Trên cở sở lý luận chung, đề tài đánh giá một cách toàn diện tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thời gian qua, từ đó nêu lên các kết quả đạt được, những mặt tồn tại và nguyên nhân.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Trên cơ sởtham khảo các tài liệu có liên quan, các số liệu được trình bày trong luận văn
là trung thực trên cơ sở các báo cáo của các cơ quan và đơn vị có liên quan tới
đề tài nghiên cứu Các kết quả của luận văn chưa được công bố trong bất kỳcông trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Hợp
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo và hướng dẫn tận tình của cácthầy cô giáo trường đại học kinh tế quốc dân, đặc biệt là thầy giáo TS ĐinhTiến Dũng đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này Tôi cũng xincảm ơn các đơn vị cơ quan có liên quan đến luận văn này đã giúp đỡ cung cấp
số liệu để tôi đưa ra những minh họa, trích dẫn cần thiết từ thực tiễn từ đó cóthể trình bày những phân tích của riêng mình cho đề tài nghiên cứu
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Hợp
Trang 3DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
MỤC LỤC
Trang 4LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
MỤC LỤC SƠ ĐỒ ix
MỤC LỤC BẢNG ix
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 3
5 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 5
1.1 Tổng quan về tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 5
1.1.1 Bản chất tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 5
1.1.2 Nội dung tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 9
1.1.2.1 Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 9
1.1.2.2 Các bước thực hiện tiến trình cổ phần hóa tại các doanh nghiệp nhà nước 14
1.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 18
1.2 Bài học kinh nghiệm từ quá trình cổ phần hóa ở nước ta sau hơn 15 năm thực hiện (từ năm 1992 đến năm 2007) 21
Trang 51.2.1 Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 15 năm qua 21
1.2.2 Những vấn đề đặt ra của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 23
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với quá trình cổ phần trong những năm tiếp theo 26
1.3 Kinh nghiệm cổ phần hóa ở một số nước trên thế giới 27
1.3.1 Kinh nghiệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Nga 27
1.3.2 Kinh nghiệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc 29 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THUỐC THÚ Y TẠI BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 31
2.1 Tổng quan về tiến trình cổ phần hóa tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 31
2.1.1 Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2001 32
2.1.1.1 Thực hiện cổ phần hoá 32
2.1.1.2 Một số đánh giá trong giai đoạn này 33
2.1.2 Giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2004 35
2.1.2.1 Quá trình thực hiện cổ phần hóa: 35
2.1.2.2 Một số đánh giá của giai đoạn này 36
2.1.3 Giai đoạn từ năm 2005 đến nay 37
2.1.3.1 Kết quả đạt được 38
2.1.3.2 Một số đánh giá trong giai đoạn này: 38
2.2 Thực trạng tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 41
Trang 62.2.1 Thực trạng cổ phần hoá ở Công ty cổ phần dược và vật tư thú y (Hanvet) 42 2.2.1.1 Lịch sử hình thành và đặc điểm của Công ty Hanvet trước khi cổ phần hoá 42 2.2.1.2 Quá trình cổ phần hoá của công ty Hanvet và một số thành tựu đạt được của công ty hanvet sau khi cổ phần hoá 44 2.2.1.3 Một số đánh giá về quá trình cổ phần hóa tại công ty Hanvet 48 2.2.2 Thực trạng cổ phần hoá tại Công ty TNHH một thành viên thuốc thú
y trung ương (Navetco) 54 2.2.2.1 Lịch sử hình thành và đặc điểm của công ty Navetco 54 2.2.2.2 Thực trạng tiến trình cổ phần hóa tại Công ty Navetco 56 2.2.3 Thực trạng tiến trình cổ phần hóa tại Xí nghiệp Thuốc thú y trung ương 58 2.2.3.1 Lịch sử hình thành và đặc điểm của Xí nghiệp Thuốc thú y trung ương 58 2.2.3.2 Thực trạng tiến trình cổ phần hóa tại Xí nghiệp Thuốc thú y Trung ương 60
2.3 Đánh giá tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y tại Bộ NN và PTNT 62
2.3.1 Những kết quả đạt được trong tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y tại Bộ NN và PTNT 62 2.3.2 Những hạn chế trong tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y tại Bộ NN và PTNT 63 2.3.2.1 Khó khăn do những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 63 2.3.2.2 Những mặt chưa làm được của các DN sản xuất thuốc thú y khi tiến hành cổ phần hoá 64
Trang 7CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THUỐC THÚ Y TẠI BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 68
3.1 Định hướng về tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Đảng
3.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y tại Bộ NN và PTNT 85
Trang 83.3.1 Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước tạo nền tảng vật chất cho sự tăng cường xã hội hoá sản xuất tạo cơ sở cho cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 85 3.3.2 Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán để thúc đẩy cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước 87 3.3.3 Cải cách thủ tục hành chính trong tiến trình cổ phần hóa hiện nay 90
KẾT LUẬN 93
Trang 9MỤC LỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Tiến trình cổ phần hoá tại doanh nghiệp nhà nước 15
Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức của công ty Hanvet 46
Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy công ty Navetco 55
Sơ đồ 2.3: Bộ máy tổ chức của Xí nghiệp Thuốc thú y Trung ương 59
Sơ đồ 3.1: Quy trình cấp phát quỹ hỗ trợ DNNN cổ phần hóa 83
MỤC LỤC BẢNG Bảng 1.2: Tiến độ thực hiện cổ phần hoá giai đoạn 1998-2001 32
Bảng 1.3: Kết quả thực hiện cổ phần hóa giai đoạn 2002-2004 35
Bảng 2.1: Tổng hợp kinh doanh công ty Hanvet 3 năm 1996-1998 43
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động của công ty Hanvet năm 1999-2002, 2008 47
Bảng 2.3: Cổ tức chia cho cổ đông giai đoạn 1999-2002 48
Bảng 2.4: Số liệu xác định giá trị DN của Công ty Hanvet 49
Bảng 2.5: Kết quả SXKD của Công ty Navetco 3 năm 2006-2008 56 Bảng 2.6: Kết quả SXKD của Xí nghiệp thuốc thú y TW 3 năm 2006-2008 59
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là thành phần kinh tế chủ lực, đóngvai trò chủ đạo trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung của nước ta thời kỳxây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tiếp tục cuộc kháng chiến chống
Mỹ để giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước Trong suốt hơn
40 năm ấy DNNN giữ những vị trí then chốt, đóng góp vai trò to lớn vừa làmnhiệm vụ phát triển kinh tế miền Bắc sau nhiều năm bị chiến tranh tàn phá cả
về cơ sở vật chất và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, vừa phải tạo
ra của cải vật chất phục vụ cho chiến trường miền Nam
Tuy nhiên, khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường thì cácDNNN dần bộc lộ những yếu điểm như: hiệu quả sản xuất, kinh doanh và sứccạnh tranh thấp; tốc độ tăng trưởng và phát triển giảm dần; rất nhiều doanhnghiệp ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà nước nên chưa chủ động đổi mới côngnghệ dẫn đến trình độ công nghệ lạc hậu… Từ đó gây lãng phí tài nguyên vàsức lao động, lãng phí và thất thoát vốn của Nhà nước, thu nhập của người laođộng thấp, DNNN trở thành gánh nặng cho ngân sách nhà nước Vì vậy việcduy trì quy mô và số lượng DNNN ở tất cả các ngành các lĩnh vực trong chiếnlược ổn định, phát triển kinh tế là không phù hợp
Trong điều kiện từng bước mở rộng hội nhập khu vực và quốc tế, gianhập các tổ chức kinh tế của khu vực và thế giới thì việc nâng cao hiệu quả vàsức cạnh tranh của các doanh nghiệp là vấn đề có ý nghĩa sống còn Mặt khác,
để giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước thì đòi hỏi chính phủ phải có
mô hình quản lý mới Trong chuyển đổi mô hình kinh tế mới, một vấn đề lớnđược đặt ra là phải phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất và từng bước xâydựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất Để giải
Trang 11phóng lực lượng sản xuất, tất yếu phải phát triển mạnh mẽ nền kinh tế hànghóa nhiều thành phần, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang
cơ chế thị trường và xây dựng thể chế kinh tế thị trường, đa dạng hóa các hìnhthức sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo Muốn vậy, phảiđổi mới mạnh mẽ các doanh nghiệp nhà nước Theo hướng đó, sau nhiều nămtìm tòi và thử nghiệm trong thực tế, Đảng và Nhà nước đã lựa chọn cổ phầnhóa doanh nghiệp nhà nước như một phương thức có hiệu quả để đổi mới cácdoanh nghiệp nhà nước Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một trongnhững hướng đi quan trọng của quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước - bộphận không thể thiếu trong thành phần kinh tế nhà nước Việc cổ phần hóaDNNN sẽ tạo cho DN nâng cao được tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm vềmọi hoạt động của mình, nâng cao khả năng cạnh tranh trong sản xuất kinhdoanh Chính vì vậy việc đổi mới và phát triển các doanh nghiệp trong đó có
cổ phần hóa các DNNN là một tất yếu khách quan và phù hợp với quá trìnhchuyển đổi DNNN trong nền kinh tế nước ta
Theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn đã đôn đốc chỉ đạo việc cổ phần hóa các doanh nghiệp trực thuộc
Bộ quản lý nói chung và các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y nói riêng Đặcbiệt khi tiến độ cổ phần hóa DNNN đang bước vào giai đoạn cuối – theo kếhoạch của Thủ tướng Chính phủ đến năm 2010: 100% DNNN hoạt động theoLuật Doanh nghiệp Tuy nhiên, quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp sảnxuất thuốc thú y còn diễn ra chậm chạp và gặp nhiều khó khăn Tìm hiểunguyên nhân của tình trạng này và đề xuất giải pháp, hướng khắc phục để đẩynhanh tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y thuộc Bộ
Nông nghiệp trong thời gian tới là rất cần thiết Bởi vậy đề tài: “Giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y tại
Trang 12Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn” được chọn để nghiên cứu trong
luận văn này
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Trên cở sở lý luận chung, đề tài đánh giá một cách toàn diện tiến trình
cổ phần hóa các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y tại Bộ Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn thời gian qua, từ đó nêu lên các kết quả đạt được, nhữngmặt tồn tại và nguyên nhân
- Đề xuất những giải pháp đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa doanhnghiệp sản xuất thuốc thú y trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu là các giai đoạn các bước tiến hành cổ phần ởcác doanh nghiệp nhà nước sản xuất thuốc thú y và một số doanh nghiệp kháctrước và sau khi cổ phần tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
- Phạm vi nghiên cứu: ba doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y thuộc BộNông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đó là: Công ty CP dược và vật tư thú y(Hanvet), Công ty TNHH Một thành viên thuốc thú y trung ương (Navetco),
Xí nghiệp Thuốc thú y Trung ương (Vetvaco)
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả đã vận dụng phép biệnchứng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư duy logic để phân tích những vấn đề
lý luận và thực tiễn về tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nóichung cũng như tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú ynói riêng tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
- Sử dụng phương pháp thống kê và phân tích dựa trên các số liệuthống kê để xác định rõ những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 13- Số liệu trình bày trong luận văn được khai thác từ nhiều nguồn khácnhau: từ các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y, số liệu từ nguồn tổng cụcthống kê, từ Ban đổi mới và quản lý doanh nghiệp của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn, hay từ các Website của các tổ chức, cơ quan quản lýNhà nước, báo điện tử … có liên quan đến các đối tượng nghiên cứu trongluận văn.
5 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục
sơ đồ, danh mục tài liệu tham khảo luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Lí luận cơ bản về tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Chương 2: Thực trạng tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp sản xuất
thuốc thú y tại Bộ NN và PTNT
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp sản
xuất thuốc thú y tại Bộ NN và PTNT
Trang 14CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HÓA
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC1.1 Tổng quan về tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
1.1.1 Bản chất tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Có nhiều tiêu thức để phân loại các loại hình doanh nghiệp Nếu căn cứvào sở hữu tài sản và vốn của doanh nghiệp có thể chia thành các loại hìnhdoanh nghiệp như sau:
1 Doanh nghiệp nhà nước: là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư100% vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặchoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội donhà nước giao
2 Doanh nghiệp chung vốn hay Công ty (bao gồm: công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh): Đây là loại hìnhdoanh nghiệp mà các thành viên sẽ cùng góp vốn, cùng chia lợinhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu tráchnhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn củamình góp vào công ty
3 Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế tự chủ do người lao động có nhucầu và lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn đầu tư, góp sức lập ratheo qui định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và củatừng xã viên, nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạtđộng sản xuất kinh doanh
4 Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp mà trong đó, tài sản của nó
là thuộc sở hữu một cá nhân duy nhất
5 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 15Đặc trưng cơ bản của loại hình Doanh nghiệp nhà nước đó chính làhình thức sở hữu Doanh nghiệp nhà nước là những đơn vị, tổ chức trực tiếpsản xuất kinh doanh hoặc phục vụ sản xuất, kinh doanh mà toàn bộ nguồn lựcthuộc sở hữu Nhà nước.
Sở hữu Nhà nước là hình thức sở hữu mà nhà nước là đại diện cho nhândân sở hữu những tài nguyên, tài sản, những tư liệu sản xuất chủ yếu vànhững của cải của đất nước
Vậy vấn đề đặt ra là trong các doanh nghiệp nhà nước ai là chủ của sởhữu nhà nước hoặc đại diện chủ sở hữu nhà nước? Người lao động, giám đốchay hội đồng quản trị? Về mặt lý luận không có ai làm chủ hoặc đại diện làmchủ cả Tất cả họ chỉ là những người làm công ăn lương mà thôi Thực tế, họchỉ là những “chủ” ngộ nhận, chủ không đích thực, chủ danh nghĩa, hình thức.Đơn giản vì các nguồn vốn và tài sản là của nhà nước, là sở hữu nhà nước,chứ không phải của họ bỏ ra
Ở nước ta (miền Bắc sau năm 1954, miền Nam sau năm 1975) đã tiếnhành tập thể hóa, tập trung tư liệu sản xuất, biến sở hữu của người nông dânthành sở hữu công cộng, người lao động chỉ còn “hai bàn tay trắng”, thực chấttách rời tư liệu sản xuất khỏi sức lao động, biến sở hữu công cộng biến dạngthành sở hữu vô chủ, sở hữu phi kinh tế tạo ra sự quan liêu trong sản xuất, viphạm quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất, đặc biệt khi gắn chế độ tập thể hóa với quy mô hợp tác xã bậccao, liên xã và coi đó là chủ nghĩa xã hội hoàn toàn
Cùng với tập thể hóa trong nông nghiệp, trong kinh tế quốc doanh cũngđược nhà nước hóa nhanh chóng, hình thức, bất chấp hiệu quả, trình độ vànăng lực quản lý, điều hành… Chính vấn đề sở hữu nhà nước dẫn đến doanhnghiệp nhà nước ở nước ta hoạt động thường kém hiệu quả hơn các thànhphần kinh tế khác
Trang 16Từ năm 1986 đến nay, nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thịtrường, môi trường hoạt động của doanh nghiệp nhà nước đã có những thayđổi lớn, đó là nền kinh tế nhiều thành phần, cạnh tranh ngày càng tăng và quyluật đào thải diễn ra gay gắt thì doanh nghiệp nhà nước ngày càng bộc lộnhiều nhược điểm: phần lớn những doanh nghiệp nhà nước có quy mô nhỏ,trình độ kỹ thuật, công nghệ quá lạc hậu, chắp vá của nhiều thế hệ, mức độhoàn chỉnh, đồng bộ rất thấp, không có khả năng cạnh tranh trên thị trườngtrong nước, cũng như trên thị trường thế giới Hiệu quả sản xuất – kinh doanhquá thấp kém, tỷ suất lợi nhuận không đủ bù tỷ lệ lạm phát, thu không đủ bùchi Sự đóng góp của doanh nghiệp vào ngân sách là lớn, nhưng vẫn chưatương xứng với sự đầu tư của Nhà nước cho các doanh nghiệp.
