Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (tt)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (tt)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (tt)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (tt)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (tt)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (tt)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (tt)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (tt)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (tt)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (tt)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (tt)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (tt)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (tt)
Trang 1Nguyễn Trang Vân
THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.01.02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2017
Trang 2HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Đặng Thị Việt Đức
Phản biện 1: ………
Phản biện 2: ………
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Vào lúc: giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Trang 3MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, với chủ trương của Đảng và Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, nhiều dự
án đầu tư đem lại lợi ích góp phần vào phát triển nền kinh tế Vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam cũng đang rất được Đảng và Nhà nước quan tâm nên ngày càng
có nhiều dự án đầu tư bảo vệ môi trường được triển khai và cần được hỗ trợ về vốn
Trong hoạt động của các tổ chức tài chính hiện nay, hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ truyền thống, nền tảng, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tài sản
và thu nhập Tuy nhiên, không phải quan hệ tín dụng nào cũng mang lại thu nhập vì bên trong nó luôn tiềm ẩn những yếu tố rủi ro không lường trước được Điều đó sẽ gây tổn thất tài chính, làm giảm uy tín của của người cho vay, làm mất sự ổn định và ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước Để hạn chế những rủi ro, tổn thất, tăng chất lượng tín dụng, đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả thì việc xây dựng cho mình một chính sách và quy trình thẩm định tín dụng hợp lý, hiệu quả luôn là yêu cầu cấp thiết và cũng là mục tiêu của các tổ chức cho vay Là một tổ chức tài chính nhà nước trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam đã được cung ứng một lượng vốn lớn để phục vụ cho vay với lãi suất ưu đãi các dự án đầu tư bảo vệ môi trường Trong những năm qua, Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam đã có những thay đổi trong hoạt động thẩm định dự án đầu tư bảo vệ môi trường của mình Tuy nhiên, hoạt động này vẫn đang bộc lộ không ít những hạn chế, còn nhiều rủi ro Điều này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu toàn diện để đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
Xuất phát từ thực tế đó, tôi xin chọn đề tài nghiên cứu “Thẩm định dự án đầu
tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam” làm đề tài luận
văn tốt nghiệp thạc sĩ quản trị kinh doanh với mong muốn tìm hiểu thực trạng hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động này Từ đó, giúp Ban lãnh đạo Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam có cơ sở để ra quyết định cho vay hợp lý
Trang 4Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại các tổ chức tài chính
Chương 2: Thực trạng thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Thẩm định dự án đầu tư là một việc cần phải được thực hiện để ra quyết định cho vay Trên thực tế, đã có một số sách xuất bản liên quan đến thẩm định dự án đầu
tư như: Lập và thẩm định dự án đầu tư của TS Nguyễn Thị Bạch Nguyệt (2014), Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân; Thẩm định tài chính dự án của PGS.TS Lưu Thị Hương (2014), Nhà xuất bản tài chính… Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu trình độ thạc sỹ, tiến sỹ nhiều tác giả đã đề cập tới thẩm định dự án đầu tư của các ngân hàng
thương mại như Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thanh Thúy (2012), “Thẩm định dự án đầu
tư tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà Nội”, Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông; Luận văn thạc sỹ Nguyễn Minh Khôi (2014) “Thẩm định dự án đầu
