1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng bảng phụ trong việc dạy môn vật lí

6 223 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình Vật lý 6 không yêu cầu nghiên cứu đòn bẩy ở mức độ định lượng đi đến công thức F1/ F2 = l2/ l1, chỉ yêu cầu học sinh biết sử dụng đòn bẩy phù hợp để có lợi về lực để được l

Trang 1

PHÒNG GD&ĐT NAM TRÀ MY

TRƯỜNG THCS – BTCX TRÀ DON

Người thực hiện: Nguyễn Mạnh

Tổ : KHOA HỌC TỰ NHIÊN Năm học: 2008-2009

Trà Don, tháng 11 năm 2008

A LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trang 2

Vật lý học là cơ sở của nhiều ngành kĩ thuật quan trọng Sự phát triển của khoa học Vật lý gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại trực tiếp với sự tiến bộ của khoa học và kĩ thuật Vì vậy những hiểu biết và nhận thức Vật lý có giá trị to lớn trong đời sống, sản xuất và đặc biệt trong lĩnh vực khoa học- kĩ thuật

Việc giảng dạy Vật lý có những khả năng to lớn, góp phần hình thành và rèn luyện học sinh cách thức tư duy làm việc khoa học Trên cơ sở đó để dạy tốt môn Vật lý đòi hỏi người giáo viên phải hiểu biết kiến thức, tìm tòi phương pháp dạy phải hợp lý trong một tiết học Đối với Vật lý 6 các em mới tìm hiểu các hiện tượng Vật lý ở mức

độ định tính nên phương pháp dạy chủ yếu nêu vấn đề hoặc đề ra giả thuyết thảo luận

Chương trình Vật lý 6 không yêu cầu nghiên cứu đòn bẩy ở mức độ định lượng đi đến công thức F1/ F2 = l2/ l1, chỉ yêu cầu học sinh biết sử dụng đòn bẩy phù hợp để có lợi về lực ( để được lợi về lực thì phải đặt khoảng cách từ điểm tựa đến điểm tác dụng của lực kéo lớn hơn khoảng cách từ điểm tựa đến điểm tác dụng của trọng lực

002>001) Trong đó:

0 : Điểm tựa

02 : Điểm lực tác dụng của người (F2)

01 : Điểm lực tác dụng của trọng lực vật (F1)

So với cách dạy cũ thì đây là bài học khó vì học sinh cần phải lĩnh hội được kiến thức như mục tiêu đề ra mà không dựa trên khái niệm liên quan như biểu diễn lực, cánh tay đòn

Qua thực tế nhiều năm dạy học tôi nhận thấy khả năng học tập của một số học sinh còn quá yếu, chưa có tư duy sáng tạo và hình thành kiến thức mới hơn nữa đây

là một trong những bài học có thể phát huy tính tích cực của học sinh ở nhiều chỗ Chính vì vậy mà tôi đã kết hợp phương pháp cụ thể hoá kiến thức vào bài dạy “Đòn bẩy” Đây là một trong những cơ hội giúp các em học sinh hiểu sâu rộng hơn kiến thức

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Phương pháp cụ thể hoá kiến thức là mô hình dạy học tương tác nhấn mạnh đến việc xác định những kiến thức vốn có trong đầu học sinh và sự tương tác học sinh với môi trường nhằm sửa đổi hoặc mở rộng kiến thức của bản thân Trên cơ sở lí luận của phương pháp cụ thể hoá kiến thức tôi đã dạy thử bài đòn bẩy theo phương pháp này

Quá trình dạy học được tổ chức theo các câu sau:

I Chuẩn bị bài.

Đây là khâu quyết định sự thành bại của bài giảng

1 Giáo viên phải xác định rõ mục tiêu của bài học Nó phải thể hiện bằng những kiến thức, kĩ năng mà học sinh chiếm lĩnh được sau khi học.

Đối với bài “Đòn bẩy” HS phải nắm được các kiến thức cơ bản:

- Nêu được thí dụ về đòn bẩy trong cuộc sống

- Xác định được điểm tựa 0, các điểm đặt của lực tác dụng 01, 02 và các lực tác dụng lên đòn bầy F1, F2

- Biết sử dụng đòn bẩy trong những công việc thích hợp

Trang 3

2 Điều tra để biết rõ sự hiểu biết của học sinh về những vấn đề liên quan đến nội dung bài học.

