1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam

102 749 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam
Tác giả Nguyễn Hải Anh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý ngân sách nhà nước
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 634,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng quản lý chi ngân sách cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ của nước trong giai đoạn hiện nay (2003 – 2008) trong đó chủ yếu đề tài đi sâu nghiên cứu tình hình quản lý nguồn chi của ngân sách trung ương thông qua Bộ Khoa học Công nghệ.

Trang 1

1- Tính cấp thiết của đề tài:

Trong giai đoạn hội nhập hiện nay khi những bước tiến kỳ diệu và những thànhtựu to lớn của khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là nguồnlực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội Nhận thức được vài trò chiến lược củaKHCN, Đảng ta ngay từ đại hội đảng IX đã khẳng định: “Cùng với giáo dục và đàotạo, đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực pháttriển kinh tế xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựngthành công chủ nghĩa xã hội.” Cũng từ nhận thức đó, trong những năm qua, chi ngânsách nhà nước cho KH - CN không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng Tuyvậy, Chi Ngân sách cho đầu tư phát triển KH – CN vẫn gặp một số những khó khănnhất định trong quá trình trển khai như các thủ tục hành chính, việc thẩm định chi tiêunhiều khi còn chưa thực sự hợp lý; chưa có được những tiêu chí cụ thể đánh giá về tínhhợp lý hiệu quả… Vì vậy việc chọn đề tài: Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nướccho đầu tư phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam” là cần thiết cả về lý luận vàthực tiễn

2- Mục đích nghiên cứu của đề tài: Tìm hiểu và làm rõ quan điểm, vai trò của

chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ đối với sự phát triển

Trang 2

kinh tế xã hội đất nước Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để xem xét, đánh giá quitrình quản lý, sử dụng các khoản chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển khoahọc công nghệ của nước ta hiện nay từ đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản

lý chi ngân sách cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ

3- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài: Thực trạng quản lý chi ngân sách

cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ của nước trong giai đoạn hiện nay (2003 –2008) trong đó chủ yếu đề tài đi sâu nghiên cứu tình hình quản lý nguồn chi của ngânsách trung ương thông qua Bộ Khoa học Công nghệ

4- Phương Pháp nghiên cứu: Trên cở sở phương pháp của chủ nghĩa duy vật

biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp được sử dụng trong thựchiện đề tài: Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp

Về nội dung , ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án gồm ba chương:

Chương 1: Lý luận chung về tăng cường quản lý chi Ngân sách nhà nước cho

đầu tư phát triển khoa học công nghệ

Chương 2: Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển khoa

học công nghệ của Việt Nam

Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho đầu tư

phát triển khoa học công nghệ

Tuy vậy, trong quá trình thực hiện luận án, mặc dù bản thân có nhiều cố gắngnhiêm túc nghiên cứu, học hỏi, tìm tòi, sáng tạo Nhưng do thời gian có hạn và kiếnthức còn nhiều hạn chế, Vì vậy luận án không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giảmong các thầy, cô và toàn thể các bạn đọc thông cảm góp ý để luận án ngày càng hoànthiện

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG

VỀ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ1.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ.

Để nắm bắt được vấn đề cần nghiên cứu trước hết ta cần nắm được thực chất củaKhoa học Công nghệ:

1.1.1 Khái niệm chung về khoa học công nghệ

a-Khái niệm chung về Khoa học.

Hiện tại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Khoa học: khoa học theo cách hiểuthông thường là một hình thái ý thức xã hội, tư duy và nó sẽ trở thành lực lượng sảnxuất trực tiếp khi được đem vào áp dụng trong sản xuất và cuộc sống của con người.còn theo định nghĩa của luật Khoa học và Công nghệ được quốc hội thông qua vàongày 9-6-2000 thì Khoa học được hiểu là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật,quy luật của tự nhiên xã hội và tư duy khoa học ra đời bắt nguồn từ cuộc đấu tranh củacon người với tự nhiên nhằm làm chủ cuộc sống và được thể hiện trước hết trong sảnsuất Như vậy về bản chất Khoa học là sự khám phá các hiện tượng, các thuộc tính vốntồn tại một cách khách quan Sự khám phá này sẽ làm thay đổi nhận thức của conngười, tạo điều kiện nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn như vậy khoa học đứng mình

nó chỉ là những tri thức không thể trực tiếp áp dụng vào thực tiễn mà chỉ có thể phổbiến rộng rãi,nâng cao nhận thưc của con người

Phân loại khoa học cũng có nhiều cách khác nhau, ở đây trong nội dung đề tài

đưa ra 2 cách phân loại sau:

- Phân loại theo đối tượng nghiên cứu thì Khoa học gồm có Khoa học tự nhiên

và Khoa học xã hội Trong đó, Khoa học tự nhiên: nghiên cứu các sự vật hiện tượngquá trình trong tự nhiên, phát hiện các quy luật, xác định các phương thức chinh phục

Trang 4

tự nhiên và cải tạo nó Còn Khoa học Xã hội nghiên cứu các hiện tượng, quá trình vàquy luật vận động, phát triển của xã hội để làm cơ sở để thúc đẩy tiến bộ xã hội và pháttriển nhân tố con người.

- Phân loại theo phương thức tổ chức và mục tiêu nghiên cứu Khoa học thì

khoa học bao gồm khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng Trong đó Khoa học cơ bản:xác định quy luật, phương thức và phương pháp để triển khai khoa học ứng dụng CònKhoa học ứng dụng: đưa ra phương pháp để ứng dụng khoa học cơ bản vào hoạt độngcải biến các đối tượng tự nhiên, xã hội và tư duy

b- Khái niệm chung về Công nghệ.

Cũng như khoa học, Công nghệ cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau: theoD.L Spencer cho rằng công nghệ là sách giáo khoa trình bày cách thức kết hợp các yếu

tố đầu vào để tạo ra một đầu ra tốt nhất cho nền kinh tế Còn theo E.H Hawthorn thìCông nghệ được định nghĩa là sự vận dụng khoa học để giải quyết các vấn đề đã đượcxác định cụ thể Còn theo K.Galraith thì công nghệ được xem là sự áp dụng một cách

hệ thống khoa học và kiến thức liên quan vào các nhiệm vụ thực tế

Còn theo giới sản xuất kinh doanh thì công nghệ được hiểu là gồm tất cả những

gì bao gồm cả tài năng, trí tuệ cũng như các thiết bị, phương pháp được sử dụng trongsản xuất kinh doanh cung cấp dịch vụ và có thế mua bán trao đổi trên thị trường Vớiquan điểm này thì công nghệ được coi như là một phương tiện cần thiết tác động vàoquá trình sản xuất để tạo ra hàng hoá và dịch vụ cho xã hội

Còn theo Luật Khoa học và Công nghệ, Công nghệ được định nghĩa là: Tập hợpcác phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổicác nguồn lực thành sản phẩm

Tuy cách định nghĩa có khác nhau, nhưng về bản chất họ đều cho rằng Công nghệgồm 4 thành phần cơ bản:

Trang 5

- Trang thiết bị máy móc( đây là yếu tố phần cứng của Công nghệ.): bao gồ cáctrang thiết bị cầm tay hoặc cơ giới hoá, trang thiết bị đa dạng hoặc chuyên dụng, trangthiết bị được máy tính hoá và trang thiết bị liên kết.

- Kĩ năng, kĩ xảo, tay nghề, kinh nghiệm của người lao động(yếu tố con người):bao gồm năng lực vận hành và khởi động , năng lực sửa chữa và tái sản xuất, năng lựcthích nghi và hoàn thiện, năng lực phát minh sáng tạo

- Thông tin: bao gồm các thông tin dữ liệu và các bí quyết liên quan đến việc sửdụng thành thạo và khai thác các trang thiết bị, các chi tiết kỹ thuật chuyên môn, cácchi tiết cấu tạo và cách đánh giá

- Yếu tố tổ chức, quản lý: thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp điều phối, quản lýnhằm vận hành, liên kết các yếu tố, duy trì tính ổn định và khai thác tiềm năng

Bốn yếu tố này có quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau cùng thực hiện quá trình sảnxuất Và sự kết hợp chặt chẽ của 4 thành phần trên là điều kiện cơ bản đảm bảo chohoạt đống sản xuất đạt hiệu quả cao, trong đó mỗi thành phần có một chức năng nhấtđịnh Thành phần trang thiết bị máy móc được coi là xương sống, cốt lõi của quá trìnhhoạt động, nhưng nó lại do con người lắp đặt và vận hành Thành phần con người đượccoi là yếu tố chìa khoá của hoạt động, nhưng con người lại thực hiện theo các hướngdẫn do phần thông tin cung cấp Thành phần thông tin là cơ sở hướng dẫn người laođộng vận hành các máy móc, thiết bị và đưa ra các quyết định Thành phần tổ chức cónhiệm vụ liên kết các thành phần trên, động viên người lao động năng cao hiệu quảhoạt động sản xuất

c- Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ M

Khoa học được nói đến là việc tìm kiếm các quy luật điều chỉnh hiện tượng tựnhiên, không phụ thuộc vào bất cứ sự quan tâm nào đến khả năng áp dụng trên giác độkinh tế Về bản chất khoa học chính là sự tìm kiếm chân lý Trong khi đó, công nghệ

Trang 6

lại có mục đích áp dụng trực tiếp các nguyên tắc và quy luật khoa học vào cuộc sốngcủa con người hay vào một quá trình sản xuất Vì vậy Chúng ta có thể hiểu đơn giản làKhoa học tập trung vào việc giải thích tại sao có hiện tượng, còn công nghệ cho ta biếtcách áp dụng các điều chúng ta biết tại sao dể áp dụng vào thực tế như thế nào.khoahọc cho ta kiến thức còn công nghệ giúp tạo ra của cải vật chất phát triển khoa học tạo

ra những thông tin mang tính tiềm năng được sử dụng để sáng tạo công nghệ giữachúng có mối liên hệ mật thiết “khoa học của hôm nay là công nghệ của ngày mai”

Rõ ràng, tri thức dựa trên cơ sở khoa học đang thúc đẩy sự tiến bộ công nghệ và chấtxám chính là nguồn tạo ra công nghệ

d- Hoạt động Khoa học - Công nghệ.