Khi nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn quá độ đi lên Chủ nghĩa
xã hội, để giữ được những thành quả đã đạt được và thực hiện được nhữngchiến lược phát triển lâu dài trong tương lai, trong bối cảnh nền kinh tế thếgiới đã phát triển trước ta rất xa, thì DNNN hơn bao giờ hết phải khẳng địnhđược vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế dẫn dắt nền kinh tế theonhững mục tiêu phát triển lâu dài của Đảng và Nhà nước đã đề ra
Có ba hướng sau đây để phát triển DNNN:
Thứ nhất: Bán tài sản của các DNNN nhằm thu về cho ngân sách của
chính phủ một khoản thu đáng kể đặc biệt là những doanh nghiệp thua lỗtrong thời gian dài
Thứ hai: Áp dụng những biện pháp chủ yếu nhằm cải tiến quản lý các
DNNN Đó là những biện pháp nhằm đặt Giám đốc DN vào các tình huống,điều kiện giống như Giám đốc các doanh nghiệp tư nhân, giao cho họ mụctiêu thương mại, thực hiện chế độ tự chủ rộng rãi, gắn thu nhập với kết quảhoạt động tài chính doanh nghiệp, tách mục tiêu xã hội khỏi mục tiêu thương
Trang 17mại, ít nhất là trên phương diện tài chính, tức là Nhà nước bù đắp những thiệthại do DN phải đảm nhiệm những nhiệm vụ xã hội do yêu cầu của Chính phủ.
Thứ ba: Giảm tỷ trọng các DNNN, Nhà nước chỉ nắm giữ DNNN trong
những ngành, những lĩnh vực thiết yếu để thực hiện có hiệu quả chức năng ổnđịnh vĩ mô nền kinh tế, hay những ngành hoạt động công ích, công cộng mà
tư nhân không muốn tham gia, còn lại thì cổ phần hóa
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là việc chuyển một phần sở hữudoanh nghiệp nhà nước sang sở hữu của cổ đông nhằm mục đích huy độngmọi nguồn vốn từ tất cả các thành phần kinh tế, phát huy tính tự chủ củangười lao động để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thực chất của cổ phần hóa là quá trình thực hiện xã hội hóa sở hữudoanh nghiệp nhà nước, chuyển doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu nhà nướcthành doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu với mục tiêu đảm bảo cho sự tồn tạivững chắc của doanh nghiệp và sự phát triển không ngừng của doanh nghiệptheo sự phát triển của kinh tế - xã hội Sự chuyển hóa này, do vậy, không phảichỉ là sự thay đổi về tên gọi mà là sự thay đổi căn bản trên 3 mặt:
Thứ nhất: Chuyển hóa quyền sở hữu (từ đơn sở hữu sang đa sở hữu) và
do đó, sự thay đổi cả quyền quản lý và sử dụng, tạo nên sự gắn kết chặt chẽgiữa 3 quyền liên quan đến vốn và tài sản của doanh nghiệp Đến lượt mình,điều đó lại là điều kiện thiết yếu để bảo đảm quyền làm chủ thực sự củanhững người góp vốn và để nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh củadoanh nghiệp
Thứ hai: Thay đổi căn bản về tổ chức các quan hệ quản lý nội bộ Với
cơ cấu tổ chức chặt chẽ (Đại hội đồng cổ đông; Hội đồng quản trị; Ban kiểmsoát; Bộ máy điều hành) có sự phân công, phân cấp và giám sát lẫn nhau chặtchẽ, công ty cổ phần có khả năng bảo đảm hiệu quả cao trong hoạt động sảnxuất – kinh doanh
Trang 18Thứ ba: Thay đổi căn bản về quan hệ quản lý giữa nhà nước và doanh
nghiệp Từ chỗ doanh nghiệp bị chi phối toàn diện bởi nhà nước (chủ sở hữu)sang quyền tự chủ kinh doanh được mở rộng và tính chịu trách nhiệm được đềcao
Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là việc thống kê phântích quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước qua từng giai đoạn, từngbước thực hiện từ đó rút ra những mặt đã làm được, những nguyên nhân vàhạn chế cần khắc phục, những nhân tố có ảnh hưởng tới các đối tượng thamgia vào tiến trình cổ phần hóa
1.1.2 Nội dung tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
1.1.2.1 Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Theo chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước tiến trình cổ phầnhóa doanh nghiệp nhà nước được chia làm 4 giai đoạn, mỗi một giai đoạn đềuthể hiện được quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mớiđất nước, chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, pháttriển các thành phần kinh tế nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vữngkinh tế - xã hội Thể hiện rất rõ trong việc kiên định với chủ trương, quanđiểm đã đề ra cũng như việc sửa đổi và thêm mới văn bản pháp quy kịp thời
để định hướng và điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn
Giai đoạn thí điểm (từ tháng 6 năm 1992 đến tháng 5 năm 1996):
Cổ phần hóa ở Việt Nam được thực hiện theo đường lối thử và sửa.Năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số143/HĐBT ngày 10 tháng 5 năm 1990 lựa chọn một số doanh nghiệp nhỏ vàvừa để thử chuyển đổi thành công ty cổ phần Kết quả là có 2 doanh nghiệptrong năm 1990-1991 được cổ phần hóa Năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng lại ra Quyết định số 202 ngày 8 tháng 6 năm 1992 yêu cầu mỗi bộ
Trang 19ngành trung ương và mỗi tỉnh thành chọn ra từ 1-2 doanh nghiệp nhà nước đểthử cổ phần hóa.
Kết quả là đến tháng 4 năm 1996, có 3 doanh nghiệp nhà nước do trungương quản lý và 2 doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý được cổphần hóa Trừ Công ty dịch vụ vận tải mà Nhà nước chỉ còn giữ 18% tổng số
cổ phần, 4 công ty khác Nhà nước đều giữ khoảng 30% tổng số cổ phần Cácnhà đầu tư bên ngoài chỉ mua được cao nhất là gần 35% tổng số cổ phần trongtrường hợp Công ty cổ phần Giày Hiệp An, còn lại đều ở khoảng 20%
Giai đoạn mở rộng (từ tháng 6 năm 1996 đến tháng 6 năm 1998):
Từ kinh nghiệm của 7 trường hợp cổ phần hóa nói trên, năm 1996Chính phủ quyết định tiến hành thử cổ phần hóa ở quy mô rộng hơn Nghịđịnh 28/CP được Chính phủ ban hành ngày 7 tháng 5 năm 1996 yêu cầu các
bộ, ngành trung ương và các chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trungương lập danh sách doanh nghiệp nhà nước do mình quản lý sẽ được cổ phầnhóa cho đến năm 1997 Tinh thần của Nghị định 28/CP là chọn những doanhnghiệp mà Nhà nước thấy không còn cần thiết phải nắm giữ 100% vốn nữalàm đối tượng Nghị định số 25/CP ngày 26 tháng 3 năm 1997 của Chính phủcho phép các lãnh đạo bộ, ngành, địa phương có thêm quyền hạn trong việctiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp được chọn làm thử Theo đó, đối vớidoanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống thì lãnh đạo bộ, ngành, địaphương có quyền tự tổ chức thực hiện cổ phần hóa trên cơ sở Nghị định số28/CP
Kết quả của giai đoạn mở rộng cổ phần hóa này là có 25 doanh nghiệpnhà nước đã được chuyển thành công ty cổ phần
Giai đoạn chủ động (từ tháng 7 năm 1998 đến tháng 6 năm 2002):
Sau hai giai đoạn cổ phần hóa thí điểm trên, Chính phủ quyết địnhchính thức thực hiện chương trình cổ phần hóa Ngày 29 tháng 6 năm 1998,
Trang 20Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệpnhà nước thành công ty cổ phần Nghị định này quy định rằng đối với cổ phầnphát hành lần đầu của doanh nghiệp được chuyển đổi nhưng Nhà nước vẫnmuốn nắm quyền chi phối, cá nhân không được phép mua quá 5% và phápnhân không được phép mua quá 10% Đối với doanh nghiệp mà Nhà nướckhông cần nắm quyền chi phối, cá nhân được phép mua tới 10% và pháp nhânđược phép mua tới 20% tổng cổ phần phát hành lần đầu Riêng đối với cácdoanh nghiệp mà Nhà nước hoàn toàn không còn muốn sở hữu, cá nhân vàpháp nhân được phép mua không hạn chế Tiền thu được từ bán cổ phần sẽđược sử dụng để đào tạo lại lao động, sắp xếp việc làm cho lao động dư thừa,
