1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)

104 373 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam (LV thạc sĩ)

Trang 1

Nguyễn Trang Vân

THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

(Theo định hướng ứng dụng)

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG

-Nguyễn Trang Vân

THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY

TẠI QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh

Mã số: 60.34.01.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

(Theo định hướng ứng dụng)

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS ĐẶNG THỊ VIỆT ĐỨC

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 3

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Trang Vân

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU 2

DANH MỤC HÌNH VẼ 3

MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH CÔNG 8

1.1Khái quát chung về hoạt động đầu tư và dự án đầu tư 8

1.1.1Hoạt động đầu tư 8

1.1.2 Dự án đầu tư 10

1.2Thẩm định dự án đầu tư 13

1.2.1Một số khái niệm về thẩm định dự án đầu tư 13

1.2.2Vai trò của thẩm định dự án đầu tư 14

1.2.3Nội dung thẩm định dự án đầu tư 15

1.2.4Quy trình thẩm định dự án đầu tư 20

1.2.5Phương pháp thẩm định dự án đầu tư 20

1.2.6Các nhân tố ảnh hưởng đến thẩm định dự án đầu tư 22

1.3 Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại các tổ chức tài chính công ……… 24

1.3.1 Khái quát chung về tổ chức tài chính công 24

1.3.2 Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại các tổ chức tài chính công 25

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM 28

2.1 Tổng quan về Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam 28

Trang 5

2.2Thực trạng thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi

trường Việt Nam 38

2.2.1Đối tượng cho vay tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 38

2.2.2Căn cứ tiến hành thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 41

2.2.3 Quy trình thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam 41

2.2.4Nội dung thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam 44

2.2.5 Đặc điểm riêng của hoạt động thẩm định dự án đầu tư bảo vệ môi trường trong hoạt động cho vay với các dự án sản xuất kinh doanh thông thường 55

2.2.6Ví dụ minh họa về thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam 56

2.3Đánh giá hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam 68

2.3.1Kết quả đạt được 68

2.3.2Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 69

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI QUỸ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM 76

3.1Định hướng phát triển của Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam 76

3.1.1Định hướng phát triển chung 76

3.1.2Định hướng phát triển trong hoạt động cho vay 78

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam 79

Trang 6

3.2.3Giải pháp về năng lực thẩm định 91

3.2.4Một số giải pháp khác 92

3.3Một số đề xuất 93

3.3.1Đề xuất đối với chính phủ và các bộ ngành liên quan 93

3.3.2Đề xuất đối với Ngân hàng nhà nước Việt Nam 94

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt Tiếng Việt

BVMTVN Bảo vệ môi trường Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt

Hình 3.1 Hoàn thiện quy trình thẩm định cho vay và ký kết hợp

Trang 10

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Những năm gần đây, với chủ trương của Đảng và Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, nhiều dự

án đầu tư đem lại lợi ích góp phần vào phát triển nền kinh tế Vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam cũng đang rất được Đảng và Nhà nước quan tâm nên ngày càng

có nhiều dự án đầu tư bảo vệ môi trường được triển khai và cần được hỗ trợ về vốn

Trong hoạt động của các tổ chức tài chính hiện nay, hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ truyền thống, nền tảng, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tài sản và thu nhập Tuy nhiên, không phải quan hệ tín dụng nào cũng mang lại thu nhập vì bên trong nó luôn tiềm ẩn những yếu tố rủi ro không lường trước được Điều đó sẽ gây tổn thất tài chính, làm giảm uy tín của của người cho vay, làm mất

sự ổn định và ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước Để hạn chế những rủi ro, tổn thất, tăng chất lượng tín dụng, đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả thì việc xây dựng cho mình một chính sách và quy trình thẩm định tín dụng hợp lý, hiệu quả luôn là yêu cầu cấp thiết và cũng là mục tiêu của các tổ chức cho vay Là một tổ chức tài chính nhà nước trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam đã được cung ứng một lượng vốn lớn để phục vụ cho vay với lãi suất ưu đãi các dự án đầu tư bảo vệ môi trường Trong những năm qua, Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam đã có những thay đổi trong hoạt động thẩm định dự án đầu tư bảo vệ môi trường của mình Tuy nhiên, hoạt động này vẫn đang bộc lộ không ít những hạn chế, còn nhiều rủi ro Điều này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu toàn diện

để đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Xuất phát từ thực tế đó, tôi xin chọn đề tài nghiên cứu “Thẩm định dự án

đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam” làm đề tài

luận văn tốt nghiệp thạc sĩ quản trị kinh doanh với mong muốn tìm hiểu thực trạng hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Quỹ Bảo vệ Môi

Trang 11

trường Việt Nam để đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động này Từ đó, giúp Ban lãnh đạo Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam có cơ sở để ra quyết định cho vay hợp lý

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại các tổ chức tài chính

Chương 2: Thực trạng thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Thẩm định dự án đầu tư là một việc cần phải được thực hiện để ra quyết định cho vay Trên thực tế, đã có một số sách xuất bản liên quan đến thẩm định dự án đầu tư như: Lập và thẩm định dự án đầu tư của TS Nguyễn Thị Bạch Nguyệt (2014), Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân; Thẩm định tài chính dự án của PGS.TS Lưu Thị Hương (2014), Nhà xuất bản tài chính… Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu trình độ thạc sỹ, tiến sỹ nhiều tác giả đã đề cập tới thẩm định dự án đầu

tư của các ngân hàng thương mại như Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thanh Thúy

(2012), “Thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Hà

Nội”, Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông; Luận văn thạc sỹ Nguyễn Minh Khôi (2014) “Thẩm định dự án đầu tư tại Agribank”, Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông, Các công trình nghiên cứu này đều tập trung nghiên cứu tại phạm vi các ngân hàng thương mại cổ phần Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam là tổ chức tài chính thực hiện chức năng tài trợ tài chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Từ ngày thành lập vào năm 2002 đến nay, do còn thiếu nhiều kinh nghiệm

so với các ngân hàng thương mại cổ phần, Quỹ vẫn đang từng bước hoàn thiện hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của mình Phải cho đến năm

Trang 12

2014, Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam đã hợp tác với Học viện Ngân hàng cho ra mắt “Sổ tay tín dụng” phục vụ công tác thẩm định này Kể từ khi “Sổ tay tín dụng” này được xuất bản, tôi nhận thấy được rằng chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện nào đánh giá lại hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

Điều này chính là động lực cho tác giả lựa chọn đề tài “Thẩm định dự án đầu

tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam”

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu hoạt động thẩm định dự án đầu

tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

+ Về không gian: Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

+ Về thời gian: Nghiên cứu hoạt động thẩm định dự án đầu tư tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam trong thời gian gần đây: năm 2014-2016 và nửa đầu năm

2017

5 Phương pháp nghiên cứu

- Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc

Trang 13

về đối tượng Từ đó, liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo

ra một hệ thống cơ sở lý luận thống đầy đủ và sâu sắc về đối tượng

+ Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Sắp xếp các tài liệu khoa học theo từng mặt, từng đơn vị, từng vấn đề có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển Từ đó, sắp xếp tri thức thành một hệ thống trên cơ sở một mô hình

lý thuyết làm sự hiểu biết về đối tượng đầy đủ hơn

- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu và xem xét lại những thành quả thực tiễn trong quá khứ để rút ra kết luận bổ ích cho thực tiễn và khoa học

+ Dữ liệu thứ cấp thu thập được từ Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam, sách báo và các website

6 Bố cục của luận văn

Ngoài mục lục, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu theo 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại các tổ chức tài chính

Chương 2: Thực trạng thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH CÔNG

 Giới thiệu chương

Nội dung chính của Chương 1 là giới thiệu những nội dung lý thuyết cơ bản nhất về tổ chức tài chính công và thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại tổ chức tài chính công Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam hoạt động mang tính

xã hội nên cách tiếp cận về cơ sở lý luận mà tác giả áp dụng là tiếp cận vĩ mô

1.1 Khái quát chung về hoạt động đầu tư và dự án đầu tư

1.1.1 Hoạt động đầu tư

Cho đến nay, có khá nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động đầu tư Các khái niệm này đều có thể dứng ở các góc độ khác nhau với các cách tiếp cận khác nên nên để phát biểu cụ thể cũng không hoàn toàn giống nhau

