Thực trạng về hoạt động đấu thầu quốc tế ở công ty lilama 10
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 TÍNH TẤT YẾU CỦA ĐỀ TÀI
Nguồn vốn bên ngoài đầu từ vào Việt Nam trong thời kì mở cửa ngày càng gia tăng một cách mạnh mẽ nhằm hỗ trợ cho việc phát triển nền kinh
tế, trong khi đó các hợp đồng, chương trình hỗ trợ của các quốc gia và các
tổ chức quốc tế, kể cả các hợp đồng, chương trình có giá trị lớn do nguồn vốn trong nước cũng đều được thực hiện qua hình thức đấu thầu là chủ yếu.Trong các phương thức đấu thầu hiện nay, đấu thầu quốc tế ngày càng
mở rộng và phát triển cả về quy mô và lẫn hình thức, được coi là một trong những hình thức mua sắm hiệu quả nhất Đấu thầu quốc tế cũng là xu hướng chính hiện nay được sử dụng do yêu cầu minh bạch hoá và nguyên tắc bình đẳng trong đấu thầu ngày càng được coi trọng Mặc dù trên thế giới, đấu thầu quốc tế đã được sử dụng khá lâu song tại Việt Nam, phương thức mua sắm đó vẫn còn mới mẻ với thời gian hoạt động chưa lâu.Việt Nam đã cho ra đời Luật Đấu thầu Việt Nam 2005 đã được áp dụng gần 2 năm cùng với nhiều văn bản pháp quy đi kèm nhằm điều chỉnh có hiệu quả hoạt động đấu thầu tại Việt Nam trong đó có hoạt động đấu thầu quốc tế Song thực tế vẫn còn nhiều vấn đề liên quan đến đấu thầu quốc tế còn đang được xem xét Xuất phát từ vấn đề trên, em xin lựa chọn đề tài Đấu thầu quốc tế tại Việt Nam: thực trạng và giải pháp Trong phạm vi hẹp của đề án môn học, em xin chỉ nghiên cứu thực trạng và giải pháp đối với đấu thầu quốc tế trong lĩnh vực xây lắp, lĩnh vực hiện nay vẫn đang chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số giá trị cũng như về số lượng gói thầu đấu thầu quốc tế.
Mục đích của việc nghiên cứu vần đề này là giúp chúng ta hiểu rõ hơn về đấu thầu quốc tế của các doanh nghiệp Việt nam trong thời gian qua
và từ đó có thể đưa ra những chính sách hợp lý để khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam phát huy hình thức này nhằm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp nói riêng và toàn xã hội Việt Nam nói chung.
Trang 22 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là tình hình đấu thầu quốc
tế trực tiếp tại Công ty Cổ Phần Lylama 10 trong thời gian qua và qua đó
có thể đưa ra những kiến nghị, giải pháp để đẩy mạnh được hoạt động đấu thầu quốc tế tại doanh nghiệp nhằm mang lại cho doanh nghiệp lợi nhuận,
và phát triển hơn
2.2 Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề là dựa trên số liệu về tình
hình đấu thầu quốc tế của Công ty cổ phần Lylama 10 các năm 2006,2007,2008 từ đó đi sâu vào phân tích nghiên cứu về tình hình đấu thầu quốc tế từ đó đưa ra những giải pháp ý kiến để thúc đẩy, phát triển hoạt động đấu thầu quốc tế tại Công ty cổ phần Lylama 10.
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chuyên đề được xây dựng dựa trên các phương pháp sau:
- Phương pháp tổng hợp và so sánh giải quyết vấn đề
4 KẾT CẤU CỦA CHUYÊN ĐỀ
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của đề án gồm 3 phần
Chương 1: Tổng quan chung về đấu thầu quốc tế
Chương 2 Thực trạng về hoạt động đấu thầu quốc tế ở công ty lilama
10
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đấu
thầu quốc tế ở công ty cổ phần lilama 10 trong thời đại hội nhập đối với lĩnh vực xây lắp
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU QUỐC TẾ
1.1 Sự ra đời và phát triển của đấu thầu quốc tế tại Việt Nam
Đấu thầu là một trong những phương thức mua sắm hàng hoá, dịch
vụ trong đời sống xã hội loài người Nó ra đời cùng với phương thức sản xuất dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.Cùng với sự phát triển mạnh
mẽ cuả khoa học kỹ thuật, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của các quốc gia, hoạt động đấu thầu ngày càng đóng vai trò cần thiết trong các hoạt động mua sắm, đầu tư Trên thế giới, hoạt động đấu thầu quốc tế ra đời rất sớm song những luật lệ liên quan đến đấu thầu ra đời muộn hơn và lần đầu tiên xuất hiện ở Anh Khi Hiệp hội kỹ sư tư vấn quốc tế (FIDIC) thành lập thì quy trình đấu thầu ngày càng được hoàn thiện dần Ngày nay, chúng ta có thể tìm thấy các quy định về đấu thầu ở các tổ chứuc quốc tế và các quốc gia trên khắp thế giới.
Đấu thầu quốc tế ra đời là do những nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất là do yêu cầu của quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị
trường Các bên tham gia vào đấu thầu quốc tế đều có cơ hội ngang như nhau để giành quyền cung cấp hàng hoá, dịch vụ hay xây dựng các công trình.
Thứ hai là do đấu thầu là một phương thức hiện đại nhằm giúp phân
chia rủi ro giữa bên mời thầu và bên nhận thầu.
Thứ ba là do một số các công trình xây dựng hay mua sắm hàng
hoá, dịch vụ, các nhà tài trợ yêu cầu buộc phải đấu thầu quốc tế.
Tại Việt Nam, hoạt động đấu thầu quốc tế mới xuất hiện từ cuối
những năm 70 của thế kỷ trước, nhưng nó chỉ mới thực sự phát triển từ giữa những năm 90 của thế kỷ 20 Cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu tại Việt Nam bắt đầu từ tháng 7/1996 Chính phủ ban hành Nghị định (NĐ) 42/
Trang 4CP về Quản lý đầu tư và xây dựng, đồng thời ban hành NĐ 43/CP về Quy chế đấu thầu Năm 1999 khi Chính phủ ban hành NĐ 52/CP thay thế NĐ 43/CP thì cũng đồng thời thay thế quy định này bằng Quy chế đấu thầu ban hành theo NĐ 88/CP Sau đó lại tiếp tục sửa đổi thành quy chế mới ban hành theo NĐ 14/CP và NĐ 66/CP (sau khi NĐ 07/CP tháng 7/2003 ra đời) Đáng lưu ý nhất liên quan đến đấu thầu là Luật đấu thầu ra đời ngaỳ 29/11/2005 và bắt đầu có hiêu lực từ đầu năm 2007 đã đánh dấu mốc cho hoạt động đấu thầu của Việt Nam Cũng từ đó, một loạt các văn bản pháp quy cũng ra đời tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu thầu nói chung và hoạt động đấu thầu quốc tế nói riêng tại Việt Nam Tiêu biểu là nghị đinh 58NĐ-CP Hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng quy định cụ thể cho hoạt động đấu thầu xây lắp Danh mục các văn bản luật pháp quy điều chỉnh hoạt động đấu thầu quốc tế tại Việt Nam và các tổ chức quốc tế sẽ được trình bày cụ thể ở phần phụ lục.
1.2 Khái niệm về đấu thầu quốc tế
Trước hết chúng ta nên tìm hiểu khái niệm về đấu thầu
Trên quan điểm đối với nhà thầu, đấu thầu là một trong những
phương thức chủ yếu để có được dự án cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển
Trong khi đó, khái niệm đối với chủ đầu tư thì đấu thầu là quá trình
lựa chọn nhà thầu tốt nhất để đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, chất lượng, tiến
độ thi công và chi phí xây dựng công trình
Còn khái niệm về phía nhà nước, đấu thầu lại là một phương thức
quản lý các hoạt động xây dựng cơ bản thông qua việc uỷ quyền cho các chủ đầu tư theo chế độ công khai lựa chọn nhà thầu.
Theo luật Đấu thầu của Việt Nam, đấu thầu được hiểu là quá trình
lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói
Trang 5thầu thuộc các dự án quy định trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.
Trên cơ sở hiểu rõ khái niệm đấu thầu, các tổ chức quốc tế, các quốc
gia trong đó có cả Việt Nam cũng đưa ra khái niệm về Đấu thầu quốc tế.
Theo Luật đấu thầu Việt Nam 2005, đấu thầu quốc tế là quá trình
lựa chọn nhà thầu đáp ứng yêu cầu của bên mời thầu với sự tham gia của các nhà thầu nước ngòai và nhà thầu trong nước.
Theo ADB, đấu thầu cạnh tranh quốc tế sẽ tạo ra một phạm vi rộng
rãi cho bên vay lựa chọn hồ sơ dự thầu tốt nhất trong số những người cung cấp hàng hoá, dịch vụ, xây dựng… tham gia dự thầu và để tạo cơ hội bình đẳng cho các nhà dự thầu tiềm năng của nước thành viên hợp lệ tham gia cung cấp hàng hoá dịch vụ và các công trình xây dựng… bằng vốn vay của ADB.