Đây là khâu rất quan trọng khi sử dụng phương pháp trên GV phải tiến hành những công việc sau:

Chuẩn bị phiếu điều tra: Trong phiếu này GV nêu lên vấn đề:

- Yêu cầu HS trình bày quan niệm của mình về máy móc là gì?

- Yêu cầu HS xác định máy móc và đòn bẩy trong 6 công cụ sau: Xà beng, cần câu

cá, búa nhổ đinh, bập bênh, kéo cắt giấy, tay người

- Yêu cầu HS xác định: Lực tác dụng của người, lực tác dụng của vật, điểm tựa trên ba hình vẽ: Chiếc xà beng đang nâng hòn đá, dao đang xén giấy và cần câu đang giật cá

Phát phiếu và thu phiếu sau khoảng 15 phút cho HS trả lời vào thời gian thích hợp khi lên lớp

Tiến hành phân tích kết quả qua phiếu điều tra và cho thấy:

- HS có quan niệm rất khác nhau về máy móc nhưng tấc cả đều cho rằng chúng là thiết bị công cụ giúp con người làm việc HS quan niệm về máy móc đơn giản khác nhau thường là những dụng cụ máy móc quen thuộc có kích thước nhỏ, dễ sử dụng trong gia đình như: Rađio, Tivi không giống như quan niệm khoa học

- 24% HS trả lời là máy móc

9% HS trả lời đúng về đòn bẩy

77% HS không có câu trả lời

Điều này chứng tỏ phần lớn HS chưa nắm khái niệm về máy móc đơn giản trong

đó có đòn bẩy

- HS phân tích hình vẽ:

23% HS trả lời đúng về lực tác dụng của người

18% HS trả lời đúng về lực tác dụng của vật

16% HS trả lời đúng về điểm tựa

Điều này cho thấy HS chưa nắm khái niệm về đòn bẩy cũng như cấu tạo của chúng đặc biệt là việc xác định điểm tựa

3 Xây dựng phương án dạy học:

Dựa vào kiến thức vốn có của HS về đòn bẩy tôi tiến hành công việc sau:

a Xác định rõ những kiến thức cần thông báo, những kiến thức nào sẽ tổ chức cho HS tự xây dựng.

Ví dụ: Thông báo cho HS khái niệm về đòn bẩy, điểm tựa, lực tác dụng bố trí để

HS tự phát hiện các kiểu đòn bẩy, các cách sử dụng đòn bẩy

b Xây dựng tình huống học tập.

Ví dụ: Có thể sử dụng đòn bẩy để nâng vật nặng lên bằng những cách khác nhau, các cách ấy khác nhau ở những điểm nào?

c Dự kiến phân tích các câu trả lời của HS có thể xảy ra trong giờ học.

d Dự kiến cách tổ chức nhóm(6 nhóm) và thảo luận.

e Chuẩn bị thiết bị dạy học.

- 6 thước dài 0.5m

- 6 hòn đá

- 6 tờ giấy

- 6 bút dạ

Trang 4

f Dự kiến trình tự và nội dung ghi bảng

g Xây dựng nội dung đánh giá trên phiếu học tập.

Dùng kí hiệu để xác định điểm tựa, lực tác dụng của người, lực tác dụng của vật gồm 6 hình vẽ: Bập bênh, mái chèo, xe cút kít, kéo cắt giấy, cần câu, chổi quét nhà

II Tổ chức hoạt động dạy học.

Hoạt động 1: Tổ chức tình huống học tậ p.

GV tổng kết những ý kiến trả lời của HS trong phiếu điều tra đưa ra những nhận xét, thông báo những kiến thức cần thiết cho HS đồng thời đưa ra vấn đề cần giải quyết giống như mục b) ở phần chuẩn bị

Hoạt động 2: Tìm hiểu cấu tạo của đòn bẩy.

Trong phiếu điều tra HS trả lời về: Điểm tựa, lực tác dụng của người, lực tác dụng của vật Qua đó GV yêu cầu HS cho biết: Các vật được gọi là đòn bẩy đều phải có 3 yếu tố nào? Có thể dùng đòn bẩy mà thiếu một trong 3 yêú tố không?

Gợi ý: + Thiếu điểm tựa, lực F2 có thể bẩy vật lên được không?

