LỜI CẢM ƠN Luận án này được hoàn thành dựa trên cơ sở tiếp thu các thành tựu nghiên cứu của nhiều thế hệ với các chương trình nghiên cứu, khai quật khảo cổ học trên vùng đất Đông Nam Bộ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN KHÁNH TRUNG KIÊN
CÁC LOẠI HÌNH XƯỞNG CHẾ TÁC ĐÁ THỜI TIỀN SỬ Ở ĐÔNG NAM BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KHẢO CỔ HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN KHÁNH TRUNG KIÊN
CÁC LOẠI HÌNH XƯỞNG CHẾ TÁC ĐÁ THỜI TIỀN SỬ Ở ĐÔNG NAM BỘ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu khoa học do bản thân thực hiện, dựa trên cơ sở kế thừa và tiếp nối các tư liệu chuyên ngành của nhiều thế
hệ đồng nghiệp, các nhà nghiên cứu đi trước
Số liệu sử dụng trong luận án là trung thực, được lựa chọn khai thác từ các tài liệu gốc và các nguồn công bố có độ tin cậy cao, kết luận đưa ra dựa trên phân tích số liệu, mang tính khách quan, khoa học và trung thực theo tình hình tư liệu hiện có vào thời điểm luận án được hoàn thành (năm 2017)
Các phát hiện và đóng góp mới của luận án này chưa từng được công bố trong các công trình của những nhà nghiên cứu khác
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận án
Nguyễn Khánh Trung Kiên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận án này được hoàn thành dựa trên cơ sở tiếp thu các thành tựu nghiên cứu của nhiều thế hệ với các chương trình nghiên cứu, khai quật khảo cổ học trên vùng đất Đông Nam Bộ và các kết quả phân tích thạch học trong các công bố của PGS.TS Phạm Đức Mạnh Tác giả xin cảm ơn những nhà nghiên cứu đã có những đóng góp cho khảo cổ học Đông Nam Bộ nói chung và góp phần đem lại những nền tảng nhận thức về di tích và di vật trong luận án
Ngoài ra, luận án cũng kế thừa nhiều kết quả của các chương trình nghiên cứu được tài trợ kinh phí từ Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, các Bảo tàng địa phương ở Đông Nam Bộ và các chương trình hợp tác quốc tế với Đại học Quốc gia Úc (ANU) Số liệu về di vật sử dụng để phân tích trong luận án có nguồn gốc từ các phiếu thông tin hiện vật, được thực hiện nhờ công sức lao động của tập thể Trung tâm Khảo cổ học và các chuyên viên Bảo tàng địa phương ở Đông Nam Bộ trong thời gian từ 2006 -
2010 với Dự án: “Điều tra cơ bản và hệ thống hóa tư liệu khảo cổ học vùng Nam Bộ (giai đoạn 1976-2005)” Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các cơ quan tổ chức
tài trợ kinh phí nghiên cứu cùng với đồng nghiệp ở Trung tâm Khảo cổ học và Bảo tàng các tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Long An đã góp sức trong các chương trình nói trên và có những thảo luận liên quan đến nội dung khoa học được đề cập trong luận án
Tác giả xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Thầy - Cô đã có những góp ý và hướng dẫn trong quá trình thực hiện các chuyên đề liên quan đến nội dung luận án như: PGS.TS Tống Trung Tín, PGS.TS Bùi Văn Liêm, PGS.TS Trình Năng Chung, PGS.TS Nguyễn Khắc Sử, TS Nguyễn Gia Đối và TS Nguyễn Kim Dung
Đặc biệt, xin tri ân Thầy hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Chí Hoàng và PGS.TS Nguyễn Giang Hải là người đã định hướng nghiên cứu, chia sẻ tư liệu, luôn động viên, khuyến khích và đồng hành cùng tác giả trong quá trình thực hiện luận án
Sau hết, xin được cảm ơn người thân trong gia đình đã luôn động viên và hỗ trợ tác giả luận án suốt thời gian qua
Trang 5Tác giả luận án
Nguyễn Khánh Trung Kiên MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ cái viết tắt iv
Danh mục bảng số liệu, biểu đồ, hình ảnh minh họa v
Danh mục thuật ngữ xi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 4
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6
7 Cơ cấu của luận án 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
1.1 Điều kiện địa lý - tự nhiên của miền Đông Nam Bộ 8
1.2 Tình hình phát hiện và nghiên cứu liên quan đến xưởng chế tác đá 14
1.3 Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2 CÁC DI TÍCH CƯ TRÚ VÀ XƯỞNG CHẾ TÁC ĐÁ 35
THỜI TIỀN SỬ Ở ĐÔNG NAM BỘ 2.1 Sự phân bố các di tích khảo cổ học trên địa bàn Đông Nam Bộ 35
2.2 Các xưởng thủ công chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ 40
2.3 Tiểu kết chương 2 61
CHƯƠNG 3 LOẠI HÌNH, QUY TRÌNH, KỸ THUẬT VÀ 63 SẢN PHẨM CỦA CÁC XƯỞNG CHẾ TÁC ĐÁ THỜI
Trang 6TIỀN SỬ Ở ĐÔNG NAM BỘ
3.1 Loại hình xưởng chế tác đá 63
3.2 Quy trình sản xuất và kỹ thuật chế tác 70
3.3 Loại hình sản phẩm của các xưởng thủ công 83
3.4 Tiểu kết chương 3 111
CHƯƠNG 4 VAI TRÒ CỦA CÁC XƯỞNG CHẾ TÁC ĐÁ 113
THỜI TIỀN SỬ Ở ĐÔNG NAM BỘ 4.1 Nghề thủ công chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ 114
thời tiền sử Đông Nam Bộ qua các kết quả phân tích 4.2 Vai trò của các xưởng chế tác đá thời tiền sử Đông Nam Bộ 134
4.3 Tiểu kết chương 4 145
KẾT LUẬN 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
DANH MỤC CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 162
PHỤ LỤC 164
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Tiếng Việt:
Tiếng nước ngoài:
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH MINH HỌA, BẢNG SỐ LIỆU, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Không gian nghiên cứu của luận án
Hình 1.2 Các dạng địa hình Đông Nam Bộ
Hình 1.3 Hệ thống sông ngòi trên địa bàn Đông Nam Bộ
Hình 2.1 Hệ thống thủy văn và phân bố các di tích khảo cổ học ở Đông Nam Bộ Hình 2.2 Phân bố các di tích khảo cổ học trên các dạng địa hình ở Đông Nam Bộ Hình 2.3 Bờ biển cổ Nam Bộ (Việt Nam) thời Toàn Tân
Hình 2.4 Phân bố các xưởng thủ công chế tác đá ở Đông Nam Bộ
Hình 2.5a Bình diện khu vực chế tác công xưởng Hàng Ông Đại
Hình 2.5b Bình diện khu vực chế tác công xưởng Hàng Ông Đại
Hình 2.5c Mặt bằng hố khai quật H1 (lớp 1) - di tích Hàng Ông Đại (năm 2008) Hình 2.5d Mặt bằng hố khai quật H1 (lớp 2) - di tích Hàng Ông Đại (năm 2008) Hình 2.5e Mặt bằng hố khai quật H3 - di tích Hàng Ông Đại (năm 2008)
Hình 2.6 Các dụng cụ chế tác tại công xưởng Hàng Ông Đại
Hình 2.7 Các phác vật tập trung thành nhóm tại công xưởng Hàng Ông Đại Hình 2.8 Bình diện khu vực chế tác và tầng văn hóa Hàng Ông Đại
Hình 2.9a Bình diện khu vực chế tác di tích Hàng Ông Đụng
Hình 2.9b Mặt bằng hố khai quật H1 - di tích Hàng Ông Đụng (năm 2010) Hình 2.9c Mặt bằng hố khai quật H2 - di tích Hàng Ông Đụng (năm 2010) Hình 2.9d Bình diện khu vực chế tác và tầng văn hóa Hàng Ông Đụng
Hình 2.10 Bình diện khu vực chế tác vòng tay - di tích Đồi Phòng Không
Hình 2.11 Bình diện khu vực chế tác vòng tay - di tích Đồi Phòng Không
Hình 3.1 Rìu có vai - Hàng Ông Đại
Hình 3.2 Rìu tứ giác - Hàng Ông Đại
Hình 3.3 Rìu tứ giác - Hàng Ông Đụng
Hình 3.4 Cuốc tứ giác - Hàng Ông Đụng
Trang 8Hình 3.5 Cuốc tứ giác - Hàng Ông Đại
Hình 3.6 Cuốc có vai - Hàng Ông Đại
Hình 3.7 Đục - Hàng Ông Đại
Hình 3.8 Mũi giáo và đầu mũi tên - Hàng Ông Đại
Hình 3.9 Dao hái - Hàng Ông Đại (Bình Dương)
Hình 3.10 Dao hái - Hàng Ông Đại (Bình Dương)
Hình 3.11 Phác vật vòng có dấu khoan, lõi vòng và mảnh vòng tay (Bưng Bạc) Hình 3.12 Phác vật vòng có dấu khoan (Đồi Phòng Không)
Hình 3.13 Khuôn đúc và phác vật khuôn Dốc Chùa
Hình 3.14 Mảnh tước di tích Hàng Ông Đụng (Bình Dương)
Hình 3.15 Mảnh tước di tích Hàng Ông Đụng và Suối Linh
Hình 3.16 Phác vật công cụ - Hàng Ông Đụng
Hình 3.17 Phác vật công cụ - Suối Linh
Hình 3.18 Rìu có vai - Hàng Ông Đại
Hình 3.19 Rìu có vai - Mỹ Lộc
Hình 3.20 Rìu có vai - Bến Đò
Hình 3.21 Rìu tứ giác - Hàng Ông Đụng
Hình 3.22 Rìu tứ giác - Hàng Ông Đại
Hình 3.23 Rìu tứ giác - Suối Linh
Hình 3.24 Cuốc có vai - Hàng Ông Đại
Hình 3.25 Cuốc tứ giác - Hàng Ông Đụng
Hình 3.26 Cuốc tứ giác - Hàng Ông Đại
Hình 3.27 Cuốc tứ giác - Hàng Ông Đại
Hình 3.28 Cuốc tứ giác - Suối Linh
Hình 3.29 Cuốc tứ giác - Suối Linh
Hình 3.30 Đục tứ giác - Hàng Ông Đụng
Hình 3.31 Đục tứ giác - Suối Linh
Hình 3.32 Đục tứ giác trong các di tích khảo cổ Đông Nam Bộ
Hình 3.33 Dao hái - Suối Linh
Trang 9Hình 3.34 Dao hái - Cầu Sắt
Hình 3.35 Dao hái - Hàng Ông Đụng
Hình 3.36 Mũi giáo - Hàng Ông Đụng và Cái Vạn
Hình 3.37 Hòn ghè - Suối Linh
Hình 3.38 Hòn ghè - Hàng Ông Đụng
Hình 3.39 Phác vật hình đĩa, lõi vòng và mảnh vòng tay di tích Bưng Bạc
Hình 3.40 Phác vật hình đĩa, lõi vòng - Đồi Phòng Không
Hình 3.41 Phác vật hình đĩa, lõi vòng - Đồi Phòng Không
Hình 3.42 Khuôn đúc (di tích Dốc Chùa)
Hình 3.43 Khuôn đúc (di tích Dốc Chùa)
Hình 4.2 Đá nguyên liệu tại di tích Hàng Ông Đụng
Hình 4.3 Cảnh quan khu vực công xưởng ven hai bờ sông Bé
Hình 4.4 Tầng đá nguyên liệu ven tả ngạn sông Bé
Hình 4.5 Khu vực khai thác và sơ chế phác vật - di tích Hàng Tam Đẳng
Hình 4.6 Khu vực khai thác và sơ chế phác vật - di tích Hàng Tam Đẳng
