1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ, năm 2013

115 555 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 311,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo khuyến cáo cúa WHO, các bà mẹ nên cho trẻ búsớm ngay sau khi sinh, nuôi trẻ bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, chotrẻ ăn bố sung hụp lý và bú mẹ kéo dài tới 24 tháng hoặc lâu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

PHẠM DUY CƯỜNG

THỰC TRẠNG NUÔI CON BANG SỮA MẸ

VÀ MỘT SỖ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI HUYỆN

THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ NĂM 2013

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Mã số: 60.72.03.01

Hướng dẫn khoa học: TS CAO THỊ THU HƯƠNG

TS NGUYỀN ĐỨC THANH

Trang 3

học Y Dược Thái Bình đã tạo môi trường tốt nhất để tôi học tập và hoàn thànhluận văn của mình.

Tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Khoa Y tế Côngcộng - Trường Cao Đẳng Y Tế Phú Thọ đã tạo mọi điều kiện để tôi được họctập và hoàn thành khóa học cao học này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới TS Cao Thị Thu Hương và

TS Nguyễn Đức Thanh đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và khuyển khích tôitrong suốt quá trình học tập, nghicn cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới tất cả các Thầy, Cô đã giúp đỡ

và đóng góp những ý kiến quý báu dành cho tôi trong suốt quá trình xây dụng

đề cương, triển khai đề tài và hoàn chinh luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám đốc cùng toàn thể cácanh, chị cm đồng nghiệp của Trung tâm Y tế và các trạm y tế xã thuộc huyệnThanh Sơn nơi tôi tiến hành nghicn cứu, đà tạo mọi điều kiện để tôi triển khai

đề tài nghicn cứu của mình

Cuối cùng, tôi xin bày tò lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân tronggia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động vicn tôi trong suốt quá trìnhhọc tập và hoàn thành luận văn này

Trân trọng cam ơn!

Thủi Bình, tháng 10 năm 2014

Phạm Duy Cường

Trang 4

thực và chưa có ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.

Học viên

Phạm Duy Cường

Trang 5

:Alive and Thrive

( Nuôi dưỡng và phát triển )

: Nuôi con bằng sữa mẹ

: Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

: Nghị Định - Chính Phũ

: Nhân viên y tế

: Oral rehydration salts

( Muối bồi phụ nước bằng đường uống)

: Phố thông trung học

: Quốc Hội

: Phổ thông cơ sở

: Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc

: Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ

: World Health Organization

(Tổ chức Y tế thế giới)

: Chương trình cung cấp dinh dưỡng đặc biệt cho phụ

nữ, trẻ sơ sinh và trẻ em của Hoa Kỳ

Trang 6

ĐẶT VÁN ĐÈ 1

CHƯƠNG 1: TÓNG QUAN 4

1.1 Một số hiểu biết về nuôi con bằng sữa mẹ 4

1.1.1 M ột số khái niệm 4

1.1.2 T hành phần cơ bản của sữa mẹ 6

1.2 Tầm quan trọng và lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ 9

1.2.1 Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ 9

1.2.2 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ 9

1.3 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ 12

1.3.1 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ trên thế giới 12

1.3.2 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ tại Việt Nam 13

1.4 Một số yếu tổ ảnh hưởng đến tập quán NCBSM 14

Chuông 2: ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 24

2.1.2 Đổi tượng nghiên cứu 26

2.1.3 Thời gian nghicn cứu: 27

2.2 Phương pháp nghiên cứu 27

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 27

2.2.2 Cỡ mầu và phương pháp chọn mẫu 27

2.2.3 Các chỉ số và biến số 28

2.2.4 Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu 29

2.2.5 Cách tính một số tỷ lệ đánh giáthực hành NCBSM 30

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 31

Trang 8

24 tháng tuổi trên địa bàn huyện Thanh Son, tính Phú Thọ 343.2 Xác định một số yếu tố liên quan đến việc nuôi con bàng sữa mẹ của cácbà

mẹ có con từ 1 -24 tháng tuổi trên địa bàn huyện Thanh Son, tinh Phú Thọ 47

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 54

4.1 Mô tả thực trạng nuôi con bàng sữa mẹ cùa các bà mẹ có con dưới 25tháng tuổi trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 544.2 Xác định một số yếu tổ liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ củacác bà mẹ có con dưới 25 tháng tuổi trên địa bàn huyện Thanh Sơn, tỉnhPhú Thọ 65

KÉT LUẬN 70 KHUYÊN NGHỊ 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

Bảng 3.1 Một số thông tin về bà mẹ có con dưới 25 tháng tuối tham gia

nghiên cứu 34

Bảng 3.2 Một số thông tin về trẻ dưới 25 tháng tuổi 35

Báng 3.3 Nguồn cung cấp thông tin về NCBSM cho các bà mẹ 35

Bảng 3.4: Tỷ lệ bà mẹ biết tác dụng cúa việc cho bú ngay sau đẻ 36

Bảng 3.5: Tỷ lệ bà mẹ biết thời gian cho trẻ bú mẹ hoàn toàn 36

Báng 3.6 Tỷ lệ bà mẹ biết thời gian cho trẻ ăn bố sung 37

Bảng 3.7 Tỷ lệ bà mẹ biêt thời diêm nên cho trẻ ăn thêm sữa bò, sữa dê, nước hoa quả 37

Bảng 3.8: Tỷ lệ bà mẹ biết thời gian cai sữa cho trẻ 38

Bàng 3.9: Tý lệ bà mẹ biết nhũng bệnh trẻ ít mắc khi được nuôi bằng sữa mẹ 38

Báng 3.10 Tỷ lệ bà mẹ biết các việc cần làm để tiết nhiều sữa 39

Báng 3.11: Lý do trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ 40

Bảng 3.12: Tỷ lệ trẻ ăn, uống thêm trong 3 ngày đầu sau sinh 40

Bảng 3.13: Thời gian cai sữa cho trẻ của các bà mẹ 41

Bảng 3.14 Tỷ lệ trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ 42

Bảng 3.15 Tỷ lệ bà mẹ thực hành đúng khi cho trẻ bú lần đầu 43

Bảng 3.16 Vấn đề bà mẹ gặp phải khi cho con bú 43

Bảng 3.17 Thời gian các bà mẹ đi làm sau khi sinh 44

Bảng 3.18 Mục đích các bà mẹ vắt sữa ra 45

Bảng 3.19 Tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú ở nơi công cộng khi tré đòi bú 45

Bảng 3.20 Thái độ của bà mẹ về việc cho trẻ dưới 6 tháng bú về đêm 46

Băng 3.21 Mối liên quan giữa trình độ học vấn, nghề nghiệp và tuổi của bà mẹ với nuôi con bằng sữa mẹ 47