Hoạt động đầu tư (hay đầu tư) theo nghĩa rộng, trên quan điểm vĩ mô, là sự

hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra

để đạt được các kết quả đó Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ [5]

Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường xá, các của cải vật chất khác…), tài sản trí tuệ (trình

độ văn hóa, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện

để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội Trong các kết quả đã đạt được trên đây những kết quả là các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc mọi nơi, không chỉ đối với người

bỏ vốn mà còn đối với cả nền kinh tế Những kết quả này không chỉ người đầu tư

mà cả nền kinh tế được thụ hưởng

Trang 15

Theo nghĩa hẹp, hoạt động đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó [5]

Như vậy, nếu xem xét trong phạm vi quốc gia thì chỉ có hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân lực

và tài sản trí tuệ, hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có thuộc phạm trù đầu tư theo nghĩa hẹp hay phạm trù đầu tư phát triển

Hoặc cụ thể hơn theo khía cạnh cụ thể, thì đầu tư có thể hiểu:

Khái niệm thường dùng: đầu tư là quá trình sử dụng vốn hoặc cá nguồn lực khác nhằm đạt được một hoặc một tập hợp các mục tiêu nào đó Hoặc thậm chí đơn giản cho rằng: đầu tư chính là quá trình mà tiền đẻ ra tiền [7]

Khái niệm thiên về tài sản: đầu tư chính là quá trình bỏ vốn để tạo ra tiềm lực sản xuất kinh doanh dưới hình thức các tài sản kinh doanh, đó cũng là quá trình quản trị tài sản để sinh lợi [7]

Khái niệm về khía cạnh tiến bộ khoa học kỹ thuật: đầu tư là quá trình thay đổi phương thức sản xuất thông qua việc đổi mới và hiện đại hóa phương tiện sản xuất để thay thế lao động thủ công [7]

Có thể thấy rằng mặc dù tiếp cận ở góc độ khác nhau, có mục tiêu khác nhau

và phát biểu cụ thể không hoàn toàn giống nhau nhưng nội hàm của các khái niệm đầu tư đều thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp hành vi, hoặc quá trình sử dụng nguồn lực nhằm đáp ứng mục tiêu hoặc kết quả xác định Quá trình sử dụng nguồn lực cũng không làm mất đi giá trị mà chỉ làm thay đổi hình thái thể hiện giá trị của nguồn lực

Như vậy, dưới góc độ nghiên cứu của luận văn, thì hoạt động đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai Các nguồn lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn nhân

Trang 16

lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn

xã hội

1.1.2 Dự án đầu tư

1.1.2.1 Khái niệm dự án đầu tư

Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: [5], [7]

Về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai

Trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài

Còn đứng trên phương diện kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện

kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế

xã hội làm tiền đề cho quyết định đầu tư và tài trợ

Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm các định

để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai

Theo Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005, dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn

cụ thể, trong khoảng thời gian xác định

Như vậy, một dự án đầu tư bao gồm 4 thành phần chính:

- Mục tiêu của dự án được thể hiện ở hai mức:

+ Mục tiêu phát triển thể hiện sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện các mục tiêu chung của một quốc gia Mục tiêu này được thực hiện thông qua những lợi ích dự án mang lại cho nền kinh tế - xã hội

Trang 17

+ Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tư: là các mục tiêu cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án Mục tiêu này được thực hiện thông qua những lợi ích tài chính

mà chủ đầu tư thu được từ dự án

- Các kết quả: Đó là những kết quả cụ thể, có thể định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án

- Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong

dự án để tạo ra các kết quả nhất định Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án

- Các nguồn lực: Bao gồm vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án

1.1.2.2 Phân loại các dự án đầu tư

Để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lý và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư cần tiến hành phân loại các dự án đầu tư và xem xét đặt điểm hoạt động của chúng