Hình 4.7 Phác vật nhặt trên bề mặt khu vực khai thác đá - di tích Hàng Tam Đẳng Bảng 2.1 Di tích khảo cổ học ở Đông Nam Bộ theo niên đại và không gian phân bố Bảng 2.2 Thống kê hiện vật đá - di tích Hàng Ông Đại (năm 2007)
Bảng 2.3a Số liệu mảnh tước hố H1 - di tích Hàng Ông Đại (2007)
Bảng 2.3b Số liệu mảnh tước hố H2 - di tích Hàng Ông Đại (2007)
Bảng 2.3c Số liệu mảnh tước hố H3 - di tích Hàng Ông Đại (2007)
Bảng 2.3d Số liệu mảnh tước hố H4 - di tích Hàng Ông Đại (2007)
Bảng 2.3e Số liệu mảnh tước các hố thám sát - di tích Hàng Ông Đại (2007)
Bảng 2.3f Số liệu mảnh tước di tích Hàng Ông Đại (2007)
Trang 10Bảng 2.4a Thống kê sản phẩm đã định hình và dụng cụ chế tác đá
Bảng 2.4b Thống kê phế phẩm của quy trình chế tác trong hố khai quật
Bảng 2.4c Thống kê sản phẩm đã định hình và dụng cụ chế tác đá trong các hố thám sát
Bảng 2.4d Thống kê phế phẩm của quy trình chế tác trong các hố thám sát
Bảng 2.5a Số liệu mảnh tước hố H1 - di tích Hàng Ông Đụng (2010)
Bảng 2.5b Số liệu mảnh tước hố H2 - di tích Hàng Ông Đụng (2010)
Bảng 2.5c Số liệu mảnh tước các hố thám sát - di tích Hàng Ông Đụng (2010) Bảng 2.5d Số liệu mảnh tước di tích Hàng Ông Đụng (2010)
Bảng 2.6 Thống kê di vật đá tại di tích Đồi Phòng Không
Bảng 2.7 Thống kê di vật đá di tích Cầu Sắt
Bảng 2.8 Thống kê di vật đá di tích Suối Linh
Bảng 2.9 Thống kê di vật đá di tích Mỹ Lộc
Bảng 2.10a Thống kê di vật di tích Dốc Chùa
Bảng 2.10b Thống kê loại hình di vật đá di tích Dốc Chùa
Bảng 3.4 Phân tích chỉ số kích thước rìu có vai di tích Suối Linh
Bảng 3.5 Phân tích chỉ số kích thước rìu có vai di tích Mỹ Lộc (Bình Dương)
Bảng 3.6 Phân tích chỉ số kích thước rìu có vai các di tích đất đắp dạng tròn Bình Phước
Bảng 3.7 Phân tích chỉ số kích thước rìu có vai di tích Rạch Bà Giá (Đồng Nai) Bảng 3.8 Phân tích chỉ số kích thước rìu có vai di tích Phước Tân (Đồng Nai) Bảng 3.9 Phân tích chỉ số kích thước rìu có vai di tích Cái Vạn
Trang 11Bảng 3.10 Phân tích chỉ số kích thước rìu có vai di tích Bình Đa (Đồng Nai)
Bảng 3.11 Phân tích chỉ số kích thước rìu có vai di tích Cù Lao Rùa (Bình Dương) Bảng 3.12 Phân tích chỉ số kích thước rìu có vai di tích An Sơn (Long An)
Bảng 3.13 Phân tích chỉ số kích thước rìu có vai di tích Dinh Ông (Tây Ninh) Bảng 3.14 Phân tích chỉ số kích thước rìu có vai Đông Nam Bộ
Bảng 3.15 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác di tích Hàng Ông Đại (Bình Dương)
Bảng 3.16 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác di tích Hàng Ông Đụng (Bình Dương)
Bảng 3.17 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác di tích Cầu Sắt (Đồng Nai)
Bảng 3.18 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác di tích Suối Linh (Đồng Nai) Bảng 3.19 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác di tích Mỹ Lộc (Bình Dương) Bảng 3.20 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác các di tích đất đắp dạng tròn Bảng 3.21 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác di tích Rạch Bà Giá (Đồng Nai) Bảng 3.22 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác di tích Phước Tân (Đồng Nai) Bảng 3.23 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác di tích Cái Vạn (Đồng Nai)
Bảng 3.24 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác di tích Bình Đa (Đồng Nai)
Bảng 3.25 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác di tích Cù Lao Rùa (Bình Dương) Bảng 3.26 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác di tích An Sơn (Long An)
Bảng 3.27 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác di tích Dinh Ông (Tây Ninh) Bảng 3.28 Phân tích chỉ số kích thước rìu tứ giác Đông Nam Bộ
Bảng 3.29 Phân tích chỉ số kích thước cuốc có vai di tích Hàng Ông Đại (Bình Dương) Bảng 3.30 Phân tích chỉ số kích thước cuốc có vai di tích Phước Tân (Đồng Nai) Bảng 3.31 Phân tích chỉ số kích thước cuốc có vai di tích Cái Vạn (Đồng Nai) Bảng 3.32 Phân tích chỉ số kích thước cuốc có vai di tích Bình Đa (Đồng Nai) Bảng 3.33 Phân tích chỉ số kích thước cuốc có vai Đông Nam Bộ
Bảng 3.34 Phân tích chỉ số kích thước cuốc tứ giác di tích Hàng Ông Đại (Bình Dương)
Trang 12Bảng 3.35 Phân tích chỉ số kích thước cuốc tứ giác di tích Hàng Ông Đụng (Bình Dương)
Bảng 3.36 Phân tích chỉ số kích thước cuốc tứ giác di tích Mỹ Lộc (Bình Dương) Bảng 3.37 Phân tích chỉ số kích thước cuốc tứ giác di tích Cái Vạn (Đồng Nai) Bảng 3.38 Phân tích chỉ số kích thước cuốc tứ giác di tích Bình Đa (Đồng Nai) Bảng 3.39 Phân tích chỉ số kích thước cuốc tứ giác Đông Nam Bộ
Bảng 3.40 Phân tích chỉ số kích thước đục tứ giác di tích Hàng Ông Đại (Bình Dương) Bảng 3.41 Phân tích chỉ số kích thước đục tứ giác di tích Hàng Ông Đụng (Bình Dương)
Bảng 3.42 Phân tích chỉ số kích thước đục tứ giác di tích Cầu Sắt (Đồng Nai)
Bảng 3.43 Phân tích chỉ số kích thước đục tứ giác di tích Suối Linh (Đồng Nai) Bảng 3.44 Phân tích chỉ số kích thước đục tứ giác di tích Mỹ Lộc (Bình Dương) Bảng 3.45 Phân tích chỉ số kích thước đục tứ giác các di tích đất đắp dạng tròn Bảng 3.46 Phân tích chỉ số kích thước đục tứ giác di tích Rạch Bà Giá (Đồng Nai) Bảng 3.47 Phân tích chỉ số kích thước đục tứ giác di tích Phước Tân (Đồng Nai) Bảng 3.48 Phân tích chỉ số kích thước đục tứ giác di tích Cái Vạn (Đồng Nai) Bảng 3.49 Phân tích chỉ số kích thước đục tứ giác di tích Bình Đa (Đồng Nai) Bảng 3.50 Phân tích chỉ số kích thước đục tứ giác di tích Cù Lao Rùa (Bình Dương)
Bảng 3.51 Phân tích chỉ số kích thước đục tứ giác di tích Dinh Ông (Tây Ninh) Bảng 3.52 Phân tích chỉ số kích thước đục tứ giác Đông Nam Bộ
Bảng 3.53 Phân tích chỉ số kích thước dao hái di tích Hàng Ông Đại (Bình Dương) Bảng 3.54 Phân tích chỉ số kích thước dao hái di tích Hàng Ông Đụng (Bình Dương)
Bảng 3.55 Phân tích chỉ số kích thước dao hái di tích Suối Linh (Đồng Nai)
Bảng 3.56 Phân tích chỉ số kích thước dao hái di tích Cầu Sắt (Đồng Nai)
Bảng 3.57 Phân tích chỉ số kích thước dao hái di tích Phước Tân (Đồng Nai)
Bảng 3.58 Phân tích chỉ số kích thước dao hái di tích Cái Vạn (Đồng Nai)
Bảng 3.59 Phân tích chỉ số kích thước dao hái Đông Nam Bộ
Trang 13Bảng 3.60 Phân tích chỉ số kích thước phác vật hình đĩa (Đồi Phòng Không)
Bảng 3.61 Phân tích chỉ số kích thước lõi vòng địa điểm Đồi Phòng Không
Bảng 3.62 Phân tích chỉ số kích thước vòng di tích Đồi Phòng Không
Bảng 3.63 Tương quan các chỉ số lõi vòng - Đồi Phòng Không
Bảng 3.64 Tương quan các chỉ số vòng tay - di tích Đồi Phòng Không
Bảng 3.65 Phân tích chỉ số kích thước lõi vòng di tích Bưng Bạc
Bảng 3.66 Phân tích chỉ số kích thước vòng di tích Bưng Bạc
Bảng 3.67 Tương quan các chỉ số lõi vòng - Bưng Bạc
Bảng 3.68 Tương quan các chỉ số vòng tay - di tích Bưng Bạc
Bảng 3.69 Phân tích chỉ số kích thước lõi vòng di tích Mỹ Lộc
Bảng 3.70 Phân tích chỉ số kích thước vòng di tích Mỹ Lộc
Bảng 3.71 Tương quan các chỉ số lõi vòng - Mỹ Lộc
Bảng 3.72 Tương quan các chỉ số vòng tay - di tích Mỹ Lộc
Bảng 3.73 Các di tích phát hiện khuôn đúc ở Đông Nam Bộ
Bảng 4.1 So sánh mật độ di vật trong các di tích khảo cổ học ở Đông Nam Bộ với các di tích văn hóa Phùng Nguyên và Gò Mun
Bảng 4.2 Chất liệu đá chế tác đồ trang sức trong các di tích tiền sử ĐNB
Bảng 4.3 Số lượng công cụ đá trong các tiểu vùng văn hóa ở Đông Nam Bộ tiền sử Bảng 4.4 Chất liệu đá chế tác công cụ lao động trong các di tích tiền sử Đông Nam Bộ Bảng 4.5 Mẫu phân tích thạch học các di tích khảo cổ ở Đông Nam Bộ (2006) Bảng 4.6 Mẫu phân tích thạch học các di tích khảo cổ ở Đông Nam Bộ (2008) Bảng 4.7a Mẫu phân tích thạch học các công xưởng chế tác đá ở Bình Dương (2011) Bảng 4.7b Mẫu phân tích thạch học các công xưởng chế tác đá ở Bình Dương Bảng 4.8 Mẫu phân tích thạch học di tích khảo cổ học Hội Sơn (2012)
Bảng 4.9 Mẫu phân tích thạch học các di tích đất đắp dạng tròn ở Bình Phước (2013) Bảng 4.10 Mẫu phân tích thạch học các di tích đất đắp dạng tròn ở Bình Phước (2014) Bảng 4.11 Mẫu phân tích thạch học các di tích khảo cổ ở Đông Nam Bộ
Bảng 4.12 Niên đại C14 một số di tích khảo cổ học Đông Nam Bộ
Biểu đồ 2.1 Dao động mực nước biển khu vực Nam Bộ trong thời Toàn Tân
Trang 14Biểu đồ 2.2 Số lượng di tích khảo cổ qua các giai đoạn trên các tiểu vùng văn hóa ĐNB
Biểu đồ 3.1 So sánh kích thước sản phẩm Hàng Ông Đại-Hàng Ông Đụng (Bình Dương)
Biểu đồ 3.2 Tương quan kích thước loại hình rìu có vai ở ĐNB và Hàng Ông Đại Biểu đồ 3.3 Tương quan kích thước loại hình rìu tứ giác ở ĐNB và Hàng Ông Đại Biểu đồ 3.4 Tương quan kích thước loại hình cuốc ĐNB và Hàng Ông Đại-Hàng Ông Đụng
Biểu đồ 3.5 So sánh kích thước dao hái các xưởng chế tác đá ở ĐNB
