1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số ảnh hưởng của chính sách đất nông nghiệp đến phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam

48 1,1K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Ảnh Hưởng Của Chính Sách Đất Nông Nghiệp Đến Phát Triển Nông Nghiệp Nông Thôn Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Cẩm Nhung
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số ảnh hưởng của chính sách đất nông nghiệp đến phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một nước đang phát triển, đi lên từ nông nghiệp nông thôn vàđang từng bước công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế của mình Chính vì vậy,ngành nông nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, gópphần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua các sản phẩm xuất khẩu và sự ổn định

về an ninh luơng thực trong nước và góp phần bảo tồn môi trường sinh thái trên thếgiới Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, quyết định tính đadạng, quy mô và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp Trong thời đại hiện nay, đấtdành cho nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp lại do sự gia tăng dân số, sự pháttriển của các ngành công nghiệp và yêu cầu mở rộng, tu bổ cơ sở hạ tầng cho đấtnước Chính vì vậy việc quản lý và phân bổ sử dụng đất hiệu quả đang trở thànhmục tiêu trọng yếu của tất cả các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng Chính

vì thế, từ khi giành được độc lập đến nay, chính sách đất đai luôn giữ một vị tríquan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng và nhà nước ta Đặc biệt, nước tacòn có hơn 70% dân số sống ở nông thôn nên chính sách đất đai còn mang ý nghĩa

về chính trị xã hôi

Cho đến trước những năm 1980, nông nghiệp Việt Nam ở trong thời kỳ baocấp và tập thể hóa Hầu hết đất đai được sở hữu bởi tập thể (sử dụng trong các hợptác xã) và chỉ có khoảng 5% sở hữu bởi các hộ gia đình Hệ thống sở hữu này dẫnđến sự suy giảm trong sản xuất lúa gạo và gây ra thiếu hụt lương thực một cáchnghiêm trọng Những chính sách mới kể từ năm 1981, đánh dấu bước chuyển hóa từ

cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, mang lại những hiệu quả đáng kểcho nông nghiệp Việt Nam Việt Nam không những ổn định an ninh lương thực màcòn trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới

Bên cạnh những hiệu quả đáng kể, chính sách đất nông nghiệp vẫn còn nhiềuvấn đề cần phải xem xét một cách thấu đáo hơn Đặc biệt là từ khi đổi mới quản lýkinh tế đến nay, việc nhà nước can thiệp vào việc phân bổ và sử dụng đất nôngnghiệp cho phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cònnhiều lúng túng Trên thực tế đã nảy sinh nhiều hiện tượng phức tạp ảnh hưởng đếnnăng suất và sự phát triển của nền nông nghiệp như là nông dân mất đất, phản đốichính sách đền bù giải phóng mặt bằng của nhà nước, thị trường quyền sử dụng đất

Trang 2

hoạt động không hiệu quả Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã và đang nỗ lực đổi mớichính sách đất nông nghiệp thông qua Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm

2003, nhưng cho đến nay chính sách đất đai vẫn còn nhiều nội dung cần phải hoànthiện

Từ những thực tiễn trên, chuyên đề “Một số ảnh hưởng của chính sách đấtnông nghiệp đến phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam” đưa ra những thôngtin về tài nguyên đất nông nghiệp, tổng hợp những nghiên cứu đánh giá những ảnhhưởng và tồn tại của một số chính sách đất nông nghiệp đã được ban hành, từ đónêu ra một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện chính sách Do hạn chế về thời gian

và bản thân đối tượng nghiên cứu trải rộng cả về không gian lẫn thời gian nênphương pháp nghiên cứu chủ yếu của chuyên đề là tổng hợp tư liệu từ các côngtrình đã có về lĩnh vực này kết hợp phân tích chính sách của Đảng và nhà nước trênlập trường phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tổng quan về nông nghiệp, đất đai vàchính sách đất đai ở Việt Nam Tuy nhiên, nội dung chủ yếu vẫn là thực trạng củamột số chính sách đất đai từ khi đổi mới đến nay và ảnh hưởng cúa các chính sách

đó đến đời sống của nông dân và sự phát triển của nông nghiệp nông thôn Việt Nam

từ đó đưa ra những giải pháp kiến nghị chính sách

Do hạn chế về thời gian và bản thân đối tượng nghiên cứu trải rộng cả vềkhông gian lẫn thời gian nên phương pháp nghiên cứu chủ yếu của chuyên đề làtổng hợp tư liệu từ các công trình đã có về lĩnh vực này kết hợp phân tích chínhsách của Đảng và nhà nước trên lập trường phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa

3 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của chuyên đề được thể hiệntrong ba phần.Phần I nêu tổng quan về nông nghiệp, tài nguyên đất đai và chínhsách đất đai ở Việt Nam Phần II nêu ảnh hưởng của một số chính sách đất đai đếnphát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam Phần III đề xuất các quan điểm và giảipháp tiếp tục đổi mới chính sách đất đai ở Việt Nam trong thời gian tới

Trang 3

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ NÔNG NGHIỆP, ĐẤT ĐAI VÀ

CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM

I Một số khái niệm

1 Nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai đểtrồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệulao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên vật liệu chocông nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn bao gồm nhiều chuyên ngành:trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp

Nông nghiệp chuyên sâu là lĩnh vực nông nghiệp được chuyên môn hóatrong tất cả các khâu của quá trình sản xuất bao gồm sử dụng máy móc trong trồngtrọt, chăn nuôi hoặc trong chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu

có đầu vào rất lớn bao gồm việc sử dụng các hóa chất tiêu diệt sâu bệnh và cỏ dại;nghiên cứu lai tạo giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phầm đầu ra chủ yếuphục vụ cho mục đích thương mại hay xuất khẩu Đây chính là mục tiêu lâu dài chongành nông nghiệp nước ta

2 Đất đai

Đất theo nghĩa thông thường nhất là phần mỏng nằm trên bề mặt của TráiĐất mà không bị nước bao phủ Trong kinh tế học, đất bao gồm các tài nguyên cónguồn gốc tự nhiên, chẳng hạn như vị trí địa lí của khu vực đất đai, các tài nguyên

Trang 4

khoáng sản dưới lòng đất, và thậm chí các thành phần của phổ điện tử Trong kinh

tế học cổ điển, nó được coi là một trong các yếu tố sản xuất, các yếu tố khác như là

tư bản và sức lao động

Vì đất không được sinh ra, thị trường đất đai phản ứng đối với việc đánh thuếkhác hẳn so với thị trường lao động và thị trường hàng hóa do con người sản xuất

ra Thuế giá trị đất hoàn thiện một cách lý tưởng có thể không ảnh hưởng tới chi phí

cơ hội trong việc sử dụng đất, thay vì thế nó có thể làm giảm giá trị của quyền sởhữu đất hợp pháp

Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, Quỹ đất nôngnghiệp của Việt Nam không lớn, mức ruộng đất bình quân đầu người thấp, bị phânchia manh mún v.v… Để nâng cao hiệu quả sử dụng ruộng đất cần phải tiến hànhđánh giá đất đai theo số lượng, chất lượng và các chính sách quản lý sử dụng đất đaimột cách có hiệu quả

3 Chính sách đất đai

Có nhiều quan niệm về khái niệm “chính sách” Một nghiên cứu của Đại họcKinh tế Quốc dân cho rằng: “chính sách là hệ thống quan điểm, chủ trương, biệnpháp và quản lý được thể chế hóa bằng pháp luật của nhà nước để giái quyết cácvấn đề kinh tế xã hội của đất nước” Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính:

“chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể đạt được mục đích nhất định dựa vàđường lối chính trị chung và tình hình thực tế Những quan niệm trên đề cập đếnkhái niệm chính sách theo nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng cơ bản nhất thì phạmtrù chính sách phải làm rõ: nó là cái gì, ai là người tạo ra nó, nó tác động đến ai, đếncái gì Và từ đó có thể hiểu rằng: Chính sách là tập hợp các chủ trương và hànhđộng về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu và chính phủmuốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó Những mục tiêu này baogồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môitrường

Trên cơ sở quan niệm như vậy, chính sách đất đai trong nông nghiệp nôngthôn là tổng thể quan điểm, chủ trương, đường lối, phương pháp và công cụ mà nhànước sử dụng để tác động vào lĩnh vực đất nông nghiệp nhằm thực hiện các mụctiêu mà nhà nước mong muốn

II Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

Trang 5

Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp Nókhông chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà là tổng hợp các ngành kinh tế - sinhhọc – kĩ thuật Hiểu theo nghĩa hẹp thì nông nghiệp bao gồm các ngành trồng trọt,chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp (dịch vụ cung cấp giống, dịch vụ tàichính…) Hiểu theo nghĩa rộng thì nông nghiệp còn bao gồm những ngành nôngnghiệp đơn thuần, lâm nghiệp và thủy sản (thường được hiểu theo nghĩa rộng nông– lâm – ngư)

Sản xuất nông nghiệp không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho conngười, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêudùng và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm mà còn sản xuất ra những mặthàng có giá trị xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ Hiện tại cũng như trongtương lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hộiloài người, không ngành nào có thể thay thế được Trên 40% số lao động trên thếgiới đang tham gia vào hoạt động nông nghiệp Đảm bảo an ninh lương thực là mụctiêu phấn đấu của mỗi quốc gia, góp phần ổn định chính trị, phát triển nền kinh tế

1 Ngành nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho con người

Sản xuất nông nghiệp nhằm đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và ổn địnhđời sống kinh tế xã hội của đất nước.Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản,giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết các nước trên thế giới, nhất

là ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng Ở Việt Nam hơn70% dân số sống bằng nghề nông nghiệp (theo số liệu của Tổng cục thống kê số laođộng làm trong ngành nông nghiệp và lâm nghiệp là 21,950.4 và ngành thủy sản là1684.3 trên 4,4915.8 lao động đang làm việc tại thời điểm 1\7\2008- chiếm khoảng52% số lao động cả nước), đóng góp 326,505 tỷ đồng vào tống sản phẩm trongnước theo giá thực tế năm 2008 (1,477,717 tỷ đồng)

2 Ngành nông nghiệp cung cấp yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực đô thị

Theo xu hướng có tính quy luật của mọi quốc gia trong quá trình côngnghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nông nghiêp là nơi cung cấp các yếu tố đầu vàonhư lao động và các nguyên vật liệu cho công nghiệp và thủ công nghiệp Tronggiai đoạn đầu của công nghiệp hóa, phần lớn dân cư và lao động sống bằng nôngnghiệp và tập trung sinh sống chủ yếu tại nông thôn Vì vậy, nông thôn là nơi dự trữ

Trang 6

nguồn nhân lực dồi dào cho đô thị và các ngành công nghiệp Quá trình công nghiệphóa hiện đại hóa, đô thị hóa phát triển một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặtkhác làm cho năng suất lao động của nông nghiệp và lao động xã hội tăng nhanh.Lực lượng lao động được giải phóng nhiều bổ sung cho công nghiệp và đô thị.

Nông nghiệp còn là ngành sản xuất là cung cấp nguyên liệu cho công nghiệpđặc biệt là công nghiệp chế biến Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, sảnphẩm nông nghiệp của nước ta phải qua chế biến mới có thể cạnh tranh trên thịtrường quốc tế

Nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế trong

đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu vào công nghiệp hóa Vì đây là khu vựclớn nhất xét về mặt lao động và sản phẩm quốc dân Vốn được tạo ra từ nhiềunguồn như tiết kiệm của nhân dân vào việc phát triển ngành phi nông nghiệp, thuếnông nghiệp, nguồn thu ngoại tệ thông qua xuất khẩu nông sản nhằm đáp ứng yêucầu rất quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

3 Nông nghiệp và nông thôn còn là thị trường tiêu thị sản phẩm rộng lớn của công nghiệp và dịch vụ

Thị trường nông thôn nước ta rất rộng lớn chiếm tới 80% dân số cả nước,nhưng còn đang ở dạng tiềm năng Chính vì vậy mà sản phẩm công nghiệp bao gồm

tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ trước hết từ thị trường nông thôn

Sự thay đổi trong cầu của khu vực nông nghiệp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức sảnxuất của khu vực phi nông nghiệp Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thunhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm nhucầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nângcao chất lượng sản phẩm của nông nghiệp và cạnh tranh với thế giới

4 Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu

Xã hội ngày càng phát triển, đời sống của cong người ngày càng được nângcao thì nhu cầu về các sản phẩm thiết yếu cũng ngày càng tăng về số lượng và chấtlượng đặc biệt là các loại lương thực, thực phẩm Nông nghiệp được coi là ngànhđem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn Các loại nông lâm thủy sản dễ ra nhập thịtrường quốc tế hơn là hàng công nghiệp Vì thế ở các nước đang phát triển, nguồnxuất khẩu để có ngoại tệ dựa vào nông nghiệp là chủ yếu Xu hướng chung là cácnước trong quá trình công nghiệp hóa, ở giai đoạn đầu giá trị xuất khẩu nông lâm

Trang 7

thủy sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu sau đó sẽ giảm dần do

sự phát triển của nền kinh tế

Bảng 1 Tỷ trọng của kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp trên tổng

kim ngạch xuất khẩu của cả nước (tỷ USD)