Bảng 3.22 Mối liên quan giữa nơi ở của bà mẹ với NCBSM 48

Bảng 3.23 Mối liên quan giữa nơi sinh với NCBSM 48

Trang 10

Bảng 3.25.Mối liên quan giữa học vấn và nghề nghiệp của bà mẹ với thực

hành cho trẻ bú sớm sau sinh 49Bảng 3.26 Mối liên quan giữa các bà mẹ được tiếp cận các nguồn thông tin

với thực hành bú sớm sau sinh 50Bảng 3.27 Mối liên quan giữa các bà mẹ được tiếp cận các nguồn thông tin

với thực hành không cho tré ăn trước khi cho bú lần đầu 51Bảng 3.28 Mối liên quan giữa thời gian đi làm sau sinh của bà mẹ với thời

gian cai sữa trẻ 51Bảng 3.29: Mối liên quan giữa số con của bà mẹ với thực hành về NCBSM 52Bảng 3.30: Mối liên quan giữa kiến thức của bà mẹ về NCBSM với thực hành

về NCBSM 52Bảng 3.31 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành về cho trẻ bú sớm

trong giờ đầu sau sinh cúa các bà mẹ 53

Trang 11

Biồu đồ 3.3: Tý lộ trẻ 1 -6 được bú mẹ hoàn toàn và trẻ hiện còn bú mẹ 42Biếu đồ 3.4 Tỷ lệ các bà mẹ có cảm giác căng tức sữa và vắt sữa ra khi đi làm 44

Trang 12

Nuôi con bằng sữa mẹ là một biện pháp quan trọng hàng đầu nhằm đảmbảo cho sự phát triền tốt của trẻ Sữa mẹ cung cấp cho trẻ những chất dinhdưỡng cần thiết, những kháng thề chống bệnh tật giúp trẻ khoé mạnh Trẻđược nuôi dưỡng bằng sữa mẹ sẽ chóng lớn, phát trien đầy đú về the lực cũngnhư trí tuệ [4], [21] Theo khuyến cáo cúa WHO, các bà mẹ nên cho trẻ búsớm ngay sau khi sinh, nuôi trẻ bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, chotrẻ ăn bố sung hụp lý và bú mẹ kéo dài tới 24 tháng hoặc lâu hơn [59],

Lợi ích của việc NCBSM đối với sức khỏe trẻ em, bà mẹ, gia đình và xãhội đã được thừa nhận Những lợi ích trước mắt cho sức khỏe của mẹ và trẻ,ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy vai trò của nuôi con bàng sữa mẹtrong việc ngăn ngừa các bệnh mân tính Trẻ được nuôi dưỡng bàng sữa mẹ ít

có nguy cơ mắc bệnh béo phì và một số bệnh mạn tính như dị ứng, hen phếquản [22], Bên cạnh những lợi ích về mặt y tế, việc nuôi con bằng sữa mẹcòn đem lại lợi ích về kinh tế cho cả gia đình và hộ thống y tế, NCBSM ít tốnkém thời gian, tiền bạc hơn so với nuôi con bằng sữa nhân tạo Điều này có ýnghĩa đặc biệt đối với những gia đình nghèo khi họ, những người đang phảichi tiêu một khoản lớn trong thu nhập cúa mình cho các sán phẩm sữa tré em,tin tướng rằng nuôi con bằng sữa mẹ là cách đế tăng cường sự thông minh chotrẻ và cũng là cơ hội cho trẻ có được cuộc sống tốt đẹp hơn [ 16], [34],

Theo WHO, mỗi năm trên trái đất có hơn 1 triệu trẻ em tử vong và hàngtriệu trẻ phải gánh chịu hậu quả lâu dài do không được nuôi dưỡng hợp lý[54], Việc cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời có thể giúp rấtnhiều trẻ em giảm nguy cơ tử vong UNICEF ước tính hàng năm cho trẻ búsữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau sinh có thể phòng tránh được tử vongcho 1,3 triệu trẻ em dưới năm tuổi [52], Ngoài ra, việc NCBSMHT trong 6tháng đầu có thể ngăn cản việc bà mẹ sớm có thai trở lại [2],

Trang 13

Tỷ lệ NCBSMHT trên thế giới cũng như ở Việt Nam rất thấp Theo báocáo vì sự tiến bộ trẻ em của Unicef, tý lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu giaiđoạn 1996-2004 thì khu vực Châu Á Thái Bình Dương cao nhất (43%), khuvực Đông và Nam Phi (41%), Nam Á (38%), Trung Cận Đông và Nam Phi29%, Trung Đông Âu và khối các quốc gia độc lập (22%), Tây và Trung Phi20% Tỷ lệ NCBSMHT ở các nước đang phát triển là 36%, nước kém pháttriển là 34% Cũng theo báo cáo này thì tý lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu ởnước ta là 15%, tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực:Trung Quốc là 50%, Indonesia là 40%, Lào 23%, Philippin 34% [58],

Theo khảo sát cùa Viện Dinh dưỡng & Tổng cục Thống kê năm 2005, tỷ

lệ bà mẹ NCBSM hoàn toàn trong 4 tháng đầu là 18,9%, ở nông thôn tỷ lệ này

là 20,8% và ở thành thị là 16,2% Tỷ lệ bà mẹ NCBSM hoàn toàn giảm nhanhsau tháng thứ tư, tỷ lệ NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu chỉ còn 12,2%, và

có tới 38,7% bà mẹ cho con ăn thức ăn khác ngoài sữa mẹ ngay trong tuầnđầu tiên [20]

Huyện Thanh Sơn là một huyện vùng núi của tỉnh Phú Thọ, huyện lỵ làthị trấn Thanh Sơn, có dân số là khoảng 120.229 người trong đó có khoảng30.000 tré em dưới 25 tháng tuổi Tỷ lệ SDD trẻ <5 tuổi là 19,61% cao hơn tỷ

lệ trung bình của toàn tinh là 16,1% Không có số liệu chính thức về NCBSM,tuy nhiên theo đánh giá của cán bộ y tế xã thì “mặc dù được cán bộ y tế tư vấnnhưng cũng chỉ có khoảng dưới 20% các bà mẹ NCBSM hoàn toàn trong 6tháng đầu Đa số các bà mẹ bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung từ tháng thứ 3-4” Ketquả phỏng vấn nhanh một số bà mẹ có con từ 6 tháng đến dưới 2 tuồi cũngcho thấy họ biết được một số lợi ích của việc NCBSM, nhưng đa số cho rằngchỉ cần NCBSM hoàn toàn trong 3-4 tháng, sau đó nên cho trẻ ăn bồ sung chocứng cáp

Với khuyến cáo NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng như hiện nay thì thực

tế các tỷ lệ này sẽ như thế nào? Bà mẹ sẽ phải đối mặt với những khó khăn gì

Trang 14

đế có thế thực hiện được NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng? Câu hỏi này hiện

nay vẫn ít được đề cập đến.