Có thể phân loại các dự án đầu tư theo các tiêu thức sau: [5; tr.18-21]

a Theo cơ cấu tái sản xuất

Dự án đầu tư được phân thành dự án đầu tư theo chiều rộng và dự án đầu tư theo chiều sâu Trong đó đầu tư chiều rộng có vốn lớn để khê đọng, lâu, thời gian thực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để đủ thu hồi vốn lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao Còn đầu tư theo chiều sâu đòi hỏi khối lượng vốn ít hơn, thời gian thực hiện đầu tư không lâu, độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tư theo chiều rộng

b Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội của dự án đầu tư

Có thể phân chia thành dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (kỹ thuật

Trang 18

và xã hội)… Hoạt động của các dự án đầu tư này có quan hệ tương hỗ với nhau Chẳng hạn các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho các dự án đầu tư phát triển kinh doanh đạt hiệu quả cao; còn các dự án đầu

tư phát triển sản xuất kinh doanh đến lượt mình lại tạo tiềm lực cho các dự án đầu

tư phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các dự án đầu tư khác

c Theo giai đoạn hoạt động của các dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất

Dự án đầu tư sản xuất là loại dự án đầu tư có thời hạn hoạt động dài (5, 10,

20 năm hoặc lâu hơn) vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu,

độ mạo hiểm cao, tính chất kỹ thuật phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tương lai không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được (vè nhu cầu, giá cả đầu vào và đầu ra, cơ chế chính sách, tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật, thiên tai, sự ổn định về chính trị, )

d Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra

Ta có thể phân chia các dự án đầu tư thành dự án đầu tư ngắn hạn (như dự án đầu tư thương mại) và dự án đầu tư dài hạn (các dự án đầu tư sản xuất, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng,…)

e Theo phân cấp quản lý

Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng ban hành theo nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/06/2015 của Thủ tướng Chính phủ phân chia dự án dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C tùy theo tính chất và quy mô của dự án Trong đó dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định, nhóm A do Thủ tướng Chính phủ

Trang 19

quyết định; nhóm B và C do Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc chính phủ, UBND cấp tỉnh (và thành phố trực thuộc TW) quyết định

f Theo nguồn vốn

Dựa vào nguồn vốn, dự án đầu tư có thể được phân chia thành:

- Dự án đầu tư có vốn huy động trong nước (vốn tích lũy của ngân sách, của doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của dân cư)

- Dự án đầu tư có vốn huy động từ nước ngoài (vốn đầu tư gián tiếp, vốn đầu

tư trực tiếp)

Việc phân loại này cho thấy tình hình huy động vốn từ mỗi nguồn và vai trò của mỗi nguồn vốn đối vớ sự phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng địa phương và toàn bộ nền kinh tế

g Theo vùng lãnh thổ

Cách phân loại này cho thấy tình hình đầu tư của từng tỉnh, từng vùng kinh tế

và ảnh hưởng của đầu tư đối với tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương Ngoài ra trong thực tế, để đáp ứng yêu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế, người ta còn phân chia dự án đầu tư theo quan hệ sử hữu, theo quy mô và theo nhiều tiêu thức khác

1.2 Thẩm định dự án đầu tư

1.2.1 Một số khái niệm về thẩm định dự án đầu tư

Ngân hàng thế giới (World Bank) định nghĩa: thẩm định dự án đầu tư được hiểu là quá trình một cơ quan chức năng (nhà nước hoặc tư nhân) xem xét xem một

dự án có đạt được các mục tiêu kinh tế và xã hội đã đề ra và đạt được những mục tiêu đó một cách có hiệu quả hay không Với định nghĩa này, công tác thẩm định DAĐT nhằm giúp đưa dự án đi theo đúng hướng, tạo nền móng cho việc thực hiện DAĐT có hiệu quả

Dự án đầu tư là tài liệu do chủ đầu tư chịu trách nhiệm soạn thảo trong bước nghiên cứu khả thi Mặc dù trong dự án đã đề cập đến tất cả các khía cạnh liên quan đến hoạt động đầu tư một cách khá đầy đủ và chi tiết nhưng dự án vẫn chưa thể

Trang 20

triển khai được vì đứng trên góc độ quản lý nhà nước về đầu tư và quy hoạch đầu tư cần có sự đánh giá một cách tổng thể, khách quan về tác động của dự án đó đối với quốc gia trên mọi phương diện Điều này đòi hỏi dự án đầu tư nhất thiết phải trải qua một quá trình thẩm định kỹ càng