bổ sung vốn cho các doanh nghiệp nhà nước khác
Sau khi Nghị định 44/1998/NĐ-CP được áp dụng cho đến ngày 31tháng 12 năm 2001, có 548 doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa
Giai đoạn đẩy mạnh (từ tháng 7 năm 2002 đến nay):
Tháng 8 năm 2001, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ươngĐảng Cộng sản Việt Nam khóa IX họp về doanh nghiệp nhà nước và ra nghịquyết của Trung ương Đảng về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nângcao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Để triển khai Nghị quyết trung ươngnày, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 04/2002/CT-TTg ngày 08 tháng 02năm 2002 về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quảdoanh nghiệp nhà nước, và Chính phủ ra Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày
19 tháng 6 năm 2002 về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổphần Các văn kiện pháp lý này đã mở ra một giai đoạn mới của cổ phần hóa -giai đoạn tiến hành ồ ạt
Theo Nghị định số 64/2002/NĐ-CP có một số hình thức cổ phần hóa sau:
1 Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếuthu hút thêm vốn
Trang 212 Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp
3 Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp
4 Thực hiện các hình thức 2 hoặc 3 kết hợp với phát hành cổ phiếu thuhút thêm vốn
Đối với cổ phần phát hành lần đầu, các nhà đầu tư trong nước đượcphép mua không hạn chế Các nhà đầu tư nước ngoài không được phép muaquá 30%
Tháng 1 năm 2004, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản ViệtNam khóa IX họp phiên thứ IX, tại đó có thảo luận và quyết định đẩy mạnh
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước Cuối năm 2004, Chính phủ ra Nghị định
số 187/2004/NĐ-CP về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần, theo
đó cả các công ty thành viên của các tổng công ty nhà nước và ngay cả chínhtổng công ty nhà nước nào mà Nhà nước không muốn chi phối đều có thể trởthành đối tượng cổ phần hóa Điểm mới quan trọng nữa trong Nghị định này
là quy định việc bán cổ phần lần đầu phải được thực hiện bằng hình thức đấugiá tại các trung tâm giao dịch chứng khoán nếu là công ty có số vốn trên 10
tỷ đồng, tại các trung tâm tài chính nếu là công ty có số vốn trên 1 tỷ đồng, vàtại công ty nếu công ty có số vốn không quá 1 tỷ đồng Bán đấu giá khiến chogiá cổ phiếu phát hành lần đầu của nhiều công ty nhà nước được đẩy vọt lên,đem lại những nguồn thu rất lớn cho Nhà nước Chẳng hạn, đợt đấu giá cổphần của 5 công ty nhà nước được cổ phần hóa là Công ty cổ phần kỹ nghệthực phẩm, Nhà máy thiết bị bưu điện, Nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn - SôngHinh, Công ty điện lực Khánh Hòa, Công ty sữa Việt Nam, Nhà nước đã thuvượt dự kiến 450 tỷ đồng Mặt khác, bán đấu giá cổ phần của các doanhnghiệp cổ phần hóa còn trở thành một động lực cho sự phát triển của thịtrường cổ phiếu niêm yết ở Việt Nam Trong số 30 công ty niêm yết cổ phiếutại Trung tâm Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (nay là Sở Giao
Trang 22dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh) vào ngày 31 tháng 10 năm 2005,
có 29 công ty là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa
Đến ngày 26 tháng 6 năm 2007 Chính phủ ban hành Nghị định109/2007/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phầnthay thế Nghị định số 187/2004/NĐ-CP trước đó Theo Nghị định mới nhấtnày quy định chi tiết cụ thể hơn các nghiệp vụ liên quan đến quá trình cổ phầnhóa tại doanh nghiệp nhà nước thể hiện qua 58 điều (Nghị định 187 có tổng
43 điều) Kèm theo là thông tư số 146/2007/TT-BTC hướng dẫn thực hiệnmột số vấn đề về tài chính khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhànước thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP.Ngoài ra căn cứ vào Nghị định số 109 này Bộ Lao động thương binh và xãhội ra Thông tư số 20/2007/TT-BLĐTBXH ngày 04 tháng 10 năm 2007hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người lao động đang làm việc tại cáccông ty nhà nước tiến hành cổ phần hóa theo Nbghị định 109 nhằm đảm bảoquyền lợi cho người lao động, tránh gây tâm lý hoang mang mất ổn định chosản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp
Quá trình cổ phần hóa đến 2008, đã thực hiện ở khoảng trên 3.000doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ được cổ phần hóa Còn khoảng 2.000doanh nghiệp nhà nước vừa và lớn dự trù sẽ cổ phần hóa đến năm 2010
Chính phủ cũng khẳng định quyết tâm cổ phần hóa các trường đại học.Các cơ sở giáo dục ở Việt Nam muốn tránh nguy cơ bị biến dạng do đưa cáchoạt động giáo dục thành các dịch vụ đơn thuần, mang nặng tính thương mại,ảnh hưởng nghiêm trọng đến sứ mệnh và mục tiêu của trường nên sẽ có quátrình tách bạch và phân định rõ các bộ phận thương mại hay phi thương mạihóa
Các ngành như thể thao vốn chưa từng biết đến cổ phần hóa cũng đãbắt đầu quá trình này, song song với việc ra đời một loạt các cơ sở thể thao cổ
Trang 23phần hay tư nhân từ đầu Theo kế hoạch, chương trình cổ phần hóa sẽ cơ bảnhoàn thành vào năm 2010 Và cụ thể tại Chỉ thị số 854/CT-TTg của Thủtướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng: “đảm bảo đến thời điểm ngày 01 tháng
07 năm 2010 tất cả các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hiện có đều chuyểnsang hoạt động theo luật doanh nghiệp dưới hình thức công ty cổ phần hoặccông ty trách nhiệm hữu hạn” Như vậy cho đến ngày 01 tháng 07 năm 2010thời gian không còn nhiều thiết nghĩ các bộ ban ngành liên quan cần có nhữnggiải pháp mang tính thực tiễn cao, đúc rút từ những kinh nghiệm cổ phần hóacủa nhiều ngành nhiều lĩnh vực của từng doanh nghiệp đã cổ phần hóa để cónhững chỉ đạo thích hợp nhất nhằm tháo gỡ những khó khăn cho doanhnghiệp trong quá trình tiến hành cổ phần hóa để đẩy nhanh tiến trình cổ phầnhóa thực hiện được kế hoạch mà Thủ tướng Chính phủ đã đề ra
1.1.2.2 Các bước thực hiện tiến trình cổ phần hóa tại các doanh nghiệp nhà nước
Khái quát tiến trình cổ phần hoá tại các doanh nghiệp nhà nước đượcthực hiện qua 8 bước theo sơ đồ 1.1
Tuy nhiên bước 2 và bước 3 là hai bước quan trọng nhất trong tiến trình
cổ phần hoá tại doanh nghiệp nhà nước khi tiến hành cổ phần hoá Hai bướcnày khi thực hiện vừa mất nhiều thời gian, công sức và kết quả của nó thìquyết định đến tính chính xác của quá trình cổ phần hoá Khi DNNN tiếnhành kiểm kê tài sản, xử lý những vấn đề tài chính căn cứ vào các tài liệu đãđược chuẩn bị ở bước 1 như tình hình công nợ, tài sản nhà xưởng, vật kiếntrúc đang quản lý, vật tư hàng hoá tồn kho, ứ đọng kém phẩm chất … banCPH tiến hành kiểm kê, phân loại tài sản và quyết toán tài chính, quyết toánthuế để xử lý những vấn đề tài chính tại thời điểm định giá theo chế độ Nhànước quy định
Trang 24BƯỚC 1: THÀNH LẬP BAN ĐỔI
MỚI DOANH NGHIỆP
BƯỚC 2: KIỂM KÊ TS, XỬ LÝ
NHỮNG VẤN ĐỀ TÀI CHÍNH
BƯỚC 3: XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ
THỰC TẾ VÀ PHẦN VỐN NN
TẠI DOANH NGHIỆP
BƯỚC 4: XÂY DỰNG PHƯƠNG
Sơ đồ 1.1: Tiến trình cổ phần hoá tại doanh nghiệp nhà nước