Sau khi nghiên cứu hiểu rõ mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ, Câu hỏi đạt

ra cho chúng ta là hoạt động Khoa học Công nghệ là gì? Ta có thế định nghĩa hoạt

động Khoa học Công nghệ bao gồm: nghiên cứu Khoa học, nghiên cứu và phát triển Công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật Hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển Khoa học Công nghệ.

Cụ thể:

- Nghiên cứu khoa học: là hoạt động phát hiện, tìm kiếm các hiện tượng, sự vật,quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thựctiễn Nghiên cứu Khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng

- Phát triển công nghệ: là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới.Phát triển Công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thực nghiệm

- Triển khai thực nghiệm: là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học đểlam thực nghiệm nhằm tạo ra Công nghệ mới, sản phẩm mới

Trang 7

- Sản xuất thực nghiệm: là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm đểsản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện Công nghệ mới, sản phẩm mới trước khiđưa vào sản xuất và đời sống.

Dịch vụ Khoa học và Công nghệ: là các hoạt động vụ việc nghiên cứu Khoa học

và phát triển Công nghệ, các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao Côngnghệ, các dịch vụ về thông tin tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thứcKhoa học và Công nghệ và kinh nghiệm vào thực tiễn

1.1.2 Đặc điểm của khoa học công nghệ.

Với những đặc trưng riêng có của Khoa học Công nghệ, mà hoạt động Khoa học Công nghệ có những đặc điểm riêng so với các hoạt động Kinh tế - Xã hội khác Để cóthể đưa ra các giải pháp đúng đắn để thúc đẩy phát triển Khoa học - Công nghệ thì cầnthiết cần nắm được các đặc điểm đó

Hoạt động Khoa học Công nghệ đòi hỏi trình độ cao và khả năng đáp ứng cácnhu cầu cho nghiên cứu và phát triển

Các hoạt động sản xuất kinh doanh khác đều cần những cơ sở vật chất như máymóc, thiết bị, vốn, con người và Hoạt động Khoa học Công nghệ cũng cần các yếu tố

đó nhưng yêu cầu trình độ cao hơn, đó là con người phải được đào tạo, có khả năngsáng tạo, vốn lớn, máy móc trang bị hiện đại

- Hoạt động Khoa học Công nghệ đòi hỏi phải có chi phí lớn và chứa đựng nhiềurủi ro trong việc thu hồi vốn Đặc điểm này là do khi nghiên cứu Khoa học Công nghệkhông biết trước có phát hiện được những ứng dụng hiệu quả hay không Hơn nữa, sảnphẩm Khoa học Công nghệ có tính chất hàng hoá công cộng không thuần thuý và việcphổ biến sản phẩm đó đem lại lợi ích cho xã hội nhưng người sáng tạo ra nó lại khó thulại được chi phí bỏ ra hay nói cách khác lợi nhuận thu được từ việc tạo ra sản phẩmKHCN rất thấp so với lợi ích xã hội thu được

Trang 8

Như vậy, để hoạt động Khoa học Công nghệ được phát triển và tạo ra những sảnphẩm KHCN có hiệu quả kinh tế xã hội cao nhà nước cần phải có sự hướng dẫn, điềuchỉnh để đưa ra những chính sách hợp lý.

1.1.3 Vai trò của Khoa học Công nghệ với sự phát triển Kinh tế Xã hội.

Một trong những đặc điểm quan trọng của thời đại ngày nay là sự phát triển năngđộng của khoa học công nghệ hiện đại và ảnh hưởng to của nó tới các mặt đời sốngkinh tế xã hội loài người đặc biệt là đối với lĩnh vực kinh tế Càng ngày vai trò củacông nghệ đối với sự phát triển kinh tế xã hội càng quan trọng và được cộng đồng thếgiới công nhận, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như đất nước ta Kinh tếhọc đã chính thức xem công nghệ như là một nhân tố sản xuất như vốn, lao động trong

mô hình hàm sản xuất tổng quát Cobb – douglas:

Y = F (Xi)

Trong đó Y là giá trị đầu ra của nền kinh tế và Xi là giá trị những biến số đầuvào có liên quan đến tổng cung Thông thường và cũng với ý nghĩa cổ điển, nói đếngiá trị các biến số đầu vào tác động đến tăng trưởng kinh tế là nói đến 4 yếu tố nguồnlực chủ yếu là: vốn (K), lao động (L), tài nguyên,đất đai (R) và công nghệ kỹ thuật (K).Hàn sản xuất tổng quát được mô tả như dưới đây:

Y = F(K,L,R,T)

(1) Vốn (K): là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến

tăng trưởng kinh tế Vốn sản xuất đứng trên góc độ vĩ mô có liên quan trực tiếp đếntăng trưởng kinh tế được đặt ra ở khía cạnh vốn vật chất chứ không phải dưới dạng tiền(giá trị), nó là toàn bộ tư liệu vật chất được tích luỹ lại của nền kinh tế và bao gồm:nhà máy, thiết bị, máy móc, nhà xưởng và các trang bị được sử dụng như những yếu tốđầu vào trong sản xuất ở các nước đang phát triển sự đóng góp của vốn sản xuất vàotăng trưởng kinh tế thường chiếm tỷ trọng cao nhất Đó là sự thể hiện của tính chất

Trang 9

tăng trưởng theo chiều rộng Tuy vậy tác động của yếu tố này đang có xu hướng giảmdần và được thay thế bằng các yếu tố khác.

(2) Lao động (L): là một yếu tố đầu vào của sản xuất Trước đây, chúng ta chỉ

quan niệm lao động là yếu tố vật chất đầu vào giống như yếu tố vốn và được xác địnhbằng số lượng dân số nguồn lao động của mỗi quốc gia (có thể tính bằng đầu người haythời gian lao động) Những mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại gần đây đã nhấn mạnhđến khía cạnh phi vật chất của lao động gọi là vốn nhân lực đó là các lao động có kỹnăng sản xuất, lao động có thể vận hành được máy móc thiết bị phức tạp, những laođộng có sáng kiến và phương pháp mới trong hoạt động kinh tế Việc hiểu yếu tố laođộng theo hai nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phân tích lợi thế vàvai trò của yếu tố này trong tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển và các nướcđang phát triển Hiện nay tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển được đónggóp nhiều bởi quy mô, số lượng lao động, yếu tố vốn nhân lực còn có vị trí chưa cao dotrình độ và chất lượng lao động ở các nước này còn thấp

(3) Tài nguyên, đất đai (R) được coi là yếu tố đầu vào của sản xuất Đất đai là

yêú tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và là yếu tố không thể thiếu được trongviệc thực hiện bố trí các cơ sở kinh tế thuộc các ngành công nghiệp, dịch vụ Tàinguyên thiên nhiên từ trong lòng đất, không khí, từ rừng và biển được chia ra làm : tàinguyên vô hạn và không thể thay thế, tài nguyên có thể taí tạo và tài nguyên không thểtái tạo Các nguồn tài nguyên dồi dào phong phú được khai thác tạo điều kiện tăng sảnlượng đầu ra một cách nhanh chóng, nhất là đối với các nước đang phát triển; một sốtài nguyên quý hiếm là những đầu vào cần thiết cho sản xuất song lại có hạn khôngthay thế được và không thể tái tạo được hoặc nếu tái tạo được thì thì phải có thời gian

và phải có chi phí tương đương với quá trình tạo sản phẩm mới Từ những tính chất đó,các tài nguyên được đánh giá về mặt kinh tế và được tính giá trị như các đầu vào kháctrong quá trình sử dụng Nguồn tài nguyên phong phú hay tiết kiệm nguồn tài nguyêntrong sử dụng cũng có một ý nghĩa tương đương như việc tạo ra một giá trị gia tăng so

Trang 10

với chi phí đầu vào khác để tạo ra nó Trong nền kinh tế hiện đại người ta đã tìm cáchthay thế để khắc phục mức độ khan hiếm của tài nguyên và đất đai trong quá trình tăngtrưởng kinh tế, hơn nữa sản phẩm quốc dân và mức tăng của nó không phụ thuộc nhiềuvào dung lượng tài nguyên thiên nhiên và đất đai Tuy vậy tài nguyên thiên nhiên vàđất đai vẫn là nhân tố không thể thiếu được của nhiều quá trình sản xuất, nhất là cácnước đang phát triển

(4) Công nghệ kỹ thuật (T) được quan niệm là nhân tố tác động ngày càng mạnh

đến tăng trưởng trong điều kiện hiện đại Yếu tố công nghệ kỹ thuật cần được hiểu đầy

đủ theo hai dạng: thứ nhất, đó là những thành tựu kiến thức tức là nắm bắt kiến thứckhoa học, nghiên cứu đưa ra những nguyên lý, thử nghiệm về cải tiến sản phẩm, quytrình công nghệ hay thiết bị kỹ thuật; thứ hai, là sự áp dụng phổ biến các kết quảnghiên cứu, thử nghiệm vào thực tế nhằm nâng cao trình độ phát triển chung của sảnxuất yếu tố công nghệ hiểu theo nghĩa toàn diện như thế đã được K Marx xem như là

" chiếc đũa thần tăng thêm sự giầu có của cải xã hội" còn Solow thì cho rằng " tất cảcác tăng trưởng bình quân đầu người trong dài hạn đều thu được nhờ tiến bộ kỹ thuật",Kuznets hay Samuelson đều khẳng định: công nghệ kỹ thuật là sợi chỉ đỏ xuyên suốtquá trình tăng trưởng kinh tế bền vững

Đứng trên góc độ quan điểm hàm sản xuất, các mô hình tăng trưởng hiện đạithường không nói đến nhân tố tài nguyên đất đai với tư cách là biến số của hàm tăngtrưởng kinh tế, họ cho rằng đất đai là yếu tố cố định còn tài nguyên thì có xu hướnggiảm dần trong quá trình khai thác Mặt khác, những yếu tố tài nguyên và đất đai đangđược sử dụng có thể gia nhập dưới dạng yếu tố vốn sản xuất( K ) Yếu tố công nghệ kỹthuật trong hàm sản xuất truyền thống hiện nay cũng được mở rộng ra theo nghĩa là cácyếu tố còn lại ngoài vốn và lao động tác động đến tăng trưởng kinh tế, gọi là năng suấtcác nhân tố tổng hợp (TFP- total factor producctivity) Năng suất nhân tố tổng hợp là:(i) hiệu quả sử dụng các thành tựu của tiến bộ công nghệ, kết quả nghiên cứu triển khaikhoa học kỹ thuật vào hoạt động kinh tế; (ii) tác động của các yếu tố thể chế, chính