Biểu đồ 3.6 So sánh kích thước dao hái xưởng chế tác đá và di tích cư trú ở ĐNB Biểu đồ 3.7 Đường kính lõi vòng trong các di tích tiền sử ĐNB
Biểu đồ 3.8 So sánh đường kính - độ dày lõi vòng các di tích ĐNB
Biểu đồ 3.9 Quan hệ giữa đường kính lớn và đường kính nhỏ - loại hình vòng tay Biểu đồ 3.10 Tương quan đường kính lõi vòng - các di tích tiền sử ĐNB
DANH MỤC THUẬT NGỮ
Các khái niệm dùng trong thống kê mô tả (Descriptive Analysis) được sử dụng trong luận án để phân tích các chỉ số kích thước hiện vật khảo cổ:
- Số trung bình (Mean): là giá trị trung bình của một tập hợp dữ liệu (thông số kích
thước công cụ) Trong phân tích của luận án, chỉ số Mean chính là các số đo trung bình của một thông số kích thước thu được trên một hiện vật Giá trị này có thể không phải là số đo thực của một hiện vật cụ thể
- Số trung vị (Median): là giá trị nằm giữa của tập hợp dữ liệu, chia đôi tập hợp
thành hai nhóm bằng nhau, có giá trị lớn hơn và nhỏ hơn số trung vị này
- Số yếu vị (Mode): là giá trị có tần suất xuất hiện nhiều nhất trong tập hợp Trong
phân tích của luận án, mode cho thấy kích cỡ của một nhóm hiện vật nào đó thường xuất hiện và đại diện cho cả tập hợp
Trang 15- Khoảng biến thiên (Range): là giá trị bằng hiệu số của giá trị lớn nhất với giá trị
nhỏ nhất Giá trị này cho thấy sự chênh lệch chỉ số kích thước giữa các hiện vật trong tập hợp nhiều hay ít để thông qua đó có thể nhận ra sự “ổn định” hay “đa dạng” của mỗi loại hiện vật được khảo sát
- Độ lệch chuẩn (Standard Deviation): là giá trị sử dụng để đo lường sự biến thiên
của các biến số
- Phương sai mẫu (Sample Variance): là giá trị đo lường sự phân tán của dữ liệu
trong tập hợp
- Giá trị lớn nhất (Maximum value): là giá trị lớn nhất đo được trong tập hợp Trong
luận án này, đó là các chỉ số kích thước lớn nhất của hiện vật khảo cổ được khảo sát
- Giá trị nhỏ nhất (Minimum value): là giá trị nhỏ nhất đo được trong tập hợp
Trong luận án này, đó là các chỉ số kích thước nhỏ nhất của hiện vật khảo cổ được khảo sát
- Niên đại tuyệt đối: là niên đại xác định bằng phương pháp Carbon phóng xạ 14C hay AMS (Accelerator Mass Spectrometry) với các loại mẫu than, vỏ sò ốc hay xương
- Niên đại tương đối: là niên đại được xác định dựa trên so sánh đối chiếu hiện vật
khảo cổ học (công cụ đá, đồ gốm) với các di tích đã có niên đại tuyệt đối
Trang 16MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xưởng thủ công chế tác đá thời tiền sử là loại hình di tích khảo cổ được phát hiện và nghiên cứu chưa nhiều ở Việt Nam, đặc biệt trên địa bàn Đông Nam Bộ Nếu
so sánh về số lượng với các di tích cư trú hay mộ táng đã từng phát hiện, khai quật và nghiên cứu ở Đông Nam Bộ có thể thấy các xưởng thủ công chế tác đá được phát hiện rất ít Loại hình di tích này được biết đến sớm nhất trên địa bàn Đông Nam Bộ gồm có: Cầu Sắt (1976), Mỹ Lộc (1977), Suối Linh (1985), Đồi Phòng Không (1985), Bưng Bạc (1986), Dốc Chùa (1976), Bưng Thơm (1992), ngoại trừ địa điểm Đồi Phòng Không chỉ mới được khai quật thăm dò với diện tích nhỏ trong năm 2017, các di tích nói trên đều đã khai quật một hoặc nhiều lần Qua các lần khai quật cho thấy sản phẩm được chế tác tại các di tích này là những loại hình công cụ lao động (sản phẩm của các xưởng Cầu Sắt, Suối Linh, Mỹ Lộc) hoặc các loại vòng tay bằng đá (Đồi Phòng Không, Bưng Bạc) hay các khuôn đúc đồ đồng được làm bằng sa thạch (Dốc Chùa, Bưng Thơm)
Kết quả các đợt khai quật đã thu được rất nhiều loại hình công cụ đá đang được chế tác dở dang, các phác vật đang hoặc đã được ghè định hình, các dụng cụ dùng để chế tác hay gia công sản phẩm, đá nguyên liệu cùng rất nhiều mảnh tước và phế phẩm của quá trình chế tác Tuy nhiên, các di tích nêu trên vẫn chưa phải là các xưởng chế tác đá mang tính chuyên hóa cao (các công xưởng) vì tại đó, tính chất của một di chỉ cư trú thể hiện rất nổi trội bên cạnh tính chất sản xuất (chế tác công cụ đá) vốn xuất hiện mờ nhạt
hơn Vì thế, các di tích này được xếp vào loại hình "di chỉ cư trú - xưởng" và nhiều nhà
nghiên cứu cho rằng các người thợ thủ công nơi đây chủ yếu làm ra các sản phẩm bằng
đá nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nội tại của cộng đồng (mang tính chất tự cung tự cấp) Chỉ riêng với di tích Đồi Phòng Không (Đồng Nai) qua nhiều đợt khảo sát, thu nhặt hiện vật trên bề mặt và khai quật thăm dò đã được hầu hết các nhà nghiên cứu xác định đấy chính là một công xưởng chuyên chế tác đồ trang sức, mà sản phẩm chủ yếu là những chiếc vòng tay bằng đá, được thực hiện bằng kỹ thuật khoan tách lõi
Trang 17Trong những năm từ 2006 đến 2010, tác giả luận án và các đồng nghiệp thuộc Trung tâm Khảo cổ học (Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ) cùng với cán
bộ nghiệp vụ Bảo tàng tỉnh Bình Dương đã triển khai nhiều chương trình điều tra, khảo sát và phát hiện một số di tích thuộc loại hình công xưởng chế tác đá thời tiền
sử trên địa bàn tỉnh Bình Dương với một cụm ba di tích phân bố gần nhau nằm ven hai bờ sông Bé: Hàng Ông Đại (2006), Hàng Ông Đụng (2009) và Hàng Tam Đẳng (2010) Kết quả các cuộc khảo sát và khai quật tại các di tích này đã phản ánh đầy
đủ các công đoạn trong quy trình chế tác công cụ đá của cư dân tiền sử, trong khi đó dấu vết của sự cư trú lại rất mờ nhạt nơi đây Các di tích thuộc dạng này chính là những "công xưởng" (tức xưởng thủ công) chế tác đá thời tiền sử với niên đại tương
đối được ước định khoảng 3.500 đến 3.000 năm cách ngày nay
Các phát hiện nói trên về loại hình công xưởng chế tác đá mang tính mới và
quan trọng, đã góp phần làm thay đổi nhận thức trước đây về tính chất "tự cấp - tự túc" trong việc chế tác công cụ đá của các cộng đồng cư dân cổ Đông Nam Bộ và từ
đó mở ra nhận thức mới hơn về hoạt động sản xuất mang tính chuyên môn hóa cao
và tập trung của những người thợ thủ công để có thể làm ra hàng loạt những sản phẩm với số lượng lớn từ hạch đá nguyên liệu, phác vật hay bán thành phẩm có thể
được mang đi trao đổi với các cộng đồng cư dân khác
Từ những nguồn tư liệu hiện nay về vấn đề xưởng thủ công chế tác đá ở Đông Nam Bộ cho thấy phải chăng trong các cộng đồng cư dân cổ đã có những nhóm người nắm vững kỹ thuật chế tác và chuyên làm ra các dụng cụ lao động bằng
đá tại các công xưởng để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng của nhiều cộng đồng trong khu vực thông qua trao đổi sản phẩm và những nhóm người khác (chủ nhân các di chỉ cư trú - xưởng) tiếp tục công đoạn chế tác hoàn thiện các phác vật từ các công xưởng đem đến để chúng trở thành các công cụ có thể sử dụng được trong lao động sản xuất?
Mô hình này cho thấy các cộng đồng cư dân Đông Nam Bộ vào khoảng 3.500 đến 3.000 năm cách ngày nay không chỉ sản xuất ra các công cụ lao động đáp
ứng nhu cầu của cộng đồng theo hình thức "tự cấp - tự túc" mà đã có sự xuất hiện
Trang 18của một số công xưởng sản xuất ra số lượng rất lớn các sản phẩm bằng đá đem đi trao đổi hay tiếp tục chế tác hoàn thiện để sử dụng trong các cộng đồng cư dân lân cận
Qua những tư liệu khảo cổ học gần đây cho thấy xưởng thủ công chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ là một vấn đề khoa học mới và quan trọng nhưng cho đến nay vẫn chưa có các nghiên cứu tổng thể và tập trung về loại hình di tích này và
các sản phẩm liên quan Vì thế, tác giả luận án đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Các loại hình xưởng chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ” với mục đích hệ thống hóa
các nguồn tài liệu cũ và mới, từ đó tiến hành phân loại các loại hình di tích đồng thời tìm hiểu những quan hệ trao đổi giữa các xưởng chế tác đá và các di tích cư trú để góp phần tìm hiểu vai trò của nghề thủ công chế đồ đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích nghiên cứu
Luận án này được thực hiện nhằm giải quyết hai mục đích nghiên cứu chính sau đây:
(1) Hệ thống tư liệu các di tích và di vật thuộc loại hình xưởng chế tác đá
thời tiền sử ở Đông Nam Bộ
(2) Nghiên cứu tính chuyên hóa, quy trình sản xuất, các loại hình sản phẩm
và vai trò của các xưởng chế tác đá trên địa bàn Đông Nam Bộ trong giai đoạn 3.500 - 2.500 năm cách ngày nay
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án này được thực hiện nhằm giải quyết các câu hỏi nảy sinh trong quá trình nghiên cứu về loại hình xưởng chế tác đá, chủ yếu tập trung vào các vấn đề chính như sau:
(1) Những tác nhân góp phần tạo nên sự ra đời các xưởng chế tác đá thời tiền
sử ở Đông Nam Bộ?
(2) Quy trình kỹ thuật, loại hình hiện vật và khối lượng sản phẩm được làm
ra tại các xưởng chế tác đá?
Trang 19(3) Sự chuyên môn hóa trong nghề thủ công chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ diễn ra ở mức độ nào?