Theo WB, khái niệm đấu thầu quốc tế được như sau
Đấu thầu cạnh tranh quốc tế (ICB) là việc cung cấp cho các nhà thầu có triển vọng và đủ tư cách các bản thông báo kịp thời, đầy đủ về yêu cầu của bên mời thầu và các cơ hội ngang bằng để thắng thầu mua sắm, tư vấn hay công trình xây dựng
Như vậy, mặc dù có những định nghĩa giải thích khác nhau nhưng tựu chung lại, chúng vẫn có cùng bản chất Việt Nam hiện nay đang cố gắng xích gần lại không chỉ với các khái niệm chung được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới mà còn là các nguyên tắc và các quy trình tổ chức đấu thầu quốc tế.
Theo luật Đấu thầu Việt Nam, các Trường hợp sử dụng đấu thầu quốc tế bao gồm:
Gói thầu thuộc dự án sử dụng vốn ODA mà nhà tài trợ quy định phải đấu thầu quốc tế
Gói thầu mua sắm hàng hóa mà hàng hóa đó ở trong nước chưa đủ khả năng sản xuất
Trang 6 Gói thầu mà nhà thầu trong nước không có khả năng đáp ứng các yêu cầu của hồ sơ mời thầu hoặc đã tổ chức đấu thầu trong nước nhưng không chọn được nhà thầu trúng thầu.
Như vậy, việc sử dụng đấu thầu quốc tế theo quy định của Việt Nam vẫn còn khá hạn chế,vẫn còn mang tính bảo hộ cho các nhà thầu trong nước cao.Trong khi hiện nay là thời đại mở cửa và hội nhập, tính bình đẳng giữa các nhà thầu trong và ngoài nước phải được ưu tiên hàng đầu, vấn đề các trường hợp sử dụng đấu thầu quốc tế cần phải được lưu tâm sửa đổi cũng như việc giảm bớt tình trạng đấu thầu hạn chế phổ biến hiện nay.
1.3 Đặc điểm của đấu thầu quốc tế
1.3.1 Đấu thầu quốc tế là một phương thức giao dich đặc biệt
Tính đặc biệt của phương thức này thể hiện ở những mặt chủ yếu sau:
a Trên thị trường chỉ có một người mua và nhiều người bán
Người mua phần lớn là các tổ chức, cơ quan, các chủ đầu tư được chính phủ cấp tài chính mua sắm hàng hoá, dịch vụ, xây dựng công trình Họ lợi dụng sự cạnh tranh của các nhà thầu để chọn được người bán thích hợp nhất và có các điều kiện giao dịch tối ưu nhất Ngược lại, các nhà thầu cung cấp hàng hoá, dịch vụ được tự do cạnh tranh với nhau để giành quyền cung cấp và kết quả của sự cạnh tranh đó đã làm cho giá cả tiến gần đến giá thực trên thị trường, điều mà bất cứ người mua nào cũng mong đợi.
b Đấu thầu quốc tế tiến hành theo những điều kiện quy định trước
Các nhà thầu một khi đã thoả mãn tốt nhất các điều kiện mà bên mời thầu đưa ra mới có hi vọng trúng thầu, cá biệt trong những trường hợp các nhà thầu đã thoả mãn đầy đủ các điều kiện kỹ thuật, tài chính, uy tín nhưng
vì không tìm được đối tác liên doanh, liên kết người nước sở tại nên đã không giành được hợp đồng Và cũng có những nhà thầu vì không tìm được nhà thầu phụ theo quy định nên cũng không trúng thầu Chính vì những lý do trên người ta nói trong đấu thầu thì thị trường thuộc về phía mời thầu, họ vừa là người chủ động vừa là người bị động.
Trang 7c Thời gian và địa điểm mở thầu xác định
Thời gian mở thầu phải được quy định trước, thông thường nó được thực hiện sau khi thông báo mời thầu một số ngày nhất định Ngày giờ, địa điểm
sẽ được xác định cụ thể trong hồ sơ mời thầu Địa điểm mời thầu trong thực tế thường là tại nước chủ đầu tư, nước người mời thầu và cách thức
mở thầu cũng là nét đặc thù riêng Khi mở thầu, các nhà thầu thường phải
có mặt nghe công bố tính hợp lệ đơn chào và ký vào một biên bản đã được chuẩn bị trước Bên mời thầu sẽ công bố công khai một số chỉ tiêu cơ bản của hồ sơ dự thầu Hiện nay các tổ chức quốc tế như WB và ADB đều có văn bản hướng dẫn đấu thầu công khai, cụ thể và chi tiết về những vấn đề này.
d Ngoài bên mời thầu, nhà thầu còn có người tư vấn
Kỹ sư tư vấn là người đảm bảo hạn chế tới mức tối thiểu các tiêu cực có thể phát sinh, những thông đồng thoả hiệp làm cho chủ dự án bị thiệt hại.
Vì vậy, người tư vấn phải là người có trình độ, năng lực chuyên môn để giúp chủ dự án giải quyết các vấn đề kỹ thuật với nhà thầu.Tuỳ theo công trình, dự án bên mời thầu thuê một hoặc một số loại hình dịch vụ thích hợp Hiện nay, hình thức đấu thầu tư vấn hiện đang rất phát triển và ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị của gói thầu.
1.3.2 Hàng hoá đấu thầu là hàng hoá vô hình hoặc hữu hình, thừơng
có khối lượng lớn, quy cách phẩm chất phức tạp, giá trị cao.
Hàng hoá đấu thầu không chỉ là hàng hoá hữu hình (như máy móc, thiết bị ) mà còn có cả những hàng hoá vô hình (bí quyết kỹ thuật, dịch vụ
tư vấn ) Các mặt hàng đem ra đấu thầu đều có giá trị cao, số lượng lớn Khi đó cả người mua và người bán đều được lợi Người mua sẽ được hưởng giảm giá, đồng thời lịch trình giao hàng phù hợp với nhu cầu nên đã giảm đựoc các chi phí, tăng lợi nhuận Người bán do giành được quyền cung cấp với số lượng lớn, sẽ tạo được công ăn việc làm, mở rộng sản xuất, đầu tư mới, thay đổi công nghệ…
Trang 81.3.3 Tiến hành trên cơ sở tự do cạnh tranh trong điều kiện tuân thủ
các quy đinh của đấu thầu
Theo quy luật cạnh tranh, chiến thắng thuộc về kẻ mạnh, trong đấu thầu cũng như vậy Người có tiềm lực kinh tế, kỹ thuật, có uy tín sẽ là những người có lợi thế lớn hơn Khi tham gia đấu thầu, các bên đều tìm mọi cách lợi dụng triệt để yếu tố cạnh tranh, nhưng cạnh tranh của các nhà thầu phải tuân thủ theo những quy định mà bên mời thầu quy định trước Các nhà thầu có thể thể hiện sức mạnh kinh tế của mình bằng cách chứng minh nguồn vốn pháp định, nguồn vốn lưu động, hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua bản tổng kết tài sản trong những năm gần nhất.
1.3.4 Bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện về mặt pháp lý, việc vay và sử
dụng vốn
Nếu nguồn vốn của là vốn vay của các tổ chức quốc tế như WB hay ADB hay thậm chí là nguồn vốn viện trợ có thể là hoàn lại hoặc không hoàn lại, tất cả đều khiến cho đấu thầu quốc tế phaỉ chịu những điều kiện ràng buộc chặt chẽ.Họ thương có những văn bản hướng dẫn việc sử dụng vốn vay, sử dụng tư vấn riêng công khai, chi tiết và cụ thể.
1.4 Các hình thức đấu thầu quốc tế
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đang tồn tại nhiêu hình thức đấu thầu, mỗi hình thức có một mặt mạnh, mặt yếu káhc nhau và quyết định tới các quy trình đấu thầu khác nhau Để phân biệt các hình thức đó, chúng ta dựa vào các tiêu thức sau:
1.4.1 Căn cứ vào đối tượng đấu thầu
a Đấu thầu quốc tế mua sắm hàng hoá
Trong đấu thầu mua sắm hàng hoá, các nhà thầu cạnh tranh nhau thông qua việc đảm bảo cung cấp hàng hoá có đủ chất lượng theo yêu cầu của cơ quan mua sắm nhưng với chi phí hợp lý nhất cùng với các dịch vụ bảo hành, bảo trì, dịch vụ sau bán hàng thuận lợi đối với người mua Sự cạnh tranh trong cung cấp hàng hoá còn được thể hiện ở chỗ nhà thầu đưa
Trang 9ra nhũng hàng hoá với công nghệ mới, đem lại nhiều lợi thế trong sử dụng Các nhà thầu trong cung cấp hàng hoá cũng luôn phải cạnh tranh nhau bằng
uy tín của mình Như vậy, về thực chất, đây là hình thức áp dụng để mua hàng tiêu dùng, máy móc thiết bị lẻ, nhà máy công nghiệp, kể cả dịch vụ có liên quan
b Đấu thầu quốc tế xây dựng công trình
Là hình thức đấu thầu quốc tế áp dụng để xây lắp gồm những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình, cải tạo, sửa chữa lớn Trong loại hình đấu thầu này, các tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu (giá cả, kỹ thuật, uy tín, tiến độ) được coi trọng hơn cả.người chào giá thấp chưa hẳn là người sẽ giành được hợp đồng Cũng trong loại hình này, người ta đề cao vai trò của người tư vấn, của vấn đề bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo hành công trình
c Đấu thầu quốc tế cung cấp dịch vụ tư vấn
Đó là hình thức đấu thầu quốc tế dùng để đấu thầu các dịch vụ tư vấn chuẩn bị dự án, dịch vụ tư vấn thực hiện dự án và dịch vụ tư vấn điều hành quản lý dự án Do tính chất đặc biệt của dịch vụ tư vấn nên người ta thường coi trọng kinh nghiệm và năng lực của nhà thầu hơn là giá cả Điều này thể hiện rõ trong quy định của ADB về tuyển chọn tư vấn và quy định của WB
về tuyển chọn và thuê chuyên gia tư vấn cũng như trong Luật đấu thầu của Việt Nam.