Trang 25Tiếp theo là việc định giá doanh nghiệp và xác định phần vốn nhà nướctại doanh nghiệp Theo Thông tư mới nhất số 146/2007/TT-BTC của Bộ Tàichính ngày 06 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tàichính khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty
cổ phần theo quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007của Chính phủ việc xác định giá trị doanh nghiệp dựa trên 2 phương pháp chủyếu là phương pháp tài sản và phương pháp dòng tiền chiết khấu
- Phương pháp tài sản là phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp trên
cơ sở đánh giá giá trị thực tế toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệptại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp
- Phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) là phương pháp xác định giá
trị doanh nghiệp trên cơ sở khả năng sinh lời của doanh nghiệp trongtương lai Nếu doanh nghiệp lựa chọn phương pháp này thì kết quả xácđịnh giá trị doanh nghiệp vẫn phải so sánh với kết quả xác định giá trịdoanh nghiệp theo phương pháp tài sản cùng thời điểm và không đượcthấp hơn giá trị doanh nghiệp xác định bằng phương pháp tài sản
Đặc biệt cũng theo thông tư này giá trị lợi thế kinh doanh được tính vào giá trịdoanh nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp (đây là điểm mới sovới các quy định trước đây)
Giá trị lợi thế kinh doanh của DN được xác định theo 2 phương pháp sau:
Xác định theo tỷ suất lợi nhuận và lãi suất trái phiếu chính phủ:
sổ sách kế toán tại thời điểm định giá
x
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn NN b/q
3 năm trước thời điểm xác định giá trị DN
(1.1)
Trang 26Trong đó:
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế
trên vốn NN b/q 3 năm trước
thời điểm xác định giá trị DN
=
Lợi nhuận sau thuế b/q 3 năm liền kề trước thời điểm xác định giá trị DN
x 100% (1.2) Vốn nhà nước theo sổ sách kế
toán b/q 3 năm liền kề trước thời điểm xác định giá trị DN
Xác định trên cơ sở lợi thế về vị trí địa lý và giá trị thương hiệu:
Giá trị lợi thế kinh doanh
của DN = Giá trị lợi thế vị tríđịa lý + Giá trị thươnghiệu (1.3)
Trong đó:
+ Giá trị lợi thế vị trí địa lý áp dụng đối với doanh nghiệp cổ phần hoá(không phụ thuộc vào ngành nghề và kết quả kinh doanh) sử dụng các lô đấtthuộc loại đất đô thị nếu lựa chọn hình thức thuê đất thì phải xác định giá trịlợi thế địa lý của lô đất để tính vào giá trị doanh nghiệp
Giá trị lợi thế vị trí địa lý của lô đất được xác định bằng chênh lệchgiữa giá đất được xác định sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực
tế trên thị trường trong điều kiện bình thường (theo quy định tại khoản 12Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về sửađổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004
về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất) so với giá do Uỷban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định và công
bố vào ngày 01/01 của năm thực hiện xác định giá trị doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp trung ương, căn cứ giá chuyển nhượng quyền
sử dụng đất do cơ quan thẩm định giá thực hiện, cơ quan quyết định cổ phầnhoá lấy ý kiến của Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 27nơi có doanh nghiệp đóng trên địa bàn về giá chuyển nhượng quyền sử dụngđất thực tế trên thị trường trước khi quyết định.
Đối với các doanh nghiệp địa phương, Ban chỉ đạo cổ phần hoá báo cáo
Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố quyết định
+ Giá trị thương hiệu (bao gồm: nhãn hiệu, tên thương mại) được xácđịnh trên cơ sở các chi phí thực tế cho việc sáng chế, xây dựng và bảo vệnhãn mác, tên thương mại của doanh nghiệp trong 10 năm trước thời điểmxác định giá trị doanh nghiệp hoặc kể từ ngày thành lập đối với các doanhnghiệp có thời gian hoạt động của doanh nghiệp ít hơn 10 năm (bao gồm cảchi phí quảng cáo, tuyên truyền trong và ngoài nước để quảng bá, giới thiệusản phẩm, công ty; xây dựng trang web )
Giá trị lợi thế kinh doanh tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá là giá trịcao hơn khi so sánh kết quả được xác định theo 2 phương pháp trên
1.1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tiến trình cổ phần hóa ở cácDNNN, từ nhân tố bên ngoài DN đến những nhân tố phát sinh trong nội tạicủa DN, những tác động đó gây nên những hiệu ứng tích cực hoặc tiêu cựcđến tiến trình CPH của DNNN từ đó làm ảnh hưởng đến tiến trình chung củaCPH trong cả nước Cụ thể như sau:
Một là: Chính sách vĩ mô của Nhà nước và sự chỉ đạo điều hành của
Chính phủ
Chính sách vĩ mô của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn tới tiến trình cổphần hóa DNNN Nó định ra khung pháp lý cho quá trình cổ phần hóa Dovậy, chính sách vĩ mô của Nhà nước thông thoáng, thống nhất, đồng bộ sẽ tạođiều kiện rất lớn cho việc cổ phần hóa thành công Sự chưa ổn định trongchính sách vĩ mô của Nhà nước về luật pháp, thuế khóa, tiền tệ, chứa đựng
Trang 28nhiều yếu tố rủi ro cho những người muốn đầu tư lâu dài; nhiều chính sáchkinh tế ra đời chồng chéo, mâu thuẫn lẫn nhau và thay đổi đột ngột; sự đổimới của hệ thống ngân hàng và cơ chế hoạt động tín dụng diễn ra chậm trễ sovới đòi hỏi của cơ chế thị trường là những yếu tố gây bất lợi cho môi trườngđầu tư trong nước, và do đó gây bất lợi cho quá trình cổ phần hóa các doanhnghiệp Nhà nước Sự điều hành thiếu dứt khoát, thường xuyên của Chính phủ,của các cơ quan Nhà nước cũng sẽ ảnh hưởng xấu tới quá trình cổ phần hóa.
Hai là: Sự tồn tại, hoạt động và phát triển của thị trường tài chính
Thị trường tài chính, trong đó có thị trường chứng khoán có vai trò rấtquan trọng trong việc lưu thông cổ phiếu, do vậy ảnh hưởng lớn đến quá trình
cổ phần hóa Thị trường chứng khoán là trung tâm phản ánh trạng thái hoạtđộng của các công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường Nó vừa là điềukiện vừa là tấm gương phản chiếu sự ra đời và hoạt động của các công ty cổphần cũng như huy động vốn trên thị trường tài chính Sự thiếu vắng thịtrường chứng khoán đi liền với nó là thiếu hệ thống pháp lý và tổ chức vậnhành đã gây khó khăn và cản trở cho tiến trình cổ phần hóa Đó là việc địnhgiá doanh nghiệp để cổ phần hóa; việc phát hành và lưu thông cổ phiếu; việcmua bán chuyển nhượng cổ phiếu; hệ thống pháp lý và tổ chức để đảm bảoduy trì được hoạt động của thị trường chứng khoán
Ba là: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
trang thiết bị máy móc và công nghệ của doanh nghiệp
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có ảnh hưởngtrực tiếp tới tiến trình cổ phần hóa Những doanh nghiệp hoạt động sản xuấtkinh doanh có hiệu quả, có xu hướng phát triển tốt sẽ thuận lợi hơn trong việc
cổ phần hóa Các doanh nghiệp Nhà nước hầu hết có trang thiết bị máy móc
cũ kỹ, công nghệ lạc hậu, biên chế cồng kềnh, hiệu quả sản xuất kinh doanhthấp, khả năng cạnh tranh yếu, do đó khó có thể tiến hành cổ phần hóa các
Trang 29doanh nghiệp này Số doanh nghiệp có mức lợi nhuận đủ sức hấp dẫn để cổphần hóa còn quá ít Ngay trong số những doanh nghiệp Nhà nước có lợinhuận cao thì phần lớn NN lại chưa có ý định cổ phần hóa Điều này sẽ gâycho việc lựa chọn các DN CPH cũng như thu hút sự hưởng ứng của đông đảonhững người có vốn muốn đầu tư bằng cổ phiếu.