Năm Kim ngạch XK nông nghiệp Kim ngạch XK cả nước

5 Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường

Một trong những mục tiêu cơ bản của phát triển kinh tế bền vững là đảm bảocân bằng ba yếu tố kinh tế - xã hội – môi trường Các nhân tố tự nhiên là tiền đề cơbản ảnh hưởng đến phát triển và phân bố nông nghiệp Do đó, nông nghiệp và nôngthôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường vì sảnxuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trường tự nhiên: đất đai, khí hậu, thờitiết, thủy văn Nông nghiệp sử dụng nhiều hóa chất như phân bón hóa học, thuốc trừsâu bệnh… làm ô nhiễm đất và nguồn nước Dư lượng độc tố trong sản phẩm tăngảnh hưởng đến sức khỏe của cong người Nếu rừng bị tàn phá, đất đai sẽ bị xóimòn, thời tiết khí hậu, thủy văn thay đổi xấu sẽ đe dọa đời sống của con người Quátrình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang

mở rộng diện tích đất rừng… Vì thế, trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệpcần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững củamôi trường

Trang 8

III Vai trò và đặc điểm của tài nguyên đất đai

Tốc độ tăng trưởng và phát triển nông nghiệp trước hết phụ thuộc vào sốlượng và chất lượng các yếu tố nguồn lực được huy động vào sản xuất nông nghiệp

Có rất nhiều yếu tố nguồn lực ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp bao gồm nhómyếu tố về kinh tế xã hội và yếu tố tự nhiên như đất đai, khí hậu, thời tiết … trong đóđất đai đóng vai trò tiên quyết, là cơ sở đầu tiên để tiến hành các hoạt động trồngtrọt chăn nuôi Quỹ đất, tính chất đất và độ phì của đất có ảnh hưởng đến quy mô,

cơ cấu, năng suất và sự phân bố cây trồng, vật nuôi Đất nào, cây ấy Kinh nghiệmdân gian đã chỉ rõ vai trò của đất đối với sự phát triển và phân bố nông nghiệp

Đất đai nói chung là cơ sở của tự nhiên có trước cả lao động và là điều kiệncủa của lao động vì thế về mặt sở hữu nó đương nhiên là tài sản quốc gia và thuộc

sở hữu toàn dân, tham gia vào mọi quá trình sản xuất, trờ thành tư liệu sản xuấtchung của mọi ngành, tham gia vào mọi ngành

Nguồn lực đất đai rất có hạn, trong điều kiện nước ta, mức diện tích tự nhiêntheo đầu người thấp hơn thế giới 6 lần (0,55ha/3,36ha) xếp vào hàng thứ 135, thuộcnhóm các nước có bình quân đất đai thấp nhất thế giới Trong đó bình quân đấtnông nghiệp nước ta đạt 0,1ha/người, bằng 1\3 mức bình quân thế giới Đất thamgia và sản xuất nông nghiệp được gọi là ruộng đất hay đất nông nghiệp, với tư cáchkhông chỉ là yếu tố sản xuất thông thường mà còn là yếu tố sản xuất tích cực và là

tư liệu sản xuất không thể thay thế được vì:

- Ruộng đất là sản phẩm của tự nhiên có trước lao động và là điều kiện củalao động nhưng cũng là sản phẩm lao động của con người

-Ruộng đất vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động và chính sự kếthợp giữa đối tượng lao động và tư liệu lao động đã làm cho ruộng đất trở thành tưliệu lao động chủ yếu không thể thay thế được Nó vừa là địa bàn để bố trí sản xuấtvừa là nơi dự trữ và cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết để phát triển cây trồng vàvật nuôi phát triển thông qua độ phì của đất

Khác với các tư liệu sản xuất khác, ruộng đất – tư liệu sản xuất chủ yếu trongnông nghiệp có những đặc điểm như sau:

- Ruộng đất vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động Khicon người khai phá đất để đưa vào sản xuất thì quá trình đó biến đất từ không tốt

Trang 9

thành tốt, từ sản phẩm ít thành nhiều sản phẩm Từ đó ruộng đất trở thành sản phẩmcủa con người.

- Ruộng đất có giới hạn về mặt diện tích nhưng sức sản xuất là không có giớihạn Số lượng diện tích đất đưa vào sử dụng chỉ có giới hạn tuyệt đối và giới hạntương đối Bởi không phải mọi loại đất đai đều được đưa vào sản xuất nông nghiệp

Ở nước ta diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 28% tổng diện tích đất tự nhiên

và có xu hướng ngày càng giảm

- Ruộng đất có vị trí cố định và không đồng đều gắn với đặc điểm tự nhiênkinh tế xã hội từng vùng, từng địa phương nên có chất lượng khác nhau ở mỗi nơi

- Ruộng đất là tư liệu sản xuất không bị hao mòn và đào thải trong quá trìnhsản xuất, nếu được sử dụng hợp lí thì càng ngày càng tốt lên Các tư liệu sản xuấtkhác trong quá trình sản xuất đều bị hao mòn và phải thau thế nhưng đất đai nếubiết sử dụng hợp lí thì còn mang lại nhiều sản phẩm hơn Tuy vậy sử dụng đất đaihợp lí còn phụ thuộc nhiều yếu tố như trình độ tổ chức sản xuất, trình độ khoa học

kĩ thuật và các chính sách của chính phủ về ruộng đất

IV Tổng quan về chính sách đất đai ở Việt Nam

1 Khái niệm và đặc điểm của chính sách đất đai trong phát triển nông nghiệp nông thôn

a Khái niệm

Chính sách đất đai là một bộ phận trong hệ thống chính sách phát triển nôngnghiệp, nông thôn Đất đai với những đặc điểm về nguồn gốc hình thành, về vai tròtrong các hoạt động kinh tế xã hội đòi hỏi những yêu cầu về sử dụng khác vớinhững yếu tố kinh tế khác Từ những đặc điểm của yếu tố đất đai đã nêu trên đòi hỏiphải có những chính sách can thiệp phù hợp với những quy luật vận động đất đai

Từ những điểm cơ bản trên có thể hiểu chính sách đất đai trong nông nghiệp nôngthôn là tổng thể các biện pháp kinh tế và phi kinh tế của nhà nước tác động đến quátrình vận động của đất đai và tạo các môi trường cho đất đai vận động nhằm khaithác đất đai một cách hợp lí và có hiệu quả, gắn khai thác sử dụng với bảo vệ, nângcao chất lượng đất đai phục vụ cho sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp và pháttriển kinh tế nông thôn, với những điều kiện nhất định và trong những thời hạn nhấtđịnh