d Đấu thầu quốc tế dự án hay đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự
án
Khi một dự án có từ có tù hai đối tác trở lên thì đấu thầu quốc tế dự án hay đấu thàu quốc tế lựa chọn đối tác thực hiện án sẽ được tiến hành Điển hình ta có thể thấy như vụ đấu thầu quốc tế chọn đối tác của Petro Vietnam
đã ký hàng chục hợp đồng phân chia sản phẩm với các hãng Shell (Hà Lan), Mobil (Mỹ), Petronas (Malysia)… để nhằm khai thác các trữ lượng
mỏ dầu lớn.ư
Trang 101.4.2 Phân theo hình thức lựa chọn nhà thầu
a Đấu thầu quốc tế rộng rãi
Đây là hình thức đấu thầu quốc tế không hạn chế số lượng nhà thầu Bên mời thầu phải cung cấp hồ sơ mời thầu cho các nhà thầu có nhu cầu tham gia đấu thầu Trong hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng.
Trong loại hình này ta thấy có hai loại: đấu thầu rộng rãi có sơ tuyển và đấu thầu rộng rãi không sơ tuyển, tuỳ thuộc vào đặc điểm công việc của gói thầu
b Đấu thầu quốc tế hạn chế
Là loại hình đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời một số lượng tối thiểu các nhà thầu có năng lực, thoả mãn một số điều kiện nhất định tham
dự Loại hình này thường được áp dụng cho gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu.
c Chỉ định thầu
Đây là hình thức lựa chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu.Chỉ định thầu theo Luật đấu thầu của Việt Nam được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
- Sự cố bất khả kháng do thiên tai, dịch họa, sự cố cần khắc phục ngay thì chủ đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó được chỉ định ngay nhà thầu để thực hiện; trong trường hợp này chủ đầu tư hoặc cơ quan chịu trách nhiệm quản lý công trình, tài sản đó phải cùng với nhà thầu được chỉ định tiến hành thủ tục chỉ định thầu theo quy định trong thời hạn không quá mười lăm ngày kể từ ngày chỉ định thầu;
- Gói thầu do yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài;
Trang 11- Gói thầu thuộc dự án bí mật quốc gia; dự án cấp bách vì lợi ích quốc gia, an ninh an toàn năng lượng do Thủ tướng Chính phủ quyết định khi thấy cần thiết;
- Gói thầu mua sắm các loại vật tư, thiết bị để phục hồi, duy tu, mở rộng công suất của thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất mà trước đó đã được mua từ một nhà thầu cung cấp và không thể mua từ các nhà thầu cung cấp khác do phải bảo đảm tính tương thích của thiết bị, công nghệ;
-Gói thầu dịch vụ tư vấn có giá gói thầu dưới năm trăm triệu đồng, gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp có giá gói thầu dưới một tỷ đồng thuộc dự
án đầu tư phát triển; gói thầu mua sắm hàng hóa có giá gói thầu dưới một trăm triệu đồng thuộc dự án hoặc dự toán mua sắm thường xuyên; trường hợp thấy cần thiết thì tổ chức đấu thầu.
d Tự thực hiện
Là hình thức đấu thầu quốc tế được sử dụng đối với các gói thầu mà chủ đầu tư có đủ năng lực thực hiện trên cơ sở tuân thủ theo các nguyên tắc chỉ định thầu Hình thức tự thực hiện được áp dụng trong trường hợp chủ đầu tư là nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm để thực hiện gói thầu thuộc dự án do mình quản lý và sử dụng Khi áp dụng hình thức tự thực hiện, dự toán cho gói thầu phải được phê duyệt theo quy định Đơn vị giám sát việc thực hiện gói thầu phải độc lập với chủ đầu tư về tổ chức và tài chính.
1.4.3 Căn cứ vào phương thức thực hiện đấu thầu
a Đấu thầu quốc tế một túi hồ sơ
Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC Nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Việc mở thầu được tiến hành một lần.
Trang 12b Đấu thầu quốc tế hai túi hồ sơ
Nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Việc mở thầu được tiến hành hai lần; trong đó, đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở trước để đánh giá, đề xuất về tài chính của tất cả các nhà thầu có đề xuất kỹ thuật được đánh giá là đáp ứng yêu cầu được mở sau để đánh giá tổng hợp.
c Đấu thầu quốc tế hai giai đoạn
Phương thức đấu thầu hai giai đoạn được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, đa dạng.
d Đấu thầu qua mạng
Đấu thầu qua mạng được thực hiện trực tuyến thông qua hệ thống mạng Việc đăng tải thông báo mời thầu, phát hành hồ sơ mời thầu, nộp hồ
sơ dự thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu và thông báo kết quả lựa chọn nhà thầu được thực hiện trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia do cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu xây dựng và thống nhất quản lý
Hơn 24% DN đấu thầu qua mạng
Tại Hội thảo Đấu thầu điện tử thông qua Cổng đấu thầu điện tử dgMarket Vietnam (dgMarket VN) ngày 4-10-2008 tại Đà Nẵng, bà Trần Thị Thu Hương, Giám đốc Trung tâm Phát triển bền vững (VnSDC) trình bày kết quả khảo sát thực trạng đấu thầu tại Việt Nam Trong 1 năm, VnSDC đã khảo sát trên 10.000 đơn vị với 12 loại hình đơn vị khác nhau, trong đó loại hình công ty TNHH chiếm nhiều nhất với tỷ lệ 28,8%, công ty cổ phần 21,4%, cơ quan Nhà nước cũng chiếm đến 15,3%.
Quy mô của các đơn vị được khảo sát rất lớn, có đến 35,65% số đơn
vị có phạm vi hoạt động trên toàn quốc, 34,6% đơn vị hoạt động tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội Kết quả cho thấy, 59,7% thông tin dự thầu được
Trang 13thông báo qua quan hệ cá nhân, thông báo qua nội bộ ngành và hiệp hội 37%, chỉ có 24,39% thông báo qua Internet
Bà Thu Hương nhận định: Hình thức thông báo thầu qua Internet là phương pháp hiệu quả nhất để các nhà mời thầu mở rộng hợp tác quốc tế Thế nhưng, kết quả khảo sát mới chỉ có hơn 24% thông báo đấu thầu qua Inernet, chứng tỏ một điều các đơn vị hoạt động kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp chưa thực sự chủ động “vươn ra biển lớn” sau 2 năm Việt Nam chính thức gia nhập WTO
Tuy đã có một số doanh nghiệp tham gia đấu thầu quốc tế thông qua mạng, như Công ty Dệt Phong Phú, Công ty Dệt Thắng Lợi, một số đơn vị thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam thế nhưng nước ta chưa có được hệ thống thông tin đấu thầu thông qua mạng chính thống của Nhà nước Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã vận hành thử nghiệm hệ thống đấu thầu qua mạng từ 1-9-2004 về giá điện nội bộ, nhưng thông tin chưa được nhiều, mục tiêu chính mới chỉ là thông báo mời thầu.
1.4.4 Căn cứ vào tính chất của gói thầu
a Đấu thầu quốc tế theo dạng hợp đồng trọn gói
Loại đấu thầu này giá cả không thay đổi, mọi phát sinh sau khi ký kết và thực hiện hợp đồng không phải do lỗi của nhà thầu sẽ được phía mời thầu xem xét quyết định.Loại này áp dụng cho những gói thầu được xác định rõ
về mặt số lượng, yêu cầu về chất lượng và thời gian, giá trị nhỏ, giá cả ít biến động
b Đấu thầu quốc tế theo hợp đồng có điều chỉnh gía
Đấu thầu loại này áp dụng cho những gói thầu mà tại thời điểm ký kết hợp đồng không đủ điều kiện xác định chính xác về số lượng, khối lượng công việc hoặc biến động lớn về giá.
