1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các loại hình xưởng chế tác đá thời tiền sử ở đông nam bộ tt

27 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 392,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần đây, các công xưởng chuyên hóa như Hàng Ông Đại, Hàng Ông Đụng được phát hiện với đầy đủ các công đoạn trong quy trình chế tác công cụ đá.Các phát hiện mới góp phần thay đổi quan điể

Trang 1

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN KHÁNH TRUNG KIÊN

CÁC LOẠI HÌNH XƯỞNG CHẾ TÁC ĐÁ THỜI TIỀN SỬ Ở ĐÔNG NAM BỘ

Chuyên ngành: Khảo cổ học

Mã số: 62.22.03.17

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHẢO CỔ HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS BÙI CHÍ HOÀNG

Phản biện 1: PGS TS HÁN VĂN KHẨN

Phản biện 2: TS NGUYỄN GIA ĐỐI

Phản biện 3: TS PHẠM QUỐC QUÂN

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội

Vào hồi……… giờ……phút, ngày……tháng…… năm 2017

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

Thư viện Quốc gia Việt Nam Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

1 Nguyễn Khánh Trung Kiên (2011) Di tích khảo cổ học Cù Lao

Rùa (Bình Dương): khai quật và nhận thức Khảo cổ học, số 4 năm

2011, tr.31-45

2 Nguyễn Khánh Trung Kiên (2015) Công xưởng chế tác công cụ bằng đá

và đời sống của cộng đồng cư dân thời tiền sử ở Đông Nam Bộ Khoa học xã

hội số 5 (201) 2015, tr 86-99

3 Nguyễn Khánh Trung Kiên (2016) Khảo cổ học vùng ngập mặn

Đông Nam Bộ: đậc trưng văn hóa và quá trình phát triển Khoa học xã

hộisố 8 (216) 2016, tr 60-74

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trước đây, xưởng chế tác đá được phát hiện và nghiên cứu chưanhiềuở Đông Nam Bộ với các di tích: Cầu Sắt, Mỹ Lộc, Suối Linh, Đồi Phòng Không, Bưng Bạc, Dốc Chùa và Bưng Thơm Gần đây, các công xưởng chuyên hóa như Hàng Ông Đại, Hàng Ông Đụng được phát hiện với đầy đủ các công đoạn trong quy trình chế tác công cụ đá.Các phát hiện mới góp phần thay đổi quan điểm trước đây về tính "tự cấp - tự túc" và mở ra nhận thức mới hơn về hoạt động sản xuất mang tính chuyên hóa và tập trung cao với số lượng lớn sản phẩm trong các cộng đồng cư dân cổ Tư liệu về xưởng chế tác đá thời tiền sử

ở Đông Nam Bộ chưa được công bố một cách chi tiết

Vì thế, tác giả luận án lựa chọn đề tài “Các loại hình xưởng chế tác

đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ” nhằm hệ thống hóa tư liệu, phân loại

hình di tích, nhận diện những quan hệ giao lưu trao đổi, góp phần tìm hiểu vai trò của nghề thủ công chế tác đá thời tiền sử vùng đất này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Những tác nhân góp phần tạo nên sự ra đời các xưởng chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ?

- Quy trình kỹ thuật, loại hình hiện vật và khối lượng sản phẩm được làm ra tại các xưởng chế tác đáthời tiền sử ở Đông Nam Bộ?

Trang 5

- Sự chuyên môn hóa trong nghề thủ công chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ diễn ra ở mức độ nào?

