô hình đòi hỏicác NHTM phải thiết lập thang điểm cho từng chỉ tiêu đánh giá phù hợp vớithực trạng và hệ thống cơ sở dữ liệu cá nhân tại ngân hàng mình
Trang 22Bảng 4: Ký hiệu XHTD cá nhân theo Stefanie Kleimeier Điểm Xếp hạng Ý nghĩa xếp hạng
> 400 Aaa
Cho vay tối đa theo đề nghị của người vay351-400 Aa
301-350 A
251-300 Bbb Cho vay theo tài sản đảm bảo
201-250 Bb Cho vay theo tài sản đảm bảo và đánh giá
đơn vay vốn151-200 B Yêu cầu đánh giá thận trọng đơn vay vốn,
và có tài sản101-150 Ccc
51-100 Cc
0-50 C
(Nguồn : Dinh Thi Huyen Thanh & Stefanie Kleimeier, 2006 Credit Scoring for
Bảng 3: Chỉ tiêu chấm điểm XHTD cá nhân bước một theo Stefanie Bước 1 : Chấm điểm nhân thân và năng lực trả nợ
Trình độ học vấn Sau đại học Đại học,
Dưới Trung học
Số người phụ thuộc Độc thân 1-3 người 3-5 người > 5 ngườiThu nhập hàng năm <12 triệu đồng 12-36 triệu 36-120 triệu > 120 triệuThu nhập hàng năm <24 triệu đồng 24-72 triệu 72-240 triệu > 240 triệu
Trang 23Bước 2 : Chấm điểm quan hệ với ngân hàng
Thực hiện cam kết
với ngân hàng
(ngắn hạn)
Khách hàngmới
Chưa baogiờ trễ hạn
Có trễ hạn íthơn 30 ngày
Có trễ hạn trên 30 ngày
Thực hiện cam kết
với ngân hàng (dài
hạn)
Khách hàngmới
Chưa bao giờtrễ hạn
Có trễ hạntrong 2 nămgần đây
100-500 triệuđồng
500 triệu-1 tỷđồng >1 tỷ đồng
Các dịch vụ khác
đang sử dụng
Tiền gửi tiết kiệm Thẻ tín dụng
Tiền gửi tiếtkiệm và thẻ
Không
Số dư bình quân tài
khoản tiết kiệm
trong năm trước
đây
<20triệuđồng
20 triệuđồng – 100triệu đồng
100 triệuđồng - 500triệu đồng
> 500 triệu đồng
(Nguồn : Dinh Thi Huyen Thanh & Stefanie Kleimeier, 2006 Credit Scoring for
2.2.2.2 Hệ thống xếp hạng tín dụng của CIC
Trung tâm Thông tin tín dụng của NHNN (CIC) thực hiện xếphạng tín nhiệm doanh nghiệp theo hướng dẫn của NHNN Việt nam nhằmtiến tới tiêu chuẩn hóa đánh giá các chỉ tiêu tài chính có thể áp dụng cho cácNHTM trong nước CIC hiện đang sử dụng các chỉ tiêu tài chính để chấmđiểm theo hướng dẫn tại quyết định 57/2002/QĐ-NHNN ngày 24/01/2002của NHNN bao gồm: tính thanh khoản, cân nợ, thu nhập, tình hình hoạt độngqua ba năm tài chính liên tục
Các doanh nghiệp niêm yết được xếp hạng cũng được phân theo quy mô,nguồn vốn kinh doanh, số lao động, doanh thu thuần, chỉ tiêu nộp ngân sách nhànước Ngoài ra, kết quả khảo sát tổng hợp các yếu tố: bảng cân đối kế toán, kếtquả kinh doanh, tình hình dư nợ ngân hàng, các thông tin phi tài chính cũngđược coi là yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của doanh nghiệp
Trang 24Kết quả đánh giá này chủ yếu được CIC đem cung cấp cho các tổ chức tín dụnglàm cơ sở phục vụ việc cấp vốn của các tổ chức này Căn cứ vào độ tin cậy tíndụng của các DN được khảo sát, cũng có thể xem đây là một gợi ý, kênh thamkhảo nhỏ về chất lượng DN để nhà đầu tư tự đưa ra quyết định rót vốn đúng đắn .Tuy nhiên, mô hình này rõ ràng còn có nhiều hạn chế do không đánh giá cao cácchỉ tiêu phi tài chính dẫn tới độ chính xác không cao
2.2.2.3 Hệ thống xếp hạng tín dụng của BIDV
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) xây dựng hệ thốngXHTD theo nguyên tắc hạn chế tối đa ảnh hưởng chủ quan của các chỉ tiêutài chính bằng cách thiết kế các chỉ tiêu phi tài chính, và cung cấp nhữnghướng dẫn chi tiết cho việc đánh giá chấm điểm các chỉ tiêu
Đây là một trong những NHTM tại Việt nam đi đầu trong áp dụngphân loại nợ theo Điều 7 của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN
Xếp hạng tín dụng và xếp hạng khoản vay cá nhân.