1.4.5 Căn cứ vào cách tuyển chọn nhà thầu
a Trên cơ sở chất lượng và chi phí (QCBS)
Trang 14Theo cách tuyển chọn này, bên mời thầu sẽ đánh giá về mặt kỹ thuật và chọn những nhà thầu đạt một số điểm nhất định để định giá về chi phí.Sau
đó bên mời thầu sẽ đánh giá kết hợp chất lượng và chi phí bằng cách chia điểm chất lượng và chi phí theo một tỷ trọng nhất định rồi công hai kết quả lại, nhà thầu có số điểm cao nhất sẽ được mời đàm phán ký kết hợp đồng.Cách tuyển chọn này thường áp dụng cho đấu thầu quốc tế xây lắp.
b Trên cơ sở chất lượng
Cách tuyển chọn này thường áp dụng cho tuyển chon tư vấn.Các nhà thầu được yêu cầu nộp đề án kỹ thuật, không có đề án tài chính Đề án của nhà thầu cũng được đánh giá bằng cách tính điểm như trên, nhà thầu có số điểm cao nhất sẽ được chọn.
c Trên cơ sở một ngân sách cố định
Theo phương pháp này, đề án kỹ thuật và đề án tài chính được để theo hai phong bì riêng Tất cả đề án tài kỹ thuật được đánh giá trước theo phương pháp QCBS, sau đó đề án tài chính sẽ được mở công khai, đề án nào vượt quá ngân sách sẽ bị loại Số nhà thầu còn lại, nhà thầu nào có điểm cao nhất sẽ được chọn.
d Trên cơ sở nhà thầu có chi phí thấp nhất
Cách lựa chọn này có thể áp dụng cho cả mua sắm hàng hoá và tuyển chọn tư vấn Theo cách này, đề án kỹ thuật và đề án giá cũng được để trong hai phong bì, bên mời thầu sẽ đánh giá về mặt kỹ thuật trước, đề án nào có điểm thấp hơn mức tối thiểu sẽ bị loại.Trong các nhà thầu còn lại, nhà thầu nào có mức giá thấp hơn sẽ được chọn.
Ngoài ra, đấu thầu quốc tế còn có mua sắm theo một nguồn duy nhất, dựa theo năng lực nhà thầu…
1.4.6 Theo nguồn vốn
a Vốn ngân sách nhà nước
Trang 15Đây là hình thức đấu thầu quốc tế trong đó nguồn vốn thực hiện sử dụng vốn ngân sách nhà nước Có hai hình thức trong loại hình này: vốn tự
có của ngân sách nhà nước và vốn đi vay của ngân sách nhà nước như vốn ODA.
1.4.7 Các hình thức mua sắm khác
a Chào hàng cạnh tranh quốc tế
Là hình thức đấu thầu quốc tế áp dụng trong trường hợp có đủ các điều kiện sau đây:
Gói thầu có giá gói thầu dưới hai tỷ đồng;
Nội dung mua sắm là những hàng hoá thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hoá và tương đương nhau về chất lượng
b Mua sắm trực tiếp
Mua sắm trực tiếp được áp dụng khi hợp đồng đối với gói thầu có nội dung tương tự được ký trước đó không quá sáu tháng ADB quan niệm hình thức này giống với chỉ định thầu WB cũng có quy đinh tương tự Theo quy định của các ngân hàng nói trên thì mua sắm trực tiếp không thông qua đấu thầu và được áp dụng trong những trường hợp đặc biệt mà thôi.
c Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt
Trang 16Trường hợp gói thầu có đặc thù riêng biệt sẽ áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu theo phương án do chủ đầu tư lựa chọn và lập phương án báo cáo cho Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trên tinh thần đảm bảo hiệu quả và cạnh tranh
1.5 Quy trình đấu thầu quốc tế trong lĩnh vực xây lắp của Việt Nam
Quy trình đấu thầu thi công xây lắp theo quy định của Luật đấu thầu Việt Nam ( Được cụ thể hoá trong chương V nghị định 58 CP)
Trình tự thực hiện đấu thầu quốc tế gồm các bước: lập kế hoạch đấu thầu, chuẩn bị đấu thầu, tổ chức đấu thầu, làm rõ hồ sơ mời thầu( HSMT), đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT), làm rõ HSDT, xét duyệt trúng thầu, trình duyệt và thẩm định kết quả đấu thầu, phê duyệt kết quả đấu thầu, thông báo kết quả đấu thầu; thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng Cụ thể các bước như sau:
Bước 1: Lập kế hoạch đấu thầu
Kế hoạch đấu thầu là một văn bản được các cấp có thẩm quyền phê duyệt để làm căn cứ đấu thầu Nội dung trong kế haọch đấu thầu bao gồm: tên gói thầu, giá gói thầu, nguồn vốn, hình thức lựa chọn nhà thầu, phương thức đấu thầu, thời gian lựa chọn nhà thầu, hình thức hợp đồng và thời gian thực hiện hợp đồng.
Bước 2: Chuẩn bị đấu thầu
Bao gồm các công việc sau:
- Sơ tuyển nhà thầu: hồ sơ mời sơ tuyển đấu thầu quốc
tế là toàn bộ tài liệu bao gồm các yêu cầu về năng lực và kinh nghiệm đối với nhà thầu làm căn cứ pháp lý để bên mời thầu lựa chọn danh sách nhà thầu mời tham gia đấu thầu Theo Luật đấu thầu, các gói thầu xây lắp có trị giá từ 200 tỷ đồng trở lên phải được tiến hành sơ tuyển Trình tự thực hiện
sơ tuyển gồm lập hồ sơ mời sơ tuyển, thông báo mời sơ tuyển, tiếp nhận và quản lý hồ sơ sơ tuyển, đánh giá hồ sơ sơ tuyển, trình và duyệt kết quả sơ tuyển, thông báo kết quả sơ tuyển.
Trang 17- Lập hồ sơ mời thầu: HSMT là toàn bộ tài liệu quan trọng để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu đánh giá hồ
sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà trúng thầu Hồ sơ bao gồm yêu cầu về mặt
kỹ thuật, hồ sơ về mặt tài chính thương mại và tiêu chuẩn đánh giá, yêu cầu quan trọng, điều kiện ưu đãi nếu có, thuế, bảo hiểm cùng các yêu cầu khác nếu có.
- Mời thầu: Việc mời thầu được thực hiện theo quy định: thông báo mời thầu đối với đấu thầu rộng rãi quốc tế hay gửi thư mời thầu đối với đấu thầu quốc tế hạn chế hoặc đấu thầu rộng rãi có qua sơ tuyển.
Bước 3: Tổ chức đấu thầu
- Phát hành HSMT : Hồ sơ mời thầu được phát hành cho các nhà thầu tham gia đấu thầu rộng rãi, hay cho các nhà thầu theo danh sách được mời tham gia đấu thầu hạn chế hoặc các nhà thầu đã qua bước sơ tuyển.
- Tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự thầu: Các hồ sơ dự thầu nộp theo yêu cầu của HSMT phải được tiếp nhận và quản lý theo chế độ “Mật”
Mở thầu: Việc tiến hành mở thầu phải công khai ngay sau thời điểm đóng thầu Trong buổi mở thầu phải công khai thông tin chính trong HSDT của từng nhà thầu, ghi lại thành biên bản có chữ ký đại diện của bên mời thầu, dự thầu và đại diện cơ quan liên quan tham dự
Bước 4: Làm rõ HSMT
Trong trường hợp nhà thầu cần làm rõ HSMT thì phải gửi văn bản đề nghị đến bên mời thầu để xét và xử lý Việc làm rõ HSMT có thể thực hiện bằng việc bên mời thầu gửi văn bản làm rõ HSMT cho các nhà thầu đã nhận HSMT; tổ chức hội nghị tiền đấu thầu nhằm trao đổi thêm về nội dung trong HSMT hay văn bản làm rõ HSMT là một phần của HSMT.
Bước 5: Đánh giá HSDT
Trang 18Việc đánh giá HSDT được thực hiện qua việc đánh giá sơ bộ HSDT
để lọai bỏ HSDT không hợp lệ, không đảm bảo yêu cầu; đánh giá chi tiết HSDT gồm đánh giá về mặt kỹ thuật, đánh giá chi phí trên cùng một mặt bằng về ký thuật, tài chính, thương mại để so sánh, xếp hạng các HSDT.
Bước 6 Làm rõ hồ sơ dự thầu
HSDT là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của HSMT và được nộp cho bên mời thầu theo quy định nêu trong HSMT Việc làm rõ HSDT có thể được thực hiện dưới hình thức trao đổi trực tiếp hay gián tiếp, nhưng phải đảm bảo không làm thay đổi nội dung cơ bản của HSDT đã nộp, không thay đổi giá dự thầu Nội dung làm rõ HSDT phải được thể hiện dưới dạng văn bản.
Bước 7 Xét duyệt trúng thầu:
Nhà thầu xây lắp sẽ được xét duyệt trúng thầu khi đủ các điều kiện về
hồ sơ hợp lệ, đáp ứng nhu cầu về năng lực và kinh nghiệm, yêu cầu kỹ thuật “Đạt “, chi phí thấp nhất trên cùng một mặt bằng và giá đề nghị trúng thầu không vượt quá giá gói thầu được duyệt.