- Vai trò của các xưởng chế tác đá đối với sự phát triển kinh tế-xã hội thời tiền sử ở Đông Nam Bộ?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu:các di tích có tính chất xưởng chế tác đá

thời tiền sử, các loại hình sản phẩm, kỹ thuật và quy trình sản xuất

3.2.Phạm vi nghiên cứu: các xưởng chế tác đávà một số di chỉ cư trú

điển hình ở Đông Nam Bộ có niên đại khoảng 3.500 -2.500 năm BP

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

- Phương pháp phân tích, hệ thống và tổng hợp tài liệu:được áp

dụng để tập hợp, xử lý các tài liệu

- Phương pháp điền dã khảo cổ học:được áp dụng trong quá trình điều

tra khảo sát, đào thám sát và khai quật, thu thập, lấy mẫu hiện vật

- Phương pháp loại hình học:được sử dụng để phân loại hiện vật

khảo cổ thành các nhóm dựa trên các tiêu chí, chỉ số đo đạc

- Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật học:nhận dạng kỹ thuật chế tác

và tái hiện lại các công đoạn chế tác trong quy trình sản xuất

- Phương pháp phân tích thạch học: tìm hiểu mối quan hệ giữa

nguồn nguyên liệu, nơi chế tác và sự trao đổi sản phẩm

- Phương pháp nghiên cứu so sánh: tìm hiểu mối quan hệ về mặt loại

hình, chất liệu của các di vật trong các di tích mà đề tài khảo sát

-Phương pháp thống kê, phân tích số liệu:tìm ra đặc trưng của mỗi loại

hình di vật và so sánh tương quan giữa hiện vật trong các di tích

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

5.1 Luận án góp phần hệ thống hóa tư liệu về các xưởng thủ công chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ, công bố các phát hiện và nhận thức mới được khai thác từ nhiều phương pháp nghiên cứu

Trang 6

5.2 Luận án đã xác lập hai cấp độ xưởng thủ công chế tác đá: công xưởng và di chỉ cư trú - xưởng, xác định các loại hình sản phẩm được chế tác, nhận diện quy trình, kỹ thuật chế tác

5.3 Luận án góp phần phác họa các con đường trao đổi sản phẩm từ các xưởng thủ công chế tác đá đến các di tích cư trú dựa vào các kết quả phân tích loại hình học và thạch học nhằm xác định vai trò của các xưởng chế tác đá trong đời sống xã hội thời tiền sử ở Đông Nam Bộ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

- Đây là công trình khoa học đầu tiên được thực hiện để hệ thống hóa tư liệu về loại hình xưởng thủ công chế tác đá ở Đông Nam Bộ

- Luận án góp phần giải quyết vấn đề nguồn gốc của di vật khảo cổ

để qua đó nhận định về sự giao lưu, trao đổi sản phẩm giữa các cộng đồng cư dân cổ dựa trên kết quả phân tích và xử lý số liệu thống kê

- Góp phần nhận thức các mối quan hệ trao đổi sản phẩm, giao lưu văn hóa, tính chuyên hóa trong sản xuất để hiểu rõ hơn phần nào về cơ cấu kinh

tế và xã hội sơ khai của những nhóm cư dân cổ trên vùng đất này

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Các số liệu thống kê, thông tin về di tích và các chỉ số đo đạc của các di vật được tổng hợp, xử lý mang tính hệ thống trong luận án là nguồn tư liệu so sánh đối chiếu cho các di tích cùng loại hình tại khu vực Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên

- Góp phần tìm hiểu và phác họa các tuyến đường lan tỏa của sản phẩmtại các xưởng chế tác đá thông qua quá trình giao lưu, trao đổi sản phẩm trong quá khứ và đồng thời cũng là các căn cứ để truy nguyên nguồn gốc của các di vật được khai quật trong tương lai qua so sánh đối chiếu

- Góp phần phác họa diện mạo cơ bản đời sống kinh tế - xã hội của các cộng đồng cư dân cổ ở Đông Nam Bộ tiền sử

Trang 7

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài các phần: Mở đầu và Kết luận, nội dung luận án có 4 chương:

- Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu (27 trang)

- Chương 2 Các di tích cư trú và xưởng chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ (28 trang)

- Chương 3 Loại hình, quy trình, kỹ thuật và sản phẩm của các xưởng chế tác đá ở Đông Nam Bộ (50 trang)

- Chương 4 Vai trò của các xưởng chế tác đá thời tiền sử Đông Nam

Bộ (34 trang)