Trang 11

sách, quá trình mở cửa, hội nhập, vốn nhân lực; (iii) tất cả tạo nên hiệu quả, năng suất

sử dụng lao động cao hơn và tạo nên “phần dư” còn lại của thu nhập sau khi loại trừ tácdộng của yếu tố vốn và lao động

Như vậy, theo quan điểm hiện nay, Vì vậy, 3 yếu tố trực tiếp tác động đến tăngtrưởng kinh tế được nhấn mạnh là: vốn, lao động và năng suất yếu tố tổng hợp (TFP)

Y = F(K,L,TFP)

Vốn (K) và lao động (L) được xem như là các yếu tố vật chất có thể lượng hoáđược mức độ tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế và được coi là những nhân tốtăng trưởng theo chiều rộng TFP được coi là yếu tố phi vật chất tác động đến tăngtrưởng, được coi là yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu Ngày nay, tác động của thể chế,của chính sách mở cửa, hội nhập hay phát triển của vốn nhân lực đẫ giúp cho các nướcđang phát triển tiếp cận được nhanh chóng những công nghệ hàng đầu thế giới đã tạonên "sự rượt đuổi dựa trên năng suất"và sự đóng góp của TFP ngày càng cao trong qúatrình thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh của các nước trên thế giới TFP là một yếu

tố tổng hợp phản ánh tác động của yếu tố khoa học công nghệ, vốn nhân lực, các khíacạnh thể chế, cơ chế tác động đến khả năng tiếp nhận, nghiên cứu và vận hành khoahọc công nghệ và vốn nhân lực vào hoạt động sản xuất và dịch vụ trong nền kinh tế Đánh giá vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh tế dựa vào:

- Tỷ trọng đóng góp của yếu tố này trong kết quả tăng trưởng

- Các điều kiện cần thiết cho vận hành yếu tố công nghệ mới vào hoạt động kinh

tế như: trình độ công nghệ trong các đơn vị sản xuất kinh doanh, quy mô đầu tư vốncho các hoạt động nghiên cứu và phát triển, sự phát triển hoạt động giáo dục đào tạo vàkết quả là sự gia tăng quy mô của nguồn vốn nhân lực, thể chế chính sách phù hợp đểtạo ra các nhân tố cần thiết cho quá trình tích tụ công nghệ

Trang 12

- Năng lực cạnh tranh công nghệ của nền kinh tế nói riêng và năng lực cạnhtranh tăng trưởng nói chung.

Như vậy, phân tích trên cho thấy rằng KHCN có ảnh hưởng và tác động đến mọihoạt động Kinh tế - Xã hội chính KHCN là chìa khoá của sự phát triển Bởi vậy, quốcgia nào nhận thức rõ được vai trò của KHCN và có chính sách đầu tư đúng đắn để thúcđẩy nghiên cứu khoa học, phát triển Công nghệ; quốc gia đó sẽ đạt được một nền kinh

tế - Xã hội tăng trưởng cao và ổn định, bền vững Nhận thức rõ vai trò của KHCNtrong sự nghiệp phát triển kinh tế -Xã hội, ngay trong nghị quyết của Bộ Chính trị về

khoa học công nghệ trong sự nghiệp đổi mới - tháng 3/1991 đã nhấn mạnh “ Khoa học

và Công nghệ là một động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình và phát triển Kinh tế - Xã hội theo định hướng XHCN” Điều này lại một lần nữa được

khẳng định trong mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - Xã hội 10 năm 2001 - 2010

của đảng ta trong Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX: “ Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực Khoa học và Công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng lên.” Đồng thời, Luật khoa học công nghệ cũng xác định rõ: “Khoa học - Công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp cây dựng và bảo vệ tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

1.2 CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ.

1.2.1 Tổng quan về chi ngân sách Nhà nước

1.2.1.1 Khái niệm chi ngân sách Nhà nước

Trang 13

Về mặt pháp lý, chi ngân sách Nhà nước là những khoản chi tiêu do chính phủhay các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được các mục tiêu công ích.

Về mặt bản chất, chi ngân sách Nhà nước là hệ thống những quan hệ phân phốilại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tậptrung của Nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang các sựnghiệp văn hoá - xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý Nhà nước và đảm bảo

an ninh quốc phòng

Chi ngân sách Nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảođảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhànước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

1.2.1.2Đặc điểm của chi ngân sách Nhà nước

Chi ngân sách nhà nước gắn với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế,chính trị, xã hội mà Nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ

Chi ngân sách Nhà nước phải đảm bảo các hoạt động của Nhà nước trên tất cảcác lĩnh vực Nhưng nguồn NSNN có được trong từng năm, trong từng thời kỳ lại cóhạn làm hạn chế phạm vi hoạt động của Nhà nước, buộc Nhà nước phải lựa chọn đểxác định rõ phạm vị chi NSNN Nhà nước không thể bao cấp tràn lan qua chi NSNN,

mà cần tập trung nguồn tài chính vào phạm vi đã hoạch định để giải quyết các vấn đềlớn của đất nước

Chi Ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dânchủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với tráchnhiệm Quốc hội quyết định dự toán ngân sách Nhà nước, phân bổ ngân sách trungương, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước và quyết định cơ cấu chi Ngân sáchtheo từng lĩnh vực Chính phủ có nhiệm vụ quản lý và điều hành các khoản chi NSNN

Trang 14

Chi ngân sách Nhà nước là những khoản chi không hoàn trả trực tiếp Cáckhoản cấp phát từ NSNN cho các ngành, các cấp, cho các hoạt động văn hoá, xã hội,giúp đỡ người nghèo, không phải trả giá hoặc hoàn lại cho Nhà nước Tuy vậy, cónhững khoản chi cho việc thực hiện chương trình mục tiêu mà thực chất là các khoảncho vay ưu đãi có hoàn trả gốc với lãi suất rất thấp hoặc không có lãi (như xoá đóigiảm nghèo, giải quyết việc làm…)

Chi ngân sách là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ và nó gắn liềnvới sự vận động của các phạm trù giá trị khác nhau như giá cả, tiền lương, tín dụng,thuế, tỷ giá hối đoái

Chi ngân sách có quy mô lớn, phức tạp, có tác động mạnh mẽ đến môi trường tài chính vĩ mô, đến tổng cung, tổng cầu về vốn tiền tệ

Hiệu quả chi NSNN khác với hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp, nó được xem xét trên tầm vĩ mô và dựa vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội,

an ninh, quốc phòng… mà các khoản chi Ngân sách đảm nhận Tuy vậy, trong đầu tư cũng phải chú ý tới hiệu quả kinh tế, nhất là các khoản nợ vay để đầu tư

1.2.1.3 Vai trò của chi ngân sách Nhà nước

Thông qua vai trò của Nhà nước, chi ngân sách có vị trí rất quan trọng, đượcthể hiện thông qua các lĩnh vực như ổn định kinh tế vĩ mô thông qua chính sách tàichính và tiền tệ, củng cố an ninh quốc phòng, cung cấp hàng hoá công cộng, chống ônhiễm môi trường, phát triển giáo dục và nâng cao phúc lợi xã hội, định hướng cạnhtranh một cách có hiệu quả…

Chi ngân sách được thể hiện thông qua các vai trò sau:

Thứ nhất, chi NSNN đối với việc củng cố, tăng cường sức mạnh của Nhà nước trong việc củng cố quốc phòng và việc sản xuất, tiêu dùng các hàng hoá công cộng

Trang 15

NSNN là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính chohoạt động của bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến xã, phường Nguồn NSNN lànguồn duy nhất phục vụ cho các hoạt động của bộ máy Nhà nước từ các cơ quan quyềnlực, cơ quan hành chính Nhà nước đến các cơ quan tư pháp Ngân sách nhà nước bảođảm cân đối kinh phí hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị -

xã hội Kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xãhội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được thực hiện theo nguyên tắc tự bảo đảm, ngânsách nhà nước hỗ trợ trong một số trường hợp cụ thể theo quy định của Chính phủ

-Thứ hai, Nhà nước thực hiện việc phân bổ các nguồn tài chính quốc gia, định hướng phát triển sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế phát bằng việc chi Ngân sách.

Chi ngân sách đã góp phần phát triển nhanh kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nguồn vốn đầu tư của Nhà nước trong thời gian qua đãtầng kỹ thuật và kinh tế - xã hội ở các vùng, ngành trong cả nước; quan tâm đầu tư kếtcấu hạ tầng nông thôn và nông nghiệp, các vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn.Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển làm thay đổi diện mạo của nhiều địa phươngtrong cả nước, một số đô thị mới ra đời, nhiều khu công nghiệp được hình thành, nhiềusân bay, bến cảng được hiện đại hoá Giao thông đường bộ (quốc lộ, tỉnh lộ) phát triểnmạnh, bệnh viện, trạm y tế đạt tiêu chuẩn cao hơn; các trường đại học, cao đẳng…đượcxây dựng khang trang hơn Chính phủ có thể tạo điều kiện và hướng nguồn vốn đầu tưcủa các doanh nghiệp vào những lĩnh vực, những vùng cần thiết để hình thành cơ cấukinh tế mới, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh Các khoản chi này củaNSNN không thu hồi trực tiếp nhưng đã góp phần rất quan trọng vào tốc tăng GDPhằng năm, tăng cường tiềm lực nền kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân

Trang 16

-Thứ ba, Nhà nước có thể điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát thông qua chi ngân sách.