Trang 10

Như vậy chính sách đất đai khác với các chính sách khác của nông nghiệp,nông thôn ở chỗ đối tượng mà nó tác động và mục đích của sự tác động đó Khôngthể hiểu đối tượng tác động của chính sách đất đai chỉ đơn thuần là đất đai mà phải

cụ thể và trực diện hơn là sự vận động của yếu tố đất đai trong quá trình tham giavào các hoạt động kinh tế xã hội Sự vận động đó có quy luật nhất định, con nhừngmuốn sử dụng đất có hiệu quả phải tuân theo

b Đặc điểm:

Chính sách đất đai khác với những chính sách khác của nông nghiệp và nôngthôn do dối tượng mà nó tác động và mục đích của những tác động đó Chính sáchđất đai trong nông nghiệp có ba đặc điểm lớn:

 Chính sách đất đai tác động đến một loại tư liệu sản xuất đặc biệt trong nôngnghiệp là đất đai Tài nguyên đất đai mang đặc trưng là có giới hạn, cố định theovùng, chịu ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết, khí hậu và có độ phì khác nhau Vìvậy chính sách đất nông nghiệp phải được thiết kế phù hợp với các đặc tính của cácloại đất theo từng vùng

 Chính sách đất đai liên quan đến vấn đề nông dân, dân tộc và truyềnthốnglịch sử Quan hệ đất đai đã có từ lâu đời và tồn tại dưới nhiều hình thức khácnhau tùy theo trình độ phát triển của từng quốc gia Chính sách đất đai hiện đại phảihóa giải các quan hệ ruộng đất sẵn có theo chế độ kinh tế - xã hội mà nhà nước xâydựng Đồng thời chính sách đất đai cũng liên quan đến thái độ chính trị, văn hóa củanông dân và sự ủng hộ của họ đối với nhà nước

 Chính sách đất đai liên quan đến đất đai với tư cách là hàng hóa đặc biệt.Bản thân thị trường đất đai đã có đặc tính không hoàn hảo do nhiều nguyên nhânnhư cung đất nhìn chung cố định, giá trị sử dụng đất không mất đi mà còn có thểtăng lên nếu sử dụng và đầu tư đúng cách Ở Việt Nam, chỉ có quyền sử dụng đấtmới là hàng hóa

Tóm lại, chính sách đất đai trong nông nghiệp vừa mang tính chất đặc thùcủa chính sách công tác động đến nguồn lực quan trọng nhất của sự sống và pháttriển đồng thời mang tính giai cấp chính trị và xã hội sâu sắc

Trang 11

2 Vai trò của chính sách đất đai

Ở Việt Nam, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỉ trọng thấp ( khoảng 20%diện tích đất tự nhiên của cả nước) Trong những năm gần đây, do quá trình đô thịhóa, đất nông nghiệp có xu hướng giảm trừ các tỉnh miền núi phía Bắc và TâyNguyên

Bảng 2.Tình hình sử dụng đất từ 1996 -2005

1996 – 2000

Giai đoạn 2001– 2005

Giai đoạn

2006 – 2010( dự kiến)

1 Tổng số đất nông, lâm nghiệp chuyển

sang đất chuyên dùng và đất ở (hecta)

Nguồn: Phòng tài nguyên đất – Cục quản lý công sản, H, 2006

Tình hình trên diễn ra trong khi quy mô dân số cả nước tiếp tục tăng, nhất là

ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.Vì vậy đất nông nghiệp bình quân trên dân sốnông nghiệp đã ở mức thấp lại có xu hướng giảm ở tất cả các vùng tính trên phạm vi

cả nước Trong giai đoạn 1996 – 2000 có hơn 42 nghìn ha đất nông nghiệp chuyểnđổi sang đất chuyên dụng và nhà ở, nhưng đến giai đoạn 2000 – 2005 con số đã lêntới 138 nghìn ha gấp 3 lần so với thời kỳ trước Và con số ước tính tiếp tục tăng đến

331 nghìn ha Đây là một tình trạng đáng báo động cho nông nghiệp nông thônnước ta

Bắt đầu từ thời kỳ trước Đổi mới, hầu hết đất nông nghiệp đều thuộc quyền

sở hữu của tập thể như hợp tác xã và các doanh nghiệp thuộc nhà nước Chính sáchđất đai không hợp lí và chế độ bao cấp đã tách rời người nông dân ra khỏi ruộng đất

và kết quả là hiệu quả sử dụng đất rất thấp

Chính sách đất đai luôn là trung tâm của hệ thống các chính sách phát triển

Trang 12

nông nghiệp, nông thôn Một chính sách đất đai hợp lí có vai trò hết sức quan trọngtrong việc hoàn thiện các chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn khác Cụ thể:

 Chính sách đất đai hợp lí sẽ tạo động lực để sử dụng đầy đủ, hợp lí và cóhiệu quả đất đai trong điều kiện đất đai bình quân đầu người thấp, chất lượng có xuhướng giảm sút

 Thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Hiệnnay, nông nghiệp nông thôn còn mang tính thuần nông, chăn nuôi chưa phát triểncân đối với trồng trọt, nhiều tiềm năng chưa được khai thác, ngành công nghiệp vàdịch vụ phát triển chậm Mục tiêu đặt ra đến năm 2010 tỷ trọng ngành nông nghiệpgiảm xuống còn 15 – 16%, công nghiệp và xây dựng tăng lên 40 – 43%, dịch vụtăng 40 – 41% GDP cả nước Để đạt được mục tiêu trên cần giải quyết rất nhiều vấn

đề, trong đó sự đổi mới và hoàn thiện Luật đất đai và các chính sách về đất đai làmột trong những vấn đề cơ bản và cấp bách

 Chính sách đất đai có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển nền nôngnghiệp nước ta từ sản xuất nhỏ lẻ thành một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóatheo cơ chế thị trường Trong quá trình chuyển đổi từ những năm gần đây, chínhsách đất đai của nước ta đã có những chuyển biến tích cực, đưa người nông dânquay về với đất đai, yên tâm đầu tư, khai thác, bảo vệ và nâng cao chất lượng vàhiệu quả sử dụng đất Tuy vậy, hiện nay đất đai vẫn còn trong tình trạng hết sứcmanh mún và nhiều nơi chưa được khai thác đầy đủ và hợp lí

 Chính sách đất đai hợp lí là một trong những biện pháp chủ yếu và quantrọng để giải quyết các vấn đề tranh chấp đất đai, tuy đã được hạn chế những vẫncòn xảy ra ở nông thôn nước ta

3 Sơ lược về lịch sử phát triển chính sách đất đai

a Thời kì trước Đổi mới (trước Cách mạng tháng Tám đến 1992)