Luận án còn có các phần: lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục hình ảnh minh họa, bảng số liệu, biểu đồ, tài liệu tham khảo, danh mục các bài báo khoa học đã công bố và phụ lục (bao gồm hình ảnh, bảng thống kê - số liệu phân tích, biểu đồ)

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Điều kiện địa lý - tự nhiên của miền Đông Nam Bộ

Đông Nam Bộ bao gồm các tỉnh: Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh Phía bắc và đông bắc của khu vực tiếp giáp với cao nguyên Nam Trung Bộ, phía đông và đông nam giáp biển Đông, phía tây và tây bắc giáp Campuchia, phía nam và tây nam giáp Tây Nam Bộ

1.1.1 Địa chất, địa hình và cảnh quan môi trường

- Địa chất, địa hình Đông Nam Bộ: là vùng chuyển tiếp giữa Nam Tây

Nguyên và Tây Nam Bộ, có nhiều dạng địa hình nguồn gốc khác nhau.Dạng thành tạo thứ nhất do hoạt động của núi lửa trong quá khứ đã tạo ra các cao nguyên đất đỏ ở khu vực phía bắc và đông bắc.Dạng thành tạo thứ hai là trầm tích phù sa sông, được chia thành hai nhóm: phù sa cổ và phù sa

mới.Ngoài ra, trong vùng còn có một số ngọn núi đá nằm rải rác

Trang 8

- Môi trường: mang tính chất của vùng nhiệt đới ẩm, thảm thực vật

tương đối phát triển, phân hóa rõ rệt theo địa hình và nguồn nước.Quần thể động vật phong phú về giống loài, nhiều về số lượng và có độ đa dạng sinh học cao Trong một số di tích khảo cổ như Cù Lao Rùa, Bình Đa, Rạch Núi, An Sơn, Bưng Bạc đã tìm thấy nhiều di cốt động vật, trên các đoạn xương có các dấu vết cắt hay chặt cho thấy khả năng chúng từng là

nguồn thức ăn của các cộng đồng cư dân cổ

1.1.2 Hệ thống thủy văn: sông Đồng Nai là dòng chảy chính và được

bổ sung nguồn nước từ các phụ lưu như: sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ ở đoạn hạ lưu gần cửa biển Sông suối vùng này không chỉ là nguồn cung cấp nước ngọt mà còn là nguồn lợi thủy sản đồng thời đó cũng là các tuyến giao thông đường thủy an toàn và thuận

lợi trong quá trình giao lưu và trao đổi sản phẩm

1.2 Tình hình phát hiện và nghiên cứu liên quan đến xưởng chế tác đá 1.2.1 Phát hiện và công bố tư liệu về di tích

Xưởng thủ công chế tác đá được phát hiện chưa nhiều ở Việt Nam, phần lớn ở các tỉnh phía Bắc Trong thập niên gần đây, một số di chỉ được phát hiện ở khu vực Tây Nguyên Riêng tại Đông Nam Bộ, di tích thuộc loại hình xưởng chế tác đá có số lượng ít hơn so với hai khu vực nói trên Tư liệu khai quật chỉ mới cung cấp thông tin cơ bản về di tích

và di vật, ít tiến hành các phân tích chi tiết nhưng đây là các nguồn tư liệu gốc và có vai trò rất quan trọng trong luận án

1.2.2 Các vấn đề nghiên cứu liên quan đến xưởng chế tác đá

- Phương pháp kỹ thuật học, nghiên cứu vết xước và thực nghiệm chế tác: trong thập niên 1970-1990, một số nghiên cứu chuyên sâu như

thực nghiệm kỹ thuật học, nghiên cứu dấu vết sử dụng trên công cụ bằng đá dưới kính phóng đại, hay các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng công cụ với một số ít di tích đã được tiến hành