tư tại Agribank”, Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông, Các công trình nghiên cứu này đều tập trung nghiên cứu tại phạm vi các ngân hàng thương mại cổ phần Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam là tổ chức tài chính thực hiện chức năng tài trợ tài chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Từ ngày thành lập vào năm 2002 đến nay, do còn thiếu nhiều kinh nghiệm so với các ngân hàng thương mại cổ phần, Quỹ vẫn đang từng bước hoàn thiện hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của mình Phải cho đến năm 2014, Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam đã hợp tác với Học viện Ngân hàng cho ra mắt “Sổ tay tín dụng” phục vụ công tác thẩm định
này Kể từ khi “Sổ tay tín dụng” này được xuất bản, tôi nhận thấy được rằng chưa có
một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện nào đánh giá lại hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam
Trang 5Điều này chính là động lực cho tác giả lựa chọn đề tài “Thẩm định dự án đầu
tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam”
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam
+ Về không gian: Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam
+ Về thời gian: Nghiên cứu hoạt động thẩm định dự án đầu tư tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam trong thời gian gần đây: năm 2014-2016 và nửa đầu năm 2017
5 Phương pháp nghiên cứu
- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng Từ đó, liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thống cơ sở lý luận thống đầy đủ và sâu sắc về đối tượng
+ Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Sắp xếp các tài liệu khoa học theo từng mặt, từng đơn vị, từng vấn đề có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển Từ đó, sắp xếp tri thức thành một hệ thống trên cơ sở một mô hình
lý thuyết làm sự hiểu biết về đối tượng đầy đủ hơn
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 6+ Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu và xem xét lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ để rút ra kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học
+ Dữ liệu thứ cấp thu thập được từ Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam, sách báo và các website
6 Bố cục của luận văn
Ngoài mục lục, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại các tổ chức tài chính
Chương 2: Thực trạng thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam
Trang 7CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI
CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH CÔNG 1.1 Khái quát chung về hoạt động đầu tư và dự án đầu tư
1.1.1 Hoạt động đầu tư
Cho đến nay, có khá nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động đầu tư Các khái niệm này đều có thể dứng ở các góc độ khác nhau với các cách tiếp cận khác nên nên
để phát biểu cụ thể cũng không hoàn toàn giống nhau
Như vậy, dưới góc độ nghiên cứu của luận văn, thì hoạt động đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai Các nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn xã hội
1.1.2 Dự án đầu tư
1.1.2.1 Khái niệm dự án đầu tư
Theo Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005, dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định
Một dự án đầu tư bao gồm 4 thành phần chính:
- Mục tiêu của dự án được thể hiện ở hai mức:
+ Mục tiêu phát triển thể hiện sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện các mục tiêu chung của một quốc gia Mục tiêu này được thực hiện thông qua những lợi ích dự án mang lại cho nền kinh tế - xã hội
+ Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tư: là các mục tiêu cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án Mục tiêu này được thực hiện thông qua những lợi ích tài chính
mà chủ đầu tư thu được từ dự án
Trang 8- Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có thể định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án
- Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự
án để tạo ra các kết quả nhất định Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án
- Các nguồn lực: Bao gồm vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án
1.1.2.2 Phân loại các dự án đầu tư
Có thể phân loại các dự án đầu tư theo các tiêu thức sau:
a Theo cơ cấu tái sản xuất
b Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của dự án đầu tư
c Theo giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội
d Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra
e Theo phân cấp quản lý
f Theo nguồn vốn
g Theo vùng lãnh thổ
1.2 Thẩm định dự án đầu tƣ
1.2.1 Một số khái niệm về thẩm định dự án đầu tư
Theo nhiều nghiên cứu, thẩm định dự án đầu tư là việc tiến hành nghiên cứu phân tích một cách khách quan, khoa học và toàn diện tất cả các nội dung kinh tế - kỹ thuật của dự án, đặt trong mối tương quan với môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội
để cho phép đầu tư và/hoặc quyết định tài trợ vốn
Theo mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay, tức là trên phương diện tài trợ vốn cho các dự án, qua thẩm định dự án sẽ khẳng định được tính hiệu quả và tính an toàn của công cuộc đầu tư
Trang 9Nhờ đó mà các tổ chức tài chính – tín dụng có được cơ sở vững chắc trong quá trình
ra quyết định tài trợ vốn
Như vậy, theo tác giả, dưới góc độ của tài trợ vốn, thẩm định dự án đầu tư được hiểu như sau: “Thẩm định dự án đầu tư là việc kiểm tra, phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoa học về hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ vốn vay, những rủi ro có thể xảy ra đối với dự án, nhằm đưa ra kết luận về việc cho vay hay không cho vay” Mục đích của thẩm định dự án là đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng trả nợ của khách hàng để làm căn cứ quyết định cho vay
1.2.2 Vai trò của thẩm định dự án đầu tư
* Về phía nhà đầu tư
Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ đi sâu vào phân tích, đánh giá làm rõ các nội dung dự án, đưa ra những kết luận như dự án có hiệu quả, khả thi hay không có, những rủi ro kèm theo và những giải pháp khắc phục, từ đó là cơ sở đưa ra quyết định đầu tư
* Về phía Ngân hàng và các tổ chức tài chính – tín dụng
Từ kết quả thẩm định dự án đầu tư, là cơ sở cho việc ra quyết định cho vay cũng như những giải pháp phòng ngừa rủi ro, kiểm tra, giám sát sau khi cho vay Ngoài ra, là căn cứ đánh giá cơ cấu chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh tế khả năng thu nợ, những rủi ro có thể xảy ra của dự án và lập kế hoạch cung cấp tín dụng theo từng đối tượng cho vay cũng như theo từng đối tượng bỏ vốn
* Về phía xã hội và các cơ quan chức năng
Cùng với đầu tư công, chủ trương xã hội hóa trong hoạt động đầu tư đã từng bước giải quyết được sự thiếu hụt nguồn lực trong đầu tư, từng bước đem lại hiệu quả kinh tế cũng như đời sống xã hội Hiệu quả được nêu không chỉ đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả hiệu quả xã hội khác như giải quyết công ăn việc làm, tăng ngân sách tiết kiệm ngoại tệ, tăng khả năng cạnh tranh quốc tế đặc biệt là vấn đề bảo
vệ môi trường
Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá chính xác sự cần thiết và sự phù hợp của dự án trên tất cả các phương diện: mục
Trang 10tiêu, quy hoạch, quy mô và hiệu quả Việc phê duyệt cấp chứng nhận đầu tư không chỉ ảnh hưởng đến tính hiệu quả kinh tế của chủ đầu tư mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế, đời sống xã hội…
1.2.3 Nội dung thẩm định dự án đầu tư
lý, hợp lệ, thẩm quyền phê duyệt và thời hạn hiệu lực của các văn bản
(ii) Thẩm định sự cần thiết của dự án
- Sự cần thiết đầu tư dự án: Mục tiêu của phân tích này là tổ chức tín dụng đánh giá mức độ cần thiết phải thực hiện đầu tự dự án xét trên các giác độ khác nhau: bản thân doanh nghiệp, địa phương nơi triển khai dự án, ngành
(iii) Thẩm định hiệu quả thị trường của dự án
Đánh giá tổng quát về nhu cầu sản phẩm của dự án; Đánh giá tổng quan về cung sản phẩm; Thị trường mục tiêu và khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án; Phương thức tiêu thụ và mạng lưới phân phối; Đánh giá, dự kiến khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án
(iv) Thẩm định hiệu quả kỹ thuật của dự án
- Khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào của dự án
- Đánh giá địa điểm đầu tư, quy mô dự án, công suất thiết kế, công nghệ và hình thức đầu tư
(v) Thẩm định tổng mức đầu tư và nguồn đầu tư của dự án
Mục đích của công việc này là để tránh việc khi thực hiện, vốn đầu tư tăng lên hoặc giảm đi quá lớn so với dự kiến ban đầu dẫn tới việc không cân đối được nguồn, ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng trả nợ của dự án
Trang 11(vi) Thẩm định hiệu quả tài chính của dự án
Các tổ chức tài chính – tín dụng thường sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án như sau: Giá trị hiện tại ròng (NPV), Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR và MIRR), Thời gian hoàn vốn nội bộ (PP), Chỉ số doanh lợi (PI), Phân tích độ nhạy