Trước tình trạng này chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng nuôi con hằng sữa mẹ và một so yếu to liên quan trên địa hàn huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ năm 2013 " Nhằm hai mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ có con dưới 25tháng tuồi trên địa bàn huyện Thanh Son, tỉnh Phú Thọ

2 Xác định một sổ yếu tố liên quan đến việc nuôi con bằng sữa mẹ củacác bà mẹ có con dưới 25 tháng tuổi trên địa bàn huyện Thanh Son,tỉnh Phú Thọ

Trang 15

1.1 Một số hiểu biết về nuôi con bằng sữa mẹ

- Bú sớm: là cho trẻ bú ngay trong vòng 30 phút đến 1 giờ sau khi sinh[54],

- Bú mẹ c hủ yếu\là cách nuôi dưỡng trong đó nguồn dinh dưỡng chính

là sữa mẹ, tuy nhiên trẻ có thồ được nhận them nước uống đơn thuần hoặcmột số thức ăn, đồ uốn dạng lỏng như nước hoa quả, nước đường, ORS hoặccác loại thức ăn lóng cố truyền với số lượng ít [ 14], [ 57]

- Bú bì nh : là cho trẻ bú bằng bình sữa, bất kế sữa gì kế cả sữa mẹ vắt ra

cho vào bình [57],

- C ai sữa: là sự chuyển giao vai trò cung cấp năng lượng từ sữa mẹ

sang các thực phấm trong bừa ăn gia đình đế kết thúc thời kỳ bú mẹ [56]

- C ho trẻ ăn bố sung (ăn sam):Theo tổ chức Y te thế giới (WHO)sữa

mẹ chi thoả mãn nhu cầu cùa cơ thể trẻ trong 6 tháng đầu vì cơ thể trẻ ngàycàng lớn lên Do vậy đế đáp ứng nhu cầu phát trien của trẻ, đến một giai đoạnnhất định trẻ cần ăn bổ sung thức ăn khác ngoài sữa mẹ Ăn sam cho trẻ bắtđầu từ 5 tháng tuổi trờ lên [26],

Trang 17

Bát bột của trẻ có đu 4 nhóm thức ăn: nhóm chất bột (gạo, ngô,khoai, ), nhóm chất béo (lạc, vùng, dầu, mỡ ), nhóm chất đạm (thịt, trứng,sữa, cá ), rau và hoa quả.

- Cho trẻ bú sớm sau sinh :

Cho trẻ bú càng sớm càng tốt, muộn nhất là không quá 30 phút sau sinhthường và 4 giờ sau mổ lấy thai [52] Cho trẻ bú sớm để tận dụng sữa non,động tác bú vú sẽ kích thích tuyến yên sản xuất oxytocin và prolactin giúp tửcung mẹ co hồi tốt tránh băng huyết sau sinh

Không ncn vắt sữa non, cũng không cần cho trổ uống bất kỳ thức uống

gì ngoài bú mẹ

- Cho trẻ bú như thế nào?

Bú nứa giờ đầu sau sinh

Bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu mà không cần cho trẻ ăn uống thêm bất

cứ thứ gì khác

Mẹ và con luôn nằm cạnh nhau

Cho trẻ bú theo nhu cầu

Trẻ không bú được thì vắt sữa ra ly và cho trẻ bú bằng thìa

Trẻ bị bệnh cần cho bú mẹ nhiều hon

Cho trẻ bú mẹ kéo dài đến 2 năm hoặc nhiều hơn

- Tư thế ngậm bắt vú như thế nào là đúng?

Toàn thân trẻ áp sát vào người mẹ, đầu thân và mông tré thẳng hàng.Miệng trẻ mở rộng, cằm sát vú mẹ

Ngậm sâu vào quầng vú

Mẹ không cảm thấy đau đầu vú

- Làm thế nào người mẹ có đủ sữa nuôi con?

Ăn no, uống đú, ngủ tốt

Trang 18

Cho trẻ bú từng lượt bên, hết vú bên này mới chuyển bên kia.

Trong những năm gần đây rất có nhiều đề tài nghiên cứu khẳng định tầmquan trọng của sữa mẹ và lợi ích nuôi con bàng sữa mẹ, đã có nhiều chươngtrình giáo dục sức khỏe về nuôi con bằng sữa mẹ và lợi ích của sữa mẹ

Nuôi con bằng sữa mẹ là biện pháp tự nhiên nhưng kinh tế, an toàn vàhiệu quả bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em

1.1.2 Thành phần cơ bán của sữa mẹ

Sữa mẹ được coi là một loại vắc-xin có thể phòng tránh tử vong cho trẻ,chi phí thấp, an toàn, có thế uống trực tiếp và không cần bảo quản lạnh [41].Sữa mẹ được bài tiết theo cơ chế phản xạ, khi trẻ bú xung động cảm giác từ

vú lên não kích thích cơ thồ bà mẹ sán sinh ra hooc môn prolactin vàoxytocin Trong đó prolactin sẽ kích thích tuyến sữa tạo sữa, oxytocin có tácdụng co bóp cơ trơn làm co bóp tử cung có tác dụng phòng chống cháy máusau đẻ và giúp tạo sữa được phun ra [54], [57]

1.1.2.1 Sữa non

Sữa non là loại sữa mẹ đặc biệt, được hình thành từ tuần 14-16 của thai

kì và được tiết ra từ lúc sinh đến 2-3 ngày sau khi sinh, sữa có màu vàng, kếtcấu keo dính và chứa nhiều kháng thể [52], [54],

Trẻ bú sớm sẽ nhận được sữa non, là thức ăn phù hợp với bộ máy tiêuhóa của trẻ Sữa được tiết ra trong vài ngày đầu sau khi sinh con Sữa non đặcsánh, màu vàng nhạt, chứa nhiều chất chống nhiễm khuẩn và kháng thể đếbảo vệ cơ thể cho trẻ Ngoài ra, sữa non còn có nhiều đặc tính khác như: cónhiều tế bào bạch cầu, giàu Vitamin A, có yếu tố tăng trưởng biểu bỉ ruột,chất đạm lactalbumin dưới tác dụng của dịch tiêu hóa sẽ biến đối thành nhữngphân tử nhỏ giúp trẻ dễ hấp thụ [56],

Trang 19

trẻ sơ sinh phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn nguy hiểm và cung cấp khánăng miễn dịch đầu tiên cho trẻ đề chống nhiều bệnh mà trẻ có thể bị mắc sau

đẻ [5], [54], Vitamin A trong sữa non có tác dụng làm giảm độ nặng của cácbệnh nhiễm khuẩn Bên cạnh đó, sữa non còn có tác dụng xồ nhẹ, tăng bài tiếtphân xu, phòng các bệnh dị ứng và cũng có tác dụng thải bilirubin ra khỏiruột làm giảm mức độ vàng da sinh lý [5], [54],