Trang 9

- Nghiên cứu thạch học dưới kính hiển vi phân cực: một số nghiên

cứu ứng dụng kết quả phân tích thạch học bằng phương pháp quan sát lát mỏng dưới kính hiển vi phân cực để góp phần giải quyết vấn đề nguồn gốc nguyên liệu chế tác hiện vật khảo cổ cũng đã được thực hiện trong các di

tích ở miền Bắc và Đông Nam Bộ

- Nghiên cứu vai trò xã hội của các xưởng chế tác đá thời tiền sử:

một số nhà nghiên cứu đã so sánh và đánh giá vai trò của các xưởng chế tác đá hay nghề chế tác đá qua tư liệu thu thập được trong xã hội cổ đại Nghề thủ công chế tác đá được đánh giá có vai trò đặt nền móng cho sự phát triển của các ngành nghề khác trong xã hội tiền sử Một số nhà nghiên cứu cho rằng hoạt động sản xuất của các công xưởng ở Đông

Nam Bộ “mang tính thời vụ và liên quan đến yếu tố mùa trong năm”

- Nghiên cứu khảo cổ học lý thuyết:mô hình chuỗi biến đổi giảm dần

được áp dụng để nghiên cứu di vật tại di chỉ Bãi Bến nhằm khôi phục lại quy trình chế tác đá đã cho thấy tiềm năng ứng dụng của chúng trong khảo cổ học, đặc biệt là các nghiên cứu về loại hình xưởng chế tác đá

1.2.3 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Chưa có công bố hay nghiên cứu nào của học giả nước ngoài liên quan trực tiếp đến nội dung và phạm vi nghiên cứu của luận án này Ngay từ những năm 1950, có những nghiên cứu bước đầu về kỹ thuật chế tạo công cụ đá ở Philippine mà điển hình là của H.O Beyervề kỹ thuật cưa và khoan trên di vật đá Các di chỉ thời Đá mới ở Philippines phát hiện đá nephrite nguồn gốc từ khu vực mỏ đá nguyên liệu ở phía đông Đài Loan và được cư dân bản địa chế tạo tại chỗ thành các đồ trang sức

ở các di chỉ xưởng Nhiều nghiên cứu cho biết sự tồn tại của hàng loạt di chỉ xưởng chế tác đồ đá trong khoảng thời gian 2.000 đến 1.000 năm trước Công nguyên ở vùng ven biển phía nam Trung Quốc

Trang 10

Ở Đông Nam Á lục địa, những nghiên cứu ở Thái Lan đóng một vai trò quan trọng trong việc nhận thức một truyền thống khu vực về chế tạo đồ đá trong một số di chỉ xưởng Những nghiên cứu phân tích dấu vết sử dụng thường được thực hiện trong quá trình nghiên cứu kỹ thuật chế tác và sử dụng công cụ đáng chú ý của L.H Keeley năm 1980

Một công trình quan trọng cho các nghiên cứukỹ thuật chế tác thời

tiền sử là “Kỹ thuật nguyên thủy” của S A Semenov đề cập đến các kỹ

thuật chế tác chính trong thời tiền sử cùng các dấu vết nhận dạng

1.3 Tiểu kết chương 1

Kết quả nghiên cứu liên ngành cho thấy Đông Nam Bộ trong quá khứ

có những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc định cư của con người Tư liệu từ các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước với nhiều cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau đã có những đóng góp nhất định và góp phần định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo

Riêng đối với nguồn tư liệu liên quan trực tiếp đến luận án về loại hình xưởng chế tác đá, gần như chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào được triển khai mà chỉ là các công bố bước đầu dưới dạng báo cáo khai quật hay bài công bố về kết quả khai quật

CHƯƠNG 2 CÁC DI TÍCH CƯ TRÚ VÀ XƯỞNG CHẾ TÁC ĐÁ THỜI TIỀN SỬ Ở ĐÔNG NAM BỘ

2.1 Sự phân bố các di tích khảo cổ học trên địa bàn Đông Nam Bộ 2.1.1 Di tích cư trú

Di tích khảo cổ trong vùng phân bố trên nhiều dạng địa hình với nhiều loại hình, từ các di tích đất đắp dạng tròn ở Bình Phước, cho đến các di tích cư trú, cư trú - mộ táng dọc theo lưu vực sông Đồng Nai, sông Bé, sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông, thuộc “văn hóa Đồng Nai”