(4) Vai trò của các xưởng chế tác đá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội thời tiền sử ở Đông Nam Bộ?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu: luận án tập trung nghiên cứu các di tích khảo cổ có
tính chất xưởng chế tác đá thời tiền sử (bao gồm cả hai nhóm công xưởng chuyên hóa và di chỉ cư trú - xưởng) trên địa bàn Đông Nam Bộ và một số vùng phụ cận, cùng với các loại hình sản phẩm được làm ra tại đó, kỹ thuật chế tác và quy trình sản xuất được người thợ thủ công áp dụng
Phạm vi niên đại của các di tích được khảo sát và nghiên cứu trong luận án nằm trong khoảng thời gian từ 3.500 - 3.000 năm (đối với các xưởng chế tác công
cụ lao động) cho đến khoảng hơn 2.500 năm cách ngày nay (đối với các xưởng chế tác đồ trang sức và khuôn đúc)
Khái niệm Thời tiền sử (Prehistory) dùng trong luận án này được hiểu là giai đoạn trước khi có chữ viết, ngay cả khi cộng đồng cư dân cổ ở Đông Nam Bộ đã bước sang thời đại kim khí nhưng tàn dư của thời đại đồ đá vẫn còn rất mạnh ở vùng này do thiếu thốn nguồn nguyên liệu đồng và các hợp kim cần thiết cho nghề luyện kim Sau khi cân nhắc các khái niệm Thời sơ sử (Proto-history) hay Tiền sử muộn (Late history), tác giả luận án đã lựa chọn sử dụng khái niệm Thời tiền sử cho trường hợp các di tích khảo cổ có khung niên đại từ 3.500 đến hơn 2.500 năm cách ngày nay ở Đông Nam Bộ
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Trang 20Để thực hiện luận án, tác giả đã áp dụng các phương pháp tương ứng với mỗi nội dung nghiên cứu cụ thể trong luận án:
- Phương pháp phân tích, hệ thống và tổng hợp tài liệu: được áp dụng trong
quá trình tập hợp, xử lý các tài liệu có liên quan đến nội dung luận án đã được công
bố ở nhiều dạng; phân loại các vấn đề nghiên cứu và đánh giá các kết quả đạt được, hình thành nên phần tổng quan nghiên cứu của luận án
- Phương pháp điền dã và khai quật khảo cổ học: áp dụng tại thực địa, trong
quá trình điều tra khảo sát, đào thăm dò và khai quật để qua đó thu thập các thông tin cần thiết về cảnh quan, môi trường xung quanh của mỗi di tích khảo cổ học, thu thập
các di vật, lấy mẫu hiện vật đá để khảo sát nguồn gốc, sự phân bố và trao đổi sản phẩm
- Phương pháp loại hình học: được sử dụng để phân loại hiện vật khảo cổ
thành các nhóm dựa trên các tiêu chí, chỉ số đo đạc để phân định cho mỗi loại hình
Từ đó, hiểu rõ hơn về đặc trưng sản phẩm của từng xưởng chế tác cũng như các loại hình sản phẩm chủ yếu được sản xuất
- Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật học: phương pháp này dựa vào quan sát
các dấu vết để lại trên hiện vật để nhận dạng kỹ thuật chế tác và tái hiện lại các công đoạn chế tác trong quy trình đã được người cổ áp dụng và từ đó nhận thức về trình
độ kỹ thuật của những người thợ thủ công chế tác đá
- Phương pháp phân tích thạch học: được áp dụng trên các mẫu hiện vật tiêu
biểu, đặc trưng trong mỗi di tích để dựa vào các thành phần nguyên liệu đá được quan sát dưới các lát cắt mỏng bằng kính hiển vi phân cực nhằm tìm hiểu mối quan
hệ giữa nguồn nguyên liệu, nơi chế tác và sự trao đổi của sản phẩm sau khi được chế tác
- Phương pháp nghiên cứu so sánh: dựa trên các kết quả loại hình học, kỹ thuật
học và phân tích thạch học, áp dụng phương pháp nghiên cứu so sánh để tìm hiểu mối quan hệ về mặt loại hình, chất liệu của các di vật trong các di tích mà thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án
- Phương pháp thống kê, phân tích số liệu: các hiện vật khảo cổ còn nguyên vẹn
hoặc còn đầy đủ các chỉ số kích thước cơ bản được lựa chọn trong các di tích cư trú và
Trang 21các công xưởng, di chỉ cư trú - xưởng ở Đông Nam Bộ, được đo và nhập số liệu vào bảng biểu theo các trường thông tin thống nhất để hình thành nên cơ sở dữ liệu cho luận án Từ các bảng biểu thống kê này, số liệu được xử lý bằng chương trình Microsoft Excel với các phương pháp phân tích thích hợp để tìm ra những thông tin đặc trưng của mỗi loại hình di vật trong các di tích và so sánh tương quan giữa hiện vật trong các di tích
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án góp phần hệ thống hóa tư liệu về các xưởng thủ công chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ đã được khai quật và nghiên cứu trong thời gian qua, đồng thời công bố các phát hiện và nhận thức mới về loại hình xưởng chế tác đá được khai thác từ nhiều phương pháp nghiên cứu
- Luận án đã xác lập hai cấp độ xưởng thủ công chế tác đá dựa vào mức độ chuyên hóa: công xưởng và di chỉ cư trú - xưởng, đồng thời xác định các loại hình sản phẩm được chế tác tại mỗi nhóm di tích, nhận diện quy trình, kỹ thuật chế tác của sản phẩm làm ra tại các di tích
- Dựa vào các kết quả phân tích loại hình học và thạch học, luận án này góp phần phác họa các con đường trao đổi sản phẩm từ các xưởng thủ công chế tác đá đến các di tích cư trú thời tiền sử ở Đông Nam Bộ và xác định vai trò của các xưởng chế tác đá trong đời sống xã hội của cư dân cổ thời tiền sử ở Đông Nam Bộ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận
- Đây là công trình khoa học đầu tiên được thực hiện để hệ thống hóa tư liệu
về loại hình xưởng thủ công chế tác đá ở Đông Nam Bộ Ngoài ra, vấn đề kỹ thuật học trong nghề thủ công chế tác các loại hình sản phẩm bằng đá vùng Đông Nam
Bộ cũng được đặt ra và giải quyết trong luận án này
- Một trong những mục tiêu quan trọng của luận án là việc giải quyết vấn để nguồn gốc của di vật khảo cổ phát hiện được tại một số di tích đã khai quật để thông qua đó nhận định một cách khách quan về sự giao lưu, trao đổi sản phẩm giữa các cộng đồng cư dân cổ Nếu như trước đây, các nhận định còn mang nhiều cảm tính
Trang 22khi so sánh di vật khảo cổ giữa những di tích thì trong luận án này dựa trên kết quả phân tích, kết quả xử lý thống kê nên các nhận định rõ ràng và có tính thuyết phục
- Nghiên cứu về loại hình xưởng chế tác đá là một vấn đề khoa học rất quan trọng của khảo cổ học thời tiền sử ở Đông Nam Bộ, góp phần nhận thức các mối quan
hệ trao đổi, sự giao lưu giữa các nhóm cư dân cổ, tính chuyên hóa trong sản xuất để thông qua đó hiểu rõ hơn phần nào về cơ cấu kinh tế và xã hội sơ khai của những lớp người khai hoang và sinh sống trên vùng đất này
- Ý nghĩa thực tiễn
- Các số liệu thống kê, thông tin về di tích và các chỉ số đo đạc của các di vật được tổng hợp, xử lý mang tính hệ thống trong luận án là nguồn tư liệu so sánh đối chiếu cho các di tích cùng loại hình tại khu vực Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên trong các chương trình nghiên cứu tiếp theo
- Các kết quả phân tích thạch học góp phần tìm hiểu và phác họa các tuyến đường lan tỏa của sản phẩm tại các xưởng chế tác đá thông qua quá trình giao lưu, trao đổi sản phẩm trong quá khứ và đồng thời cũng là các căn cứ để truy nguyên nguồn gốc của các di vật được khai quật trong tương lai qua so sánh đối chiếu
- Qua nghiên cứu về nghề thủ công chế tác đá tại các công xưởng và di chỉ xưởng, góp phần phác họa diện mạo cơ bản đời sống kinh tế - xã hội của các cộng đồng cư dân cổ ở Đông Nam Bộ tiền sử
7 Cơ cấu của luận án
Luận án ngoài các phần: Mở đầu (7 trang), Kết luận (4 trang), nội dung chính gồm có 4 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu (27 trang)
- Chương 2 Các di tích cư trú và xưởng chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam
Bộ (28 trang)
- Chương 3 Loại hình, quy trình, kỹ thuật và sản phẩm của các xưởng chế tác
đá ở Đông Nam Bộ (50 trang)
- Chương 4 Vai trò của các xưởng chế tác đá thời tiền sử Đông Nam Bộ (34 trang)
Trang 23Luận án còn có các phần: lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục hình ảnh minh họa, bảng số liệu, biểu đồ, tài liệu tham khảo, danh mục các bài báo khoa học đã công bố và phụ lục (bao gồm hình ảnh, bảng thống kê - số liệu phân tích, biểu đồ)
Trang 24CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Nội dung của chương này trước hết nhằm tìm hiểu điều kiện địa lý tự nhiên, địa chất, địa hình, cảnh quan môi trường để từ đó góp phần nhận diện không gian sinh sống của các cộng đồng cư dân cổ trên địa bàn Đông Nam Bộ thời tiền sử Ngoài ra, tác giả luận án sẽ tổng hợp tình hình phát hiện và nghiên cứu loại hình xưởng chế tác đá thời tiền sử ở Việt Nam cùng với các phương pháp nghiên cứu loại hình di tích, kỹ thuật chế tác đá và tập trung vào tư liệu khảo cổ ở khu vực Đông Nam Bộ về loại hình xưởng thủ công chế tác đá Bên cạnh đó, một số nghiên cứu do các học giả nước ngoài có liên quan (trực tiếp hoặc gián tiếp) đến luận án
mà tác giả có thể tiếp cận cũng được đề cập trong nội dung này Với các tài liệu đã công bố có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến nội dung luận án từ nhiều nguồn, tác giả đã phân chia theo các chủ đề nghiên cứu, các phương pháp và cách tiếp cận
để từ đó đánh giá tư liệu cũng như việc giải quyết các vấn đề nghiên cứu trước đây, trên cơ sở đó tiếp thu có chọn lọc và sử dụng cho luận án
1.1 Điều kiện địa lý - tự nhiên của miền Đông Nam Bộ
Vùng đất Đông Nam Bộ ngày nay về mặt hành chính bao gồm các tỉnh: Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh Phía bắc và đông bắc của khu vực tiếp giáp với cao nguyên Nam Trung Bộ, phía đông và đông nam giáp biển Đông, phía tây và tây bắc giáp Campuchia, phía nam và tây nam giáp Tây Nam Bộ (Hình 1.1) Tuy nhiên, khái niệm Đông Nam Bộ trong ngữ cảnh khảo cổ học và trong không gian nghiên cứu của luận án này được
mở rộng hơn: là vùng đất nằm tiếp giáp với Nam Tây Nguyên và trải dài cho đến hết vùng đất phù sa cổ, vốn được một số nhà nghiên cứu đề xuất là ranh giới giữa Đông và Tây Nam Bộ Theo đó, khung cảnh Đông Nam Bộ tiền sử được sử dụng trong luận án còn bao gồm cả một phần vùng đất cao ngày nay thuộc địa phận tỉnh