Như vậy theo mục đích quản lý, thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan có khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp tới tính khả thi của dự án Từ đó quyết định đầu tư và cho phép đầu tư Đây

là một quá trình kiểm tra đánh giá nội dung dự án một cách độc lập cách biệt với quá trình soạn thảo dự án Thẩm dịnh dự án đã tạo ra cơ sở vững chắc cho hoạt động đầu tư có hiệu quả Các kết luận rút ra từ quá trình thẩm định là cơ sở để các

cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước ra quyết định đầu tư và cho phép đầu tư [6]

Theo nhiều nghiên cứu, thẩm định dự án đầu tư là việc tiến hành nghiên cứu phân tích một cách khách quan, khoa học và toàn diện tất cả các nội dung kinh tế -

kỹ thuật của dự án, đặt trong mối tương quan với môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội để cho phép đầu tư và/hoặc quyết định tài trợ vốn [1], [7]

Theo mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay, tức là trên phương diện tài trợ vốn cho các dự án, qua thẩm định dự án sẽ khẳng định được tính hiệu quả và tính an toàn của công cuộc đầu tư Nhờ đó mà các tổ chức tài chính – tín dụng có được cơ sở vững chắc trong quá trình ra quyết định tài trợ vốn

Như vậy, theo tác giả, dưới góc độ của tài trợ vốn, thẩm định dự án đầu tư được hiểu như sau: “Thẩm định dự án đầu tư là việc kiểm tra, phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoa học về hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ vốn vay, những rủi ro có thể xảy ra đối với dự án, nhằm đưa ra kết luận về việc cho vay hay không cho vay” Mục đích của thẩm định dự án là đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng trả nợ của khách hàng để làm căn cứ quyết định cho vay

1.2.2 Vai trò của thẩm định dự án đầu tư

* Về phía nhà đầu tư

Trang 21

Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ đi sâu vào phân tích, đánh giá làm rõ các nội dung dự án, đưa ra những kết luận như dự án có hiệu quả, khả thi hay không có, những rủi ro kèm theo và những giải pháp khắc phục, từ đó là cơ sở đưa ra quyết định đầu tư

* Về phía Ngân hàng và các tổ chức tài chính – tín dụng

Từ kết quả thẩm định dự án đầu tư, là cơ sở cho việc ra quyết định cho vay cũng như những giải pháp phòng ngừa rủi ro, kiểm tra, giám sát sau khi cho vay Ngoài ra, là căn cứ đánh giá cơ cấu chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh tế khả năng thu nợ, những rủi ro có thể xảy ra của dự án và lập kế hoạch cung cấp tín dụng theo từng đối tượng cho vay cũng như theo từng đối tượng bỏ vốn

* Về phía xã hội và các cơ quan chức năng

Cùng với đầu tư công, chủ trương xã hội hóa trong hoạt động đầu tư đã từng bước giải quyết được sự thiếu hụt nguồn lực trong đầu tư, từng bước đem lại hiệu quả kinh tế cũng như đời sống xã hội Hiệu quả được nêu không chỉ đơn thuần là hiệu quả kinh tế mà nó bao hàm cả hiệu quả xã hội khác như giải quyết công ăn việc làm, tăng ngân sách tiết kiệm ngoại tệ, tăng khả năng cạnh tranh quốc tế đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường

Công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước đánh giá chính xác sự cần thiết và sự phù hợp của dự án trên tất cả các phương diện: mục tiêu, quy hoạch, quy mô và hiệu quả Việc phê duyệt cấp chứng nhận đầu tư không chỉ ảnh hưởng đến tính hiệu quả kinh tế của chủ đầu tư mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế, đời sống xã hội… [ 3 ; tr.10-11]

1.2.3 Nội dung thẩm định dự án đầu tư

Về phía các tổ chức tài chính – tín dụng, với tư cách là đơn vị cho vay vốn đầu tư, thẩm định dự án đầu tư sẽ tập trung chủ yếu về khía cạnh hiệu quả tài chính

và khả năng trả nợ của dự án Một số góc độ khác như hiệu quả về mặt xã hội, hiệu quả kinh tế nói chung cũng sẽ được đề cập tới tuỳ theo đặc điểm và yêu cầu riêng