 Thời kì 1945 - 1981

Lịch sử Cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử phát triển kinh tế Việt Nam

có mối quan hệ chặt chẽ với những chính sách về đất đai Những vấn đề mâu thuẫn,tồn đọng về sở hữu đất đai, tiếp cận và quản lý đất đã diễn ra trong suốt thời kỳkháng chiến chống Pháp, chiến tranh chống Mỹ và thời kỳ sau độc lập 1975

Trước Cách mạng tháng Tám, đất nông nghiệp chủ yếu chia thành hai loại

Trang 13

thuộc sở hữu công cộng và tư hữu Từ hệ lụy của chế độ phong kiến, nông thôn ViệtNam phân hóa thành hai tầng lớp địa chủ và nông dân Địa chủ chiếm khoảng 2%tống dân số nhưng chiếm hữu trên 50% diện tích đất nông nghiệp trong khí đó 59%

hộ nông dân không có đất và phải đi làm thuê cho địa chủ

Sau cách mạng tháng Tám 1945 cho đến khoảng 1952, chính phủ lâm thời đãđưa ra những chính sách về ruộng đất như phân chia lại ruộng và giảm thuế chonông dân Sau khi kết thúc chiến tranh với Pháp năm 1954, miền Bắc tiến hành cảicách ruộng đất cơ bản với khẩu hiệu “người cày có ruộng”, công hữu hóa ruộng đấtcủa địa chủ chia lại cho những người không có hoặc có ít đất, đem lại lợi ích cho73% người dân ở nông thôn Miền Bắc tiếp tục bước tiếp theo của cải cách ruộngđất với sở hữu tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức các hợp tác xã từng khâu (bậcthấp) và hợp tác xã toàn phần (bậc cao) Từ năm 1961 - 1975 có khoảng 20.000 hợptác xã bậc cao ra đời với sự tham gia của 80% hộ nông dân Ở miền Nam, chính phủcủa chính quyền Sài Gòn cũ thực hiện chương trình cải cách điền địa với khẩu hiệu

“ruộng đất về tay người cày” thông qua việc quản lý thuê đất, quy định mức hạnđiền (1956) và chương trình phân chia lại đất đai (1970) mang lại 1.3 triệu ha đấtđược chia cho hơn 1 triệu nông dân hoàn tất vào năm 1974

Từ năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng và chính phủ Việt Nam xúctiến quá trình tập thể hóa mở rộng trên quy mô cả nước Thời kì này, Việt Nam phảichịu hậu quả nặng nề từ chiến tranh kéo dài, thêm vào đó là hậu quả của nhữngchính sách trong thời kì kế hoạch hóa tập trung và thời kì kinh tế tập thể trong nôngnghiệp Sản xuất giảm do người dân thiếu động cơ làm việc, sản lượng tăng hàngnăm kém (khoảng 2%) cùng với tốc độ gia tăng dân số cao (2.2 – 2.35% / năm) làmcho đa số dân cư trở nên đói nghèo và chính phủ phải nhập khẩu hơn 1 triệu tấnlương thực trong suốt những năm sau chiến tranh

Trang 14

Bảng 3 Tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp và sản lượng một số cây trồng

Với giá cố định năm 2004 Nguồn: niên giám thống kê 1999, 2000, 2001 và 2004

Nhìn từ số liệu bảng trên ta thấy rõ do những hậu quả nặng nề của chiếntranh tổng sản lượng nông nghiệp tăng 2% nhưng mức tăng đáng kể lại ở các sảnphẩm công nghiệp như mía tăng 11.6% Tốc độ tăng trưởng của cây lúa trong giaiđoạn 1976 – 1980 là – 0.4 dẫn đến tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng kéo dàicho đến cả những năm sau

 Thời kì 1981 – 1988

Khởi đầu cho công cuộc chuyển đổi ở Việt Nam là Chỉ thị 100 của Ban Bíthư Trung ương Đảng hay còn gọi là Khoán 100 ra đời năm 1981 với mục đích làkhoán sản phẩm đến người lao động Dưới chính sách Khoán 100, hợp tác xã giaođất cho nhóm người lao động và họ chịu trách nhiệm ba khâu của sản xuất Sản xuấtdưới sự quản lí của hợp tác xã, cuối vụ nông dân được trả thu nhập bằng thóc dựatrên sản lượng sản xuất ra và ngày công tham gia ba khâu của quá trình sản xuất.Đất đai vẫn thuộc sở hữu của nhà nước và chịu sự quản lí của hợp tác xã Sự ra đờicủa Khoán 100 đã mang lại những chuyển biến đáng kể trong nền kinh tế Cụ thể làsản xuất lúa gạo tăng 6.3%/ năm trong thời kì 1981-1985 Tuy vậy đầu năm 1985,tốc độ tăng sản xuất bắt đầu giảm còn 2.2%/ năm thời kì 1986-1988 và dẫn tới thiếuhụt lương thực trên 21 tỉnh thành của miền Bắc Ở miền Nam, mâu thuẫn cũng gia

Trang 15

tăng trong khu vực nông thôn đặc biệt là mối quan hệ đất đai trên sự “cào bằng” vềphân chia và điều chỉnh đất đai.

Chính từ những thực tiễn trên đòi hỏi một cải cách mới trong chính sách đấtđai Nghị quyết 10 tháng 4 năm 1988 đã ra đời trong bối cảnh đó, được biết đếndưới cái tên Khoán 10 Lần đầu tiên, hộ nông dân được coi như một đơn vị kinh tế

tự chủ và được giao quyền sử dụng đất trong khoảng từ 10-15 năm Bắt đầu từ thời

kì này, tư liệu sản xuất được sở hữu cá thể và nông dân miền Nam được nhận lại đất

đã từng sở hữu trước năm 1975 Tuy vậy, Khoán 10 chưa giải quyết được các vấn

đề về sở hữu đất đai như thừa kế, mua bán và các hệ thống quản lí mà trước đây hợptác xã đảm nhân Điều này tạo cơ sở cho Luật Đất đai ra đời năm 2003

Như vậy chính sách đất đai giai đoạn 1981-1992 chủ yếu: Thể hiện tinh thầnđổi mới nhưng rất thận trọng, thực hiện từng bước chậm, chủ yếu là thăm dò và thíđiểm do những điều kiện khó khăn của đất nước vẫn còn những hậu quả nặng nề từsau chiến tranh Những quy định đổi mới chủ yếu được điều chỉnh trong nôngnghiệp và các đơn vị hợp tác xã, đối với cá nhân chưa có những quyền lợi đảm bảo

về quyền sử dụng đất lâu dài của nông hộ và quyền quyết định nuôi trồng theo cánhân mỗi hộ

b Thời kì sau đổi mới từ 1993 đến nay

Trước những kết quả khả quan của “Khoán 100” và “Khoán 10”, Hội nghị

lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VII ra Nghị quyết về Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế-xã hội nông thôn Nghị quyết là cơ sở cho việc thông qua