Trang 11

Trên địa bàn cao nguyên đất đỏ Bình Phước là không gian đặc trưng của các di tích đất đắp dạng tròn, là một dạng di tích cư trú đặc biệt có thêm yếu tố phòng thủ; ven dòng chảy các dòng sông chính như: sông

Bé, Đồng Nai, Sài Gòn, Vàm Cỏ… ra đến vùng ngập mặn cận biển là hàng loạt các di tích cư trú phân bố gần nhau

2.1.2 Xưởng thủ công chế tác đá

Ở đoạn hạ lưu sông Bé, gần nơi hợp lưu với sông Đồng Nai là các xưởng chế tác đá như: Hàng Ông Đại, Hàng Ông Đụng, Hàng Tam Đẳng, Suối Linh và Đồi Phòng Không.Ven hữu ngạn sông Đồng Nai là các xưởng: Mỹ Lộc và Dốc Chùa Trên vùng đất đỏ Xuân Lộc là di tích Cầu Sắt là di chỉ cư trú và chế tác công cụ đá Ở vùng ngập mặn cận biển là hai di tích Bưng Bạc và Bưng Thơm

2.2 Các xưởng thủ công chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ 2.2.1 Di tích Hàng Ông Đại: thuộc xã Tân Định, huyện Tân Uyên, tỉnh

Bình Dương, khai quật năm 2008 Đây là một công xưởng chế tác công cụ

đá, tầng văn hóa dày đặc các mảnh tước và phác vật, phế vật công cụ cùng dụng cụ chế tác Dấu vết cư trú rất mờ nhạt, chỉ mang tính giai đoạn hoặc thời vụ, liên quan đến hoạt động chế tác Cuốc và rìu là sản phẩm phổ biến nhất với hai nhóm: tứ giác và có vai Ngoài ra còn có đục tứ giác, dao hái hình bán nguyệt Niên đại tương đối của di tích từ 3.500 - 3.000 năm BP

2.2.2 Di tích Hàng Ông Đụng: thuộc xã Tam Lập, huyện Phú Giáo,

tỉnh Bình Dương, được đào thám sát năm 2009 và khai quật năm 2010 Sản phẩm chính gồm: rìu tứ giác, rìu có vai, cuốc, dao hái, đục… phần lớn là công cụ có kích thước nhỏ, trong đó rìu và dao hái là sản phẩm chủ yếu cùng với một số ít hiện vật có thể sử dụng làm vũ khí (giáo, lao) và đàn đá (lithophone).Niên đại tương đối của di tích từ 3.500 - 3.000 năm BP

2.2.3 Di tích Đồi Phòng Không: thuộc xã Hiếu Liêm, huyện Vĩnh Cửu,

tỉnh Đồng Nai, được khai quật với quy mô nhỏ và đã ghi nhận vết tích của

Trang 12

một công xưởng chuyên chế tác các vòng đeo tay bằng loại đá phiến sừng với kỹ thuật khoan tách lõi với sự “tồn tại cả hai kỹ thuật khoan tách lõi bằng mũi khoan và khoan ống” và chưa tìm thấy dấu vết của quá trình cư trú lâu

dài nơi đây Niên đại tương đối khoảng 3.000 - 2.500 năm BP

2.2.4 Địa điểm Hàng Tam Đẳng: cách Hàng Ông Đại khoảng 800m về

phía hạ lưu.Tại bãi bồi ven bờ sông xuất lộ bãi đá rộng khoảng 7.500m2, có nhiều khối đá lớn - nhỏ nằm ngổn ngang, lẫn trong đó là các phác vật đã

được ghè đẽo tách ra từ các khối đá nguyên liệu để mang về nơi chế tác 2.2.5 Di tích Cầu Sắt: thuộc xã Bình Lộc, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng

Nai Hiện vật đá được tìm thấy trong hố khai quật với các loại hình: rìu, bôn, đục, dao, dao hái, hòn ghè, chày, mũi nhọn, mảnh vòng và bàn mài Di tích bên cạnh tính chất di tích cư trú còn có yếu tố của “di chỉ - xưởng chế tác công cụ đá và làm gốm”.Di vật đá và đồ gốm tương tự như Suối Linh và một

số di tích ở lưu vực sông Đồng Nai nên có thể cho rằng niên đại tương đối của di tích Cầu Sắt khoảng 3.500 - 3.000 năm BP