Quy luật cung cầu chi phối thị trường rất mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường.Mọi sự biến động của giá cả đều có nguyên nhân từ sự mất cân đối cung cầu Có thểnói, vai trò của Nhà nước rất quan trọng đối với việc tạo ra một môi trường cạnh tranhlành mạnh, đặc biệt là trong việc tạo lập, duy trì khung pháp lý và xử lý những viphạm Sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường được thể hiện dưới các hình thức trựctiếp và gián tiếp Hình thức gián tiếp là ban hành các quy định về chế độ gia nhập cũngnhư rút lui khỏi thị trường Hình thức trực tiếp là việc Nhà nước đưa ra các chươngtrình, chính sách hỗ trợ, khuyến khích, hoặc điều chỉnh hoạt động của một bộ phậndoanh nghiệp nào đó theo mục tiêu mà Nhà nước đang hướng tới

Nhà nước tác động vào nền kinh tế thông qua chính sách thuế và chi tiêu ngânsách của Nhà nước nhằm điều tiết chu kỳ kinh tế, đảm bảo công ăn việc làm, ổn địnhgiá cả và tăng trưởng liên tục của nền kinh tế

Trong những thời kỳ kinh tế suy giảm, chính sách tài chính có tác dụng kíchcầu

và sản xuất bằng cách Chính phủ tăng mua, giảm thuế, do đó tạo ra được một thu nhậpquốc dân khả dụng lớn hơn để đưa vào luồng tiêu dùng

Còn trong những thời kỳ kinh tế "quá nóng", chính phủ làm ngược lại Để cânbằng lại những biện pháp tài chính này, Nhà nước tạo ra những biện pháp cân bằng nhưthuế thu nhập luỹ tiến và phụ cấp thất nghiệp Chính sách tài chính được điều hành mộtcách độc lập với chính sách tiền tệ là chính sách nhằm điều tiết hoạt động kinh tế bằngcách kiểm soát việc cung ứng tiền Khi tăng chi tiêu vào thời điểm thất nghiệp cao vàlạm phát thấp, Nhà nước đã tăng cung ứng tiền, dẫn tới giảm lãi suất (tức giám giáđồng tiền), nhờ đó ngân hàng mới có nhiều điều kiện cho vay và chi tiêu cho tiêu dùngđược tăng lên Điều đó có nghĩa là kích cầu vì tiêu dùng là bộ phận cấu thành lớn nhất

và ổn định nhất của tổng cầu Lãi suất thấp, đồng thời khuyến khích đầu tư, các chủ

Trang 17

doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất, thuê thêm công nhân Trong thời kỳ lạm phátcao và thất nghiệp thấp thì ngược lại, Nhà nước “làm nguội" nền kinh tế bằng cáchtăng lãi suất, giảm cung ứng tiền Cùng với việc giảm tiền và tăng lãi suất, cả chỉ tiêulẫn giá cả đều có xu hướng giảm hoặc ít nhất, nếu có tăng thì cũng rất chậm, và kết quả

là thu hẹp lại sản lượng và việc làm

Chính phủ có thể tác động vào tổng cung hoặc tổng cầu để góp phần ổn định giá

cả trên thị trường, tăng cường quản lý thị trường, giá cả, bảo đảm cân đối cung cầuhàng hoá phục vụ cho sản xuất và đời sống nhân dân, chống đầu cơ, trục lợi nâng giá

Hoạt động điều tiết của chính phủ đối với thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thịtrường sức lao động thông qua việc thực hiện một cách đồng bộ giữa các công cụ tàichính, tiền tệ, giá cả, trong đó công cụ ngân sách với các biện pháp chi tiêu dùng củaChính phủ và cho toàn xã hội

Lạm phát với sự bùng nổ các cơn sốt về giá, gây ra những hậu quả nặng nề chonền kinh tế, cho người sản xuất và người tiêu dùng Vì vậy, kiềm chế lạm phát luônđược coi là mục tiêu trọng yếu trong điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế - xã hội của đấtnước Thông qua việc tiết kiệm chi từ ngân sách, tiết kiệm các khoản chi thườngxuyên, nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng…

Kiên quyết xoá bỏ bao cấp giá và từng bước khắc phục tình trạng bao cấp vềvốn cho các doanh nghiệp quốc doanh Việc đổi mới cơ cấu chi ngân sách, tăng tỷtrọng các khoản chi cho đầu tư, đổi mới hệ thống thuế, đảm bảo mức động viên hợp lý

và khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển là những giải pháp đảm bảo cho sựthành công của công cuộc đấu tranh chống lạm phát

-Thứ tư, Nhà nước điều chỉnh thu nhập và phúc lợi trong xã hội thông qua chi ngân Ngân sách

Trang 18

Nhà nước có những biện pháp nhằm đặt ra một chính sách phân phối hợp lý thunhập của toàn xã hội thông qua các công cụ hữu hiệu như chính sách thuế Thông quachi ngân sách, Nhà nước thực hiện phân phối lại nhằm chuyển bớt một phần từ tầnglớp giàu có sang tầng lớp người nghèo Các khoản chi phí cho mục tiêu phúc lợi xã hội,mục tiêu, trợ cấp cho người nghèo cần được bố trí theo chiều hướng tăng lên theo một

tỷ lệ nhất định so với sự tăng trưởng kinh tế

Hiện nay, nhu cầu chi tiêu của Chính phủ ngày càng tăng, nhất là các khoản chicho tiêu dùng xã hội, giải quyết các chính sách xã hội cho các đối tượng được đưa rakhỏi quá trình sản xuất khi thực hiện việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước, chibảo trợ cho các đối tuợng được hưởng chính sách bảo trợ, chi cho phát triển văn hoá,giáo dục, y tế, chi hỗ trợ thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm Điều đó đặt

ra vấn đề cần mở rộng phạm vi điều chỉnh của NSNN trong lĩnh vực tiền lương

1.2.1.4 Phân loại chi Ngân sách Nhà nước

Phân loại chi NSNN có vai trò quan trọng trong việc phục vụ quá trình hoạchđịnh chính sách và phân bổ ngân sách giữa các lĩnh vực, đảm bảo trách nhiệm của cơquan Nhà nước trong quá trình quản lý ngân sách Nó giúp quá trình phân tích kinh tế

và quản lý thực hiện ngân sách hằng ngày được thuận lợi cũng như định hướng chingân sách trong tương lai Tuỳ thuộc vào các mục tiêu khác nhau mà chi ngân sách cónhiều cách phân loại

*Phân loại theo ngành kinh tế quốc dân:

Đây là cách phân loại dựa vào chức năng của Chính phủ đối với nền kinh tế - xãhội thể hiện qua 20 ngành kinh tế quốc dân như: Nông nghiệp- lâm nghiệp- thuỷ lợi,thuỷ sản; công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến; xây dựng, khách sạn nhàhàng và du lịch; giao thông vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc, tài chính, tín dụng,

Trang 19

khoa học và công nghệ; quản lý Nhà nước và an ninh quốc phòng; giáo dục và đào tạo;

y tế và các hoạt động xã hội, hoạt động văn hoá và thể thao

Phân loại theo ngành kinh tế quốc dân nhằm so sánh chi ngân sách giữa cácnước được thuận lợi theo hệ thống tài khoản quốc gia và cẩm nang Thống kê Tài chínhcủa Chính phủ do Liên hợp Quốc xây dựng Hơn nữa, cách phân loại này còn giúpphân tích chi ngân sách phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từngthời kỳ

*Phân loại chi theo nội dung kinh tế của các khoản chi

Căn cứ vào nội dung của các khoản chi mà chi NSNN có thể chia ra thành cácnhóm, tiểu nhóm, mục, tiểu mục chi ngân sách Theo cách phân loại này thì chi ngânsách được chia thành: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi khác

* Các khoản chi thường xuyên:

Chi thường xuyên là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn thường

là một năm Các khoản chi thường xuyên mang tính chất là các khoản chi cho tiêudùng xã hội và gắn liền với chức năng quản lý xã hội của Nhà nước Chi sự nghiệp baogồm các khoản: chi sự nghiệp kinh tế, chi nghiên cứu khoa học, sự nghiệp giáo dục đàotạo, sự nghiệp y tế, sự nghiệp văn hóa nghệ thuật, thể thao và sự nghiệp xã hội, quốcphòng, an ninh, chi quản lý nhà nước

Chi thường xuyên gồm có:

-Chi thanh toán cho cá nhân như tiền lương: tiền công; phụ cấp lương; họcbổng, tiền thưởng, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp như : Bảo hiểm xã hội, bảohiểm y tế, kinh phí công đoàn

-Chi nghiệp vụ chuyên môn, các khoản chi về hàng hoá, dịch vụ tại các cơ quanNhà nước như: điện nước, vệ sinh môi trường; vật tư văn phòng; dịch vụ thông tin,

Trang 20

tuyên truyền, liên lạc, hội nghị, công tác phí; chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từngngành như ấn chỉ, đồng phục, trang phục…

-Chi mua sắm, sửa chữa: Các khoản chi mua đồ dùng, trang thiết bị, phương tiệnlàm việc, sửa chữa lớn tài sản cố định và xây dựng nhỏ

-Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao

-Các khoản chi khác

*Các khoản chi đầu tư phát triển:

Đây là những khoản chi có thời hạn tác động dài thường trên một năm, hìnhthành nên những tài sản vật chất có khả năng tạo được nguồn thu, trực tiếp làm tăng cơ

sở vật chất của đất nước Chi đầu tư phát triển được cấp phát chủ yếu từ ngân sáchtrung ương và một bộ phận đáng kể từ ngân sách địa phương Khoản chi này mang tínhchất tích lũy, có ảnh hưởng trực tiếp đến tăng năng suất xã hội và đối với các quan hệcân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân

Các khoản chi đầu tư phát triển bao gồm:

- Chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành;Chương trình mục tiêu Quốc gia; chi thực hiện nhiệm vụ đặt hàng của Nhà nước, chivốn đối ứng thực hiện các dự án có vốn nước ngoài theo quy định

- Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không hoặcchậm có khả năng thu hồi vốn như: Các công trình giao thông, điện lực, bưu chính viễnthông, các công trình văn hoá, giáo dục, y tế, phúc lợi công cộng… chi mua hàng hoá,vật tư dự trữ của Nhà nước; đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp cần thiết phải có

sự tham gia của Nhà nước Đây là khoản chi cho các chương trình phát triển kinh tế cótính chất hình thành thế cân đối của nền kinh tế, tạo ra tiền đề kích thích quá trình vậnđộng vốn của các doanh nghiệp và tư nhân nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế Chi đầu