Luật Đất đai, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa IXngày 14-07- năm 1993 Luật Đất đai 1993 thực chất là thể chế hóa chính sách đấtđai cho phù hợp với yêu cầu kinh tế-xã hội đặt ra

Như vậy, Luật Đất đai năm 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân

và nguyên tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân.Đồng thời giao quyền sử dụng đất và kèm theo các quyền khác như: quyền chuyểnđổi, quyền thừa kế, quyền thế chấp, quyền cho thuê, quyền chuyển nhượng nhằmtăng cường tính tự chủ và lợi ích kinh tế được đảm bảo về mặt pháp lý cho nhữngngười sử dụng đất

Tuy nhiên, kinh tế thị trường phát triển kéo theo các quan hệ xã hội trở nênphức tạp hơn, nhu cầu sử dụng và mua bán quyền sử dụng đất (thực chất là mua bán

Trang 16

đất đai) trở nên thường xuyên đã làm phát sinh rất nhiều vấn đề mà Luật Đất đainăm 1993 khó giải quyết Vì thế, năm 1998 Luật sửa đổi bổ sung một số điều củaLuật Đất đai được ban hành và năm 2001 tiếp tục sửa đổi một số điều của Luật Đất

đai Luật sửa đổi lần này là chú trọng đến khía cạnh kinh tế của đất đai và vai trò quản lý nhà nước đối với đất đai Điều đó được thể hiện bởi những qui định về

khung giá các loại đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, tính giá trị tài sản khi giaođất hoặc khi nhà nước bồi thường, qui hoạch và kế hoạch sử dụng đất, cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất…

Năm 2003, Luật Đất đai lại tiếp tục sửa đổi cho phù hợp với nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa được ban hành và có hiệu lực ngày 01-07-

2004, thể hiện trong Điều 61, 62, 63 của Luật Đất đai đã thừa nhận quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản.

Như vậy, chính sách giai đoạn 1993 đến nay đã có những ưu điểm như quyền

sử dụng đất lâu dài của cá nhân đã được thừa nhận và đảm bảo thực hiện; đồng thời,

có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn Bên cạnh đó vẫn còn cónhững hạn chế như chính sách thiếu tầm chiến lược, không có khả năng dự báo dàihạn, thay đổi thường xuyên thể hiện tính đối phó và xử lý tình huống

Trang 17

PHẦN II: ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHÍNH SÁCH ĐẤT ĐAI ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN VIỆT NAM

Việt Nam đã đạt được sự tiến bộ đáng kể trong việc giảm đói nghèo ở khuvực nông thôn trong vòng 20 năm qua do mở rộng thị trường và cải cách ruộng đấttrong nông nghiệp, đi cùng với sự giảm đói nghèo là sự tăng trưởng của nền kinh tếquốc dân Tuy nhiên, những vấn đề còn tồn tại là làm thế nào để gia tăng mức sống

cơ bản và phát triển toàn diện khi vực nông thôn Hiện nay có rất nhiều mảnh ruộngnhỏ kém năng suất bị cưỡng ép sử dụng, những mảnh ruộng này thường trong tìnhtrạng manh mún hoặc không liền kề với nhau, và có rất ít hoặc không có người dânmuốn đầu tư sức lao động và các yếu tố nguồn lực khác như máy móc công nghệvào những mảnh ruộng này Số lượng người nông dân nghèo tăng lên do mất đất,đây chính là kết quả của chính sách tích tụ ruộng đất tại khu vực nông thôn, “nhữngngười nông dân mất đât” họ làm thuê cho những điền chủ hoặc chờ đợi lời hứa củachính phủ về nguồn thu nhập phi nông nghiệp từ những dự án xây dựng khu côngnghiệp mới tại địa phương Nông dân thiếu sự đào tạo đầy đủ để có thể nắm bắtnhững cơ hội từ những việc phi nông nghiệp và có ít cơ hội tiếp cận để ủng hộnhững chính sách và chương trình của chính phủ Chính điều đó làm cho nhữngmảnh ruộng của các nông hộ nghèo đối mặt với những rủi ro đáng kể từ những daođộng bất thường từ những hàng hóa thông thường, giá cả của yếu tố đầu vào, thayđổi giới hạn của thương mại trong nông nghiệp Những người nông dân có năng lực

và đầu óc kinh doanh cũng e ngại đầu tư vào làm ăn trên những mảnh ruộng manhmún vì không chắc chắn vào sự thay đổi của luật Đất đai về giới hạn và thời hạn sửdụng đất, quyền sử dụng đất một trong những rào cản ngăn cản họ tiếp cận với tíndụng ngân hàng và kêu gọi đầu tư

I Chính sách phân chia đất và tích tụ đất đai

Luật Đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết hầu hết những khó khăn còn tồnđọng của thời kì Khoán 10, nông dân được giao đất lâu dài với năm quyền: chuyểnnhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp Nguyên tắc quan trọng nhất củaviệc giao đất là sự công bằng, chính vì vậy mỗi hộ được giao nhiều mảnh với chấtlượng khác nhau ở những khu vực khác nhau gây ra tình trạng manh mún đất đai

Trang 18

Manh mún đất đai nghĩa là một hộ canh tác từ hai thửa đất riêng lẻ trở lên Đây làmột đặc điểm của của nông nghiệp ở các nước đang phát triển trong đó có ViệtNam, đặc biệt ở các tỉnh phía Bắc Manh mún đất đai được xem như một rào cảncủa quá trình sản xuất nông nghiệp nên nước ta cũng đang có những biện pháp,chính sách khuyến khích tập trung đất đai.

Sau cải cách, ở Việt Nam ước tính có khoảng 75 đến 100 triệu thửa đất,trung bình mỗi hộ có từ 7 đến8 thửa và khoảng 10% số thửa ruộng có diện tíchkhoảng 100m2 hoặc ít hơn Tình trang manh mún đất đai diễn ra phổ biến nhất ởĐồng bằng sông Hồng với 90% hộ gia đình có diện tích đất nông nghiệp từ 0.2-0.5ha trong khi đó tại đồng bằng sông Cửu Long các hộ nông nghiệp có diện tíchđất lớn hơn (bảng 4)

Trang 19

Nguồn: Epprecht, M and Robison, T.P.(Eds) 2007.