Sữa non tuy ít nhưng thỏa mãn được nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ sơsinh do lượng protein cao gấp 2-3 lần sữa trường thành [5], [ 57], Hàm lượngkháng thế và vitamin cao nhất trong sữa non trong vòng 60 phút sau khi sinhsau đó giảm dần Như vậy, trẻ được bú sữa non trong những bừa bú đầu tiên

là vô cùng quan trọng Chúng ta không ncn cho trẻ bất cứ thức ăn, nước uốngnào trước khi trẻ bắt đầu bú sữa non

1.1.2.2 Sữa trưởng thành

Sữa trưởng thành là sữa mẹ sản xuất ra sau đé vài ngày, số lượng sữanhiều hơn làm hai bầu vú bà mẹ căng đầy và cứng, người ta gọi đây là hiệntượng sữa về Trong sữa mẹ có đủ các chất dinh dưỡng như: Protein, Glucid,Lipid, Vitamin và khoáng chất đủ cho tré phát triển trong 6 tháng đầu Thànhphần các chất dinh dưỡng ở một tỷ lệ thích hợp và dễ hấp thu đáp úng với sựphát triển nhanh của trẻ [54], [57], Sữa mẹ luôn luôn tự nhiên, tinh khiết, sạch

sẽ và thay đổi theo thời gian nhàm đáp ứng nhu cầu ngày càng thay đổi củatrẻ Sữa mẹ giúp cho trẻ tránh được bệnh tật, dị ứng, béo phì và các bệnh tậtkhác [54], [57], Vì vậy, sữa mẹ là thức ăn duy nhất mà trẻ nhỏ cần trong 6tháng đầu

Protein, glucid, lipid

P rot e i n: hàm lượng protcin trong sữa mẹ ít hơn sữa động vật nhưng có

đù các loại acid amin cần thiết với tỷ lệ cân đối và dễ hấp thu Protein cùa sữa

Trang 20

quan trọng có kết cấu mềm, dề hấp thu hơn so với động vật và có tác dụngngăn chặn bệnh tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp, viêm tai và dị ứng [53], [54],

Li pi d: cấu trúc của lipid trong sữa mẹ có nhiều acid béo chuồi dài

không no dễ hấp thu và nhiều acid béo cần thiết như acid linoleic đóng vai tròquan trọng trong việc bảo vệ và phát triển hệ thần kinh, mắt và sự bền vừngcủa mạch máu ở trẻ nhó Hàm lượng lipid trong sữa mẹ vào khoảng

5,5g/100ml, lipid cung cấp khoảng một nửa lượng kalo cho trẻ bú mẹ [54],

Gl uc i d: trong sữa mẹ chủ yếu là đường lactose với hàm lượng khoảng

7g/100ml Một so lactose trong sữa mẹ vào ruột chuyển thành acid lactic giúpcho sự hấp thu calci và muối khoáng [54],

V i t ami n: Sữa mẹ có nhiều vitamin A hơn sữa công thức, vì vậy tré bú

sữa mẹ sẽ đề phòng được bệnh khô mắt Các vitamin khác trong sữa mẹ cũng

đú cung cấp cho trẻ trong 6 tháng đầu nếu bà mẹ được ăn uống và nghi ngơiđầy đủ, ngoại trừ vitamin D là loại vitamin cơ thể tự tổng hợp khi tiếp xúc vớiánh nắng mặt trời [54],

Muối k hoáng: Nguồn Ca, Fe và Zn trong sữa mẹ tuy ít hơn trong sữa

công thức nhưng có hoạt tính cao, dỗ hấp thu do vậy vần đáp ứng được nhucầu của trẻ nên trẻ được nuôi bằng sữa mẹ đặc biệt là hoàn toàn trong 6 thángđầu sẽ ít bị còi xương và thiếu máu do thiếu sắt hơn những trẻ được nuôi bằngsữa bò [53], [54],

Các yếu tỏ miên dịch trong sữa mẹ

Trong sữa mẹ có nhiều yếu tố quan trọng có vai trò báo vệ cơ thể màtrong sữa bò và các loại sữa thay thế khác không có Trong đó có hai yếu tốquan trọng là Globulin miền dịch, chủ yếu là IgA giúp bảo vệ cơ thề chống lạicác bệnh đường ruột Bạch cầu giúp cho trẻ chống lại các bệnh do virut, vi

Trang 22

1.2 Tầm quan trọng và lọi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ

1.2 ì Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ

Những năm gần đây, tình trạng sức khóe và dinh dưỡng của trẻ em trêntoàn thế giới đã được quan tâm và cải thiện đáng kể vấn đề dinh dưỡng đượcquan tâm hàng đầu đó chính là chương trình nuôi con bằng sữa mẹ Quỹ Nhiđồng Liên họp quốc đã coi việc NCBSM là một trong bốn biện pháp quantrọng nhất để bảo vệ sức khỏe trẻ em, nó đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng củatrẻ trong 6 tháng đầu đời [3], [54], [57] Tổ chức Y tế Thế giới cũng khẳngđịnh: Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể cải thiện sựtăng trưởng và phát triển, kết quá học tập và thậm chí cả khả năng thu nhậpcủa trẻ trong tương lai Đồng thời WHO cũng chỉ ra rằng việc NCBSMHTtrong 6 tháng đầu đời là cách tốt nhất phòng tránh tử vong cho trẻ em, ướctính có thể giảm hơn một triệu ca tử vong ở trẻ trên toàn thế giới mỗi năm[54], [55], Vì vậy, WHO khuyến cáo rằng các bà mẹ hãy cho con bú nhiềulần, bất kế khi nào trẻ đói, kế cả ban đêm, trẻ càng bú nhiều mẹ càng tiếtnhiều sữa Đặc biệt trong 6 tháng đầu trẻ chỉ cần bú sữa mẹ hoàn toàn màkhông cần ăn thêm bất cứ loại thức ăn nào khác kể cả nước [3], 54],

1.2.2 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ

Sau khi sinh, bà mẹ cần cho trẻ bú càng sớm càng tốt, đặc biệt trongmột giờ đầu vì trong giờ đầu tiên của cuộc đời, trẻ sơ sinh ở trạng thái tinhtáo, nhanh nhẹn nhất dễ thực hiện hành vi bú mẹ nhất Khi thời điếm này qua

đi, trẻ trở nên buồn ngủ hơn vì bắt đầu phục hồi sau quá trình thở [54],

Sữa mẹ tiết theo phản xạ và được tiết ra sớm hơn ở những bà mẹ chocon bú sớm trong vòng một giờ đầu sau khi sinh so với các bà mẹ chờ xuốngsữa tự nhiên Khi bà mẹ được ngắm nhìn con, nghe thấy tiếng khóc của con

và tin tưởng rằng mình có sữa cho con bú thì sẽ hồ trợ tốt cho phản xạ này Vìvậy ngay sau sinh bà mẹ phải được nằm cạnh trẻ và cho trẻ bú sớm [54],