Mô hình chấm điểm XHTD cá nhân của BIDV bao gồm hai phần lànhóm các chỉ tiêu chấm điểm nhân thân với trọng số 0,4 và nhóm các chỉ tiêuchấm điểm quan hệ với ngân hàng với trọng số 0,6 Các chỉ tiêu đánh giá,
điểm ban đầu, và trọng số từng chỉ tiêu được trình bày trong Bảng 5
Bảng 5 : Các chỉ tiêu chấm điểm cá nhân của BIDV
56-60tuổi
20-25tuổi
>60 tuổihoặc 18- 10%
2 Trình độ
học
Trên đại học Đại học Cao đẳng
Trunghọc
Dưới
3 Tiền án, tiền
Trang 254 Tình trạng
Cư trú
Chủ sởhữu
Nhàchung cư
Với giađình
5 Số người
Ăn theo
<3người 3 người 4 người 5 người
Sốngvới chamẹ
Sốngcùng giađình khác
nhân mạng
>100triệu
50-100triệu
30-50triệu
Chuyênmôn
Lao độngđược đàotạo nghề
Laođộngthời vụ
Phần II : Quan hệ với ngân hàng
1 Thu nhập >10 5–10 3–5 triệu 1–3 triệu <1 triệu 30%
Ròng ổn định
hàng tháng
triệuđồng
Đã bịgia hạn
nợ, hiệntrả nợ tốt
Đã có nợquá hạn/
Kháchhàng mới
Đã có
nợ quáhạn, khảnăng trả
nợ không
ổn định
Hiệnđang có
nợ quáhạn
25%
Trang 26Chỉ sửdụng dịch
vụ thanhtoán
Với mỗi mức xếp hạng sẽ có cách đánh giá rủi ro tương ứng
Bảng 6: Hệ thống ký hiệu XHTD cá nhân của BIDV
(Nguồn : Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam)
Mô hình xếp hạng khoản vay cá nhân trong hệ thống XHTD củaBIDV là một ma trận kết hợp giữa kết quả XHTD với kết quả đánh giá tài
sản đảm bảo như trình bày trong Bảng 8 Việc đánh giá tài sản đảm bảo
cũng được chấm điểm theo ba chỉ tiêu là loại tài sản, tỷ suất giữa giá trị tàisản so với khoản vay, rủi ro gảm giá trị tài sản đảm bảo như trình bày trong
Bảng 7 Căn cứ vào
Trang 27Tổng điểm đã chấm cho tài sản đảm bảo để xếp loại theo ba mức A,
B, C như trình bày trong Bảng 9
Bảng 7 : Các chỉ tiêu chấm điểm tài sản đảm bảo của BIDV
Giấy tờ
có giá do
tổ chứcphát hành(Trừ cổphiếu)
Bấtđộngsản(Nhà ở)
Bấtđộng sản(Khôngphải nhàở), độngsản, cổphiếu
Không
có tàisản đảmbảo
100-100%
Trang 28Bảng 8: Ma trận kết hợp giữa kết quả XHTD với kết quả đánh giá tài
sản đảm bảo của BIDV
AAA
AAABBB
Trung bình/
Từ chối
BBBCCC
Trung bình/
Từ chối
Từ chối
CCCD
(Nguồn : Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam)
Bảng 9: Hệ thống ký hiệu đánh giá tài sản đảm bảo của BIDV
Điểm Mức xếp loại Đánh giá tài sản đảm bảo
(Nguồn : Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam)
2.3 Mô hình phân tích và quản trị rủi ro tín dụng với khách hàng thể nhân
2.3.1 Cơ sở lý thuyết trong việc chọn các biến của mô hình
Các mô hình quản trị rủi ro tín dụng đều có những ưu điểm và nhượcđiểm, mặt khác các mô hình này không loại trừ lẫn nhau, nên thông thườngcác ngân hàng thường kết hợp nhiều mô hình để phân tích đánh giá mức độ
Trang 29rủi ro tín dụng Trong thực tế Việt Nam,thường sử dụng các yếu tố định tính
để đánh giá khoản vay từ khâu thẩm định đến quản lý, theo dõi, kiểm tra vàgiám sát các khoản nợ Nhìn chung các ngân hàng đều có quan tâm đến hainhóm chỉ tiêu cơ bản sau:
- Nhóm chỉ tiêu về nhân thân khách hàng
- Nhóm chỉ tiêu về quan hệ của khách hàng với ngân hàng
Từ hai nhóm yếu tố trên sẽ xây dựng được các biến số được cho là
có tác động đến chất lượng tín dụng của khách hàng Thực hiền hồiquy lần lượt các biến giải thích đó với biến phụ thuộc là chất lượngtín dụng, để lựa chọn ra các biến tác động đến biến chất lượng tíndụng có ý nghĩa thống kê
Vì các biến giải thích được lựa chọn ở trên có quan hệ tương quan rấtchặt với nhau nên để khắc phục hiện tượng này, chúng ta dùng phương phápphân tích nhân tố: Ý tưởng cơ bản của phương pháp này là thay thế p biến banđầu, có quan hệ tương quan với nhau, bằng một số biến mới là tổ hợp tuyếntính của chúng; các biến này không tương quan với nhau sao cho giữ được sựkhác biệt tối đa giữa các cá thể, nhưng lại đảm bảo được sự liên hệ tối đa củachính các biến ban đầu Giả sử ban đầu mô tả mỗi cá thể bởi một véctơ pchiều mà mỗi thành phần là giá trị của một biến, sau đó tổ hợp các biến giảithích thành các vecto đôi một trực giao Mỗi vecto mới này là một thành phầnhay coi là một biến mới mà có thể đo lường các cá thể (các doanh nghiệp)trên một tiêu chuẩn nào đó
Giả sử với p biến giải thích Xj ( j 1 ,p ) ban đầu có quan hệ với biếnphụ thuộc Y như sau: Yk = uk1X1 + uk2X2 +….+ ukpXp.
Một bộ số (vectơ) uk xác định một biến Yk và tương ứng với Yk ta cócác giá trị tương ứng của các cá thể