Trang 25Long An (huyện Đức Hòa) với một số di tích khảo cổ như: An Sơn, Lộc Giang (Long An)
Một số nghiên cứu trước đây cho thấy kể từ thời Toàn tân (Holocen) cách ngày nay khoảng 10.000 năm cho đến hiện đại không có các biến động lớn về mặt địa chất, môi trường, khí hậu ở khu vực Đông Nam Bộ Chính vì thế, chúng ta có thể hình dung một cách tương đối gần đúng về diện mạo của vùng đất Đông Nam
Bộ vào thời điểm gần 4.000 cho đến 2.500 năm trước đây qua các kết quả khảo sát, quan trắc, nghiên cứu gần đây, nhất là đối với các yếu tố mang đặc tính bền vững tương đối cao hay ít bị biến đổi trong vài ngàn năm trở lại đây như: địa chất, thủy văn, khí hậu và nguồn đá nguyên liệu
1.1.1 Địa chất, địa hình và cảnh quan môi trường
- Địa chất, địa hình Đông Nam Bộ
Đông Nam Bộ là vùng đất nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa khu vực Nam Tây Nguyên và vùng đất thấp Tây Nam Bộ, có độ cao dao động từ vài chục mét cho đến khoảng hơn 300m, với nhiều dạng địa hình khác nhau về nguồn gốc thành tạo Nhìn đại thể trên toàn vùng, địa hình có độ lượn sóng nhẹ và ít bị chia cắt sâu, thuộc dạng bán bình nguyên Qua hiện trạng phân bậc của địa hình ở Đông Nam Bộ cho thấy trước khi hình thành bề mặt như hiện nay đã có nhiều hoạt động kiến tạo địa chất diễn ra trong quá khứ Về mặt nguồn gốc, theo Lê Bá Thảo (2006) khu vực này ngày nay bao gồm các dạng thành tạo địa chất bắt nguồn từ hoạt động của núi lửa
và bồi tích từ phù sa sông phủ trên khối nền đá granite cổ bị sụt lún [117] (Hình 1.2)
Hoạt động của núi lửa trong quá khứ đã tạo ra các cao nguyên đất đỏ phân bố trên các khu vực phía bắc và đông bắc của Đông Nam Bộ, do dung nham nguội đi
và bị phong hóa Ở phía bắc là các cao nguyên đất đỏ trên địa bàn Lộc Ninh - An Lộc (Bình Phước) chúng có xu hướng trải dài về phía nam cho đến khu vực Phước Hòa, Phước Bình và Phước Vĩnh (Bình Phước) Các cao nguyên này có độ cao dao động từ 100m đến 300m với địa hình bị chia cắt sâu do hoạt động xâm thực, có thể quan sát rõ nét nhất ở Phước Long (Bình Phước) Trong khi đó, ở phía bắc sông Bé
Trang 26địa hình lại khác biệt hẳn, chỉ hơi lượn sóng hay gần như bằng phẳng do ít chịu tác động của quá trình xâm thực Lớp vỏ phong hóa ở vùng này khá sâu, có chỗ lớp đất
đỏ basalt phong hóa phủ dày 15m bên trên lớp đá gốc basalt Ở phía đông bắc của Đông Nam Bộ là vùng cao đất đỏ Gia Kiệm, Xuân Lộc (Đồng Nai) và Đất Đỏ (Bà Rịa - Vũng Tàu) có cao trình khoảng 100m đến 250m, bề mặt uốn lượn nhẹ tạo thành những lưng sóng rộng rãi Đây chính là nơi còn quan sát được một cách tương đối rõ nét dấu vết của hoạt động núi lửa khi xưa với khoảng 110 nón núi lửa ở vùng Long Khánh, lớp đất đỏ do dung nham núi lửa phong hóa ở khu vực này dày khoảng 5m - 10m, thậm chí có nơi như tại Hưng Lộc (Đồng Nai) chỉ đến độ sâu khoảng 0,5m - 1m đã gặp tầng đá gốc basalt
Dạng nguồn gốc thành tạo thứ hai ở Đông Nam Bộ chính là trầm tích phù sa sông, được chia thành hai nhóm: phù sa cổ và phù sa mới Lớp phù sa cổ hay còn được gọi là “dải đất xám” chính là các bậc thềm của sông Cửu Long trước đây, có tuổi thuộc Pleistocen Lớp phù sa cổ này cũng phủ trùm lên nền đá phiến và đá cát kết (tuổi Trias và Jura), có diện tích phân bố rất rộng, trải dài từ Bến Cát đến Chơn Thành, Phước Thành (Bình Dương và Bình Phước) và ở phía bắc tỉnh Tây Ninh lan đến tận khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia Phù sa cổ ở các thềm sông ở khu vực này có hướng phân bố theo hướng tây bắc - đông nam, với địa hình thường gặp là dạng đồi dài hay thung lũng rộng và thoải Phù sa cổ quan sát rõ nhất ở khu vực hạ lưu sông Đồng Nai (Hố Nai, Long Bình - Đồng Nai và Thủ Đức - Tp Hồ Chí Minh), cảnh quan thường gặp là những ngọn đồi cao khoảng 100m thoải và rộng, với xu hướng hạ thấp dần độ cao về phía thành phố Hồ Chí Minh Riêng ở khu vực Biên Hòa và Tây Ninh, các nghiên cứu về địa chất còn tìm thấy không những thềm phù sa
cũ của sông Cửu Long mà còn có cả những thềm phù sa mới nằm phủ lên trên do quá trình bồi tích từ các sông Đồng Nai, Sài Gòn và của các nhánh sông khác thuộc hệ thống các dòng sông này vào giai đoạn địa chất muộn hơn [117]
Ngoài ra, trong địa bàn Đông Nam Bộ còn có một số ngọn núi đá nằm rải rác
mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là dạng "địa hình đá hoa cương trồi kiểu Thái Bình Dương" như: núi Bà Đen (Tây Ninh) cao 986m, núi Bà Rá (Bình Phước) cao 736m,
Trang 27núi Chứa Chan (Đồng Nai) cao 838m, núi Bao Quan (Bà Rịa - Vũng Tàu) cao 516m [117] Theo Địa chí Bình Dương, trên địa bàn tỉnh cũng có dạng địa hình núi sót với diện tích không đáng kể, là các nhọn núi đá thấp với sườn dốc, đỉnh bằng như: núi Ông (cao 284m), núi Tha La (198m), núi Chùa (63m), núi Đất (115m), núi Châu Thới (82m) [123]
tố mùa rất rõ, chúng thường xanh tươi vào mùa mưa và rụng lá vào mùa khô khiến cảnh quan trở nên trơ trụi Trên sông Đồng Nai, ở đoạn trung lưu trở ngược về phía tây là những mảng rừng tre lồ ô rộng lớn với mật độ cây khá dày đặc Những rừng tre dạng này còn phát triển trên một khu vực rộng, kéo dài từ An Lộc (Bình Phước) lên phía biên giới Campuchia, chúng góp phần làm tăng độ ẩm và bổ sung nguồn nước cho hệ thống sông suối trong vùng [117]
Quần thể động vật trong vùng cũng phong phú về giống loài và nhiều về số lượng, ngoài các loài thú dữ, thú hoang dã, còn có các loài hươu nai, bò rừng và thỏ… sinh sống trên môi trường rừng nhiệt đới ẩm dày đặc ở vùng đất Đông Nam Bộ từ hàng ngàn năm trước Các kết quả nghiên cứu về các quần thể động - thực vật trong hiện tại trên vùng đất Đông Nam Bộ cho thấy có độ đa dạng sinh học cao, qua đó cũng góp phần hình dung phần nào môi trường cổ Trong một số di tích khảo cổ được khai quật
đã tìm thấy nhiều di cốt động vật, trên các đoạn xương có các dấu vết cắt hay chặt cho thấy khả năng chúng từng là nguồn thức ăn của các cộng đồng cư dân cổ như tại di tích
Cù Lao Rùa có các loài thú lớn: trâu (trâu rừng?) và cả voi [117], ở di tích Bình Đa gần
đó cũng tìm thấy các loài thú như: min, trâu rừng, bò rừng, heo rừng, hoẵng, hươu nai, voi, tê giác và rùa [76] Trong các di tích ở lưu vực sông Vàm Cỏ (Rạch Núi, An Sơn),
Trang 28phát hiện xương cốt của nhiều loài động vật như: khỉ, chó, mèo, chồn, tê giác, lợn rừng,
hươu nai, cá sấu, kỳ đà, các loài rùa và cá [54], [63] Ở di tích Bưng Bạc phân bố trên
vùng ngập mặn ven biển qua các đợt khai quật đã thu được nhiều di cốt của các loài hươu nai [88] Dù rằng cho đến nay do tình hình khách quan, vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về khảo cổ học môi trường một cách chi tiết để tìm hiểu đầy đủ vai trò của quần thể động thức vật Đông Nam Bộ trong điều kiện sống của các cộng đồng cư dân thời tiền sử nhưng qua các tư liệu khai quật tại một số di tích cũng góp phần phục dựng môi trường sinh thái ổn định với nhiều giống loài động vật được người cổ Đông Nam Bộ sử
dụng làm nguồn thực phẩm
Kết quả nghiên cứu của nhiều ngành đã góp phần phục dựng quần thể động vật thời tiền sử trên khắp các tiểu vùng địa lý, các giống loài động vật có độ đa dạng và nhiều về số lượng ở khu vực Đông Nam Bộ Đây là nguồn thực phẩm quan trọng đã từng được các cộng đồng cư dân tiền sử Đông Nam Bộ khai thác xung quanh môi trường sống của mình Đó cũng chính là những điều kiện thuận lợi cơ bản trong tiến trình tụ cư của các cộng đồng cư dân cổ sinh tồn và phát triển mạnh mẽ trong quá trình từng bước khai phá vùng đất Đông Nam Bộ trong quá khứ vài nghìn năm trước
1.1.2 Hệ thống thủy văn
Khu vực Đông Nam Bộ chịu ảnh hưởng bởi hệ thống sông Đồng Nai gồm nhiều chi lưu, trong đó sông Đồng Nai là dòng chảy chính và được bổ sung nguồn nước từ các phụ lưu quan trọng như: sông La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ ở đoạn hạ lưu gần cửa biển (Hình 1.3), dưới đây là đặc điểm của một số dòng chảy quan trọng trong vùng:
- Sông Đồng Nai: bắt nguồn từ cao nguyên Lang Biang (Lâm Đồng) là một dòng
sông lớn với độ dài 610km gồm các phụ lưu chính được thống kê lên đến 253 sông nhánh và suối, có nhiều đoạn chảy quanh co, lưu lượng nước nhiều, lòng sông ít độ dốc và mở rộng ở hạ lưu nên ít gây tình trạng lũ đột ngột
- Sông Bé: bắt nguồn từ phía tây của khu vực Nam Tây Nguyên, là phụ lưu lớn nhất
bên bờ phải sông Đồng Nai, cung cấp khoảng ¼ tổng lưu lượng nước Từ đầu nguồn đến nơi hợp lưu với sông Đồng Nai dài 344km Ở đoạn thượng lưu sông có
Trang 29nhiều thác ghềnh, độ uốn khúc trung bình, độ rộng bình quân lưu vực khoảng 50km Sông Bé hợp lưu với sông Đồng Nai ở khu vực phía dưới thác Trị An khoảng 6km
- Sông Sài Gòn: có chiều dài 280km, được hợp thành từ hai nhánh sông Sài Gòn và
Sanh Đôi, bắt nguồn từ vùng đồi núi Lộc Ninh, ven biên giới Việt Nam - Campuchia Sông ít độ gấp khúc và có độ dốc nhỏ, do đó bị ảnh hưởng của thủy triều vào nội địa rất sâu
- Sông Vàm Cỏ: là tên gọi chung sau khi hợp lưu của hai sông Vàm Cỏ Đông (dài
283km) và Vàm Cỏ Tây (dài 235km) và đổ vào dòng chính Đồng Nai ở gần cửa Soài Rạp, đoạn hợp lưu có chiều dài 36km Cả hai sông có độ dốc rất nhỏ, vì vậy thủy triều ảnh hưởng rất sâu vào nội địa Nguồn của sông Vàm Cỏ Đông nằm trọn trong phần đất của Đông Nam Bộ, nên được coi là thuộc hệ thống sông Đồng Nai
- Sông La Ngà: bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh - Bảo Lộc với hướng chảy phức
tạp do ảnh hưởng yếu tố của địa hình, có độ dài 210km với lưu vực có dạng lá cây Trên dòng chảy này có các dãy đá ngầm, ghềnh thác, dễ gây lũ quét vào mùa mưa Đây là một trong những nguồn cung cấp nước chính cho sông Đồng Nai
- Sông Lá Buông: bắt nguồn từ cao nguyên An Lộc (Long Khánh) và nhập vào