Trang 23

Khi trẻ bú sẽ kích thích tuyến yên sàn xuất oxytocin giúp bà mẹ co hồi

tử cung nhanh hơn góp phần làm giảm nguy cơ cháy máu sau đẻ [54],

Trẻ bú mẹ sớm sẽ bú được sữa non rất tốt cho sức khỏe của tré, giúp trẻphòng tránh được các bệnh nhiễm khuẩn, dị ứng, vàng da, không dung nạpthức ăn khác [54],

a/ Lợi ích đối với trẻ em

Sữa mẹ mang lại cả lợi ích ngắn hạn và dài hạn đối với trẻ Khi đứa trẻvừa được sinh ra, sữa mẹ bao gồm các kháng thể và các hoạt chất sinh họckhác chính là yếu tố miễn dịch đầu tiên có trong sữa non giúp trẻ chống lạibệnh tật Trong khi đó sữa bột không có đủ các yếu tố cần thiết trên NCBSM

là một trong nhũng thực hành có lợi nhất mà một bà mẹ có thể thực hiện đốbảo vệ con mình khỏi nhiễm khuấn và vi rút Sữa mẹ là duy nhất và được sảnsinh đế đáp ứng nhu cầu của trẻ Sữa mẹ thay đồi thành phần đổ đáp ứng nhucầu thay đồi của trẻ trong các cừ bú Khi đứa trẻ lớn lên, các thành phần cùasữa mẹ cũng thay đối đế đáp ứng những nhu cầu cúa trẻ đang lớn, điều mà cácsán phàm thay thế sữa mẹ không có được Những trẻ được bú mẹ ít phải đếnbệnh viện hơn hoặc ít phải uống thuốc, giảm nguy cơ lây nhiễm và mắc cácbệnh như tiêu chảy, viêm phổi, hen suyễn, nhiễm trùng tai, nhiễm khuẩnđường hô hấp [54], Kết quả phân tích từ 7 nghiên cứu thuần tập của Bachrach

và cộng sự cho thấy rằng trẻ được nuôi bằng sữa công thức phải đối mặt vớimột nguy nhập viện do nhiễm trùng đường hô hấp dưới trong năm đầu tiêncủa cuộc sống cao gấp 3,6 lần so với trẻ được bú mẹ hoàn toàn hơn 4 tháng.Phần lớn các ca nhập viện hô hấp cho trẻ sơ sinh là kết quả của nhiễm Vi rútHợp bào Hô hấp - Respiratory Syncytial Virus (RSV) Chất béo trong sữa mẹ

có tác dụng kháng virus chống lại RSV [50], [ 23]

Ngoài ra, việc trẻ không được bú mẹ sẽ làm tăng nguy cơ béo phì, đáitháo đường type I và II cũng như bệnh tăng huyết áp và tim mạch Nghiêncứu của Christopher G Owen và cộng sự chỉ ra rằng những đứa tré được nuôi

Trang 24

bằng sữa mẹ có nguy cơ bị béo phì khi trướng thành chỉ bằng 0,87 lần so với

những đứa trẻ được nuôi bàng sữa công thức [46] Những đứa trẻ được nuôi

bằng sữa mẹ có nguy cơ mắc tiểu đường type II chỉ bằng 0,61 lần so với

những đứa trẻ được nuôi bàng sữa công thức [45], NCBSM làm tăng chỉ số

thông minh và cải thiện kết quả học tập sau này của trẻ Trẻ

đứa trẻ không được bú mẹ [44].

b/ Lợi í c h đôi v ới hà mẹ

Các bà mẹ cho con bú thường giảm cân nhanh hơn, đồng thòi ít nguy

cơ mắc các bệnh như tiểu đường type II, ung thư vú, ung thư buồng trứng,loãng xương và chứng trầm cảm sau khi sinh Các bà mẹ cho con bú sẽ ít cónguy cơ bị thiếu máu và có hàm lượng oxytocin trong máu cao hơn nên có thếgiảm căng thắng [38], NCBSM cũng giúp các bà mẹ tránh thai tốt hơn, các bà

mẹ cho con bú hoàn toàn thường không rụng trứng trong ít nhất sáu tháng saukhi sinh, trong khi đó đối với các bà mẹ không cho con bú thì quá trình này cóthể xảy ra ngay sau sáu tuần ke từ khi sinh con [39] Nghiên cứu chỉ ra rằngnếu bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong sáu tháng đầu và không có dấu hiệu cókinh nguyệt trở lại thì khả năng mang thai là dưới 2% [24],

Trang 25

c / Lợi í c h đối v ới gi a đì nh, x ã hội v à doanh nghi ệ p

Nuôi con bằng sữa mẹ giúp giảm thiểu các chi phí tổn kém của việc chotrẻ ăn sữa công thức Ước tính trung bình mồi gia đình tiêu tốn khoảng800.000-1.200.000 đồng mỗi tháng nếu cho trẻ ăn các sản phẩm thay thế sữa

mẹ Chi phí này chiếm 53-79% thu nhập bình quân 1 năm của người Việt Nam(18.227.000 đồng) và một phần khá lớn trong tổng thu nhập của một gia đình.Ngoài ra nhờ các lợi ích về mặt sức khỏe cùa nuôi con bằng sữa mẹ, các giađình tiết kiệm được thời gian và tiền bạc cho việc khám chữa bệnh [38],

Trang 26

Nuôi con bằng sữa mẹ không chỉ mang lại lợi ích về sức khỏe cho trẻ

và mẹ mà còn mang lại những lợi ích kinh tế to lớn Theo Bộ Nông nghiệpHoa Kỳ, chính phủ Hoa Kỳ sẽ tiết kiệm được 3,6 tỷ đô la mỗi năm trong việcchi trả gián tiếp cho chăm sóc sức khỏe nếu như có ít nhất 75% bà mẹ cho con

bú sớm sau sinh và 50% bà mẹ cho con bú hoàn toàn đến 6 tháng tuổi

Tại Việt Nam, nếu các bà mẹ NCBSMHT trong 6 tháng đầu họ cóthể tiết kiệm một khoản tiền tương đương 11,435,670,000,000 đồng từ việckhông chi tiêu cho các sán phẩm thay thế sữa mẹ Tuy nhiên, một nửa củakhoản tiền này đang bị lãng phí do tỷ lệ NCBSMHT thấp ở Việt Nam, điềunày làm tăng chi phí y tế chung của quốc gia Mồi năm, Việt Nam phải chikhoảng 208,300,000,000 đồng cho khám chừa các bệnh do nuôi dưỡng trẻnhỏ kém [13], Bên cạnh lợi ích kinh tế mang lại cho gia đình NCBSMHTcòn có lợi cho doanh nghiệp về mặt lâu dài vì các bà mẹ ít phải nghi làm dểchăm con ốm, điều này cũng có nghĩa là tạo ra một lực lượng lao động ốnđịnh [24], Sữa mẹ cũng là một nguồn lực hữu ích đảm bảo an ninh thựcphấm cho trẻ nhỏ và các gia đình trên toàn thế giới khi có thiên tai hoặckhủng hoảng kinh tế Trong những trường hợp nguy cấp, NCBSM giúp bảo

vệ trẻ khỏi các bệnh gây ra do nguồn nước nhiễm ban và có thề ngăn ngừatình trạng thân nhiệt thấp [38],