Bước 8: Trình duyệt và thẩm định kết quả đấu thầu quốc tế:
Bên mời thầu phải lập báo cáo về kết quả đấu thầu để chủ đầu tư trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định và gửi đến cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thẩm định Cơ quan, tổ chức này lập báo cáo thẩm định kết quả đấu thầu để trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Bước 9: Phê duyệt kết quả đấu thầu quốc tế
Người có thẩm quyền chịu trách nhiệm xem xét, phê duyệt kết quả đấu thầu trên cơ sở báo cáo về kết quả đấu thầu và báo cáo thẩm định đấu thầu Nội dung văn bản phê duyệt kết quả xét thầu gồm tên nhà thầu trúng, giá trúng thầu, hình thức hợp đồng, thưòi gian thực hiện hợp đồng và các nội dung lưu ý (nếu có).
Bước 10: Thông báo kết quả đấu thầu
Trang 19Việc thông báo kết quả đấu thầu được thực hiện ngay sau khi có quyết định phê duyệt kết quả đấu thàu của người có thẩm quyền Trong thông báo kết quả không phải giải thích lý do đối với nhà thầu không trúng.
Bước 11: Thương thảo hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng
Việc thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng với nhaàthầu phải dựa treê cơ sở của kết quả đấu thầu được xét duyệt, mẫu hợp đồng đã điền đầy đủ thông tin cụ thể của gói thầu, các yêu cầu nêu trong HSMT, các nội dung nêu trong HSDT và giả thích làm rõ HSDT của nhà thầu trúng thầu nếu có và các nội dung cần được thương thảo, hoàn thiện hợp đồng là cơ sở
để chủ đầu tư và nhà thầu tiến hành ký kết hợp đồng.
Trong trường hợp việc thương thảo không thành thì chủ đầu tư phải báo cáo người có thẩm quyền xem xét việc lựa chọn nhà thầu xếp hạng tiếp theo.
Nội dung của quy trình đấu thầu quốc tế đối với lĩnh vực xây lắp được minh hoạ trong sơ đồ sau:
Trang 20Sơ đồ 1.1:Trình tự các bước thực hiện công tác đấu thầu
(theo quy định của Luật Đấu thầu)
Nguồn: tài liệu đấu thầu quốc tế bộ kế hoạch & đầu tư
riêng hoặc duyệt
trong báo cáo
KTKT của dự án
- Hồ sơ mời thầu và
tiêu chuẩn đánh giá
hồ sơ dự thầu
- Các nội dung khác
(B) Người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền:
Thẩm định và phê duyệt:
- Kế hoạch đấu thầu
- Hồ sơ mời thầu và tiêu chuẩn đánh giá hồ
sơ dự thầu các dự án nhóm A, B, C
- Các nội dung khác
(C) Chủ đầu tư/bên mời thầu tổ chức đấu thầu:
1- Đấu thầu rộng rãi:
- Thông báo mời thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Bán hồ sơ mời thầu
- Nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu
- Bên mời thầu nhận hồ sơ dự thầu
- Nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu
- Nhận hồ sơ dự thầu và đóng thầu
- Đánh giá hồ sơ dự thầu
và trình duyệt kết quả đấu thầu
(E) Người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền:
Thẩm định và phê duyệt kết quả đấu thầu
Trang 21Ghi chú :
1- Tại mục A và B :
1.1- Đối với 01 gói thầu, các nội dung cơ bản của quá trình đấu thầu (do
chủ đầu tư/bên mời thầu trình và được cấp có thẩm quyền phê duyệt) gồm :
- Kế hoạch đấu thầu gói thầu ;
- Danh sách các nhà thầu tham gia đấu thầu hạn chế (nếu đấu thầu hạn chế);
- Tổ Chuyên gia giúp việc đấu thầu (phải có quyết định thành lập tổ chuyên gia)
- Danh sách ngắn tư vấn tham gia dự thầu (đối với đấu thầu tuyển chọn tư vấn) ;
- Hồ sơ mời sơ tuyển ; tiêu chuẩn đánh giá sơ tuyển, kết quả sơ tuyển nhà thầu (nếu đầu thầu hai giai đoạn - có bước sơ tuyển) ;
- Hồ sơ mời thầu gói thầu ;
- Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu ;
1.2- Thời gian thẩm định và phê duyệt :
Bảng 1.1 Quy định thơi gian thẩm đ nh v phe duy t ịnh và phe duyệt à phe duyệt ệt
tối đa 60 ngày
2- Hồ sơ mời thầu Thời gian thẩm định và phê duyệt
- Hồ sơ mời thầu các gói
thầu thuộc thẩm quyền của
Trang 222.1- Thông báo mời thầu: Bên mời thầu phải tiến hành thông báo trên trang thông tin điện tử về đấu thầu (và trên các phương tiện thông tin đại chúng - nếu cần) tuỳ theo quy mô và tính chất của gói thầu tối thiểu 3
kỳ liên tục và phải thông báo trước khi phát hành hồ sơ mời thầu tối thiểu
10 ngày kể từ ngày thông báo lần đầu.
2.2- Thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu tối thiểu là 15 ngày đối với đấu thầu trong nước và 30 ngày đối với đấu thầu quốc tế
2.3- Việc mở thầu phải tiến hành ngay sau thời điểm đóng thầu
3- Tại mục D :
Thời hạn đánh giá hồ sơ dự thầu được tính từ thời điểm mở thầu đến
khi trình duyệt kết quả đấu thầu lên người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền tối đa 45 ngày đối với đấu thầu trong nước và 60 ngày đối với đấu thầu quốc tế Trường hợp áp dụng phương thức đấu thầu hai giai đoạn, thời
hạn đánh giá hồ sơ dự thầu được tính từ thời điểm mở thầu giai đoạn 2
4- Tại mục E :
- Danh sách xếp hạng các nhà thầu về đề xuất kỹ thuật, danh sách xếp hạng tổng hợp kỹ thuật và tài chính (đối với đấu thầu tuyển chọn tư vấn).
- Kết quả đấu thầu gói thầu.
- Thời gan thẩm định và phê duyệt :
B ng 1.2 Th i gan th m nh v phê duy t ảng 1.2 Thời gan thẩm định và phê duyệt ời gan thẩm định và phê duyệt ẩm định và phê duyệt định và phe duyệt à phe duyệt ệt
Kết quả đấu thầu Thời gian
thẩm định Thời gian phê duyệt Tổng cộng
Kết quả đấu thầu gói
thầu thuộc thẩm quyền
Thủ tướng CP
30 theo quy chế làm
việc của Chính phủ (tối đa 45 ngày)
tối đa 75 ngày
5- Tại mục F: Chủ đầu tư tiến hành thương thảo, ký kết hợp đồng với
nhà thầu trúng thầu (hợp đồng với nhà thầu nước ngoài hoặc hợp đồng với
Trang 23nhà thầu trong nước mà kết quả đấu thầu do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt) Trường hợp việc thương thảo, hoàn thiện hợp đồng không thành thì chủ đầu tư phải báo cáo người có thẩm quyền xem xét việc lựa chọn nhà thầu xếp hạng tiếp theo Trường hợp các nhà thầu xếp hạng tiếp theo cũng không đáp ứng yêu cầu thì báo cáo người có thẩm quyền xem xét, quyết định
6- Các vấn đề khác : việc thay đổi nội dung hồ sơ mời thầu đã được
duyệt ; kéo dài thời điểm đóng thầu ; keó dài thời gian có hiệu lực của hồ
sơ dự thầu, theo quy định phải được cấp có thẩm quyền cho phép
1.7 Tác dụng của đấu thầu quốc tế
1.7.1 Đối với bên mời thầu
Thông qua đấu thầu, chủ đầu tư lựa được nhà thầu có khả năng đáp ứng tốt nhất yêu cầu về chất lượng, tiến độ và tiết kiệm chi phí Bên cạnh
đó, công tác đấu thầu giúp cho công tác quản lý vốn tốt hơn, mang lại nhiều lợi ích hơn cho xã hội đồng thời tạo cơ hội nâng cao năng lực đội ngũ cán
bộ của Chủ đầu tư, mở rộng hợp tác quốc tế.Hơn thế nữa, đấu thầu quốc tế còn làm nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư trước nhà nước Ngoài ra, do đấu thầu quốc tế tập trung mua bán hàng hoá với số lượng lớn, giá trị cao nên chủ đầu tư có thể được hưởng ưu đãi từ phía người cho vay và phái người cung cấp hàng hoá và dịch vụ.