Bốn là: Tư tưởng, tâm lý và quyền lợi của những người liên quan
Công tác tư tưởng, tâm lý được tuyên truyền tốt, phổ biến rộng rãi đồngthời giải quyết hài hòa các lợi ích của những người liên quan sẽ góp phần thúcđẩy tiến trình cổ phần hóa Hiện nay, vẫn còn không ít tư tưởng và tâm lýchưa thực sự tích cực để giải quyết vấn đề CPH Về mặt suy nghĩ, nhiềungười làm công tác lãnh đạo và quản lý NN vẫn chưa đoạn tuyệt được vớiquan điểm coi kinh tế Nhà nước là CNXH và vì vậy, thu hẹp khu vực này cónghĩa là xa rời CNXH; là phá vỡ cơ sở kinh tế của CNXH Giám đốc và cán
bộ quản lý doanh nghiệp còn ngần ngại, thậm chí phản đối vì sợ chuyển từ
“người chủ” thành người “làm thuê”, sẽ chịu sự đánh giá và kiểm soát của hộiđồng quản trị và các cổ đông về trình độ, năng lực chuyên môn của mình Cònnhững người lao động thì lo sợ mất việc làm, mất biên chế Nhà nước
Năm là: Tài chính hỗ trợ, giải quyết các vấn đề liên quan đến cổ phần
hóa
Tiến hành cổ phần hóa DNNN cần có một nguồn tài chính để giải quyếthàng loạt các vấn đề liên quan như các khoản trợ cấp cho người lao động mấtviệc làm, chi phí đào tạo lại nghề mới và thời gian tìm việc, các chi phí chochính sách xã hội và bảo hiểm, các chi phí để thực hiện công việc tư vấn,quảng cáo, môi giới đầu tư, chi phí phát hành và các dịch vụ về buôn bán cổphiếu Những khoản phí tổn này là không thể bỏ qua được và thường rất lớn.Chưa kể đến chính sách bán cổ phiếu giá thấp và tín dụng ưu đãi cho một số
Trang 30đối tượng nhất định để khuyến khích và thực hiện các mục tiêu xã hội, điềunày sẽ làm cho khoản phí tổn tăng lên nhiều hơn nữa
Sáu là: Hoạt động của hệ thống Kiểm toán
Hệ thống Kiểm toán phát triển hoàn chỉnh sẽ góp phần thúc đẩy cổphần hóa Hệ thống Kiểm toán chưa trở thành một hoạt động phổ biến vàthống nhất sẽ gây nhiều trở ngại cho việc xác định giá trị của doanh nghiệp,tình hình và triển vọng hoạt động kinh doanh của các DN được cổ phần hóa
và do đó, gây khó khăn cho việc cung cấp thông tin trung thực, tin cậy chonhững người có nhu cầu đầu tư bằng cổ phiếu đối với những doanh nghiệpnày
1.2 Bài học kinh nghiệm từ quá trình cổ phần hóa ở nước ta sau hơn 15 năm thực hiện (từ năm 1992 đến năm 2007)
Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là một trong những vấn đềđang được đẩy mạnh ở nước ta, nhưng việc thực hiện một cách có hiệu quảkhông đơn giản Vì vậy, sau hơn 15 năm thực hiện cổ phần hóa, rất cần có sựnhìn lại thực trạng, đánh giá triển vọng và các giải pháp nâng cao hiệu quảquá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong những năm tới
1.2.1 Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 15 năm qua
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhànước (tháng 5-2006), trong 15 năm qua, nước ta đã thực hiện cổ phần hóađược 2.935 doanh nghiệp nhà nước, trong đó có 80% số doanh nghiệp mớithực hiện cổ phần hóa từ năm 2001 đến nay Từ số liệu trong Báo cáo này,bước đầu có thể phân tích thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp ở một số khíacạnh sau:
- Đối tượng cổ phần hóa: nói đến đối tượng cổ phần hóa là nói đến
việc lựa chọn doanh nghiệp nhà nước nào để thực hiện cổ phần hóa So vớiquy định ban đầu, chúng ta đã bổ sung đối tượng cổ phần hóa là các doanh
Trang 31nghiệp có quy mô lớn, các tổng công ty nhà nước Tuy vậy cho đến nay, 77%
số doanh nghiệp đã cổ phần hóa chỉ có quy mô vốn dưới 10 tỉ đồng Riêng đốivới loại doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nước không giữ tỷ lệ nào trongvốn điều lệ thì đều là doanh nghiệp nhỏ có vốn nhà nước dưới 1 tỉ đồng vàkinh doanh kém hiệu quả Loại doanh nghiệp nhỏ này chiếm gần 30% sốdoanh nghiệp mà Nhà nước thực hiện cổ phần hóa
Sự lựa chọn các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa như vậy đã làmchậm tiến độ thực hiện chủ trương cổ phần hóa; các doanh nghiệp nhà nướcchưa thể hiện được rõ những ưu thế của doanh nghiệp đã cổ phần hóa vớinhững doanh nghiệp chưa cổ phần hóa, chưa thực hiện được các mục tiêu cổphần hóa đề ra
- Cơ cấu vốn điều lệ: tỷ lệ cổ phần do Nhà nước giữ ở các doanh
nghiệp đã cổ phần hóa như sau: nắm giữ cổ phần chi phối trên 50% ở 33% số doanh nghiệp; dưới 50% số vốn ở 37% số doanh nghiệp và không giữ lại tỷ lệ
% vốn nào ở gần 30% số doanh nghiệp
Xem xét cụ thể hơn có thể thấy: số vốn nhà nước đã được cổ phần hóachỉ mới chiếm 12%, và ngay trong số vốn này, Nhà nước vẫn nắm khoảng40%, vì thế số vốn mà Nhà nước cổ phần hóa được bán ra ngoài mới chiếmmột tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 3,6%)
Với cơ cấu vốn nhà nước đã cổ phần hóa như trên có thể thấy bức tranh
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay và hiểu rõ hơn kháiniệm cổ phần “chi phối” của nhà nước
- Cơ cấu cổ đông: cổ đông trong các doanh nghiệp đã cổ phần hóa là
cán bộ, công nhân viên nắm 29,6% cổ phần; cổ đông là người ngoài doanhnghiệp nắm 24,1% cổ phần; cổ đông là Nhà nước nắm 46,3% cổ phần
Nét đáng chú ý về cơ cấu cổ đông là các nhà đầu tư chiến lược trongnước khó mua được lượng cổ phần đủ lớn để có thể tham gia quản lý, điều
Trang 32hành doanh nghiệp, còn nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng về vốn, côngnghệ, có năng lực quản lý kinh doanh cũng chỉ được mua số lượng cổ phầnhạn chế Điều này làm cho các doanh nghiệp đã cổ phần hóa rất khó hoạtđộng có hiệu quả, nhất là trước sức ép cạnh tranh ở cấp độ quốc tế, khi nước
ta đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
1.2.2 Những vấn đề đặt ra của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Thực trạng quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta nóitrên đang đặt ra nhiều vấn đề cả về mặt lý luận, tư duy kinh tế lẫn thực tiễnquản lý, tổ chức hoạt động doanh nghiệp
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có những đặc điểm khác với tính quy luật chung ở các nước, bởi:
- Các doanh nghiệp mà Việt Nam thực hiện cổ phần hóa được hìnhthành trong quá trình thực hiện công hữu hóa, tập thể hóa nền kinh tế trướcđây Điều này khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nướcphát triển: là kết quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất đã vượt quátầm của sở hữu tư nhân, đòi hỏi phải mở rộng quan hệ sở hữu
- Các doanh nghiệp mà nước ta thực hiện cổ phần hóa vốn tồn tại lâunăm trong cơ chế bao cấp và kế hoạch của Nhà nước và mới làm quen với cơchế thị trường, khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước
là đã tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, cạnh tranh
- Các doanh nghiệp mà nước ta tiến hành cổ phần hóa chủ yếu được tổchức và hoạt động theo yêu cầu và kế hoạch của Nhà nước, khác với cácdoanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước là tổ chức và hoạt động vì lợinhuận tối đa của bản thân và tuân theo quy luật thị trường
- Lý do chính của chủ trương cổ phần hóa ở nước ta là các doanhnghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đứng trước
Trang 33nguy cơ phá sản, khác với lý do thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp ở các
nước phát triển là chuyển từ giai đoạn tập trung tư bản sang giai đoạn tập
trung vốn xã hội (trong và ngoài doanh nghiệp) để nâng cao chất lượng và
quy mô sản xuất trong cạnh tranh
Từ những sự khác biệt đó cho thấy:
- Chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta là mộttrong những giải pháp quan trọng nhằm giải quyết những tồn tại và tình trạngsản xuất, kinh doanh kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, đang gâytrở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.Tình hình đó không giống với yêu cầu có tính quy luật là cổ phần hóa doanhnghiệp là một bước tiến của quá trình xã hội hóa, tuân theo quy luật kháchquan: quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển củalực lượng sản xuất
- Đối tượng cổ phần hóa ở nước ta khác hẳn với các doanh nghiệp thựchiện cổ phần hóa trong nền kinh tế thị trường phát triển cao Ở nước ta, một
bộ phận doanh nghiệp nhà nước sau khi được cổ phần hóa vẫn chưa thoátkhỏi cơ chế tập trung quan liêu cả về tài chính, tổ chức bộ máy và cơ chếquản lý, tức là, chưa hẳn là một tổ chức hoạt động tuân theo quy luật kháchquan của kinh tế thị trường
- Chính sách và quy trình cổ phần hóa ở nước ta, trên thực tế, vẫn dựa
trên tư duy cũ Vì vậy, từ khâu định giá tài sản doanh nghiệp, cho đến tổ chức
quản lý sau khi doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều tồn tại nhiều vấn đề Việc
giải quyết vấn đề tài chính trước, trong và sau khi cổ phần hóa còn nhiều bất
cập như:
Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa chưa đúng, gây nên thất
thoát và lãng phí tài sản nhà nước trong và sau quá trình cổ phần hóa Việcxác định giá trị doanh nghiệp trải qua hai giai đoạn khác nhau Trong giai
Trang 34đoạn chưa có Nghị định 187: việc xác định giá trị doanh nghiệp do một Hộiđồng hoặc doanh nghiệp tự đảm nhận Điều đó dẫn đến việc xác định thấphoặc quá thấp giá trị doanh nghiệp, do đó, phần lớn cổ phần rơi vào tay mộtnhóm người Trong giai đoạn sau khi có Nghị định 187: sự thất thoát tài sảnnhà nước đã được hạn chế, nhưng lại nảy sinh tình trạng liên kết, gian lậntrong đấu thầu.