1.3 Tình hình nuôi con bằng sữa mẹ

1.3.1 Tinh hình nuôi con bằng sữa mẹ trên thể giới

Lợi ích và sự cần thiết của NCBSM đối với sức khỏe trẻ em, bà mẹ, giađình và xã hội đã được thừa nhận Tuy nhiên, ở nhiều nơi trên thế giới tỷ lệcho con bú sớm rất thấp: 17% ở các nước Đông Âu - Trung Á, 33% ở cácnước châu Á Thái Bình Dương và cao nhất là khu vực Mỹ La Tinh - Caribc -Bắc và Đông Phi là 50% Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầutrên thế giới là 39% và không đồng đều giữa các quốc gia [27], như vậy phần

Trang 27

lớn số tré còn lại được nuôi bằng các thức ăn hoặc nước uống khác ngoài sữa

mẹ ngay từ những tháng đầu.

Theo số liệu từ 64 nước đang phát triển chiếm 69% số trẻ em được sinh

ra trên toàn the giới từ năm 1996 - 2006, tỷ lệ trẻ em được bú mẹ hoàn toàntrong 6 tháng đầu tăng từ 33% lên 37% Tăng nhanh nhất ở vùng cận sa mạcSahara - châu Phi với tỷ lệ tăng từ 22% - 30%, và châu Âu với tỷ lệ tăng từ10% - 19% Ở châu Mỹ Latinh và Caribean ngoại trừ Brazil và Mexico, tỳ lệtrẻ được bú mẹ hoàn toàn tăng từ 30% đến 45% [27], [57],

Theo số liệu tổng hợp của Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ(USAID) tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu là rất khác biệt giũa các nước vàkhu vực khác nhau, tỷ lệ này khá cao ở một số nước như Rwanda 83,3%,Uganda 63% nhưng lại thấp ở Nigeria 0,8% Tỷ lệ NCBSM tại Mỹ cũng cónhiều thay đổi tích cực trong những năm gần đây tỷ lộ bú sớm sau sinh tăng

từ 74,6% năm 2008 lên 76,9% năm 2009, tỷ lộ NCBSMHT trong 6 tháng đầutăng từ 44,3% năm 2008 lên 47,2% năm 2009 [28], Tại Châu Á tỷ lệNCBSMHT trong 06 tháng đầu cũng khá chênh lệch giữa các nước: Nepal là68%, Ấn Độ là 46%, Campuchia là 68%, Philippin 33,5%, Bangladesh43% [57] Tại Trung Quốc, tỷ lệ bà mẹ cho con bú sữa non trong 3 ngày đầurất cao đạt 94%, tuy nhiên sau đó trẻ lại được cho uống nước, sữa bột, đườnghoặc thức ăn thay thế khác, vì vậy mà chỉ có 35% trẻ được bú mẹ hoàn toàntrong 4 tháng đầu và tại thời điểm 6 tháng thì tỷ lệ này chỉ còn 28%

1.3.2 Tình hình nuôi con hằng sữa mẹ tại Việt Nam

Trong nhũng năm gần đây, Việt Nam được đánh giá là một trongnhững nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh Cùng với những thành tựu đó,tình trạng sức khỏe và dinh dường của trẻ em đã được cải thiện đáng kể vấn

đề dinh dưỡng được quan tâm hàng đầu chính là chương trình nuôi con bằng

Trang 28

sữa mẹ Nhưng trên thực tế, việc thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ vẫn chưa đượcnhiều người dân thực hiện tối ưu theo đúng như khuyến cáo của WHO “trẻ sơ

Trang 29

sinh cần được cho bú sớm (trong vòng một giờ đầu sau khi sinh) và được nuôi

hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đàu đời, sau đó ăn bổ sung hợp lý nhưng

vần duy trì cho bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi” [55] Nghiên cứu của Huỳnh

Văn Tú và Nguyền Vũ Linh tại Bệnh viện Phụ sản bán công Bình Dương cho

thấy tỷ lệ trẻ bú mẹ trong giờ đầu chỉ là 29,7%, tỷ lệ đối tượng NCBSMHT

trong thời gian nam viện sau sinh là 19,8% và có tới hơn 75%

mẹ thực hành cho con bú sữa non trong vài ngày sau sinh [6], Bcn cạnh đóviệc ăn dặm của trẻ là phố biến trong 06 tháng đầu tăng từ 16,4% vào tuần 1lên 56,5% lúc 16 tuần và gần 100% ở tuần 24 Nghiên cứu của Lê Thị Hươngtại Yên Bái năm 2008 cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong vòng 30phút đầu sau sinh khá cao (gần 90%) Tuy nhiên trẻ được bú mẹ hoàn toànđến 4 tháng chỉ dao động từ 17,8% đến 23% và 6 tháng là 18,3% đến 19,8%[9] Tỷ lệ NCBSMHT trong 06 tháng đầu theo công bố mới nhất của ViệnDinh Dưỡng chỉ đạt 19,6% và chỉ có khoảng 20% trẻ em còn bú sữa mẹ đến

24 tháng tuổi do yêu cầu thời gian và hoàn cảnh làm việc của bà mẹ [ 19],

Trang 30

1.4 Một số yếu tố änh huöng đến tập quán NCBSM

Yen to cả nhân

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu tỉm hiểu các yếu tố liên quan đếnthực NCBSM trong 6 tháng đầu và chủng tộc được cho là có liên quan đến búsớm sau sinh và NCBSM, nghiên cứu trên những người phụ nữ di cư ớ TâyBan Nha cho thấy tỷ lệ trẻ bú mẹ trong những giờ đầu tiên là khá cao Nhữngphụ nữ mới nhập cư thường có xu hướng cho trẻ bú ngay trong những giờ đầu