Trang 21

tư xây dựng cơ bản từ nguồn tài chính của Nhà nước hướng vào củng cố và phát triển

hệ thống cơ sở hạ tầng của nền kinh tế (chi đầu tư cho cầu cống, bến cảng, sân bay, hệthống thủy lợi, năng lượng, vận tải, viễn thông ), các ngành công nghiệp cơ bản, cáccông trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình trọng điểm phục vụ phát triểnvăn hóa xã hội, phúc lợi công cộng Thực chất loại chi này đảm bảo tái sản xuất giảnđơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định cho các ngành sản xuất vật chất và khôngsản xuất, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của nền kinh tế và xã hội Sự thamgia cúa nhà nước vào các lĩnh vực nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự pháttriển kinh tế xã hội nói chung và của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng, bởi

nó nhằm kích thích đầu tư, giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng cường khảnăng cạnh tranh, đồng thời tạo ra các trung tâm kinh tế

Việc phân loại các khoản chi thành chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển làcần thiết trong quản lý NSNN Nó cho phép đánh giá, so sánh các khoản chi thườngxuyên phải bỏ ra cho các hoạt động quản lý kinh tế- xã hội của Nhà nước làm cơ sở đểxác định được hiệu quả hoạt động của các đơn vị Trong chi đầu tư phát triển, kỹ thuậtlựa chọn các dự án phải dựa trên việc phân tích đánh giá chi phí và lợi ích trong dàihạn, điều này hoàn toàn khác với cách đánh giá các khoản chi thường xuyên có tínhchất ngắn hạn Nếu một quốc gia muốn tăng trưởng trong dài hạn thì cần ưu tiên chingân sách Nhà nước cho các chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội Cáchphân loại này cung cấp các thông tin cần thiết để Nhà nước phân bổ cũng như quản lýngân sách cho các hoạt động đầu tư đó Nó còn đáp ứng cho mục đích thống kê tàichính của Chính phủ, đồng thời giúp cho việc kiểm soát tuân thủ các tiêu chuẩn địnhmức chi tiêu của Nhà nước cũng như phân tích kinh tế đảm bảo cân đối giữa các nhóm,mục chi

*Phân loại theo tổ chức hành chính:

Phân loại theo tổ chức hành chính Nhà nước là cần thiết để xác định rõ trách

Trang 22

nhiệm quản lý chi công cộng cho từng bộ, ngành, cơ quan, đơn vị và cũng cần thếit choquản lý thực hiện ngân sách hằng ngày, ví dụ: giao dịch thu, chi qua Kho bạc Nhànước Theo cách phân loại này chi ngân sách được phân loại theo các bộ, cục, sở, banhoặc cơ quan, đơn vị thụ hưởng ngân sách Nhà nước theo cấp quản lý: trung ương,tỉnh, huyện hay xã Chi ngân sách được phân loại theo đơn vị dự toán các cấp bao gồm:cấp I; cấp II; cấp III nhằm làm rõ trách nhiệm từng cấp trong quản lý ngân sách nóichung và kế toán và quyết toán NSNN nói riêng.

Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị trực tiếp nhận dự toán ngân sách hằng năm doThủ tướng Chính phủ hoặc Uỷ ban nhân dân giao Đơn vị dự toán cấp I thực hiện phân

bổ, giao dự toán ngân sách cho đơn vị cấp dưới trực thuộc; chịu trách nhiệm trước Nhànước về tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán ngân sách của đơn vị mình

và công tác kế toán, quyết toán của đơn vị cấp dưới trực thuộc

Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị trực thuộc của đơn vị dự toán cấp I, có nhiệm vụquản lý kinh phí cấp trung gian, là cầu nối giữa đơn vị dự toán cấp I và cấp III trongcùng một hệ thống Đơn vị dự toán cấp II nhận dự toán Ngân sách của đơn vị dự toáncấp I và phân bổ cho đơn vị dự toán cấp III trực thuộc, có nhiệm vụ tổ chức thực hiệncông tác kế toán và quyết toán ngân sách của cấp mình và cấp dưới trực thuộc

Đơn vị dự toán cấp III: là các đơn vị trực tiếp sử dụng vốn ngân sách để thựchiện nhiệm vụ được nhà nước giao Đơn vị này nhận dự toán ngân sách từ đơn vị dựtoán cấp II hoặc cấp I (nếu không có cấp II) và tổ chức thực hiện công tác kế toánquyết toán ngân sách của đơn vị mình

1.2.2 Chi Ngân sách cho đầu tư phát triển Khoa học Công Nghệ.

1.2.2.1 Khái niệm chung về chi ngân sách cho đầu tư phát triển Khoa học Công nghệ.

Chi Ngân Sách Nhà Nước cho đầu tư phát triển Khoa học - Công nghệ là sự thể

Trang 23

hiện mối quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị từ một bộ phận quỹ tiền tệ tập trungcủa Nhà Nước nhằm duy trì và phát triển Khoa học Công nghệ theo nguyên tắc khônghoàn trả trực tiếp.

Xét về mặt lâu dài thì đó là một khoản đầu tư có tính tích luỹ đặc biệt Bởi lẽ,khoản chi này là nhân tố quyết định đến việc tăng trưởng kinh tế Đặc biệt trong thờiđại ngày nay, thời đại của nền kinh tế tri thức trong đó yếu tố Khoa học công nghệđang dần trở thành yếu tố trực tiếp của quá trình sản xuất và là chìa khoá cho sự pháttriển kinh tế của mỗi quốc gia Chính vì lẽ đó, chúng ta có thể khẳng định rằng chiNgân Sách Nhà Nước cho đầu tư phát triển Khoa học - Công nghệ là khoản chi mangtính tích luỹ đặc biệt

Ngoài ra, chi Ngân Sách Nhà Nước cho đầu tư, phát triển Khoa học - Công nghệmột phần nào đó còn mang tính tiêu dùng cho xã hội Hoạt động Khoa học - Công nghệtuy không trực tiếp tạo ra sản phẩm trực tiếp phục vụ cho tiêu dùng nhưng những kếtquả đạt được của các hoạt động này khi đưa vào sản xuất lại góp một vai trò to lớntrong việc tạo ra nhiều sản phẩm mới có chất lương cao nhằm đáp ứng tốt hơn nhữngyêu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng

Như vậy chi Ngân Sách Nhà Nước cho đầu tư phát triển Khoa học - Công nghệvừa mang tính tích luỹ, vừa mang tính tiêu dùng Một mặt vừa đáp ứng được nhu cầucủa người tiêu dùng, một mặt vừa từng bước phát triển được mặt bằng chung về Khoahọc - Công nghệ so với thế giới và trong khu vực, góp phần làm tăng sức sản xuất của

xã hội Do vậy, chúng ta có thể khăng định rằng cùng với Giáo dục đào tạo, đầu tư choKhoa học -Công nghệ “là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệptrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là nền tảng và động lực cho công nghiệphoá và hiện đại hoá, phát triển nhanh và bền vững đất nước.”

Trang 24

1.2.2.2 Vai trò của chi Ngân Sách Nhà Nước cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ.

- Chi Ngân Sách cho đầu tư phát triển Khoa học - Công nghệ có vai trò to lớnđối với phát triển kinh tế xã hội Vai trò này được bắt nguồn từ vai trò và nhiệm vụ củahoạt động khoa học công nghệ đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Ở Việt Nam,nhiệm vụ của hoạt động Khoa học Công nghệ được cụ thể hoá tại điều 4/ luật khoa họccông nghệ ra ngày 9/6/2000 đó là:

+ Vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - LêNin và tư tưởng

Hồ Chí Minh Xây dựng lý luận về chủ nghĩa Xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xãhội của Việt Nam: xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra các đường lối và chínhsách, pháp luật về kinh tế -xã hội, bảo đảm về quốc phòng an ninh; góp phần xây dựngnền giáo dục tiên tiến, xây dựng con người mới Việt Nam; kế thừa và phát huy các giátrị truyền thống dân tộc và đóng góp vào kho tàng văn hoá, khoa học thế giới

+ Nâng cao năng lực khoa học Công nghệ để làm chủ các công nghệ tiên tiến,công nghệ cao, các phương thức quản lý tiên tiến; sử dụng hợp lý tài nguyên thiênnhiên, bảo vệ môi trường Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân; dự báo kịp thời Phòng,chống các hiệu quả thiên tai

+ Tiếp tục các thành tựu Khoa học và Công nghệ của thế giới để tạo ra sảnphẩm mới có sức cạnh tranh cao; phát triển nền Khoa học và Công nghệ Việt Nam đạttrình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, làm cơ sở vững chắc cho việc pháttriển các ngành công nghiệp hiện đại; đẩy mạnh việc phổ biến và ứng dụng các thànhtựu Khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống

Như vậy, rõ ràng là hoạt động Khoa học - Công nghệ ảnh hưởng trực tiếp tới sựphát triển Kinh tế - Xã hội của một nước, một quốc gia Song Chất lượng và hiệu quả

Trang 25

của hoạt động khoa học công nghệ phụ thuộc rất nhiều vào việc đầu tư vốn cho lĩnhvực này

- Chi Ngân Sách Nhà Nước cho đầu tư phát triển Khoa học - Công nghệ là mộtcông cụ giúp nhà nước thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế thị trường trong chiến lượcKinh tế - Xã hội của nhà nước Thông qua việc xác định cơ cấu tỉ trọng chi mà nhànước tham gia điều chỉnh, hướng dẫn các hoạt động Kinh tế- Xã hội nói chung và cáchoạt động Khoa học - Công nghệ nói riêng theo đúng đường lối chủ trương của đảng

và nhà nước đề ra

Ngoài ra, thông qua chi Ngân Sách Nhà Nước cho đầu tư phát triển Kinh tế

-Xã hội, nhà nước tiến hành kiểm tra, giám sát việc sử dụng các hoạt động chi đó chocác từng lĩnh vực cụ thể theo chủ trương đường lối đặt ra Từ đó phát huy tối đa hiệuquả của đồng vốn Ngân Sách Nhà Nước và tạo điều kiện cho Khoa học - Công nghệthực hiện các mục tiêu của mình

Trên đây là một số vai trò chủ yếu của chi Ngân Sách Nhà Nước cho đầu tư pháttriển Khoa học - Công nghệ Song vai trò đó có được phát huy hay không phụ thuộcnhiều vào công tác quản lý chi Ngân Sách Nhà Nước cho đầu tư phát triển Khoa học -Công nghệ