Trang 22

của từng dự án Các nội dung chính trong giai đoạn thẩm định dự án thường được tiến hành như sau [1]:

(ii) Thẩm định sự cần thiết của dự án

- Sự cần thiết đầu tư dự án: Mục tiêu của phân tích này là tổ chức tín dụng đánh giá mức độ cần thiết phải thực hiện đầu tự dự án xét trên các giác độ khác nhau: bản thân doanh nghiệp, địa phương nơi triển khai dự án, ngành Căn cứ để đánh giá sự cần thiết của dự án: Xuất phát từ tình hình nội tại, đặc thù hoạt động của doanh nghiệp; Những diễn biến cung, cầu trên thị trường; Định hướng phát triển của ngành, vùng địa phương đã được duyệt; Chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Quy mô đầu tư: công suất thiết kế, giải pháp công nghệ, cơ cấu sản phẩm và dịch vụ đầu ra của dự án, phương án tiêu thụ sản phẩm

- Quy mô vốn đầu tư: Tổng vốn đầu tư, cơ cấu vốn đầu tư theo các tiêu chí khác nhau (xây lắp, thiết bị, chi phí khác, lãi vay trong thời gian thi công và dự phòng phí; vốn cố định và vốn lưu động); phân khai phương án nguồn vốn để thực hiện dự án theo nguồn gốc sở hữu: vốn tự có, vốn được cấp, vốn vay, vốn liên doanh liên kết

- Dự kiến tiến độ triển khai thực hiện dự án

(iii) Thẩm định hiệu quả thị trường của dự án

Trang 23

Thị trường tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án đóng vai trò rất quan trọng, quyết định việc thành bại của dự án Vì vậy, trong quá trình thẩm định dự án đầu tư cần xem xét, đánh giá kỹ về phương diện này: Đánh giá tổng quát về nhu cầu sản phẩm của dự án; Đánh giá tổng quan về cung sản phẩm; Thị trường mục tiêu và khả năng cạnh tranh của sản phẩm dự án; Phương thức tiêu thụ và mạng lưới phân phối; Đánh giá, dự kiến khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án

(iv) Thẩm định hiệu quả kỹ thuật của dự án

- Khả năng cung cấp nguyên vật liệu và các yếu tố đầu vào của dự án:

+ Xác định các nguyên liệu đầu vào: định mức tiêu hao, số lượng, chủng loại, giá cả, báo giá, hợp đồng mua bán, tham chiếu tư vấn

+ Chất lượng nguyên vật liệu đầu vào: đánh giá chất lượng theo yêu cầu, khả năng đáp ứng nguồn nguyên vật liệu

+ Nguồn cung ứng: Đánh gái khả năng cung ứng đúng yêu cầu về số lượng

+ Công suất thiết kế của dựa án: dự kiến công suất có tối ưu, phù hợp không?; xác định các nhân tố ảnh hưởng đến công suất, đánh giá công suất dự phòng, chế độ làm việc, công suất từng phần, khả năng mở rộng sản xuất trong tương lai

Trang 24

+ Công nghệ, thiết bị: Công nghệ đang được áp dụng và triển khai như thế nào ở dự án tương tự? Quy trình công nghệ có tiên tiến, hiện đại, ở mức độ nào của thế giới, công nghệ có phù hợp với trình độ hiện tại của Việt Nam hay không, lý do lựa chọn công nghệ này, phương thức chuyển giao công nghệ có hợp lý hay không,

có đảm bảo cho chủ đầu tư nắm bắt và vận hành được công nghệ hay không

(v) Thẩm định tổng mức đầu tư và nguồn đầu tư của dự án

Mục đích của công việc này là để tránh việc khi thực hiện, vốn đầu tư tăng lên hoặc giảm đi quá lớn so với dự kiến ban đầu dẫn tới việc không cân đối được nguồn, ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng trả nợ của dự án

Nhìn chung tổng vốn đầu tư mà tổ chức tài chính – tín dụng tham gia thẩm định bao gồm hai yếu tố chính: vốn đầu tư tài sản cố định và vốn đầu tư tài sản lưu động