và thời gian cho bú kéo dài hơn những phụ nữ nhập cư đã lâu, một sổ bằng

Trang 31

chứng cho thấy phụ nữ Mỹ da đen, phụ nữ gốc Tây Ban Nha cho con bú sớm

sau sinh cao gấp 3,2 lần so với phụ nữ Mỹ da trắng [29], Nghiên cứu của

Helen L McLachlan trên 300 bà mẹ đến từ Thố Nghĩ Kỳ, úc

Trang 32

vùng thành thị, nghiên cứu cũng chỉ ra 40% trẻ trai được bú sớm sau sinh

tại thành thị so với 35% ờ nông thôn, tỷ lệ trẻ gái ớ thành thị

Trang 33

Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng đồng quan điếm cho rằng việc chocon bú sớm phụ thuộc vào tình trạng sức khởe của mẹ và cúa trẻ mới sinh,tuổi của mẹ, thời gian chuyển dạ hay tư vấn của nhân viên y tế [22], Việckhông cho trẻ bú sớm là do bà mẹ ít tiết sữa hoặc có cảm giác đau và khóchịu, hay tâm lý e ngại cho con bú nơi công cộng hoặc thiếu sự hỗ trợ củacác thành viên trong gia đình sau sinh Ớ nhiều nơi vẫn tồn tại nhữngphong tục lạc hậu sau khi sinh người phụ nữ vắt bỏ sữa non vì cho rằng nókhông tốt [25], Các kết quả của những nghiên cứu khác cũng cho thấy việcthiếu sự quan tâm từ phía gia đình như (người cha, mẹ chồng ) trong giaiđoạn cho con bú, hay các quan niệm cho rằng sữa mẹ không cung cấp đủnhu cầu năng lượng trong 6 tháng đầu, sữa mẹ không tốt, cho trẻ bú nhiềulàm cho người mẹ xấu đi đã góp phần làm giảm tỷ lệ thực hành NCBSMHTtrên thế giới cũng như ở Việt Nam [33],

Các yếu tố về nhân khấu học, văn hóa, xã hội cũng được xác định là cóliên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm và NCBSMHT trong 6 tháng đầu cúacác bà mẹ và đã được chỉ ra trong một số nghiên cứu tại Việt Nam Theo kếtquả điều tra của nghiên cứu dọc tại Quảng Xương, Thanh Hóa cho thấy tỷ lệcác bà mẹ cho con bú sớm sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong tuần đầu tiênkhá cao với 98,3% và 83,6%, tuy nhiên việc các bà mẹ cho con ăn bồ sungsớm vẫn còn rất phổ biến [31 ], [32], Phương pháp đẻ (đẻ sinh thường, đẻ mồ),nơi đẻ và các yếu tố sức khỏe cũng có ảnh hưởng nhất định đến thực hànhNCBSM của các bà mẹ [32] Nghiên cứu của Huỳnh Văn Tú và Nguyễn VũLinh năm 2009 tại Bình Dương cũng cho kết quả rằng phương pháp đẽ, niềmtin có đủ sữa mẹ, quyết định chọn loại sữa nuôi con trước khi sinh, tác độngcủa mẹ chồng, có kiến thức về dinh dưỡng cho trẻ dưới 6 tháng tuồi ảnhhưởng đến thực hành cho trẻ bú sớm và NCBSM sau này [17] số liệu nghiêncứu của Alive and Thrive cho thấy rằng cắt tầng sinh môn và sinh mố đều ảnhhưởng tới việc cho trẻ bú sớm sau sinh, có 67,6% sản phụ sinh thường cho trẻ

Trang 34

bú sớm trong vòng 1 giờ sau khi sinh, tỷ lệ này ở sản phụ bị cắt tầng sinh môn

và sinh mổ tương ứng là 54% và 11,3% Các bà mẹ sinh mô

Bcnh cạnh đó, thực hành NCBSM còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố vănhóa xã hội như sự quan tâm, tham gia của người cha, bà nội, bà ngoại của trẻ,thói quen cho trẻ ăn bổ sung sớm ảnh hường đến hành vi NCBSMHT trong 6tháng đầu

Sự ảnh hưởng của quảng cáo sữa công thức

Bên cạnh các yếu tố liên quan đến người mẹ và sự hồ trợ từ phía giađình ảnh hưởng đến thực hành NCBSM việc bà mẹ tiếp xúc với những thôngtin quăng cáo cúa các hãng sữa tại bệnh viện cũng như qua các phương tiệnthông tin đại chúng cũng ảnh hưởng đến thực hành NCBSM Một số nghiêncứu cho thấy rằng việc bà mẹ nhận được nhũng quảng cáo hay những gói dịch

vụ khuyến mại của các hãng sữa trong và sau khi sinh tại bệnh viện có liênquan đến thời gian cho con bú hoàn toàn bị ngắn lại [15]

Nghiên cứu của Howard CR và cộng sự so sánh sự ảnh hưởng của cáctài liệu về sữa công thức với việc bú sớm và thời gian NCBSM chi ra rằngkhông có sự ảnh hưởng đến việc bú sớm nhưng có sự thay đồi đến việc cho

Trang 35

con bú trong 2 tuần đầu khi tiếp xúc nhiều với các tài liệu về sữa công thức,đặc biệt với những bà mẹ có ý định NCBSM trong 12 tuần hoặc ít hơn thì thờigian bú hoàn toàn sẽ ít đi [35], Tại Hoa Kỳ một chương trình cung cấp dinh

Trang 36

dưỡng đặc biệt cho phụ nữ, trẻ sơ sinh và trẻ em(WIC)

sĩ cho con mình sử dụng sữa công thức cao gấp 4 lần những

bà mẹ không

Trang 37

được bác sĩ giới thiệu về sữa công thức Nghiên cứu theo dõi

tổ chức A&T tiếp tục khẳng định sữa bột cho trẻ sơ sinh rất sẵn có đối với các

bà mẹ sinh con tại cơ sờ y tế Các bà mẹ sinh con tại bệnh viện ít cỏ khả năngcho con bú mẹ sớm ngay sau khi sinh Chỉ 45,3% những người sinh con ởbệnh viện bat đầu cho con bú trong 1 giờ đầu tiên, so với tỷ lệ 72% ở các bà

Trang 38

mẹ sinh con tại trạm y tế xã và nhà hộ sinh Cho trẻ ăn các thức ăn lỏng ngoài

sữa mẹ cũng phố biến hơn tại các bệnh viện so với các trạm y

sữa bột khi đến sinh tại các cơ sở y tế, và gần một nửa số bà

mẹ mua sữa tại

hoặc gần các cơ sở y tế sau khi sinh [1],

Để khắc phục tình trạng quảng cáo và tiếp thị tràn lan các loại sữagiành cho trẻ dưới 12 tháng tuổi chính phủ đã thông qua Nghị định số21/2006 -NĐ-CP cấm quảng cáo và bán các loại sữa cho trẻ dưới 12 thángtuổi và thực phẩm bố sung cho trẻ dưới 6 tháng tuổi, việc tiếp xúc với giađình cùa trẻ em dưới 12 tháng tuổi đế tiếp thị, quảng cáo các sản phấm sữacông thức cũng không được cho phcp, tuy nhicn các hãng sữa lại lách luậtbằng cách tiếp cận với các bác sĩ trong bệnh viện làm cầu nối đối với gia đìnhtrẻ nhò [6] Theo đánh giá của Bộ Y tế kết hợp với UNICEF và Alive andThrive về việc thực hiện nghị định số 21 cho thấy các hãng sữa đã vi phạmnghị định này nghi tiếp xúc với bà mẹ thông qua hệ bệnh viện như bác sĩ, y tá