dòng chảy sông Đồng Nai ở đoạn gần cầu Đồng Nai Dòng chính của sông dài khoảng 52km, ven dòng chảy này thường xảy ra lũ quét ở đoạn thượng nguồn và gây ngập úng vào mùa mưa, nhất là khi kết hợp triều cường
Nhìn chung, dòng chảy sông Đồng Nai tương đối ổn định và không gây nguy hiểm do việc lưu thông đường thủy ngay cả vào mùa mưa cao điểm, tốc độ dòng nước cao nhất vào khoảng 2,54m/s (ở trạm đo Phú Hiệp và Tà Lài) Mùa nước cạn diễn ra trong khoảng thời gian từ tháng 12 của năm trước cho đến tháng 6 năm sau, trùng với mùa khô, trong đó tháng 3 là lúc mực nước sông cạn nhất Giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 10 hằng năm là lúc dòng chảy trên sông Đồng Nai đạt mức lớn nhất, đỉnh lũ thường xuất hiện vào tháng 8 hoặc tháng 9 Ảnh hưởng của thủy triều trên sông Đồng Nai hiện nay còn quan sát được lên đến khu vực chân thác Trị An theo chế độ bán nhật
triều [120]
Trang 30Ở vùng cận biển Bà Rịa - Vũng Tàu là các dòng chảy của sông Dinh, sông Ray và sông Thị Vải Đây là các dòng sông ngắn, được cấp nước bởi hệ thống suối
từ vùng cao đất đỏ và chảy ra cửa biển
- Sông Dinh: bắt nguồn phía bắc Bà Rịa - Vũng Tàu, dài 35km với hai chi lưu
(sông Cỏ May và sông Bà Cội), đổ vào vịnh Gành Rái, chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều và nguồn nước bị nhiễm mặn
- Sông Ray: bắt nguồn từ Xuân Lộc (Đồng Nai) có chiều dài 70km với nguồn nước
bổ sung từ các nhánh suối Dinh, suối Đá, suối Gia Hòa, suối Tầm Bó, suối Lồ Ồ, suối Cát, dòng sông cạn, nhiều thác ghềnh, chỉ có thể đi lại bằng thuyền ở đoạn hạ lưu
- Sông Thị Vải: dài khoảng 60km, nguồn nước ngọt bổ sung rất ít, độ mặn cao
mang tính chất của một vụng biển, là phần ăn sâu vào đất liền của vịnh Gành Rái [100]
Với một hệ thống thuỷ văn như thế của vùng đất Đông Nam Bộ, rõ ràng chúng không chỉ là nguồn cung cấp nước ngọt thiết yếu mà còn đem lại nguồn lợi thủy sản dồi dào giúp cho đời sống cộng đồng cư dân cổ tồn tại và phát triển, đồng thời đó cũng chính là các tuyến giao thông đường thủy an toàn và thuận lợi cho các cộng đồng người cổ trong quá trình giao lưu và trao đổi sản phẩm không chỉ rất quan trọng trong quá khứ mà ngay cả trong thời hiện đại
1.2 Tình hình phát hiện và nghiên cứu liên quan đến xưởng chế tác đá
Như ở phần mở đầu đã trình bày, di chỉ xưởng hay công xưởng chế tác đá là một trong những loại hình di tích quan trọng của khảo cổ học, đặc biệt là trong giai đoạn hậu kỳ đá mới - sơ kỳ đồng thau Đây là nơi người tiền sử dùng các kỹ thuật chế tạo đồ đá đã tích lũy và học hỏi qua nhiều thế hệ, làm nên các công cụ hay đồ trang sức bằng đá, những vật dụng phổ biến trong đời sống thường nhật của cộng đồng
Trong khảo cổ học Việt Nam, xưởng thủ công chế tác đá không phải là một loại hình di tích được phát hiện nhiều và nghiên cứu phổ biến nếu đặt trong mối tương quan với các loại hình di tích khác như các di tích cư trú, kiến trúc hay mộ táng, nhưng chúng lại có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu về hoạt động sản
Trang 31xuất của xã hội tiền sử nói chung và trình độ phát triển văn hóa, kỹ thuật, kinh tế của một văn hóa khảo cổ, một nhóm người, một khu vực cư trú nói riêng Ở Đông Nam Bộ cũng trong tình hình tương tự, về số lượng có thể thấy loại hình di chỉ cư trú hay mộ táng thời tiền sử phân bố dày đặc dọc lưu vực sông Đồng Nai và hai bên
bờ sông Vàm Cỏ Đông nhưng loại hình xưởng chế tác thủ công thì chỉ có số lượng
ít
1.2.1 Phát hiện và công bố tư liệu về di tích
Loại hình xưởng thủ công chế tác công cụ được phát hiện cho đến nay vẫn chưa nhiều ở Việt Nam, phần lớn chúng phân bố ở các tỉnh phía Bắc Trong thập niên gần đây, một số di chỉ khảo cổ học thuộc loại hình này được phát hiện ở khu vực Tây Nguyên Riêng tại khu vực Đông Nam Bộ, số lượng di tích thuộc loại hình này được phát hiện có số lượng ít hơn so với hai khu vực nói trên
Ở các tỉnh phía Bắc, một hệ thống di chỉ xưởng và công xưởng chế tác công cụ
đá thuộc hậu kỳ thời đại đá mới đã được tìm thấy, nhiều di tích đã được khai quật và nghiên cứu khá kỹ, chủ yếu phân bố mang tính tập trung trong những trung tâm cư trú
và sản xuất nông nghiệp trồng lúa nơi đồng bằng ven sông như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Mã (Thanh Hóa) hay vùng đồng bằng sông Cả (Nghệ An - Hà Tĩnh) như: Thọc Kim (Sơn La), Đoan Thượng, Ô Rô, Gò Chơn, Gò Chè, Gò Chùa, Thọ Sơn,
Gò Cháy, Đồng Ba Trăm, Hồng Đà (Phú Thọ), Bãi Tự (Bắc Ninh), Tràng Kênh (Hải Phòng) [18], [20], [29], [32]; ở khu vực Bắc Trung Bộ phát hiện các di tích như Đông Khối, Núi Nuông, Cồn Cấu, Bãi Tê, Mả Chùa (Thanh Hóa), Rú Dầu (Hà Tĩnh) [21]
Trong thập niên 2000, tại khu vực Tây Nguyên đã có hàng loạt các phát hiện thuộc về loại hình xưởng chế tác công cụ đá với các di tích như: Taipêr, Làng Ngol, Đồng Hải và Ia Mơr (Gia Lai), di chỉ Thôn Tám (Đắc Nông), di chỉ Chư K’Tu, Thanh Sơn, Bản Thái (Đắc Lắc); di chỉ Thôn Bốn (1, 2, 3, 4) có phạm vi phân bố gần nhau, như các di chỉ Gan Thi, Hoàn Kiếm, Phúc Hưng (Lâm Đồng) Theo thống kê năm 2009, có đến 20 địa điểm thuộc loại hình này, phân bố trên một vùng rộng lớn từ Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng cho đến Đắc Nông Trong đó có một số di tích đã được
Trang 32khai quật như: Làng Ngol, Taipêr, Ia Mơr (Gia Lai), Chư K’Tu (Đắc Lắc), Thôn Bốn, Hoàn Kiếm, Phúc Hưng (Lâm Đồng), Thôn Tám (Đắc Nông) [115]
Riêng ở khu vực Đông Nam Bộ trước năm 2006, qua các cuộc điều tra, khảo sát khảo cổ học đã phát hiện một số di chỉ vừa mang yếu tố cư trú, vừa có dấu vết của hoạt động chế tác hay tái chế tác công cụ lao động bằng đá như: Cầu Sắt (1976), Hưng Thịnh (1977), Suối Linh (1985), Bưng Bạc (1994), Mỹ Lộc (1977) và Cầu Tám (2002) hay chế tác khuôn đúc như Dốc Chùa (1976), Bưng Thơm (1994) Ngoài ra, do không đủ điều kiện để khai quật nhưng qua các lần khảo sát đã thu được rất nhiều hiện vật cho thấy có thể đây là một công xưởng đó là Đồi Phòng Không (huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) nơi chế tác ra những chiếc vòng trang sức bằng đá với kỹ thuật khoan tách lõi, được phát hiện năm 1985 và khai quật thăm dò vào đầu năm 2017
Công trình mang tính chất tập hợp các thông tin về phát hiện và nghiên cứu trong giai đoạn này về các trung tâm chế tác đá trong thời đại đồng thau Việt Nam của Nguyễn Kim Dung vào giữa thập niên 1990 đã thống kê một cách tương đối đầy đủ các phát hiện và nghiên cứu loại hình di tích chế tác đá trong thời đại đồng thau ở Trung tâm chế tác đồng bằng sông Hồng, Trung tâm chế tác đồng bằng sông
Mã và Trung tâm chế tác đồng bằng sông Đồng Nai [26], [28] Tuy nhiên, do tình
hình tư liệu vào giai đoạn đó nên các di chỉ xưởng chế tác đá ở Đông Nam Bộ chỉ được giới thiệu với các thông tin bước đầu, các nghiên cứu so sánh chỉ tập trung vào loại hình vòng tay được làm ra tại Đồi Phòng Không, là nơi có thể so sánh với các công xưởng đồng dạng phía Bắc đã được phát hiện, khai quật và nghiên cứu
Từ năm 2006 đến 2010, trên địa bàn Đông Nam Bộ với các chương trình điều tra, khảo sát đã phát hiện hàng loạt di tích mới: Hàng Ông Đại (2006), Hàng Ông Đụng (2009) và Hàng Tam Đẳng (2010) Trong các di tích vừa nêu, tác giả luận án đã tham gia trong quá trình khảo sát, thám sát và chủ trì một số cuộc khai quật - xử lý tư liệu và số liệu thống kê Không chỉ ở khu vực Đông Nam Bộ, trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn này cũng đã phát hiện hàng loạt các xưởng chế tác
đá, kéo dài từ Bắc Tây Nguyên đến tận Nam Tây Nguyên và tiếp giáp với khu vực
Trang 33Đông Nam Bộ Các hoạt động khoa học này đã thu thập một nguồn tư liệu phong phú và được khai quật đúng phương pháp đã tạo nên độ tin cậy cao cũng như mức
độ phong phú và đa dạng mà tư liệu này mang lại đủ để tạo nên cơ sở để tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu về loại hình xưởng chế tác đá ở Đông Nam Bộ và có thể thấy tư liệu về loại hình xưởng chế tác đá càng ngày càng được tiếp tục bổ sung một cách tương đối đầy đủ để có thể nghiên cứu so sánh, đối chiếu trên không gian rộng lớn
Tình hình công bố các tư liệu từ các đợt điều tra thám sát và khai quật về lĩnh vực nghiên cứu này có thể nêu ra qua những công bố tiêu biểu có liên quan mật thiết đến luận
án này là các báo cáo khai quật: “Báo cáo khai quật Hàng Ông Đại, Báo cáo khai quật Hàng Ông Đụng” của Bùi Chí Hoàng, Nguyễn Khánh Trung Kiên và cộng sự (2008, 2010); “Báo cáo khai quật di tích Suối Linh” của Phạm Quang Sơn, Bùi Chí Hoàng, Phạm Đức Mạnh (1987) và của Trịnh Sinh và cộng sự (2002); “Báo cáo khai quật di tích Bưng Bạc” của Bùi Chí Hoàng và Phạm Quang Sơn (1986); “Báo cáo khai quật di tích Cầu Sắt” của Hoàng Xuân Chinh, Nguyễn Khắc Sử, Phạm Quang Sơn (1976-1977);
“Báo cáo điều tra di tích Gò Đá (Mỹ Lộc)” của Phạm Đức Mạnh (1977) và “Báo cáo khai quật di tích Mỹ Lộc (Bình Dương)” của Bùi Chí Hoàng, Nguyễn Khánh Trung Kiên
và cộng sự (2006); “Báo cáo sơ bộ kết quả khai quật thăm dò di tích khảo cổ học Đồi Phòng Không (Đồng Nai) của Nguyễn Khánh Trung Kiên và cộng sự (2017) Các công
bố này đã đem lại cho tác giả luận án những tư liệu để so sánh giữa các di tích và các vùng văn hóa khác nhau Ngoài ra, còn có những công bố liên quan trực tiếp hay gần gũi
là tư liệu của các cuộc điều tra và thám sát những di tích thuộc loại hình này ở khu vực
Tây Nguyên - vùng giáp ranh với Đông Nam Bộ như: “Báo cáo khai quật di chỉ-xưởng làng Ngol” của Bùi Văn Liêm, Nguyễn Gia Đối (2004), “Báo cáo khai quật Thôn Tám” của Nguyễn Gia Đối, Lê Hải Đăng (2004), “Báo cáo kết quả khai quật di chỉ xưởng Taipêr” của Nguyễn Khắc Sử (2003), “Di chỉ xưởng Chư K’Tu và hệ thống công xưởng chế tác đá opal ở Tây Nguyên” của Nguyễn Gia Đối, Lê Hải Đăng (2007), “Di chỉ xưởng Thôn Bốn (Lâm Đồng) với vấn đề công xưởng chế tá đá ở Tây Nguyên” của Trần Văn Bảo (2007); “Báo cáo khai quật di chỉ Hoàn Kiếm” Bùi Chí Hoàng, Nguyễn Khánh