(vii) Thẩm định hiệu quả kinh tế - xã hội
Phân tích lợi ích kinh tế - xã hội của dự án đầu tư, người ta bắt đầu phân tích từ mục tiêu của dự án Sau đó phân tích các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật để thấy được lợi ích kinh tế - xã hội mang lại cho đất nước
(viii) Phân tích rủi ro của dự án
- Phân loại rủi ro: việc đánh giá, phân tích, dự đoán các rủi ro có thể xảy ra là rất quan trọng nhằm tăng tính khả thi của phương án tính toán dự kiến cũng như chủ động các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu
- Các biện pháp giáp thiểu rủi ro: Tùy theo từng dự án cụ thể với những đặc điểm khác nhau mà cán bộ tín dụng cần tập trung phân tích đánh giá và đưa ra các điều kiện đi kèm với việc cho vay để hạn chế rủi ro, đảm bảo khả năng an toàn vốn
vay, từ đó ngân hàng có thể xem xét khả năng tham gia cho vay để đầu tư dự án
1.2.4 Quy trình thẩm định dự án đầu tư
Thông thường, quy trình tổ chức thẩm định dự án đầu tư của các tổ chức tài chính – tín dụng được tiến hành theo trình tự như sau:
- Tiếp nhận hồ sơ vay vốn
- Thực hiện công việc thẩm định
- Lập báo cáo thẩm định
- Trình cấp thẩm quyền phê duyệt
- Cấp có thẩm quyền phê duyệt
1.2.5 Phương pháp thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư thường sử dụng 3 phương pháp sau:
1.2.5.1 Phương pháp so sánh các chỉ tiêu
1.2.5.2 Phương pháp thẩm định theo trình tự
Trang 121.2.5.3 Phương pháp thẩm định dự án dựa trên việc phân tích độ nhạy của
dự án đầu tư
1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến thẩm định dự án đầu tư
Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ bị chi phối bởi rất nhiều nhân
tố, cụ thể như:
- Yếu tố con người
- Yếu tố thông tin
- Hệ thống trang thiết bị phục vụ cho quá trình thẩm định
- Công tác thẩm định
Ngoài những yếu tố trên, công tác thẩm định dự án còn bị ảnh hưởng bởi những nhân tố khách quan, đó là những nhân tố bên ngoài tác động vào dự án làm cho chất lượng thẩm định tài chính dự án bị giảm sút
1.3 Thẩm định dự án đầu tƣ trong hoạt động cho vay tại các tổ chức tài chính công
1.3.1 Khái quát chung về tổ chức tài chính công
Hiện nay, tại Việt Nam chưa có tác giả nào đưa ra khái niệm về tổ chức tài chính công Theo tác giả, xét về ý nghĩa và phạm vi, thuật ngữ tổ chức tài chính
công được hiểu là sự hợp thành bởi ý nghĩa và phạm vi của 2 thuật ngữ Tổ chức tài
dụng để thay thế cho thuật ngữ các trung gian tài chính
Tổ chức tài chính là Tổ chức thu thập các nguồn quỹ từ công chúng để đầu tư vào các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, công cụ trên thị trường tiền tệ, tài
khoản tiết kiệm ở ngân hàng hoặc cho vay
Trang 13Xét về ý nghĩa, thuật ngữ Công có thể hiểu trên các khía cạnh: về quan hệ sở
hữu (đối với tài sản, các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ) là sở hữu công cộng; về mục đích hoạt động: là vì lợi ích công cộng; về chủ thể tiến hành hoạt động: là các chủ thể công; về pháp luật điều chỉnh: là các Luật công [2]
Xét về phạm vi, thuật ngữ Công có thể được hiểu trên các khía cạnh: công trên
phạm vi toàn quốc, toàn xã hội, cả cộng đồng; công trong phạm vi một nhóm người,
một tập thể, một tổ chức Tuy nhiên, trên phạm vi cả quốc gia, Công cần được hiểu
là:
– Toàn quốc, toàn xã hội, cả cộng đồng
– Loại trừ Công trong phạm vi hẹp của một nhóm người, một tập thể, một tổ chức [2]
Những luận giải trên đây cho phép rút ra nhận xét về các đặc trưng của Tổ chức tài chính công là:
– Về sở hữu: Các tổ chức tài chính công thuộc sở hữu công cộng, sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện, thường gọi là sở hữu nhà nước
– Về chức năng: Tổ chức tài chính công hoạt động vì lợi ích chung của toàn xã hội, của toàn quốc, của cả cộng đồng, vì các mục tiêu kinh tế vĩ mô, không vì mục tiêu lợi nhuận
Từ những phân tích trên đây, có thể có khái niệm tổng quát về tổ chức tài chính công như sau:
Tổ chức tài chính công là tổ chức tài chính thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động
vì lợi ích chung của toàn xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận
1.3.2 Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại các tổ chức tài chính công
Hoạt động cho vay các dự án đầu tư ở các tổ chức tài chính công thường không
vì mục đích lợi nhuận nhưng phải bảo toàn vốn Nhược điểm lớn nhất của hoạt động