đế quáng cáo cho các sản phẩm sữa của mình có 8,6% bà mẹ nhận được cácsản phẩm sữa khuyến mãi tại cơ sở y tế, trên 80% bà mẹ nhận được tờ rơiquảng cáo sữa cho trẻ dưới 12 tháng tuồi từ nhân viên tiếp thị Ngoài ra có32,4% các cửa hàng bán sữa cho trẻ dưới 12 tháng tuổi và chỉ có 48% nhãnsản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi tuân thủ tất cả các quy

Trang 39

định của Nghị định số 21 [43], Các hãng sữa thường đưa ra những tuyên bốkhông chính xác về tác dụng của sữa công thức so với sữa mẹ, không đáp ứngđược các yêu cầu về nhãn mác và thường xuycn có các chương trình khuyếnmãi như tặng quà, giảm giá sản phấm nhàm khuyến khích bà mẹ sử dụng sữacho trẻ dưới 6 tháng tuổi [7], [10], [11],

Trang 40

Ngoài những thông tin về sữa công thức nhận được tại bệnh viện thìcác bà mẹ cũng chưa nhận được nhiều thông tin về NCBSM trên các phươngtiện thông tin đại chúng Các kết quá nghiên cứu cho thấy ti vi là phương tiệntruyền thông quan trọng về NCBSM tại Việt Nam với đa số các bà mẹ thườngxuyên xem ti vi tuy nhiên các thông điệp về NCBSM mà bà mẹ nhận được làchưa toàn diện và cần tăng cường tiếp cận những thông điệp này [1] Hơnnữa, các công ty sữa đã tiếp cận được số lượng lớn các bà mẹ và họ đang cócác chương trình quảng cáo cạnh tranh với các chương trình truyền thông vềNCBSM Bà mẹ tiếp cận quảng cáo sữa bột nhiều hơn so với tiếp cận thôngtin khuyến khích NCBSM trên ti vi So với 83,7% bà mẹ nhìn thấy quảng cáosữa bột cho trẻ nhỏ trên ti vi, chi có 40,4% bà mẹ nhìn thấy quảng cáo khuyếnkhích NCBSM trong 30 ngày qua Hơn nữa, các bà mẹ tiếp cận thường xuyênvới các thông tin quảng cáo về sữa bột cho trẻ nhỏ hơn quảng cáo khuyếnkhích NCBSM: 62,7% bà mẹ từng nhìn thấy quáng cáo về sữa bột cho trẻ nhởtrên ti vi hàng ngày, so với chi 21,7% bà mẹ từng nhìn thấy quảng cáo khuyếnkhích NCBSM, việc tiếp xúc nhiều với các thông tin quảng quáo về sữa côngthức sẽ ảnh hưởng nhiều đến việc thực hành NCBSM [1], [8] Những kết quátrên cho thấy rằng việc cung cấp các thông tin về NCBSM trên các kênh khácnhau là điều hết sức cần thiết nhằm tăng tỷ lệ thực hành NCBSM trong thờigian tới Nghiên cứu năm 1990 tại Jordan cho thấy rằng chương trình truyền thôngđại chúng về NCBSM có tác động tích cực đến việc thực hành NCBSM.

Bên cạnh sự quảng cáo cùa các hãng sữa nhiều bà mẹ và gia đình choràng “sữa mẹ không đủ”, “trẻ sơ sinh cần nước để làm sạch miệng hoặc tránhkhát”, “Sữa công thức tốt không kém sữa mẹ nhung giàu vitamin và năng lượnghơn” và việc cho ăn bổ sung là một nguyên tắc không thể thay đối và ăn sữangoài là thể hiện sự quan tâm chăm sóc tốt cho tré theo một nghiên cứu [48]

Ngày đăng: 23/10/2017, 17:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Một số thông tin về hà mẹ cỏ con dưới 25 tháng tuồi tham gia - Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ, năm 2013
Bảng 3.1. Một số thông tin về hà mẹ cỏ con dưới 25 tháng tuồi tham gia (Trang 56)
Bảng 3.3. Nguồn cung cấp thông tin về NCBSM cho các bà mẹ - Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ, năm 2013
Bảng 3.3. Nguồn cung cấp thông tin về NCBSM cho các bà mẹ (Trang 57)
Bảng 3.5: Tỷ lệ bà mẹ biết thời gian cho trẻ bú mẹ hoàn toàn - Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ, năm 2013
Bảng 3.5 Tỷ lệ bà mẹ biết thời gian cho trẻ bú mẹ hoàn toàn (Trang 58)
Bảng 3. 7.  Tý lệ bà mẹ biết thời điếm nên cho trẻ ăn thêm sữa bò, sữa dê, - Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ, năm 2013
Bảng 3. 7. Tý lệ bà mẹ biết thời điếm nên cho trẻ ăn thêm sữa bò, sữa dê, (Trang 59)
Bảng 3.9: Tỷ ĩc bà mẹ biết nhũng bệnh trẻ ít mắc khi được nuôi bàng SỦ'J mọ - Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ, năm 2013
Bảng 3.9 Tỷ ĩc bà mẹ biết nhũng bệnh trẻ ít mắc khi được nuôi bàng SỦ'J mọ (Trang 60)
Bảng 3.10. Tỷ lệ bà mẹ biết các việc cần làm đế tiết nhiều - Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ, năm 2013
Bảng 3.10. Tỷ lệ bà mẹ biết các việc cần làm đế tiết nhiều (Trang 61)
Bảng 3.11: Lý do trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ - Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ, năm 2013
Bảng 3.11 Lý do trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ (Trang 61)
Bảng 3.14. Tỷ lệ trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ - Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ, năm 2013
Bảng 3.14. Tỷ lệ trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ (Trang 64)
Bảng 3.16. Vấn đề bù mẹ gặp phải khi cho con bú - Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ, năm 2013
Bảng 3.16. Vấn đề bù mẹ gặp phải khi cho con bú (Trang 65)
Bảng 3.22 cho ta thấy: Những bà mẹ ở gần trung tâm có tỷ lệ NCBSM - Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ, năm 2013
Bảng 3.22 cho ta thấy: Những bà mẹ ở gần trung tâm có tỷ lệ NCBSM (Trang 69)
Bảng 3.27. Cho ta thấy mối liên quan giữa các bà mẹ được tiếp cận các nguồn thông tin thì tỷ lệ không cho trẻ ăn trước khi cho bú lần đầu cao gấp 3,6 so với các bà mẹ không được tiếp cận với các nguồn thông  tin - Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ, năm 2013
Bảng 3.27. Cho ta thấy mối liên quan giữa các bà mẹ được tiếp cận các nguồn thông tin thì tỷ lệ không cho trẻ ăn trước khi cho bú lần đầu cao gấp 3,6 so với các bà mẹ không được tiếp cận với các nguồn thông tin (Trang 72)
Bảng 3.29: Mối liên quan giữa số con của bà mẹ với thực hành về - Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ và một số yếu tố liên quan tại huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ, năm 2013
Bảng 3.29 Mối liên quan giữa số con của bà mẹ với thực hành về (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w