Trang 20

Nguyên nhân gây ra tình trạng manh mún đất đai ở Việt Nam

Luật Đất đai năm 1993 ra đời đã giải quyết hầu hết những khó khăn còn tồnđọng của thời kì Khoán 10, nông dân được giao đất lâu dài với năm quyền: chuyểnnhượng, trao đổi, cho thuê, thừa kế và thế chấp Nguyên tắc quan trọng nhất củaviệc giao đất là sự công bằng, chính vì vậy mỗi hộ được giao nhiều mảnh với chấtlượng khác nhau ở những khu vực khác nhau gây ra tình trạng manh mún đất đai

Một nguyên nhân nữa đó là do sự biến động của thị trường đất đai và ảnhhưởng của những điều chỉnh của Chính phủ liên quan đến thị trường giao dịch đất.Thị trường trao đổi quyền sử dụng đất ở Việt Nam rất phức tạp và vẫn chưa đượcphát triển hoàn thiện Nông dân nếu muốn sử dụng đất của họ để vay vốn ngân hànghoặc thực hiện những giao dịch khác đòi hỏi phải có xác nhận của chính quyền địaphương mới được hoàn thành Mặt khác hệ thống hành chính của nước ta tương đốiphức tạp rườm rà gây nên tâm lý e ngại cho người nông dân khiến họ không muốn

sử dụng các quyền hạn của mình khi được giao đất (quyền chuyển nhượng, trao đổi,cho thuê, thừa kế và thế chấp)

Manh mún đất đai có thể từ chính những người nông dân khi họ cảm thấyviệc manh mún đem lại lợi ích cho họ Nông dân có thể lựa chon mức độ manh mún

mà theo họ đó là mức độ có lợi nhất Với tình trạng manh mún đất đai, có thể giảmthiểu hoặc san bằng những rủi ro do thời tiết gây ra, và biến động của sản lượng sẽgiảm

Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ nên nhìn chung lao động ở miền Bắcthường ở trong tình trạng dư thừa Tuy nhiên vào những lúc chính vụ nhu cầu laođộng đột nhiên tăng cao và nhờ tình trạng manh mún nông dân có thể sử dụng laođộng thời vụ hiệu quả hơn và giảm thiểu căng thẳng khi chính vụ bằng cách đa dạnghóa cây trồng trên những mảnh ruộng khác nhau

Với quyền chuyển nhượng và thừa kế người nông dân có thể dễ dàng chuyểnmột phần ruộng đất cho con cái của họ hoặc bán một phần đi Mặc dù vậy, cũng cómột nguyên nhân nữa là do phí để thực hiện chuyển nhượng quá cao nên nông dânkhông muốn tiến hành dồn điền đổi thửa để hạn chế sự manh mún của đất đai

Hạn chế của manh mún đất đai

Quá nhiều hộ sản xuất có quy mô các thửa đất quá nhỏ đã cản trở quá trình tổ

Trang 21

chức nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa và hiệu quả.

 Manh mún đất đai gây ra nhiều ảnh hưởng nghịch chiều bao gốm chi phí cáohơn, tăng các tác động ngoại vi xấu, mất đất do khả năng bờ thửa, có thể gây ranhững mâu thuẫn giữa các hộ nông dân có ruộng liền kề nhau Không huy độngđược tiềm năng về vốn và lao động tại chỗ để có thể đầu tư vào cải tạo đồng ruộng,

vì người nông dân lo sợ đầu tư không chỉ tác động trên mảnh đất của mình

 Chí phí sản xuất cao hơn do chi phí lao động cao hơn bởi nông dân phải tốnthời gian di chuyển từ mảnh ruộng này sang mảnh ruộng khác hoặc thực hiện tướitiêu cho nhiều mảnh nhỏ Chi phí sản xuất cao hơn do chi phí vận chuyển các yếu tốđầu vào và đầu ra cao hơn Nghiên cứu tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên chothấy với 1 hộ có 9 mảnh ruộng thì tổng quãng đường đi từ nhà đến các mảnh ruộng

là 9km Trung bình trong một vụ thì người dân đã phải đi tới 35km để vẫn chuyểnvật tư và sản phẩm

 Manh mún đất đai gây ra những tác động ngoại vi xấu bởi nó gây ảnh hưởngcho các hộ nông dân trồng những cây hoặc giống khác nhau ở bên cạnh Nó cũnggây ra việc mất đất do tốn quá nhiều diện tích cho bờ thửa ở những mảnh ruộngnhỏ Việc quá nhiều bờ thửa và diện tích quá nhỏ cũng gây ra những khó khăn trongquy hoạch ruộng đồng, gặp trở ngại cho việc cơ giới hóa nông nghiệp để giải phóngsức lao động Vì máy kĩ thuật của ngành nông nghiệp thường có kích cỡ khá lơn, vàkhông thể hoạt động hết công suất trong những mảnh ruộng nhỏ Các nghiên cứucũng cho thấy tại Đồng bằng sông Hồng, nơi tình trạng manh mún đất đai phổ biếnnhất thì khả năng cơ giới hóa cũng thấp nhất Khảo sát tại Vĩnh Phúc cho kết quảsau khi chuyển đổi ruộng đất đã có tới 80% diện tích được làm bằng máy, trong khitrước đó những diện tích này được làm đất chủ yếu bằng sức kéo trâu bò, thậm chínhiều nơi còn dùng quốc

Trang 22

Bảng 5 Chi phí và lợi ích liên quan đến manh mún đất đai

Lợi ích của việc nhiều mảnh Chi phí của nhiều mảnh

Lợi ích riêng Lợi ích công cộng Chi phí riêng Chi phí công cộng

 Giảm sự phổbiến của bệnh

 Công tác thủylợi

 Cơ giới hóa khó

 Khó ứng dụng

kỹ thuật và côngnghệ mới

 Giải phóng ít laođộng

 Chậm cơ giớihóa

 Ứng dụng côngnghệ mới chậm

 Khó xây dựng

kế hoạch các vùngsản xuất lớn

 Chi phí giaodịch tăng khi thếchấp lớn

 Kế hoạch hóa sửdụng đất

Nguồn: Marsh S.P.,T.G MauAulay và Phạm Văn Hùng, 2007 phát triển nông nghiệp và chính sách đất đau ở VN ACIAR Monograp No.123a,272p

Mặc dù có rất nhiều nhược điểm của manh mún đất đai, nhưng nông dân ởmột số tỉnh vẫn duy trì số mảnh ruộng rất nhiều Như vậy, có thể thấy họ đã tìmđược nhưng lợi ích thông qua các mảnh ruộng ở những vị trí khác nhau như giảmrủi ro về thời tiết và tận dụng lao động thời vụ

Thực trạng này đưa ra yêu cầu phải tập trung lại đất nông nghiệp đối với mỗi

hộ sản xuất, giảm số thửa và tăng quy mô mỗi thửa ở từng hộ để tạo ra những diệntích sản xuất tập trung cùng loại sản phẩm ở từng địa phương, đặc biệt khi sản xuất

Trang 23

hàng hóa đã bắt đầu phát triển, người sản xuất phải tính toán hiệu quả kinh tế, tìmcác giải pháp để giảm bớt chi phí sản xuất.