Trang 34Trung Kiên (2008) “Báo cáo khai quật di tích Phúc Hưng” của Nguyễn Khánh Trung
Kiên, Lê Hoàng Phong (2009) [2], [6], [34], [35], [51], [68], [77], [111] Dù rằng trong các tư liệu nói trên những người khai quật chỉ mới cung cấp thông tin cơ bản về các cuộc khai quật của từng di tích và những di vật được tìm thấy và ít tiến hành các phân tích chi tiết nhưng đây chính là các nguồn tư liệu gốc và có vai trò rất quan trọng trong luận án này, giúp tác giả luận án có những so sánh căn bản, bước đầu giữa loại hình xưởng chế tác đá trên hai vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ
Những kết quả nghiên cứu về loại hình xưởng thủ công còn được các nhà nghiên cứu công bố một phần trong các công trình khoa học địa phương dưới dạng
sách như: “Khảo cổ học tiền sử Tây Nguyên” của Nguyễn Khắc Sử (2006) và
“Khảo cổ học tiền sử miền Trung - Tây Nguyên” của Nguyễn Khắc Sử và Lê Đình
Phúc (1996) [112], [113] Ở khu vực Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên, tư liệu về các loại hình di tích liên quan đến công xưởng và di chỉ xưởng còn được công bố
trong những công trình như: “Khảo cổ học Bình Dương từ tiền sử đến sơ sử” của Bùi Chí Hoàng, Nguyễn Văn Quốc, Nguyễn Khánh Trung Kiên (2010); “Khảo cổ học Bà Rịa - Vũng Tàu từ tiền sử đến sơ sử” của Bùi Chí Hoàng, Phạm Chí Thân, Nguyễn Khánh Trung Kiên (2012) và “Khảo cổ học tiền sử Lâm Đồng” của Bùi
Chí Hoàng, Phạm Hữu Thọ, Nguyễn Khánh Trung Kiên (2013) [56], [58], [59] Chính từ các công trình nói trên đã đem lại những tư liệu để so sánh đối chiếu trên bình diện khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nguyên cho luận án này
Như vậy, điểm qua tình hình tư liệu về các xưởng chế tác đá ở Tây Nguyên
và Đông Nam Bộ được thám sát, khai quật và nghiên cứu trong thời gian gần đây trên cả loại hình di tích và di vật có sự gia tăng về số lượng nhưng việc khai thác và nghiên cứu còn hạn chế bởi nhiều lý do Hầu hết các bài nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ công bố tư liệu về di tích và phân loại, thống kê số lượng di vật, một số các nghiên cứu có so sánh đối chiếu giữa các di tích nhưng phần lớn chỉ dựa trên phân tích định tính mà thiếu hẳn các số liệu phân tích định lượng
Trong dự án cấp Bộ: “Điều tra cơ bản và hệ thống hóa tư liệu khảo cổ học vùng Nam Bộ (giai đoạn 1976 - 2005)” được thực hiện trong giai đoạn 2006 - 2010,
Trang 35nhóm thực hiện đề tài trong đó có tác giả luận án đã khảo sát và đo đạc các chỉ số quan trọng cho các sưu tập hiện vật khảo cổ tại nhiều di tích ở Đông Nam Bộ bao gồm các loại hình công cụ lao động, khuôn đúc và cả đồ trang sức bằng đá Đây chính là nguồn số liệu quan trọng cho các phân tích chỉ số kích thước và định lượng của luận án này
Qua tư liệu mà tác giả luận án tiếp cận, có thể thấy trong khi các xưởng chế tác đá ở phía Bắc được xử lý và nghiên cứu chuyên sâu, khai thác nhiều vấn đề khoa học công bố ở nhiều cấp độ thì trái lại, ở phía Nam, phần lớn tư liệu chỉ mới dừng lại trong các công bố bước đầu dưới dạng các báo cáo khai quật hay bài viết mang tính giới thiệu về di tích và chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu
về loại hình di tích này ở khu vực Đông Nam Bộ Vì thế, trong luận án này sẽ góp phần tập hợp và hệ thống tư liệu về các phát hiện xưởng thủ công chế tác đá ở Đông Nam Bộ và giải quyết một số vấn đề đặt ra như loại hình sản phẩm, kỹ thuật chế tác
và mối quan hệ giữa các di tích để đặt nền móng cho các nghiên cứu tiếp nối
1.2.2 Các vấn đề nghiên cứu liên quan đến xưởng chế tác đá
Qua các tư liệu khai quật từ các xưởng chế tác đá phát hiện tại các tỉnh phía Bắc trong thập niên từ 1970 - 1990, các nhà khảo cổ đã có những nghiên cứu chuyên sâu như: thực nghiệm kỹ thuật học, thực nghiệm sử dụng công cụ hay nghiên cứu dấu vết sử dụng Nghiên cứu và công bố sớm nhất ở lĩnh vực này về kỹ thuật chế tác đồ trang sức bằng đá của Nguyễn Kim Dung (1975); hay của Trình Năng Chung về kỹ thuật khoan hạt chuỗi thời Phùng Nguyên (1979); của Ngô Thế Phong về kỹ thuật ghè ở di chỉ Đông Khối (1982) với các đặc trưng về phế phẩm và
kỹ thuật ghè được đề cập [9], [98] Tiếp tục theo đuổi hướng đi này và trở thành
một chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu kỹ thuật chế tác đồ trang sức, Nguyễn Kim Dung đã có những công trình nghiên cứu cũng liên quan đến kỹ thuật học như:
“Bước đầu tìm hiểu mũi khoan và kỹ thuật khoan thời cổ” (1985) và công trình
“Hai hình thức chế tác vòng đá ở công xưởng Hồng Đà” (1987) Đó chính là những
nghiên cứu về kỹ thuật chế tác đồ đá của các nhà khảo cổ học Việt Nam tiến hành
Trang 36trong thập niên 1970 - 1980, đặc biệt tập trung chính về kỹ thuật chế tác đồ trang sức
Cách tiếp cận nghiên cứu vừa mang yếu tố kỹ thuật học vừa góp phần xác lập quy trình chế tác công cụ lao động và đồ trang sức bằng đá ở phía bắc còn có những công trình nghiên cứu như của Hà Văn Phùng (1981), trong khi đó ở Đông Nam Bộ, có rất ít nghiên cứu về kỹ thuật chế tác đá thời tiền sử, có chăng chủ yếu chỉ tập trung vào kỹ thuật chế tác đồ trang sức mà cụ thể là loại hình vòng tay phát
hiện tại di tích Đồi Phòng Không và Bưng Bạc [42], [43] Bùi Chí Hoàng cho rằng
kỹ thuật khoan tách lõi tiến bộ và mang lại hiệu suất cao hơn kỹ thuật đục bỏ lõi và
có thể áp dụng cho việc sản xuất hàng loạt sản phẩm cùng quy cách, đánh dấu sự xuất hiện của kinh tế hàng hóa sơ khai Các hiện vật tìm thấy từ phác vật vòng, lõi vòng, mảnh vòng và phế vật đã cho thấy các bước của quy trình chế tác ngoại trừ việc thiếu vắng mũi khoan Cũng theo nhà nghiên cứu này, qua vết khoan để lại trên phác vật có thể hình dung các mũi khoan Bưng Bạc cũng có những nét khác biệt nếu so với mũi khoan tìm thấy tại di tích Tràng Kênh khi to và thô hơn, có đầu không sắc nhọn để chịu lực tác động lớn trong quá trình khoan Khi khảo sát sưu tập hiện vật liên quan đến quy trình chế tác vòng tay bằng đá phiến màu xanh đen ở Đồi Phòng Không, Bùi Chí Hoàng (1988) nhận định cư dân cổ nơi đây đã áp dụng kỹ thuật tương tự các công xưởng phía Bắc là đục - khoan tách lõi (từ một hoặc hai mặt) để chế tác nên những vòng tay Gần đây nhất (năm 2017) khi khai quật tại di tích Đồi Phòng Không, các nhà nghiên cứu đã ghi nhận sự xuất hiện của kỹ thuật khoan ống để tách bỏ lõi bên cạnh việc sử dụng mũi khoan như các công bố trước đây từng đề cập [74] Đây chính là những nguồn tư liệu quan trọng mà luận án này
sẽ kế thừa khi tiến hành nghiên cứu các di tích thuộc loại hình xưởng chế tác đồ trang sức như Đồi Phòng Không và Bưng Bạc
Ngoài ra, các nghiên cứu kỹ thuật học ở loại hình công cụ sản xuất ở Đông Nam Bộ chưa được tiến hành, hiện nay chỉ có các nhận định mang tính khái quát về những kỹ thuật cổ đã được cư dân tiền sử khu vực này sử dụng để chế tác nên những công cụ sản xuất mà thôi Luận án này sẽ tiếp tục góp phần vào công việc phân tích
Trang 37kỹ thuật học dựa trên những kết quả nghiên cứu trước đây và bổ sung những phân tích, khảo sát chi tiết hơn cho các sản phẩm của những xưởng thủ công chế tác đá ở Đông Nam Bộ
- Phương pháp kỹ thuật học, nghiên cứu vết xước và thực nghiệm chế tác
Qua các tư liệu khai quật từ các xưởng chế tác đá phát hiện tại các tỉnh phía Bắc trong thập niên 1970 - 1990, một số nhà khảo cổ đã có những nghiên cứu chuyên sâu như thực nghiệm kỹ thuật học, nghiên cứu dấu vết sử dụng trên công cụ bằng đá dưới kính phóng đại, hay tiến hành làm các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng công cụ nhưng tiếc rằng chỉ mới triển khai với một số ít di tích [17], [22] Các nghiên cứu về kỹ thuật học thời tiền sử cũng chủ yếu tập trung trên hai nhóm di vật phổ biến là công cụ sản xuất, đồ trang sức bằng đá và dụng cụ gia công đồ trang sức là những mũi khoan [15], [16]
Khi phân tích kỹ thuật làm vòng tay bằng đá trong các công xưởng phía Bắc,
Võ Quý (1976) đã đưa ra nhiều kỹ thuật được cư dân cổ áp dụng như: ghè đẽo và cưa
để làm hạch đá hình đĩa; kỹ thuật khoan - tiện - đục để tạo phác vật vòng và sau cùng là
kỹ thuật mài để hoàn thiện sản phẩm [101] Các kỹ thuật này để lại những dấu vết nhận dạng riêng trên các sản phẩm của từng công đoạn chế tác Ông cũng cho rằng kỹ thuật cưa trong gia công bước đầu góp phần đẩy nhanh tiến độ nhưng việc áp dụng kỹ thuật này tùy từng vùng và thói quen của người thợ thủ công quyết định Ngược lại với nhận định trên, Nguyễn Kim Dung cho rằng việc lựa chọn kỹ thuật chế tác là ghè đẽo hay cưa phụ thuộc đặc tính của nguyên liệu và “giá trị” của nó để đạt mục đích cuối cùng là sản phẩm làm ra tiết kiệm nguyên liệu hơn [18] Trong các công bố trước đây cho thấy trên các hiện vật đá ở Đông Nam Bộ, hầu như chưa nhận thấy dấu vết của kỹ thuật cưa
mà chỉ ghi nhận phổ biến các kỹ thuật ghè đẽo và mài Riêng đối với kỹ thuật mài, cũng có nhà nghiên cứu đánh giá các di tích tiền sử phía Nam sử dụng “hạn chế hơn phía Bắc” do họ đã áp dụng thuần thục kỹ thuật ghè [30] Qua tư liệu hiện nay, có thể thấy cư dân Đông Nam Bộ thời tiền sử đã biết đến kỹ thuật mài và đã trau chuốt sản phẩm của mình khá kỹ lưỡng, đặc biệt là các di tích có niên đại sớm hơn 3.500 năm cách ngày nay Tuy nhiên, từ khoảng 3.500 - 3.000 năm cách ngày nay, việc mài hoàn
Trang 38thiện các công cụ bằng đá vùng này chỉ tập trung nơi rìa lưỡi, các phần còn lại thường không được chú ý Phải chăng do nhu cầu sử dụng công cụ lao động tăng cao vào thời gian này hay do áp lực gia tăng dân số nên tính thực dụng của công cụ được chú trọng hơn yếu tố thẩm mỹ?