1.3 TỔNG QUAN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ.

1.3.1 Quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển Khoa học Công nghệ

Như chúng ta đã biết, chi Ngân Sách Nhà Nước cho Khoa học - Công nghệ nóiriêng và chi cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ nói riêng là các khoản chithường xuyên của Ngân Sách Nhà Nước nên quá trình tổ chức quản lý chi Ngân Sách

Trang 26

Nhà Nước cho sự nghiệp Khoa học - Công nghệ cũng phải tuân theo quy tắc chung củaquản lý chi thường xuyên của Ngân Sách Nhà Nước theo quy định của pháp luật

Khả năng là có giới hạn và nhu cầu là vô hạn đó là lý do tại sao chúng ta đã rayêu cầu chi Ngân Sách phải đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả Đây không phải là lần đầutiên chúng ta nhắc đến vân đề hiệu quả của một đồng vốn bỏ ra, bỏ vào đâu và bỏ nhưthế nào? Vì vậy để đảm bảo yêu cầu này cần phải tuân theo một số nguyên tắc

1.3.2 Các nguyên tắc chi ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ

1.3.2.1 Nguyên tắc quản lý theo dự toán

Lập dự toán là khâu mở đầu của một chu trình Ngân Sách Nhà Nước Nhữngkhoản chi thường xuyên khi đã được ghi vào dự toán chi và đã được cơ quan NhàNước có thẩm quyền xét duyệt được coi là chỉ tiêu pháp lệnh Xét trên giác độ quản ly,

số chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán thể hiện sự cam kết của cơ quan chứcnăng quản lý tài chính Nhà Nước với các đơn vị thụ hưởng Ngân Sách Nhà Nước Từ

đó làm nảy sinh nguyên tắc chi thường xuyên theo dự toán

Việc đòi hỏi quản lý chi thường xuyên của Ngân Sách Nhà Nước phải theo dựtoán là xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn sau:

+ Hoạt động của Ngân Sách Nhà Nước, đặc biệt là cơ cấu thu chi của NgânSách Nhà Nước phụ thuộc vào sự phán quyết của Ngân Sách Nhà Nước phụ thuộcvào sự phán quyết của cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền, đồng thời luôn phải chịu

sự kiểm tra giám sát của các cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền đó Do vậy NgânSách Nhà Nước chỉ có thể trở thành hiên thực khi và chỉ khi khoản chi đó đã nằmtrong cơ cấu chi theo dự toán đã được cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền xét duyệt

và thông qua

Trang 27

+ Phạm vi chi của Ngân Sách Nhà Nước rất đa dạng liên quan tới nhiềuloại hình đơn vị thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Mức chi của mỗi loại hoạt độngđược xác định theo đối tượng riêng, định mức riêng, hoặc ngay giữa các cơ quantrong cùng một lĩnh vực hoạt động nhưng điều kiện về trang bị cơ sở vật chất có sựkhác nhau, quy mô và tính chất hoạt động khác nhau sẽ dẫn tới các mức chi từNgân Sách Nhà Nước cho các cơ quan cũng có sự khác nhau.

+ Có quản lý theo dự toán mới đảm bảo được yêu cầu cân đối của NgânSách Nhà Nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành Ngân Sách, hạn chếđược tính tuỳ tiện về nguyên tắc ở các đơn vị thụ hưởng Ngân Sách

1.3.2.2 Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả.

Có thể nói tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàngđầu của quản lý kinh tế, tài chính, bởi lẽ đơn giản như sau:

Nguồn lực thì luôn có giới hạn nhưng nhu cầu thì không có mức giới hạn nào

Do vậy, trong quá trình phân bổ và sử dụng các nguồn lực khan hiếm đó chúng ta luônphải tính toán sao cho với chi phí ít nhất nhưng vẫn đạt dược hiệu quả cao nhất

Mặt khác, do đặc thù hoạt động Ngân Sách Nhà Nước diễn ra trên phạm virộng, đa dạng và phức tạp Nhu cầu chi Ngân Sách Nhà Nước luôn gia tăng với tốc độnhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu có hạn, nên càng phải tôn trọng nguyêntắc tiết kiệm, hiệu quả trong quản lý chi Ngân Sách Nhà Nước

Nguyên tắc này chỉ có thể được tôn trọng khi quá trình chi Ngân Sách NhàNước làm tốt và đồng bộ những nội dung sau:

+ Phải xây dựng dược các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từngđối tượng hay tính chất công việc, đồng thời lại phải có tính chất thực tiễn cao Chỉ

Trang 28

có như vậy các định mức, tiêu chuẩn chi của Ngân Sách Nhà Nước mới trở thànhcăn cứ pháp lý xác đáng phục vụ cho quá trình quản lý chi.

+ Phải thiết lập các hình thức cấp phát đa dạng và lựa chọn các hình thứccấp phát áp dụng cho mỗi loại đơn vị một cách phù hợp hoặc phù hợp với yêu cầuquản lý của từng nhóm mục chi

+ Biết lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạt động hoặc các nhóm mụcchi sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành vàđạt chất lượng cao Để đạt được điều này, đòi hỏi phải có các phương án phân phối

và sử dụng kinh phí khác nhau Trên cơ sở đó mà lựa chọn phương án tối ưu nhấtcho cả quá trình lập dự toán, phân bổ và quá trình sử dụng kinh phí

Có thể nói tiết kiệm, hiệu quả là hai mặt của nguyên tắc này, chúng có mối quan

hệ mật thiết với nhau Vì vậy khi xem xét đến vấn đề tiết kiệm các khoản chi của NgânSách Nhà Nước phải đặt trong sự ràng buộc của tính hiệu quả và ngược lại

Mặt khác khi đánh giá hiệu quả của chi ngân sách nhà nước phải có quan điểmtoàn diện, phải xem xét mức độ ảnh hưởng của mối khoản chi thường xuyên với cácmối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội khác và phải tính đến thời gian phát huy tác dụngcủa nó Vì vậy khi nói đến hiệu quả của chi thường xuyên từ Ngân Sách Nhà Nướcngười ta hiểu đó là những lợi ích về kinh tế và xã hội mà toàn xá hội được thụ hưởng

1.3.2.3 Nguyên tắc chi trực tiếp qua kho bạc Nhà Nước.

Một trong những chức năng quan trọng của kho bạc nhà nước là quản lý quỹNgân Sách Nhà Nước Vì vậy, Kho bạc Nhà Nước vừa có quyền, vừa có trách nhiệmphải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi Ngân Sách Nhà Nước, đặc biệt là các khoản chithường xuyên Để tăng cường vai trò của Kho bạc Nhà Nước trong kiểm soát chithường xuyên của Ngân Sách Nhà Nước, hiện nay ở nước ta đã và đang triển khai việcchi trực tiếp qua Kho bạc Nhà Nước như một nguyên tắc trong quản lý khoản chi này

Trang 29

Để thực hiện được nguyên tắc này cần giải quyết tốt một số vấn đề sau:

Tất cả các khoản chi Ngân Sách Nhà Nước phải được kiểm tra, kiểm soáttrước, trong và sau quá trình cấp phát, thanh toán Các khoản chi phải có trong dựtoán Ngân Sách Nhà Nước được duyệt, đúng chế độ tiêu chuẩn, định mức do cơquan Nhà Nước có thẩm quyền quy định đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng kinhphí Ngân Sách Nhà Nước chuẩn thi

Tất cả các cơ quan, đơn vị, các chủ dự án…sử dụng kinh phí ngân sáchnhà nước( gọi chung là đơn vị sử dụng kinh phí Ngân Sách Nhà Nước ) phải mởtài khoản tại kho bạc Nhà Nước, chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tàichính, kho bạc Nhà Nước trong quá trình lập dự toán, phân bổ hạn mức, cấp phát,thanh toán, hạch toán và quyết toán Ngân Sách Nhà Nước

Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm duyệt dự toán và thông báo hạnmức kinh phí quý cho các đơn vị sử dụng kinh phí Ngân Sách, kiểm tra việc sửdụng kinh phí, thẩm định quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chicủa các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi Ngân Sách Nhà Nước

Kho bạc Nhà Nước có trách nhiệm kiểm soát các hồ sơ, chứng từ, điềukiện chi và thực hiện cấp phát, thanh toán kịp thời các khoản chi Ngân Sách NhàNước theo đúng quy định của pháp luật, tham gia với các cơ quan tài chính, cơquan quản lý Nhà Nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụngNgân Sách Ngân Sách Nhà Nước và xác nhận số thực chi ngân sách nhà nước quakho bạc của các đơn vị

Kho bạc Nhà Nước có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán, chi trả và thôngbáo cho các đơn vị sử dụng kinh phí Ngân Sách Nhà Nước biết, đồng thời gửi cơ quantài chính đồng cấp giải quyết các trường hợp như chi không đúng mục đích, đói tượngtheo dự toán được duyệt; chi không đúng chế độ, định mức chỉ tiêu tài chính Nhà

Trang 30

Nước; không đủ các điều kiện chi theo quy định hiện hành về chi trực tiếp qua kho bạcNhà Nước.

Lựa chọn phương thức cấp phát, thanh toán đối với từng khoản chithường xuyên cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội hiện tại Cụ thể: phươngthức cấp phát, thanh toán đối với các khoản tiền lương sẽ khác với phương thứccấp phát, thanh toán đối với các khoản mua sắm đồ dùng, trang thiết bị, phươngtiện làm việc sửa chữa và xây dựng nhỏ…

1.3.3 Nội dung Quản lý chi Ngân Sách Nhà Nước cho đầu tư phát triển Khoa học - Công nghệ.

13.3.1 Lập dự toán chi ngân sách Nhà Nước cho đầu tư phát triển Khoa học

- Công nghệ

a, Những căn cứ Lập dự toán chi ngân sách Nhà Nước cho đầu tư phát triển Khoa học - Công nghệ.