1.7.2 Đối với nhà thầu
Thông qua đấu thầu quốc tế buộc các nhà thầu phải luôn quan tâm đến việc cải tiến công nghệ thi công, hoàn thiện công tác quản lý sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm tạo ưu thế cạnh tranh trên thương trường
Đồng thời đây cũng là cơ hội tốt để các doanh nghiệp xây lắp phát triển quy mô, mở rộng ngành nghề, tăng sản phẩm cho xã hội; là cơ hôi để các doanh nghiệp tự hoàn thiện tổ chức sản xuất, tổ chứcc quản lý, xây dựng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.Cũng như môi trường này,
Trang 24các doanh nghiệp phải tự vươn lên thành lập các tập đoàn kinh tế mạnh để
đủ sức vươn ra cả thị trường thế giới
Đấu thầu quốc tế cũng là tạo cơ hội cho các nhà thầu tiếp thu công nghệ và kỹ thuật tiên tiến từ phía nhà thầu nước ngoài thông qua liên doanh, liên kết với các nhà thầu quốc tế.
Cuối cùng, nó giúp tạo cơ hội tìm kiếm việc làm qua các cuộc đấu thầu rộng rãi quốc tế.
1.7.3 Lợi ích với người cho vay
Đối với người cho vay là các ngân hàng thì việc vay vốn và cho vay vốn là một nghiệp vụ kinh doanh và co sinh lợi nhuận, đặc biệt là những hợp đồng đấu thầu quốc tế thường có giá trị vốn cho vay lớn, việc sử dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả cũng là mục đích của họ đồng thời tăng vị thế Ngoài ra, thông qua việc cho vay qua đấu thầu quốc tế như vậy, họ có thể kiểm soát, khống chế tiềm lực kinh tế, thay đổi quan điểm của người đi vay…
Đối với các tổ chức quốc tế, thông qua đấu thầu quốc tế, họ có khả năng thực hiện tốt hơn nghĩa vụ của mình, nâng cao uy tín của tổ chức, tạo điều kiện cho các công ty của nước họ giành những hợp đồng làm ăn béo bở…
1.7.4 Lợi ích đối với người tư vấn
Việc sử dụng tư vấn trong hoạt động đấu thầu quốc tế không những đem lại những lợi ích cho chủ đầu tư mà còn mang lại lợi ích cho chính công ty tư vấn Đó là việc thu lợi nhuận từ dịch vụ tư vấn, tăng khả năng cung ứng các dịch vụ chất lượng cao, tích luỹ kinh nghiệm quốc tế và mở rộng hợp tác quốc tế.
1.7.5 Lợi ích đối với nhà nước
Trang 25Thông qua hoạt động đấu thầu quốc tế, các cơ quan nhà nước có đủ thông tin thực tế và cơ sở chính xác, khoa học để đánh giá đứng năng lực thực sự của các nàh thầu Trong lúc hiệu quả kinh tế của các công trình, dự
án được nâng cao, khi đó cũng đã tiết kiệm cho ngân sách nhà nước một khoản tiền không nhỏ Hoạt động đấu thầu quốc tế, xa hơn, còn thúc đẩy phát triển nền kinh tế trong môi trường cạnh tranh lành mạnh mà chúng ta đang hướng tới.
1.8 Kinh nghiệm đấu thầu quốc tế các công trình xây lắp của một số tổ chức quốc tế
Theo như nghiên cứu những kinh nghiệm về đấu thầu của các tổ chức quốc tế có quan hệ mật thiết với Việt Nam như Ngân hàng Thế giới
WB, Ngân hàng phát triển Châu Á ADB, Ngân hàng hợp tác Quốc tế Nhật Bản JBIC, một số đặc điểm quan trọng cần rút ra bài học là:
Bài học kinh nghiệm đầu tiên là việc cả ba tổ chức này đều có hai
văn bản quy định riêng rẽ về đấu thầu quốc tế cho hai lĩnh vực đấu thầu rất khác nhau là đấu thầu xây lắp, mua sắm hàng hoá và đấu thầu tuyển chọn
tư vấn (Cụ thể tên cảu các văn bản này được trình bày cụ thể trong phụ lục ) Trong khi đó, các văn bản pháp lý của Việt Nam về đấu thầu thường gộp chung vào một tài liệu thường gây nhầm lẫn cho những người tổ chức thực hiện
Baì học thứ hai là việc thống nhất các thông tin về đấu thầu Thông
báo mời thầu sẽ có thể bị lợi dụng nếu bên mời thầu có dụng ý dành sự ưu tiên cho một nhà thầu nào đó Việc đăng thông tin trên những tờ báo tư nhân, nội bộ là một trong những hình thức gian lận thông tin kiểu này Do vậy, thông tin không thể đến được với các nhà thầu thực sự tiềm năng Theo quy định của Ngân hàng Thế giới yêu cầu việc đấu thầu cạnh tranh quốc tế phải được thông báo công khai trên các tờ báo “Kinh doanh và phát triển” của Liên Hợp quốc Ngân hàng Thế giới quy định “ Việc thông báo đúng lúc về các cơ hội đấu thầu cực kì quan trọng trong đấu thầu cạnh
Trang 26tranh” Tương tự như vây, Ngân hàng Phát triển Châu Á cũng quy định quảng cáo và thông báo mời thầu phải đảm bảo cơ hội cạnh trnah cho các nhà thầu thuộc tất cả các nước thành viên của ADB, đăng tải thông tin công khai trên tạp chí “ Cơ hội kinh doanh ADB” của Ngân hàng cũng như một
tờ báo lưu hành rộng rãi trong nước của bên vay, ít nhất trên một tờ báo tiếng Anh nếu có
Bài học thứ ba là việc các tổ chức quốc tế đều coi trọng hình thức
đấu thầu quốc tế rộng rãi là hình thức chủ yếu, các hình thức khác chỉ được
áp dụng khi có đầy đủ các điều kiện bắt buộc Vậy mà trong thời gian dài, tại Việt nam, hình thức đấu thầu hạn chế đã chiếm lĩnh một số lượng áp đảo Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản cho rằng “ Trong hầu hết các trường hợp đấu thầu, hình thức đấu thầu cạnh tranh quốc tế là giải pháp tốt nhất để thoả mãn các yêu cầu mua sắm hàng hoá và dịch vụ cho dự án.”
Bài học thứ tư là việc quy định rõ tính hợp lệ của nhà thầu Một
trong những nhân tố quan trọng để nhà thầu được phép tham dự thầu với tư cách là nhà thầu độc lập là nó phải tự chủ về tài chính Có như vậy các nhà thầu khi tham gia đấu thầu mới tránh được sự chỉ đạo, điều hành của các cơ quan quản lý trực trực tiếp hoặc tránh bị lệ thuộc vào một cấp quản lý nhất định Ngân hàng Thế Giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Ngân hàng hợp tác Quốc tế Nhật bản cho rằng, các đơn vị chỉ độc lập về mặt tổ chức thôi chưa đủ, họ phải độc lập về mặt tài chính mới đủ tư cách hợp lệ tham dự gói thầu quốc tế.
Bài học thứ năm là việc các tổ chức quốc tế đã đưa yêu cầu chống
tham nhũng trở thành một trong những biện pháp nhằm đảm bảo sự công bằng, minh bạch, cạnh tranh trong đấu thầu quốc tế Ngân hàng Thế giới quy định rõ chính sách của Ngân hàng đối với những mua sắm sai quy định
và gian lận tham nhũng trong đấu thầu Ngân hàng Phát triển Châu Á cũng đình chỉ cấp vốn đối phần vốn vay đã phân cho hợp đồng ở bất kì một giai đoạn nào phát hiện ra có tham nhũng và gian lận trong suốt quá trình mua
Trang 27sắm và thực hiện hợp đồng xây dựng công trình sau khi đã nhận được ý kiến đóng góp của Ngân hàng nhưng họ vẫn không có gì thay đổi nhằm đáp ứng những đòi hỏi của Ngân hàng Ngân hàng cũng sẽ tuyên bố công khai danh tính của các công ty không đủ tư cách hợp lệ vĩnh viễn hoặc trong một thời hạn nhất định Đây thực sự là vấn đề nóng bỏng mà Việt Nam cần quan tâm một cách thích đáng trong giai đoạn hiện nay.
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐẤU THẦU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
LILAMA 10
2.1 Thực trạng về công tác đấu thầu ở công ty cổ phần Lilama 10
2.1.1 Những kết quả đạt được trong thời gian qua
Ở giai đoạn đầu chủ yếu Công ty thi công phần lớn các hạng mục công trình do Tổng Công ty giao Do vậy có thể nói trong giai đoạn này Công ty không hề có hoạt động chủ động tìm kiếm đối tác, dự án để đấu thầu Chỉ đến năm 1996 Công ty mới bắt đầu tham gia vào hoạt động đấu thầu Tuy nhiên lúc này Công ty chưa thực sự làm quen với hoạt động đấu thầu nên Công ty tham gia nhưng rất ít mà chủ yếu vẫn thực hiện những công trình do các chủ đầu tư tín nhiệm và Tổng Công ty giao cho Đến năm
2000 Công ty mới thực sự tìm kiếm và tham gia vào quá trình cạnh tranh trực tiếp trên thị trường thông qua hình thức đấu thầu và coi hoạt động này là một phần quan trọng trong việc tìm kiếm dự án và tạo việc làm cho cán bộ công nhân viên.