Việc xử lý các khoản nợ tồn đọng gây nhiều khó khăn Tính đến ngày
31-12-2005, dư nợ cho vay đối với các công ty cổ phần vào khoảng 51.603 tỉđồng Đặc biệt, việc xử lý nợ xấu đã mất rất nhiều thời gian do thiếu sự phốihợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành ngân hàng, thuế, tài chính
Chất lượng định giá doanh nghiệp của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ
thẩm định giá trị có độ tin cậy thấp Mặt khác, quy chế lựa chọn, giám sát
hoạt động tư vấn và xác định giá trị doanh nghiệp chưa được quy định rõ,chưa gắn trách nhiệm của tổ chức tư vấn, định giá với việc bán cổ phần
- Quy trình cổ phần hóa (từ xây dựng đề án đến thực hiện đề án) chưa
sát thực tế, còn rườm rà, phức tạp nên đã kéo dài thời gian cổ phần hóa Bìnhquân thời gian để thực hiện cổ phần hóa một doanh nghiệp mất 437 ngày,tổng công ty mất 554 ngày Sau khi cổ phần hóa, rất nhiều doanh nghiệp vẫnhoạt động như cũ; quản lý nhà nước vẫn chi phối mọi hoạt động, kể cả trongcác doanh nghiệp mà vốn nhà nước chưa tới 30% vốn điều lệ doanh nghiệp;
bộ máy quản lý cũ trong nhiều doanh nghiệp vẫn chiếm giữ đến 80%
Thực tiễn 15 năm thực hiện chủ trương cổ phần hóa ở nước ta cho thấy:
chúng ta còn chậm trễ trong việc tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế khi chuyển
sang kinh tế thị trường và trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càngsâu, rộng
Như vậy, doanh nghiệp nhà nước do chế độ công hữu hóa xã hội chủnghĩa trước đây để lại đang là một bài toán khó khi chúng ta chuyển sang kinh
Trang 35tế thị trường Những vấn đề này đang trở thành một thách thức đối với côngtác lý luận, đổi mới tư duy, công tác tổ chức và quản lý nền kinh tế quốc dân
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra đối với quá trình cổ phần trong những năm tiếp theo
Từ những phân tích ở mục trên có thể rút ra những kinh nghiệm chotiến trình cổ phần hóa DNNN những năm tiếp theo:
Thứ nhất: Cổ phần hóa nhưng việc định giá doanh nghiệp phải theo giá
thị trường, trên cơ sở đấu giá công khai, minh bạch để hình thành giá trị thịtrường của doanh nghiệp Tránh tình trạng bán tống, bán tháo làm thất thoáttài sản của Nhà nước, của toàn dân - thành quả của bao nhiêu năm xây dựng
và phát triển
Thứ hai: Cổ phần hóa để đa dạng hóa sở hữu vốn tại doanh nghiệp,
tránh tư nhân hóa doanh nghiệp nhà nước, để rồi hình thành các tỉ phú trên cơ
sở tài sản của Nhà nước Đối với nước ta trước đây cần tránh tình trạng cổphần hóa như đã xảy ra đối với bánh tôm Hồ Tây hay khách sạn Phú Gia màtổng giá trị doanh nghiệp còn thấp hơn cả giá đất, chưa kể vị trí đắc địa haythương hiệu của các doanh nghiệp này Cần tránh tình trạng tư nhân hóa trongthời kỳ đầu của nước Nga để rồi mới chỉ sau mươi mười lăm năm chuyển từ
cơ chế phân phối bình quân sang cơ chế thị trường mà tổng tài sản của các tỉphú đã chiếm tới 40% GDP của cả nước (trong khi nước Mỹ đã trải qua haitrăm năm phát triển kinh tế thị trường, tổng tài sản của các tỉ phú mới bằng6% GDP)
Thứ ba: Cổ phần hóa để người lao động tại doanh nghiệp có vị thế mới
là trở thành cổ đông - chủ sở hữu một phần vốn của doanh nghiệp - có quyềntham gia vào việc quyết định đối với doanh nghiệp Việc dành một lượng cổphiếu ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp là cần thiết và do đượcđịnh giá theo giá thị trường nên thị giá sẽ đủ lớn, cũng không có sự chênh
Trang 36lệch lớn về giá cả sẽ giảm bớt việc "bán lúa non", việc mua vét của một số cánhân, dẫn đến tình trạng người lao động trở thành trắng tay, hoàn toàn trởthành người làm thuê, còn một số cá nhân sẽ thâu tóm quyền lực của công tysau khi đã mua vét các cổ phiếu của người lao động "bán lúa non".