Dựa vào vào các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển Khoa học - Công nghệ đặc biệt

là các chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí của Ngân Sách NhàNước cho việc đầu tư và phát triển Khoa học - Công nghệ theo kế hoạch Đây chính

là việc cụ thể hoá các chủ trương của Nhà Nước trong từng giai đoạn cụ thể thànhcác chỉ tiêu của kì kế hoạch

Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu thườngxuyên của Khoa học - Công nghệ theo kì kế hoạch Muốn dự đoán được khả năngnày, người ta phải dựa vào cơ cấu thu Ngân Sách Nhà Nước kỳ báo cáo và mức tăngtrưởng của các nguồn thu theo kỳ kế hoạch Nhờ đó mà thiết lập mức cân đối tổngquát giữa khả năng nguồn kinh phí và nhu cầu chi Ngân Sách Nhà Nước cho sựnghiệp Khoa học - Công nghệ

Dựa vào các chính sách, chế độ chi tiêu thường xuyên của Ngân Sách Nhà Nước

Trang 31

hiện hành và các dự đoán điều chỉnh hoặc thay đổi có thể xảy ra trong kì kế hoạch.Đây là cơ sở pháp lý cho việc tính toán và bảo vệ dự toán chi thường xuyên củaNgân Sách Nhà Nước Đồng thời nó cũng tạo điều kiện cho quá trình chấp hành dựtoán không bị rơi vào tình trạng hẫng hụt khi có sự điều chỉnh hoặc có sự thay đổimột hay một số chính sách, chế độ chi nào.

b Phương pháp xác định số chi của Ngân Sách Nhà Nước cho Khoa học Công nghệ.

Phương pháp xác định số chi thường xuyên cho đầu tư phát triển Khoa học Công nghệ được tính bằng tổng tất cả các khoản dự kiến chi Ngân Sách cho từngnhiệm vụ cụ thể Ở đây bao gồm: số dự toán chi Ngân Sách Nhà Nước cho nhiệm vụquản lý Nhà Nước về Khoa học-Công nghệ + số dự toán về chi cho nghiên cứu, ứngdụng và phát triển Khoa học tự nhiên + số dự toán chi Ngân Sách cho nghiên cứu, ứngdụng và phát triển Khoa học xã hội và nhân văn + chi cho các hoạt động Khoa họckhác + chi dự kiến cho các công trình, dự án công nghệ cao như Công Nghệ Thông tin,

Còn phần dự toán chi Ngân Sách cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phát triển Khoa học tự nhiên và Khoa học Xã hội và nhân văn được xác định dựa

trên nhiệm vụ, và yêu cầu của Thành phố đặt ra trong từng năm Nó được cụ thể hoá ởdanh mục các đề tài nghiên cứu và các dự án sản xuất thực nghiệm được duyệt và đưavào thực hiện trong từng năm đó Phương pháp này cũng được thực hiện tương tự đối

Trang 32

với cách tính dự toán chi Ngân Sách Nhà Nước cho đầu tư phát triển các hoạt động Khoa học – Công nghệ khác.

c Quy trình lập dự toán chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển Khoa học - Công nghệ

Căn cứ tình hình thực hiện chi Ngân Sách của năm trước cộng với những phátsinh tăng và trừ những khoản phát sinh giảm

Căn cứ vào chỉ thị của thủ tướng chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triểnkinh tế xã hội và dự toán Ngân Sách Nhà Nước năm sau, bộ tài chính ban hành thông

tư hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán thu chi Ngân Sách Nhà Nước

và thông báo sơ kiểm tra về dự toán Ngân Sách Nhà Nước cho bộ y tế, cơ quan trungương và các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương

Bộ Khoa học - Công nghệ căn cứ vào chỉ thị của thủ tướng chính phủ, thông tưhướng dẫn, số kiểm tra về dự toán Ngân Sách Nhà Nước thuộc phạm vi quản lý và dựtoán Ngân Sách ngành Khoa học - Công nghệ, thông báo số kiểm tra về dự toán NgânSách Nhà Nước cho các đơn vị trực thuộc

Các bộ, ban ngành trung ương, địa phương căn cứ chỉ thị của thủ tướng chínhphủ, thông tư hướng dẫn, số kiểm tra về dự toán Ngân Sách của Bộ Tài Chính vàhướng dẫn của bộ Khoa học - Công nghệ, căn cứ vào định hướng yêu cầu và nhiệm vụ

cụ thể của từng đơn vị, căn cứ vào khả năng cân đối của các ngòon vốn thực hiện đểlập dự toán của các nội dung nhiệm vụ cụ thể đơn vị mình thực hiện trong năm báo cáolên Bộ khoa học và cơ quan cấp trên nếu không thuộc bộ khoa học công nghệ

Bộ Khoa học - Công nghệ xem xét dự toán Ngân Sách của các đơn vị, tổ chứcKhoa học- Công nghệ lập dự toán Ngân Sách của Bộ khoa học công nghệ cho lĩnh vựcKhoa học - Công nghệ báo cáo gửi Bộ Tài Chính để tổng hợp, Bộ Tài Chính căn cứvào dự toán thu chi Ngân Sách do các bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan Nhà Nước trung

Trang 33

Ương và các tỉnh lập dự toán chi theo ngành, lĩnh vực, chi chương trình quốc gia docác bộ, cơ quan quản lý chương trình quốc gia lập, nhu cầu trả nợ và khả năng vay đểlập dự toán thu chi Ngân Sách Nhà Nước trình chính phủ để trình quốc hội phê duyệt.

Sau khi dự toán Ngân Sách Nhà Nước được Quốc Hội quyết định, Bộ Tài chính

có nhiệm vụ giao dự toán thu, chi Ngân Sách cho các tỉnh, các bộ ban ngành ( thuNgân Sách giao đến từng sắc thuế, chi Ngân Sách giao tổng chi và hướng dẫn một sốkhoản chi trọng điểm, nguyên tắc này thay đổi theo quy định của luật Ngân Sách NhàNước)

Đối với lĩnh vực Khoa học - Công nghệ, sau khi Bộ Tài Chính giao nhiệm vụthu, chi Ngân Sách cho bộ KHCN Bộ KHCN sẽ thông báo và tuyền chọn các dự ánchương trình thực hiện trong năm và thực hiện tiến hành lựa chọn các chủ đề tài cácchương trình mục tiêu theo qui định

Trong quá trình lập dự toán Ngân Sách Nhà Nước cần phải tuân theo các yêucầu sau:

Dự toán Ngân Sách của các đơn vị dự toán, các cấp chính quyền, Bộ, Ngànhphải phản ánh đầy đủ các khoản chi theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan

có thẩm quyền ban hành

Dự toán Ngân Sách của các đơn vị phải lập theo đúng biểu mẫu, đúng thời gianquy định và phải lập chi tiết theo mục lục Ngân Sách Nhà Nước ( hiện nay, ở nước tavừa ban hành mục lục Ngân Sách Nhà Nước mới thay cho quyển mục lục Ngân Sách

cũ đã được ban hành)

Dự toán thu chi Ngân Sách cấp Ngân Sách cấp nào lập do hội đồng nhân dâncấp đó duyệt ( phê chuẩn) song đảm bảo nguyên tắc phù hợp dự toán thu chi NgânSách cấp trên theo nguyên tắc thu Ngân Sách bằng và cao hơn dự toán Ngân Sách cấp

Trang 34

trên giao, chi Ngân Sách phải có nguồn đảm bảo cân đối Trường hợp dự toán thu, chikhông đúng theo nguyên tắc trên thì HĐND cấp đó phải điều chỉnh cho phù hợp.

1.3.3.2 Chấp hành chi Ngân Sách Nhà Nước cho Khoa học - Công nghệ

- Căn cứ vào dự toán Ngân Sách được giao, Bộ tiến hành thực hiện các bướcthông báo, lập hội đồng và thẩm định các chương trình mục tiêu, các công trình chuyểngiao theo dự toán thực hiện trong năm để lựa chọn các chủ nhiệm đề tài, các đơn vịthực hiện theo đúng qui định

- Bộ khoa học công nghệ uỷ quyền duyệt dự toán chi của từng đơn vị sử dụngNgân Sách và căn cứ vào khả năng Ngân Sách để bố trí mức chi cho các đơn vị sửdụng Ngân Sách hoặc bố trí mức chi cho cơ quan quản lý cấp trên phân phối của từngđơn vị sử dụng Ngân Sách, thông báo cho đơn vị sử dụng Ngân Sách và kho bạc NhàNước nơi giao dịch để thực hiện

- Mức chi hàng quý được phân phối là hạn mức cao nhất mà đơn vị sử dụngNgân Sách được chi trong quý Căn cứ vào hạn mức chi được phân phối, thủ trưởngđơn vị sử dụng Ngân Sách ra lệnh chuẩn chi kèm theo hồ sơ thanh toán gửi Kho bạcNhà Nước nơi giao dịch

- Kho bạc Nhà Nước nơi giao dịch căn cứ vào thông báo hạn mức chi của bộkhoa học công nghệ phân phối cho đơn vị, kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ thanh toán,các điều kiện chi và lệnh chuẩn chi của thủ trưởng đơn vị sử dụng Ngân Sách, thựchiện việc cấp phát, thanh toán trực tiếp cho các đơn vị thụ hưởng Ngân Sách

Trong quá trình chấp hành Ngân Sách cần chú ý một số điểm sau:

- Cơ quan tài chính các cấp tiến hành cấp phát kinh phí thao nguyên tắc cấp trựctiếp đến các đơn vị sử dụng Ngân Sách và thanh toán trực tiếp qua Kho bạc Nhà Nướccho người được hưởng

Trang 35

- Mọi khoản chi Ngân Sách Nhà Nước được thực hiện khi có đủ các điều kiệnquy định.

1.3.3.3 Quyết toán Chi Ngân Sách Nhà Nước

Đây là khâu cuối cùng của quản lý Ngân Sách, phản ánh đầy đủ, chính xác cácnguồn tài chính của đơn vị mình và tình hình sử dụng nguồn vốn đó Báo cáo quyếttoán là căn cứ để cơ quan chủ quản cấp trên và cơ quan tài chính kiểm tra việc lập dựtoán và phân tích việc chấp hành Ngân Sách của đơn vị, Ngành Từ đó tăng cườngngăn ngừa các hiện tượng vi phạm chính sách, chế độ tài chính và có biện pháp xử lýkịp thời giúp cơ quan chủ quản quyết toán Ngân Sách hàng năm kịp thời và chính xác

Sau khi kết thúc năm Ngân Sách, các đơn vị thụ hưởng Ngân Sách có tráchnhiệm lập báo cáo quyết toán đồng gửi Bộ Khoa học, Công nghệ, Môi trường và BộTài chính - Vật giá Báo cáo phải tuân theo đúng kiểu mẫu báo cáo kế toán theo quyđịnh của luật Ngân Sách Nhà Nước để làm cơ sở giúp cơ quan cấp trên kiểm tra quyếttoán Thời hạn báo cáo quyết toán không chậm quá 40 ngày đến 60 ngày sau khi kếtthúc năm báo cáo Thời hạn duyệt báo cáo không quá 30 ngày kể từ khi nhận được báocáo quyết toán cơ quan chủ quản phải tổ chức kiểm tra, xét duyệt quyết toán cho đơn

- Báo cáo quyết toán Ngân Sách của đơn vị dự toán và của các cấp chính quyềnkhông được quyết toán chi lớn hơn thu

Trang 36

Tuy nhiên, trong quá trình quản lý chi Ngân Sách Nhà Nước cho Khoa học Công nghệ cần chú ý rằng: trong Khoa học - Công nghệ có 1 tài khoản chi cho cácchương trình thí điểm( 1 tài khoản ngoại bảng) Khác với các tài khoản khác, khi sửdụng tài khoản này chi theo lệnh chi tiền Cuối năm, số dư của tài khoản này đượcchuyển sang năm sau.