Chính sách về dồn điền đổi thửa đã được đưa ra từ hơn 10 năm trước Đi đầu

là huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây vào tháng 2 năm 1993 và sau đó lan rộng ra khắpcác tỉnh thành trên cả nước, đặc biệt là ở miền Bắc Nhằm thực hiện tập trung đấtmột cách có kế hoạch, cơ sở khoa học và hiệu quả, Thủ tướng chính phủ đã banhành Quyết định số 94/2002/QD-TTg giao cho các cơ quan chức năng hướng dẫn

cơ sở địa phương dồn điển đổi thửa và đạt được một số kết quả,

Đã có 18 tỉnh, thành phố, 80 huyện và trên 700 xã, phường tiến hành vậnđộng nông dân chuyển đổi ruộng đất Dồn điền đổi thửa đã làm giảm số thửa đất vàtăng diện tích bình quân mỗi thửa Qua số liệu tổng hợp của Bộ Nông nghiệp vàphát triển nông thôn ở 18 tỉnh cho thấy: số thửa đất giảm đi bình quân 50-60%, nơigiảm ít là trên 40%, nơi giảm nhiều là 80% Bình quân số thửa giảm trên gộ là 2-4,nơi giảm ít là 1 thửa, nhiều là 6 – 7 thửa/ hộ Diện tích bình quân mỗi thửa tăng lêngần 600m2 – 1000m2, có thửa đạt tới 1 – 2 ha

Bảng 6 Sự thay đổi bình quân diện tích mỗi thửa đất và số thửa đất ở một số

Trước dồn điềnđổi thửa

Sau dồn điềnđổi thửa

Nguồn: Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 9/4/2003

Việc dồn điền đổi thửa dã tạo điều kiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đấtgắn với quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp và nông thôn đồng thờinâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai Đặc biệt việc dồn điền đổi thửa đãtạo điều kiện cho nông dân nâng cao hiệu quả sử dụng đất Do diện tích mỗi thửa

Trang 24

ruộng tăng lên nên nhiều hộ tăng cường đầu tư vào máy móc công cụ, thiết bị cơgiới hóa cũng như chủ động chuyển dịch cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi thích hợp.Kết quả là, ở nhiều vùng năng suất cây trồng tăng lên từ 15-20%, giá trị thu nhậptăng từ 13 đến 18 triệu, một số nơi đạt 25-30 triệu, cá biệt có vùng đạt 40-60 triệu.(Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn 9/4/2003) Một số địaphương hình thành vùng nông sản chuyên canh hàng hóa, số trang trại tăng nhanh,tạo điều kiện phát triển một số ngành nghề tiểu thủ công.

II Mức hạn điền chưa hợp lý và thời hạn sử dụng đất ngắn

Luật Đất đai 1993 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nướcthống nhất quản lý Nhà nước giao đất cho các tổ chức kinh tế, hộ gia đình và cánhân sử dụng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làmmuối theo phương thức không phải trả tiền Cơ quan có thẩm quyền giao đất nôngnghiệp cho các tổ chức kinh tế là Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trungương, thẩm quyền giao đất cho hộ gia đình và cá nhân là Ủy ban nhân dân huyện,thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Thời hạn giao đất theo quy định của Luật đất đai năm 2003 điều 67

 Thời hạn giao đất trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, làm muối: 20năm; đất trồng cây lâu năm và rừng sản xuất : 50 năm

 Thời hạn cho thuê đất trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, làm muốikhông quá 20 năm và đất trồng cây lâu năm, rừng sản xuất không quá 50 năm

Quy định về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ

gia đình, cá nhân trong Nghị quyết 1126/2007/NQ-UBTVQH11 của Ủy ban thường

vụ Quốc hội ngày 21/6/2007, có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/7/2007

Quy định hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân

để sử dụng vào mục đích nông nghiệp dưới các hình thức nhận chuyển nhượng,nhận tặng cho quyền sử dụng đất, xử lý nợ theo thoả thuận trong hợp đồng thế chấp,bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất đối với đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâunăm, đất rừng sản xuất là rừng trồng, đất nuôi trồng thuỷ sản và đất làm muối Đấtnông nghiệp khác, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng

tự nhiên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết này

Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây

Ngày đăng: 18/07/2013, 08:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tỷ trọng của kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp trên tổng - Một số ảnh hưởng của chính sách đất nông nghiệp đến phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Bảng 1. Tỷ trọng của kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp trên tổng (Trang 7)
Bảng 2.Tình hình sử dụng đất từ 1996 -2005 - Một số ảnh hưởng của chính sách đất nông nghiệp đến phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Bảng 2. Tình hình sử dụng đất từ 1996 -2005 (Trang 11)
Bảng 5. Chi phí và lợi ích liên quan đến manh mún đất đai - Một số ảnh hưởng của chính sách đất nông nghiệp đến phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Bảng 5. Chi phí và lợi ích liên quan đến manh mún đất đai (Trang 22)
Bảng 6. Sự thay đổi bình quân diện tích mỗi thửa đất và số thửa đất ở một số - Một số ảnh hưởng của chính sách đất nông nghiệp đến phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Bảng 6. Sự thay đổi bình quân diện tích mỗi thửa đất và số thửa đất ở một số (Trang 23)
Bảng 7. Quỹ đất phân theo các loại đất (2002) - Một số ảnh hưởng của chính sách đất nông nghiệp đến phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Bảng 7. Quỹ đất phân theo các loại đất (2002) (Trang 26)
Bảng 8. Phân bổ đất nông nghiệp theo vùng - Một số ảnh hưởng của chính sách đất nông nghiệp đến phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Bảng 8. Phân bổ đất nông nghiệp theo vùng (Trang 26)
Bảng 10.Các giao dịch quyền sử dụng đất phân loại theo giao dịch và tỉnh - Một số ảnh hưởng của chính sách đất nông nghiệp đến phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Bảng 10. Các giao dịch quyền sử dụng đất phân loại theo giao dịch và tỉnh (Trang 30)
Bảng 11. Hiện trạng sử dụng đất bình quân mỗi người theo địa phương - Một số ảnh hưởng của chính sách đất nông nghiệp đến phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam
Bảng 11. Hiện trạng sử dụng đất bình quân mỗi người theo địa phương (Trang 36)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w