2.2.6 Di tích Suối Linh: thuộc xã Hiếu Liêm, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng

Nai, tại đây bên cạnh tính chất cư trú còn là một xưởng chế tác công cụ với các công đoạn ghè tu chỉnh và mài để cho ra các sản phẩm hoàn thiện Sản phẩm chủ yếu tại Suối Linh là những chiếc rìu tứ giác, dao hái và một

số lượng ít hơn là những chiếc rìu - cuốc có vai và đục Niên đại tương đối của di tích khoảng 3.500 - 3.000 năm BP

2.2.7 Di tích Cầu Tám: thuộc xã Hiếu Liêm, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh

Đồng Nai, là một di chỉ xưởng sản xuất đồ đá, sản phẩm giống với Suối Linh và có thể hai di tích này đồng đại, trong hệ thống các di tích nằm ven sông Bé Với tư liệu hiện nay, việc xếp riêng Cầu Tám như một di

chỉ xưởng tách biệt khỏi Suối Linh trong luận án mang tính tạm thời 2.2.8 Di tích Mỹ Lộc: thuộc xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình

Dương Đây là một di chỉ xưởng chế tác công cụ đá với sản phẩm phổ biến

Trang 13

là công cụ tứ giác, công cụ có vai chiếm tỷ lệ ít hơn Tại đây chỉ diễn ra công đoạn mài hoàn thiện sản phẩm với gần 1.000 bàn mài được tìm thấy cùng với số lượng lớn phác vật công cụ được mang về sau khi đã trải qua các công đoạn sơ chế từ các công xưởng.Niên đại tương đối của di tích khoảng hơn 3.000 - 2.500 năm BP

2.2.9 Di tích Dốc Chùa: thuộc xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình

Dương Sưu tập khuôn đúc phát hiện tại di tích này là những chứng tích về nghề luyện kim của cư dân Đông Nam Bộ tiền sử Các khuôn đúc cho thấy Dốc Chùa không chỉ là di tích cư trú - mộ táng mà còn mang yếu tố xưởng thủ công chế tác khuôn Niên đại di tích khoảng 3.200 - 2.500 năm BP

2.2.10 Di tích Bƣng Bạc: thuộc ấp Phước Hữu, xã Long Phước, Bà Rịa -

Vũng Tàu Đây là di tích cư trú trên nhà sàn quy mô lớn dạng một “làng cổ”, tại đó diễn ra các nghề thủ công chế tác vòng tay đá và luyện kim đúc đồng Vòng tay, lõi vòng và phác vật hình đĩa làsản phẩm của nhiều công đoạn chế tác đã giúp tái dựng quy trình sản xuất vòng đeo bằng đá tại di chỉ xưởng này Niên đại Bưng Bạc khoảng 3.000 - 2.500 năm BP

2.2.11 Di tích Bƣng Thơm: xã Long Tân, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa -

Vũng Tàu Qua các đợt khai quật cho thấy tính chất cư trú trên nhà sàn của di tích, đồng thời qua các khuôn đúc và mảnh khuôn có số lượng lớn

và thuộc nhiều bước trong quá trình chế tác thu được thể hiện khá rõ yếu

tố của xưởng thủ công chế tác khuôn đúc bằng sa thạch Bưng Thơm có niên đại khoảng 2.500 - 2.300 năm BP

Ngày đăng: 23/10/2017, 17:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

CÁC LOẠI HÌNH XƢỞNG CHẾ TÁC ĐÁ THỜI TIỀN SỬ Ở ĐÔNG NAM BỘ  - Các loại hình xưởng chế tác đá thời tiền sử ở đông nam bộ tt
CÁC LOẠI HÌNH XƢỞNG CHẾ TÁC ĐÁ THỜI TIỀN SỬ Ở ĐÔNG NAM BỘ (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w