-1.3.3.4 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý chi Ngân Sách Nhà Nước cho đầu phát triển Khoa học- Công nghệ

Trong những năm gần đây, hoạt động Khoa học- Công nghệ có những chuyểnbiến tích cực, ngày càng đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của loài người - đặcbiệt khi xu hướng thế giới phát triển kinh tế theo mô hình mới - mô hình kinh tế trithức thì đây vừa là cơ hội và thách thức lớn với mỗi một quốc gia

Nhận thức rõ vai trò của Khoa học - Công nghệ trong sự nghiệp phát triển kinh

tế – Xã hội, Nghị quyết bộ chính trị “Về Khoa học Công nghệ trong sự nghiệp đổi

mới”, 3- 1991 đã nhấn mạnh: “Khoa học công nghệ là một động lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình và phát triển Kinh tế - Xã hội theo định hướng XHCN ” Điều này một lần nữa được khẳng định trong luật Khoa học - Công nghệ :

“Khoa học- Công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp xây dưng và bảo vệ tổ quốc, là nền tảng và đông lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển nhanh và bền vững đất nước.”.

Trong điều kiện đổi mới hiện nay, nhà nước ta nói riêng và các nước trên thếgiới nói chung đều khuyến khích huy động các nguồn tài chính khác nhau để đáp ứngcho yêu cầu của lĩnh vực này, tuy vậy nguồn vốn từ Ngân Sách Nhà Nước vẫn giữ vaitrò và vị trí hết sức quan trọng Điều đó, đòi hỏi chúng ta cần phải có các biện pháptăng cường quản lý nguồn vốn Ngân Sách Nhà Nước và nâng cao hiệu quả chi cho đầu

tư, phát triển Khoa học-Công nghệ để một mặt vừa sử dụng nguồn vốn Ngân Sách một

Trang 37

cách hiệu quả, tiết kiệm, một mặt vừa gia tăng được nguồn vốn từ các nguồn tài chínhkhác.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ CỦA VIỆT NAM.

2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA NƯỚC TA.

2.1.1 Tổng quan về tình hình phát triển khoa học công nghệ của nước ta

Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiệnđại hoá và phát triển bền vững đất nước Đảng và Nhà nước ta đã sớm xác định vai tròthen chốt của cách mạng khoa học và kỹ thuật Trong thời gian qua, đặc biệt là trongthời kỳ đổi mới, nhiều văn bản quan trọng về định hướng chiến lược và cơ chế, chínhsách phát triển khoa học và công nghệ đã được ban hành: Nghị quyết Hội nghị Trungương 2 khoá VIII (1996); Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khoá IX (2002); LuậtKhoa học và Công nghệ (2000); Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ ViệtNam đến năm 2010 (2003); và nhiều chính sách cụ thể khác về xây dựng tiềm lực vàđổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ

Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và đặc biệt là sự cố gắng của đội ngũ cán

bộ khoa học và công nghệ, hoạt động khoa học và công nghệ đã có bước chuyển biến,đạt được một số tiến bộ và kết quả nhất định, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh

tế, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước

a) Tiềm lực khoa học và công nghệ đã được tăng cường và phát triển

Trang 38

Nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, trong nhiều thập kỷ qua,chúng ta đã đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng trở lênvới trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học (trên 14 nghìn tiến sĩ và 16 nghìn thạcsĩ) và khoảng hơn 2 triệu công nhân kỹ thuật; trong đó, có khoảng 34 nghìn người đanglàm việc trực tiếp trong lĩnh vực KH&CN thuộc khu vực nhà nước Đây là nguồn nhânlực quan trọng cho hoạt động KH&CN của đất nước Thực tế cho thấy, đội ngũ này cókhả năng tiếp thu tương đối nhanh và làm chủ được tri thức, công nghệ hiện đại trongmột số ngành và lĩnh vực.

Thời gian qua, đã xây dựng được một mạng lưới các tổ chức KH&CN với trên1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có gần

500 tổ chức ngoài nhà nước; 197 trường đại học và cao đẳng, trong đó có 30 trườngngoài công lập Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các viện, trung tâm nghiên cứu, các phòngthí nghiệm, các trung tâm thông tin KH&CN, thư viện, cũng được tăng cường và nângcấp Đã xuất hiện một số loại hình gắn kết tốt giữa nghiên cứu khoa học, phát triểncông nghệ với sản xuất - kinh doanh

Mặc dù Ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, nhưng với sự nỗ lực rất lớn của Nhànước, từ năm 2000 tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho KH&CN đã đạt 2%, đánh dấu mộtmốc quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách đầu tư phát triển KH&CN củaĐảng và Nhà nước

b) Khoa học và công nghệ đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội.Khoa học xã hội và nhân văn đã góp phần quan trọng lý giải và khẳng định giátrị khoa học và thực tiễn của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, conđường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạchđịnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; góp phần vào thànhcông của công cuộc đổi mới nói chung và vào quá trình đổi mới tư duy kinh tế nóiriêng

Trang 39

Các kết quả điều tra cơ bản và nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, tài nguyênthiên nhiên đã phục vụ xây dựng luận cứ khoa học cho các phương án phát triển kinh tế

- xã hội của đất nước

Khoa học và công nghệ đã góp phần quan trọng trong việc tiếp thu, làm chủ,thích nghi và khai thác có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước ngoài Nhờ đó, trình độcông nghệ trong một số ngành sản xuất, dịch vụ đã được nâng lên đáng kể, nhiều sảnphẩm hàng hoá có sức cạnh tranh cao hơn Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệpKH&CN đã tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng và năng suất cao, gópphần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đưa nước ta từ chỗ là nước nhập khẩu lươngthực trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo, cà phê, v.v hàng đầu trên thếgiới

Các chương trình nghiên cứu trọng điểm về công nghệ thông tin, công nghệ sinhhọc, công nghệ vật liệu, tự động hoá, công nghệ cơ khí - chế tạo máy, đã góp phầnnâng cao năng lực nội sinh trong một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến, nâng cao năngsuất, chất lượng và hiệu quả của nhiều ngành kinh tế

Khoa học và công nghệ trong những năm qua đã góp phần đào tạo và nâng caotrình độ nhân lực, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc vàphát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc

c) Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ từng bước được đổi mới

Hệ thống quản lý nhà nước về KH&CN được tổ chức từ trung ương đến địaphương đã đẩy mạnh phát triển KH&CN, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triểnkinh tế - xã hội của ngành và địa phương

Thực hiện Luật Khoa học và công nghệ, các chương trình, đề tài, dự ánKH&CN đã bám sát hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Cơ chế tuyển chọn tổ

Trang 40

chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN đã bước đầu được thực hiện theo nguyên tắcdân chủ, công khai

Hoạt động của các tổ chức KH&CN đã mở rộng từ nghiên cứu - phát triển đếnsản xuất và dịch vụ KH&CN Quyền tự chủ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt độngKH&CN bước đầu được tăng cường Quyền tự chủ về hợp tác quốc tế của tổ chức, cánhân hoạt động KH&CN được mở rộng

Vốn huy động cho KH&CN từ các nguồn hợp đồng với khu vực sản xuất - kinhdoanh, tín dụng ngân hàng, tài trợ quốc tế và các nguồn khác, tăng đáng kể nhờ chínhsách đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho KH&CN Đã cải tiến một bước việc cấp phátkinh phí đến nhà khoa học theo hướng giảm bớt các khâu trung gian

Việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về KH&CN từng bước đượchoàn thiện thông qua các quy định về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các bộ,

cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

d) Trình độ nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ của nhân dân ngàycàng được nâng cao

Nhờ có sự quan tâm của tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, hoạt động tích cựccủa các tổ chức KH&CN, các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư và công tác phổ biến,tuyên truyền rộng rãi về tác động của KH&CN đến sản xuất và đời sống, nhận thức vàkhả năng tiếp thu, ứng dụng tri thức KH&CN của người dân trong thời gian qua đãtăng lên rõ rệt Hoạt động KH&CN ngày càng được xã hội hoá trên phạm vi cả nước

Tuy nhiên, hoạt động khoa học và công nghệ của nước ta hiện nay vẫn chưa đápứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là trong xu thếhội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển kinh tế tri thức trên thế giới Đại hội Đảng lầnthứ IX đã chỉ ra những hạn chế cơ bản của hoạt động khoa học và công nghệ hiện naylà: "Chưa thực sự gắn kết với nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội;

Ngày đăng: 18/07/2013, 09:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng trên cho thấy, yếu tố công nghệ đã đóng vai trò quyết định đến tăng trưởng GDP của các nước phát triển ngay từ thập niên 50 của thế kỷ trước (từ 40 -60%), trong khi đó các nước đang phát triển ở khu vực Đông á đến thập niên 90,  tăng trưởng GDP vẫn h - Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam
Bảng tr ên cho thấy, yếu tố công nghệ đã đóng vai trò quyết định đến tăng trưởng GDP của các nước phát triển ngay từ thập niên 50 của thế kỷ trước (từ 40 -60%), trong khi đó các nước đang phát triển ở khu vực Đông á đến thập niên 90, tăng trưởng GDP vẫn h (Trang 43)
Bảng chi ngân sách các năm cho đầu tư phát - Tăng cường quản lý chi ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam
Bảng chi ngân sách các năm cho đầu tư phát (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w