Như vậy trong vòng 7 năm trở lại đây thì công tác đấu thầu mới thực
sự được thực hiện tại Công ty Trong thời gian này này công ty đã tích cực tìm kiếm công trình và tham gia đấu thầu và đã thắng thầu nhiều công trình có giá trị và quy mô lớn như:
Trang 29Bảng 2.1: Các công trình Công ty đã trúng thầu 5 năm gần đây ST
Giá trị (tỷ đồng)
3 Cải tạo và phát triển lưới điện TP Vinh 4,088
5 Xây lắp trạm biến áp 110KV Thanh Hoá 4,895
6 Gói thầu số 7: Kết cấu cột thép đường
dây 110KV
Kiến An-Đồ Sơn 8,275
7 Cung cấp cánh phải hạ lưu của Nhà
máy thuỷ điện Thác Bà
Thác Bà - Yên Bái
0,481
8 Đại tu sửa chữa tổ máy 2-Nhà máy
thuỷ điện Thác Bà
Thác Bà- Yên Bái
15 Lắp thiết bị trạm 500KV Thường Tín Hà Tây 5,178
17 Mua sắm cột thép dự án nhánh rẽ
đường dây 110KV Than Uyên - Lai
Châu
18 Hoàn thiện trạm bù dầu tĩnh cốt 162
Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình
Trang 30DNG- 1B Quế Dương
21 Xây lắp đường dây và trạm 500KV
Hà Tĩnh - Thường Tín
Hà Tĩnh - Thường Tín
4,339
23 Chế tạo mạ kẽm đương dây 220KV
25 Xây lắp trạm 220KV Vĩnh Yên Vĩnh Yên 5,680
26 Xây lắp trạm biến áp 220KV Hoà
29 Sửa chữa tổ máy 1 thuỷ điện Thác Bà 21,000
32 Gói cung cấp lắp thiết bị thuỷ công
Nhà máy thuỷ điện Nậm Công III
33 Lắp tiết bị cơ điện Thuỷ điện Cửa Đạt Thanh Hoá 28,8
34 Lắp thiết bị cơ điện Thuỷ Điện Sơn
39 Công trình lọc dầu số 1 Dung Quất Quảng Trị 53
(Nguồn: phòng Kinh tế kỹ thuật)
Qua một những công trình lớn mà Công ty cổ phần lilama 10 đã thi công những năm gần đây, ta có thể thấy các công trình mà Công ty đã thi công chủ yếu là các côg trình lắp đặt hệ thống điện và có liên quan đến các công tác t hiết kế xây dựng lắp đặt thiết bị điện Điều này có thể thấy rõ ràng hơn trong những công trình mà Công ty đã triển khai và thi công trước đây đó là 2 công trình lớn : công trình xây lắp nhà máy thuỷ điện Hoà Bình
và nhà máy thuỷ điện Yaly sắp tới đây sẽ là công trình thuỷ điện Nậm
Trang 31Công 3 Việc những công trình mà Công ty thi công phần lớn đều là các công trình lắp đặt thiết bị điện cho thấy là một doanh nghiệp lắp máy và xây dựng nhưng lĩnh vực hoạt động của Công ty bị thu hẹp Trong những năm tới Công ty cần phải mở rộng lĩnh vực kinh doanh đặc biệt là phần thị trường xây dựng để có thể tham gia hoạt động đấu thầu thêm nhiều công trình xây dựng khác Tuy mới tham gia hoạt động đấu thầu nhưng Công ty đã chủ động và luôn nỗ lực để khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường xây dựng Điều này đã được thể hiện thông qua tỷ lệ thắng thầu và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần lilama10 trong 5 năm gần đây.
Tỷ lệ thắng thầu các công trình mà Công ty thi công trong 4 năm gần đây được mô tả qua bảng thống kê sau:
Trang 32Bảng 2.2: Số lượng và giá trị các công trình, hạng mục công trình
đã trúng thầu của Công ty cổ phần Lilama 10
Số lượng
Giá trị (tỷ đồng)
Số lượng
Giá trị (tỷ đồng)
(Nguồn: Phòng kinh tế kỹ thuật)
Biểu đồ 2.1So sánh các công trình dự thầu
(Nguồn: Phòng kinh tế kỹ thuật)
Biểu đồ 2.2 So sánh tổng giá trị các công trình
0 2 4 6 8 10 12 14 16 18
2004 2005 2006 2007
Số công trình dụ thầu
Số công trình trúng thầu
Trang 330 100 200 300 400 500 600
Tổng giá trị công trình
dự thầu Tổng giá trị công trình trúng thầu
(Nguồn: Phòng kinh tế kỹ thuật)
Qua bảng và qua biểu đồ trên ta thấy tỷ lệ các công trình đã trúng thầu
so với các công trình đã trượt thầu qua các năm của Công ty cổ phần lilama10 ngày càng tăng lên cho thấy quá trình đấu thầu của Công ty ngày càng được hoàn thiện tổng Số lượng các dự án , các cônng trình mà Công
ty tham gia dự thầu ít đi và đã có những chọn lọc hơn để đáp ứng phù hợp với khả năng ,năng lực tài chính của doanh nghiệp Tỷ lệ giá trị của các công trình trúng thầu so với dự thầu cũng tăng đáng kể từ 13,8% năm
2004 đến 69,4,% năm 2007 Đặc biệt năm 2007 tổng giá trị công trình trúng thầu tăng mạnh từ 50,6 tỷ đồng năm 2006 lên 344,6 tỷ đồng.
Hãy cùng xem các gói dự thầu và trúng thầu của công ty năm 2007 qua bảng biểu sau:
Bảng 2.3: Nh ng gói th u Công ty trúng th u n m 2007 ững gói thầu Công ty trúng thầu năm 2007 ầu Công ty trúng thầu năm 2007 ầu Công ty trúng thầu năm 2007 ăm 2007
1 Lắp thiết bị cơ điện thuỷ điện Cửa Đạt 28,8
2 Lắp thiết bị cơ điện thuỷ điện Sơn La 198
3 Trạm bù dầu lĩnh thuỷ điện Hoà Bình 0,3
(Nguồn: Phòng kinh tế kỹ thuật)
Bảng 2.4: Các gói th u không trúng th u c a Công ty n m 2007 ầu Công ty trúng thầu năm 2007 ầu Công ty trúng thầu năm 2007 ủa Công ty năm 2007 ăm 2007
Trang 34STT Tên gói thầu Giá trị (tỷ đồng)
1 Lắp thiết bị cơ điện thuỷ điện Cửa Đạt 28,8
2 Lắp thiết bị cơ điện thuỷ điện Sơn La 198
3 Trạm bù dầu tĩnh thuỷ điện Hoà Bình 0,3
9 Lắp đặt thiết bị cơ điện thuỷ điện
11 Lắp đặt tlhiết bị đường ống thiết bị áp lực
thuỷ điện Nậm Chim I
(Nguồn: Phòng kinh tế kỹ thuật)
Những điểm nổi bật trong năm 2009 của công ty:
KÝ 2 HỢP ĐỒNG EPC LỚN NHẤT TỪ TRƯỚC TỚI NAY
Ngày 9/4/2009 tại Hà Nội, Tổng công ty Lilama đã ký hợp đồng EPC
dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 (1.200 MW) với chủ đầu tư - Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam đại diện liên danh nhà thầu ký hợp đồng EPC dự án nhà máy Nhiệt điện Nhơn Trạch 2 với Công ty CP Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 (chủ đầu tư)
Theo hợp đồng EPC trị giá 1,17 tỷ USD dự án nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1, Lilama sẽ có thời gian 45 tháng để thiết kế, cung cấp, chế tạo, xây dựng và lắp đặt thiết bị, chạy thử, vận hành và bàn giao toàn bộ nhà máy cho chủ đầu tư Cụ thể, tiến hành phát điện tổ máy số 1 vào khoảng tháng 8/2012 và tổ máy số 2 vào khoảng tháng 03/2013 Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 gồm 2 tổ máy được xây dựng tại xã Kỳ Lợi, huyện Kỳ
Trang 35Anh, tỉnh Hà Tĩnh Nhà máy sử dụng công nghệ đốt than phun trực tiếp của các nước G7 Than cho nhà máy là than nội địa và than cám 5 với lượng tiêu thụ 2,9 triệu tấn/năm Khi đi vào hoạt động, nhà máy sẽ đóng góp cho lưới điện quốc gia 7,2 tỷ KWh/năm.
Hợp đồng EPC nhà máy điện Nhơn Trạch 2 trị giá 524 triệu USD do liên doanh nhà thầu LILAMA và Tổng công ty xây dựng Xây lắp Dầu khí thực hiện Theo tiến độ, nhà máy sẽ hoàn thành và phát điện lên lưới Quốc gia sau 30 tháng xây dựng, lắp đặt và hiệu chỉnh trong đó tua bin khí số 1
sẽ phát điện sau 22 tháng; Tua bin khí số 2 sẽ phát điện sau 23 tháng và chu trình hỗn hợp sau 30 tháng.Dự án Nhà máy điện Nhơn Trạch 2 sử dụng công nghệ tua bin khí chu trình hỗn hợp thế hệ F (công nghệ tiến tiến trên thế giới hiện nay), cấu hình 2-2-1 (2 tua bin khí, 2 lò thu hồi nhiệt, 1 tua bin hơi), công suất 750 MW với sản lượng điện trung bình 4,5 tỷ kWh/ năm.