Thứ tư: Trong khi thị trường chứng khoán còn nóng, giá cổ phiếu còn
cao, việc đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, khẩn trương niêm yết lên sàn thịtrường chứng khoán sẽ có tác dụng kép: vừa tạo ra giá trị thị trường củadoanh nghiệp, sự bình đẳng giữa các cổ đông trong và ngoài doanh nghiệp,tranh thủ lúc giá cao để nâng cao giá trị doanh nghiệp, tăng cung cho thịtrường chứng khoán…
Thứ năm: Khắc phục tình trạng "bình mới, rượu cũ", tức là doanh
nghiệp đã chuyển sang công ty cổ phần, nhưng bộ máy nhân sự vẫn khôngđược đổi mới, làm cho doanh nghiệp hoạt động không khác trước là mấy, vaitrò làm chủ của các cổ đông và người lao động bị hạn chế
Thứ sáu: Khắc phục tình trạng phân biệt đối xử của các ngành các cấp
đối với những doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa với những doanhnghiệp nhà nước chưa cổ phần hóa còn do các bộ/ngành chủ quản, tỉnh/thànhphố (thậm chí còn phân cấp cho sở/ngành) chủ quản theo kiểu con nuôi, con
đẻ Tình hình trên đòi hỏi cần khẩn trương xóa bỏ cơ chế bộ/ngành chủ quản,tỉnh/thành phố chủ quản
1.3 Kinh nghiệm cổ phần hóa ở một số nước trên thế giới
1.3.1 Kinh nghiệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Nga
Nước Nga tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước một cách
ồ ạt từ năm 1992, khi tổng thống Nga là Anatoly Chubais phát hành temphiếu: một tờ séc tượng trưng cho một phần tài sản quốc gia phân chia đềucho nam phụ lão ấu cả nước Theo kế hoạch này: nhanh chóng chuyển quyền
Trang 37kiểm soát các mảng lớn của nền kinh tế công quản sang tay tư nhân Ủy bancông sản định giá toàn bộ tài sản quốc gia gần 150 tỉ rúp, dân số Nga khoảng
150 triệu, nên ấn định mệnh giá tem phiếu là 10.000 rúp
Tuy nhiên việc cổ phần hóa ồ ạt, không gắn với việc phát triển kinh tế
-xã hội bền vững đã dẫn đến một phần lớn tài sản của quốc gia rơi vào tay một
số cá nhân mà sau này nhờ việc thu gom số tem phiếu của người dân nghèo
đã trở thành tỷ phú với số tài sản cá nhân khổng lồ Lực lượng này thâu tómtoàn bộ nền kinh tế dẫn tới tình trạng độc quyền lại tái diễn, cùng với việc coithường xem nhẹ pháp luật dẫn đến tình trạng vô Chính phủ, pháp luật khôngcòn uy lực hơn nữa trong một vài trường hợp pháp luật còn được sử dụng nhưmột hàng rào để duy trì các vị thế độc quyền
Tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Nga diễn ra thậtnhanh chóng: đợt cổ phần hóa đầu tiên năm 1992-1993 kết thúc với 85% xínghiệp nhỏ và 82.000 xí nghiệp quốc doanh (tức là 1/3 tổng số doanh nghiệpnhà nước) được tư nhân hóa, tiếp theo là năm 1995 đợt cổ phần hóa thứ 2 diễn
ra đến năm 1996 công cuộc cổ phần hóa coi như đã hoàn tất với cùng mộtphương pháp như đợt 1 Nhưng kết quả này không phải phải xuất phát từnhững chủ trương và phương pháp đúng đắn, do đó nó để lại những bài họckinh nghiệm hết sức xương máu là:
- Phải lựa chọn hình thức và phương pháp thích hợp để cổ phần hóa:Nhà nước bán toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp thuộc sở hữu của Nhànước, cổ phần có thể bán với giá được xác định trên TTCK còn đối với nướcNga có thể bán trên cơ sở đấu giá công khai, tránh tình trạng cổ phần dồn vàotúi những người có chức có quyền nói và cán bộ lãnh đạo của DN
- Phải thành lập cơ quan CPH chuyên trách: đây sẽ là cơ quan thay mặtChính phủ trực tiếp tổ chức, chỉ đạo tiến hành CPH và quản lý vốn của Nhànước khi chuyển DNNN thành CTCP
Trang 38- Phải quy định và tuân thủ các bước tiến hành cổ phần hóa: để tiếnhành cổ phần hóa DNNN nhanh và hiệu quả phải xác định các bước cần thựchiện theo một thứ tự nhất định của quá trình CPH như: xác định danh sách cácDNNN có đủ điều kiện để CPH, xác định giá trị thực tế tài sản DN, lựa chọnphương thức bán cổ phiếu, giải quyết các vấn đề xã hội sau khi CPH.
1.3.2 Kinh nghiệm cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc
Trung Quốc bắt đầu cải cách kinh tế từ cuối năm 1978, đặc biệt là luôncoi trọng cải cách các doanh nghiệp nhà nước – xem đây là khâu chủ yếu vàthen chốt nhất Năm 1984 Trung Quốc chính thức chủ trương cho thí điểmCPH DNNN ở một số nơi như Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu Năm
1991, Trung Quốc mới chính thức triển khai CPH DNNN Khi đó, cả nước có3.200 DN cổ phần thí điểm Năm 1993, 10.300 DN cổ phần đã phát hành cổphiếu trị giá 400 tỷ nhân dân tệ Năm 1994, 47% cổ phiếu được bán cho côngnhân viên chức trong DN Đến năm 1995, cả nước có trên 12.000 CTCP sởhữu hỗn hợp, trong đó Nhà nước sở hữu 40%, các pháp nhân 40%, cá nhân20%
Có được những thành công như trên không phải ngẫu nhiên mà các nhàcải cách Trung Quốc đề xuất chế độ cổ phần là hình thức thực hiện chủ yếucủa chế độ công hữu mà trên cơ sở chú ý thử nghiệm chế độ cổ phần và cónhững tìm tòi lý luận về vấn đề này đáng để chúng ta tham khảo:
- Cần có quan niệm đúng về vai trò của CTCP và sự cần thiết phải CPHDNNN, trên cơ sở đó có sự nhất trí cao trong quan điểm và tổ chức thực hiện.Đây là vấn đề hết sức quan trọng khi tiến hành CPH DNNN, trên thực tế khitiến hành cổ phần hóa Trung Quốc cũng đã vấp phải không ít phản ứng, nhiềuquan điểm khác nhau thậm chí là trái ngược Tuy nhiên Đảng Cộng sản TrungQuốc đã khẳng định: chế độ cổ phần là một hình thức tổ chức vốn của xínghiệp hiện đại, có lợi cho việc phân tách quyền sở hữu với quyền kinh
Trang 39doanh, có lợi cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động của xí nghiệp và tiền vốn.Không thể nói chung chung chế độ cổ phần là công hữu hay tư hữu, vấn đềquyết định là xem ai nắm được quyền khống chế cổ phiếu Có thể thấy đây là
tư tưởng hết sức tiến bộ trong bối cảnh chưa từng có trong lịch sử xây dựngCNXH Trung Quốc đã có những bước đi thận trọng cả về thực tiễn và lý luậnnhờ đó đã vận dụng được chế độ cổ phần hóa cải cách một cách tích cực vàhiệu quả nền kinh tế
- Coi trọng hình thức CTCP mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối: TrungQuốc cho rằng, CTCP do Nhà nước nắm cổ phần chi phối là hình thức hợp lý
để chắp nối mối quan hệ giữa Chính phủ và doanh nghiệp, giữa kinh tế nhànước và kinh tế tư nhân Đồng thời, đó cũng là hình thức tổ chức có thể đưacác DNNN tham gia cạnh tranh quốc tế có hiệu quả, là đội quân chủ lực củaNhà nước nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia trên thị trường quốc tế Trung Quốc
áp dụng hình thức này trong các ngành kinh tế quan trọng, những DN lớn, trụcột của một ngành
- Thành lập các cơ quan quản lý, điều hành cổ phần hóa: cơ quan nàythuộc Hội đồng Chính phủ, có nhiệm vụ chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi và giámsát quá trình tiến hành CPH theo đúng quan điểm, chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước Nhờ hoạt động tích cực của cơ quan này mà Trung Quốc
đã tiến hành CPH một cách khá thuận lợi, không bị “trượt” ra khỏi các quanđiểm, phương hướng đã được xác định
Tóm lại, chương 1 của luận văn đã khái quát những vấn đề lý luận cơ
bản liên quan đến tiến trình cổ phần hoá DNNN, đồng thời nêu ra một số bàihọc kinh nghiệm từ thực tiễn tiến trình cổ phần hoá ở nước ta sau 15 năm thựchiện cũng như tham khảo thêm một số kinh nghiệm cổ phần hoá ở nước Nga
và Trung Quốc – là 2 nước tương đồng với Việt Nam về những mục tiêu pháttriển lâu dài trong tương lai
Trang 40CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THUỐC THÚ Y TẠI BỘ NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN2.1 Tổng quan về tiến trình cổ phần hóa tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Như phân tích trong phần 1.1.2.1, tiến trình cổ phần hóa của cả nướcđược chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn thí điểm (1992-1996)
- Giai đoạn mở rộng (1996-1998)
- Giai đoạn chủ động (1998-2002)
- Giai đoạn đẩy mạnh (2002 đến nay)Nếu theo phân tích này thì giai đoạn thí điểm và giai đoạn mở rộng BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn không có một DNNN được CPH, màđến năm 1998 mới có DNNN tiến hành cổ phần hóa Vì vậy nếu chia theo 4giai đoạn như cả nước là không hợp lý, nên chia tiến trình CPH tại Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn thành 3 giai đoạn theo thời gian thực hiện:
- Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2001
- Giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2004
- Giai đoạn từ 2005 đến nayMỗi giai đoạn đều được thống kê đầy đủ kết quả đạt được đồng thờiđưa ra những bài học kinh nghiệm để khắc phục cho giai đoạn tiếp theo, nóđánh dấu được những bước tiến trong việc thay đổi cơ chế quản lý và nhữngthành công nhất định của Bộ NN và PTNT khi triển khai thực hiện chủ trương
và chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệpnhà nước