+ Bỏ vật ra là thiếu lực F1 thì có hiện tượng như thế nào?

GV cho HS hoạt động nhóm xác định F1,F2,0 trên phiếu học tập và nhận xét

Hoạt động 3: Đòn bẩy giúp con người làm việc dễ dàng hơn như thế nào?

GV tổ chức HS thảo luận nhóm để trả lời “có” hoặc “không” về đòn bẩy Đây là quá trình xây dựng giả thuyết vì trong câu hỏi loại này đã chứa đựng câu trả lời giả định:

Loại 1: Có phải vị trí của lực tác dụng của người, điểm tựa, sự sắp xếp chúng đã

làm cho cách nâng vật lên khác nhau?

Loại 2: Có phải kích thước, các loại điểm tựa tạo ra cách sử dụng đòn bẩy khác

nhau?

Loại 3: Có phải trọng lượng, chiều dài, độ dày của đòn bẩy tạo ra cách sử dụng

khác nhau?

HS nhận thiết bị học tập và tự tiến hành thí nghiệm theo nhóm để tìm ra các cách nâng vật khác nhau bằng đòn bẩy Thực chất đây là quá trình kiểm tra lý thuyết

Các nhóm thống nhất ý kiến và báo cáo trên giấy

GV yêu cầu đại diện mỗi nhóm lên trình bày trước lớp,GV nhận xét và kết luận Qua thí nghiệm cho thấy mỗi nhóm HS chỉ khám phá 1 hoặc 2 cách nâng vật lên và tổng hợp kết quả các nhóm thì có 3 cách sử dụng đòn bẩy

Cách 1: Điểm tựa nằm giữa lực tác dụng của người và lực tác dụng của vật.

Cách 2: Lực tác dụng của vật nằm ở khoảng giữa điểm tựa và lực tác dụng của

người

Cách 3: Lực tác dụng của người nằm ở khoảng giữa điểm tựa và lực tác dụng của

vật

Hoạt động 4: Tổng kết.

GV nhận xét các kết quả HS thực hiện và rút ra kết luận:

- Các thành phần cơ bản của đòn bẩy:

+ Lực tác dụng của người F2 - điểm đặt 02

+ Lực tác dụng của người F1 - điểm đặt 01

+ Điểm tựa 0

Trang 5

- Nhận biết và biết sử dụng một số loại đòn bẩy trong thực tế Trong đó đòn bẩy loại 1 ( sự sắp xếp vị trí các lực tác dụng của người, lực tác dụng của vật, điểm tựa đã làm cho cách nâng vật lên khác nhau) giúp con người làm việc dễ dàng hơn

Khi 002>001 thì F2 >F1

C ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

GV đánh giá kết quả học tập của HS thông qua phiếu học tập đã chuẩn bị Kết quả HS trả lời đúng:

Số HS trả

lời đúng

Đòn bẩy

Lực tác dụng của người

Lực tác dụng của vật

Điểm tựa

Sử dụng đòn bẩy loại 1 Cách 1 Cách 2 Cách 3

Tổng cộng

trước giờ

học

Tổng cộng

sau giờ học

38% 57% 59% 48% 45% 32% 26%

D BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Phương pháp dạy học giúp học sinh hoạt động tích cực theo nguyên tắc phát huy năng lực học tập cá nhân kết hợp với hoạt động nhóm để giải quyết vấn đề, rèn luyện cho HS kĩ năng hoạt động thực tế.Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi GV bỏ nhiều công sức để điều tra đối tượng và phải có sư phạm tốt để điều khiển quá trình học tập của học sinh

Trang 6

PHÒNG GD&ĐT NAM TRÀ MY CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG THCS- BTCX TRÀ DON Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

PHIẾU NHẬN XÉT

Tên đề tài:

Kết hợp phương pháp cụ thể hoá kiến thức khi dạy bài “ Đòn bẩy” trong dạy học Vật lý 6

Tác giả: Lại Thị Minh Đức

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị: Trường THCS – BTCX Trà Don

Nhận xét của Tổ:

………

………

………

………

………

………

Xếp loại:

Nhận xét của Hội đồng khoa học giáo dục trường: ………

………

………

………

………

………

Xếp loại:

Giám khảo 1 Giám khảo 2 Chủ tịch Hội đồng

Ngày đăng: 23/10/2017, 15:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w