Lễ khởi công xây dựng nhà máy dự kiến sẽ được tổ chức vào cuối tháng 04/2009.
Hai dự án Nhà máy điện Vũng Áng 1 và Nhà máy điện Nhơn Trạch 2
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nằm trong Tổng sơ đồ điện VI về Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2006-2015 có xét đến năm 2025 và được phép áp dụng cơ chế đặc thù để đầu tư xây dựng các công trình điện cấp bách giai đoạn 2006-2010 (Theo Quyết định số 1195/QĐ-TTg ngày 09/11/2005 của TTgCP)
Khi đi vào hoạt động hai nhà máy sẽ cung cấp một lượng điện năng khá lớn, góp phần giải quyết tình trạng thiếu hụt điện năng của hệ thống điện quốc gia giai đọan 2006-2015 và đảm bảo an ninh năng lượng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngày 31/3/2009 tại Hà Nội, ông Nguyễn Thế Thành - Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Lilama đã có buổi làm việc với phái đoàn thương mại gồm 15 doanh nghiệp của Hà Lan trong khuôn khổ tìm kiếm cơ hội phát triển hợp tác, đầu tư giữa Việt Nam và Hà Lan do Đại sứ quán Hà Lan tổ chức
Trang 36Phái đoàn Hà Lan được tổ chức bởi Hiệp hội Thương mại Kỹ thuật công nghệ trực thuộc Bộ Kinh tế hoạt động trong lĩnh vực năng lượng, dầu khí như: chế tạo thiết bị cho các nhà máy lọc dầu, các nhà máy điện, ông thép, vật liệu đúc, van và bồn chứa chất lỏng Đánh giá Lilama là nhà tổng thầu EPC mạnh nhất tại Việt Nam trong việc thực hiện các công trình công nghiệp và dân dụng, phái đoàn Hà Lan hy vọng qua buổi làm việc này sẽ đẩy mạnh hơn nữa sự hợp tác toàn diện giữa hai bên
Đại diện Tổng công ty Lilama, ông Nguyễn Thế Thành cảm ơn phái đoàn đã tới thăm và làm việc với Lilama đồng thời cũng nhấn mạnh Lilama sẵn sàng hợp tác với các đối tác trong những lĩnh vực liên quan tới ngành nghề kinh doanh chính trên cở sở hai bên cùng có lợi./.
2.1.2 Phân tích và đánh giá hoạt động đấu thầu của công ty
Để nhìn thấy rõ hơn những mặt đã đạt được và chưa đật được trong quá tình hoạt động đấu thầu ở Công ty trong những năm qua chúng ta nên xem xét nhửng kết quả giá của 2 hồ sơ đã dự thầu trong đó cụ thể của 2 công trình khi Công ty đã tham gia dự thầu:
- Công trình lắp đặt đường dây điên 110KV Phố Cao - Kim Động
- Công trình lắp đặt kết cấu cho cột thép ở đường dây điện 110KV Đồng Hoà - Kiến An - Đồ Sơn
Ở cả 2 dự án này các chủ đầu tư đã đều dùng cách thức chấm điểm khi đánh giá Công ty cổ phần lilama10 đã trúng thầu 1 công trình kết lấp đặt kết cấu thép đường dây 110KV Đồng Hoà - Kiến An - Đồ Sơn và đã trượt thầu công trình lắp đặt đường dây 110KV Phố Cao - Kim Động.
Công trình kết cấu cột thép đường dây 110KV Đồng Hoà- Kiến An- Đồ Sơn
Công trình này được tổ chức đấu thầu vào tháng 3 với kết quả mở thầu
cụ thể như sau:
Bảng 2.5 Các công trình được đ u th u vao tháng 3 ấu thầu vao tháng 3 ầu Công ty trúng thầu năm 2007
Trang 37A Lilama 10 jsc 8.275.475.714 180 Trúng thầu
C Cty xây lắp điện 1 8.282.020.000 180
D cty xây dựng và lắp máy điện
nước
8.818.452.963 180
(Nguồn phòng Kinh tế kỹ thuật)
Đối với những công trình này cá chủ đầu tư không có các yêu cầu kỹ thuật đặc biệt bởi vậy về mặt kinh nghiệm và kỹ thuật tiến hành thi công không phải là điều quan trọng nhất mà chỗ quan trọng hơn tất cả là giá cả
và thời gian thi công Các Công trình này nhà đầu tư đã đưa ra mức kinh phí dự toán là 8.281 triệu VND đồng thời với thời gian thi công là 180 ngày.
Bảng 2.6: ánh giá t ng h p các nh th u đ ổng hợp các nhà thầu ợp các nhà thầu à phe duyệt ầu Công ty trúng thầu năm 2007
2 Tính hợp lý và khả thi của biện
pháp thi công và giải pháp kỹ thật
3 Bố trí nhân lực tại hiện trờng 10 10 9 9 10
4 Các giải pháp an toàn lao động và
đảm bảo vệ sinh môi trường
Trang 385 Sự phù hợp của thiết bị thi công 6 6 6 6 6
(Nguồn phòng Kinh tế kỹ thuật)
Qua bản đánh giá tổng hợp cho các nhà thầu chúng ta có thể lý giải đuợc lý do trúng thầu của Công ty cổ phần lilama10 đó là:
- Tiêu chuẩn kinh nghiệm quá khứ đạt điểm tối đa.
- Tuy Công ty đã không đưa ra được thởi gian thi công thấp hơn so với thời gian hạn của chủ đầu tư cũng như so với các công ty khác nhưng Công ty lại đạt được điểm tối đa của tính hợp lý và tính khả thi của các biện pháp để thi công và các giải pháp kỹ thuật.
- Về Phần kỹ thuật của chất lượng của Công ty cổ phần lilama10 đã đạt điểm tối đavà và khômg để mất một điểm nào.
- Phương án dự thầu Công ty bỏ mức giá nhỏ nhất, đây chính là yếu
tố quan trọng giúp Công ty trúng thầu công trình này.
Tuy nhiên Công ty còn có hạn chế là tiến độ thi công còn tương đối cao.
Công trình đường dây 110KV Phố Cao- Kim Động
Công trình này được mở thầu với kết quả như sau:
Bảng 2.7 Kết quả đấu thầu đường dây 110KV Phố Cao - Kim Đ ng ộng
TT Tên nhà thầu Giá dự thầu Tiến độ Ghi chú
Trang 39So với công trình trên đây thì ở công trình này, chủ đầu tư chú ý hơn tới chất lượng công trình và khả năng huy động vốn cho việc thi công công trình Các tiêu chuẩn đánh giá cũng tương tự như công trình trên Chủ đầu
tư sẽ đánh giá giá dự thầu theo mức dự toán ban đầu là 5500 triệu đồng Kết quả điểm cụ thể của các nhà thầu được thể hiện qua bảng tổng hợp sau:
Trang 40Bảng 2.8: ánh giá t ng h p các nh th u Đánh giá tổng hợp các nhà thầu ổng hợp các nhà thầu ợp các nhà thầu à phe duyệt ầu Công ty trúng thầu năm 2007
1 Kỹ thuật, chất lượng vật tư thiết bị 9 8 9 8 10
3 Tính hợp lý và khả thi của biện
pháp thi công và giải pháp kỹ thuật
5 Các giải pháp an toàn lao động và
bảo đảm vệ sinh môi trường
(Nguồn phòng Kinh tế kỹ thuật)
Như vậy nguyên nhân thua thầu của Công ty thể hiện ở các mặt sau:
- trong công trình này Công ty đã, đưa ra giá dự toán cao, cao nhất trong tổng sốcác nhà thầu khiến cho Công ty đã mất đi 5 điểm trong chỉ tiêu tính hợp lý của giá trị công trình Mặt khác cũng theo như sự đánh giá của nhà thầu đã cho là tình hình tài chính của Công ty là không tốt, và đặc điểm là khả năng để huy động vốn cho việc thi công Do vậy ở chỉ tiêu này Công ty cũng không đạt điểm cao.
- Trong cô ng trình nàY Công ty được đánh giá là kém nhất trong số các nhà thầu Tuy nhiên Công ty vẫn đạt điểm tối đa ở kinh nghiệm quá khứ, sự phù hợp của thiết bị và việc tổ chức bố trí nhân lực tại công trình Qua việc xem xét hai công trình trên đây có thể phân tích những nhân
tố chủ yếu tác động đến khả năng thắng thầu của Công ty như sau:
+ Giá dự thầu
Công ty luôn coi giá dự thầu là một nhân tố trực tiếp tác động đến khả năng thắng thầu của Công ty và chọn nhân tố giá làm yếu tố cạnh tranh