Do vậy, trong luận án này sẽ chú ý hơn về việc có hay không việc áp dụng kỹ thuật cưa qua dấu vết để lại trên hiện vật đá ở các xưởng chế tác đá thời tiền sử ở Đông Nam Bộ Một ý kiến khác của Hà Văn Phùng (1981) trong nghiên cứu về các công xưởng chế tác đồ trang sức và công cụ sản xuất ở các tỉnh phía Bắc cho rằng trên các phác vật và mảnh tước công cụ có dấu vết của kỹ thuật cưa nhưng thao tác này chỉ để đánh dấu giới hạn ghè chứ không phải dùng để tạo ra hàng loạt sản phẩm như một số nhà nghiên cứu khác nhận định [99]
Nghiên cứu vết sử dụng trên công cụ cũng được Nguyễn Kim Dung tiến hành với các công cụ hang Xóm Trại [27], qua phân tích vết mòn đã cho thấy “sự đa năng của công cụ và khả năng sử dụng của công cụ trên đối tượng thực vật” Cũng với cùng nghiên cứu trên trong một công bố khác của Trần Đình Nhân và Nguyễn Kim Dung (1993) với các công cụ đá ở di tích hang Xóm Trại được quan sát và chụp ảnh dưới kính hiển vi góp phần phân định chức năng Theo các tác giả nói trên, việc chụp ảnh vết xước giúp cung cấp tư liệu khách quan cho các nhà nghiên cứu khi cần so sánh hay kiểm chứng và đồng thời với 5 hiện vật được định danh là rìu nhưng khi phân tích vết xước lại cho thấy chỉ có 4 chiếc có rìa lưỡi mang vết xước đặc trưng của thao tác chặt trong khi chiếc còn lại mang dấu vết đặc trưng của vết bổ hay cuốc [95] Kết quả này dù được thực hiện trên các hiện vật có niên đại sớm hơn so với phạm vi nghiên cứu của luận án này nhưng cho thấy việc xác định chức năng của hiện vật qua phương pháp loại hình học và chức năng thực tế của chúng đôi khi có những sai lệch nhất định Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án này, việc áp dụng phương pháp quan sát vết xước chỉ mang tính tham khảo và gợi mở cho hướng nghiên cứu về sau
Ngô Sỹ Hồng đã tiến hành nghiên cứu vết xước trên công cụ đá ở di tích Đồng Ngầm và Gò Mả Hờ bằng kính hiển vi, theo công bố các vết xước do sử dụng ít gặp hơn vết xước do quá trình chế tác để lại Trên công cụ chặt thường gặp các đường
Trang 39xước trên thân và vết mẻ ở rìa lưỡi, vết xước trên thân thường có hướng xiên 450 -
600, cách rìa lưỡi khoảng 1 - 1,5cm với hướng xước ở hai mặt không trùng nhau Đối với các công cụ làm đất, vết xước trên cuốc thường là “những đường nhỏ song song hướng từ đầu lưỡi lên phía đốc” và trên rìa lưỡi thường có các vết mẻ Các công cụ gặt ghi nhận có các “rãnh siết bị mòn đều” với “hướng ổn định sắc, vuông góc với rìa lưỡi” Ông cũng cho rằng “phương pháp này có những ưu việt nhưng vẫn chưa đủ tư liệu để xác định vết xước của nhiều hiện vật chức năng khác nhau” [67]
Một trong những hướng nghiên cứu quan trọng là thực nghiệm chế tác công
cụ đá dùng trong nông nghiệp đã được Nguyễn Kim Dung thực hiện với 19 công cụ
đá được chế tạo qua các công đoạn ghè - cưa - mài Theo công bố nói trên, việc ghè tạo hình phác vật tiêu tốn 255 phút và tách ra 15 mảnh tước to cùng với 32 mảnh tước nhỏ Quá trình mài các công cụ cũng chiếm nhiều thời gian với 19 giờ 40 phút cho việc mài hoàn thiện một chiếc cuốc bằng loại đá cứng và chiếc cuốc khác bằng
sa thạch hạt mịn mất 65 phút cho việc tạo dáng cùng với 4 giờ 15 phút cho việc mài thân và lưỡi (trong đó việc mài lưỡi tiêu tốn 95 phút) Trong nghiên cứu này, các tác giả cũng thực nghiệm chế tác một chiếc liềm làm từ mảnh tước đã có hình dáng thuận lợi bằng kỹ thuật mài và tiêu tốn mất 10 giờ 43 phút cho việc hoàn thiện, các công cụ này sau đó được các tác giả thực nghiệm sử dụng và cho thấy rất hiệu quả [24] Dù rằng quá trình thực nghiệm chế tác đã sử dụng các bàn mài khác chất liệu
so với các phát hiện trong di tích khiến năng suất không cao nhưng qua các thông tin của quá trình thực nghiệm cũng giúp các nghiên cứu về sau, đặc biệt là luận án này có những con số định lượng cơ bản về việc chế tác đá như số lượng mảnh vỡ có được sau khi ghè hoàn chỉnh phác vật hay tổng số thời gian tiêu tốn để mài hoàn thiện sản phẩm Từ những định lượng bước đầu này, các nghiên cứu tiếp nối có thể nội suy kết quả để hình dung sản phẩm được chế tác từ những “đống phế liệu” trong các xưởng thủ công hay giá trị lao động mà người thợ thủ công thời tiền sử đã làm
ra
- Nghiên cứu thạch học dưới kính hiển vi phân cực
Trang 40Một trong những vấn đề nan giải trong các nghiên cứu về xưởng chế tác đồ đá
và sự lan tỏa của sản phẩm làm ra tại đó chính là nguồn nguyên liệu Có một số nghiên cứu đã ứng dụng kết quả phân tích thạch học bằng phương pháp quan sát lát mỏng dưới kính hiển vi phân cực để góp phần giải quyết vấn đề nguồn gốc nguyên liệu chế tác hiện vật khảo cổ cũng đã được thực hiện trong các di tích ở miền Bắc và Đông Nam
Bộ
Theo Trần Đạt (1986), các nghiên cứu thạch học (bằng phương pháp quang học tinh thể) có thể cho phép xác định được “nguồn gốc và nơi sản xuất các di vật đá” khi so sánh với nguồn dữ liệu của địa chất học [33] Phương pháp này được áp dụng
là cần thiết, tuy nhiên số lượng mẫu sử dụng trong các phân tích thường chưa đủ nhiều để mang tính đại diện cho từng di tích, từng loại hình di vật (do nhiều hạn chế khách quan) Một số mẫu thạch học tại các di chỉ và công xưởng ở miền Bắc được phân tích cho thấy có sự đa dạng về chất liệu đá trong cùng một văn hóa khảo cổ, tại các công xưởng ghi nhận giữa cuốc và rìu cũng có khác biệt về chất liệu đá [25] Trong công bố này cho thấy qua phân tích thạch học có sự khác biệt chất liệu giữa những loại đá thoạt nhìn bên ngoài rất giống nhau về màu sắc và độ hạt
Trong công trình của Phạm Đức Mạnh (2009), có 309 mẫu thạch học được phân tích dưới kính hiển vi phân cực trong đó có 240 mẫu từ các di tích tiền sử và
sơ sử [93], các mẫu này được thu thập tại nhiều loại hình di tích cư trú, cư trú - xưởng và đã được phân tích bởi các phòng thí nghiệm chuyên ngành sẽ là cơ sở dữ liệu quan trọng và cần thiết cho các nghiên cứu tiếp theo Đây là một nguồn tư liệu quan trọng cho luận án, bởi các kết quả phân tích mẫu được công bố hoàn toàn tương thích (về mặt phương pháp và nơi phân tích) với các mẫu mà luận án này sử dụng
Tác giả luận án đã chọn lựa 130 mẫu thạch học phù hợp với không gian nghiên cứu từ công bố của Phạm Đức Mạnh để kế thừa và tiếp tục nghiên cứu Trong luận án này, tác giả cũng áp dụng phương pháp phân tích thạch học quan sát dưới kính hiển vi phân cực cho các mẫu vật ở các xưởng chế tác đá (hơn 200 mẫu) và các mẫu vật thu được trong các di chỉ cư trú để thông qua thành phần chất liệu, kết hợp với nhiều thông