Thẩm định nguồn tài trợ của dự án

Trên cơ sở nhu cầu tổng vốn đầu tư của dự án, tổ chức tài chính – tín dụng, ngân hàng sẽ tính khả thi của nguồn tài trợ dự án Một dự án đầu tư thường được tài trợ bởi hai nguồn chính:

- Nguồn tự tài trợ của bản thân doanh nghiệp: vốn tự có, vốn huy động cổ phần, vốn huy động từ liên doanh, liên kết

- Nguồn tài trợ huy động từ bên ngoài: do Ngân sách Nhà nước cấp, vay của các ngân hàng thương mại, vốn viện trợ …

(vi) Thẩm định hiệu quả tài chính của dự án

Các tổ chức tài chính – tín dụng thường sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính dự án như sau:

- Giá trị hiện tại ròng (NPV)

- Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR và MIRR)

- Thời gian hoàn vốn nội bộ (PP)

- Chỉ số doanh lợi (PI)

Trang 25

- Phân tích độ nhạy

(vii) Thẩm định hiệu quả kinh tế - xã hội

Phân tích lợi ích kinh tế - xã hội của dự án đầu tư, người ta bắt đầu phân tích

từ mục tiêu của dự án Sau đó phân tích các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật để thấy được lợi ích kinh tế - xã hội mang lại cho đất nước

Xác định sự có mặt và hoạt động của dự án sẽ tạo điều kiện trực tiếp hay gián tiếp cho các ngành, các lĩnh vực khá được phát triển như thế nào? Dự án có góp phần biến biến những vùng đất nghèo, dân cư thưa thớt thành những vùng kinh

tế trù phú, dân cư tăng lên, thực hiện chiến lược tái phân bố lao động trong cả nước

và chính sách đô thị hóa nông thôn? Có làm tăng thu nhập, tăng sản lượng hàng hóa thỏa mãn nhu cầu dân cư địa phương đó,…

Mức độ ảnh hưởng của dự án đối với môi trường, môi sinh về các mặt: bầu không khí nơi sản xuất, xử lý chất thải, tiếng ồn, mỹ quan toàn cảnh khu vực, sức khỏe của người dân,…

(viii) Phân tích rủi ro của dự án

- Phân loại rủi ro: việc đánh giá, phân tích, dự đoán các rủi ro có thể xảy ra là rất quan trọng nhằm tăng tính khả thi của phương án tính toán dự kiến cũng như chủ động các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu Một số rủi ro chủ yêu bao gồm: rủi ro

cơ chế chính sách, rủi ro xây dựng, rủi ro thị trường, rủi ro kỹ thuật và vận hành,…

- Các biện pháp giáp thiểu rủi ro: mỗi loại rủi ro trên đều có các biện pháp giảm thiểu, những biện pháp này có thể do chủ đầu tư phải thực hiện – đối với những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh, trách nhiệm của chủ đầu tư; hoặc do tổ chức tài chính - tín dụng phối hợp với chủ đầu tư cùng thực hiện – đối với những vấn đề mà tổ chức tài chính – tín dụng có thể trực tiếp thực hiện hoặc có thể yêu cầu, can thiệp Tùy theo từng dự án cụ thể với những đặc điểm khác nhau mà cán bộ tín dụng cần tập trung phân tích đánh giá và đưa ra các điều kiện đi kèm với việc cho vay để hạn chế rủi ro, đảm bảo khả năng an toàn vốn vay, từ đó ngân hàng có

thể xem xét khả năng tham gia cho vay để đầu tư dự án

Trang 26

1.2.4 Quy trình thẩm định dự án đầu tư

Thông thường, quy trình tổ chức thẩm định dự án đầu tư của các tổ chức tài chính – tín dụng được tiến hành theo trình tự như sau:

- Tiếp nhận hồ sơ vay vốn

- Thực hiện công việc thẩm định

- Lập báo cáo thẩm định

- Trình cấp thẩm quyền phê duyệt

- Cấp có thẩm quyền phê duyệt

1.2.5 Phương pháp thẩm định dự án đầu tư

Thẩm định dự án đầu tư thường sử dụng 3 phương pháp sau: [6; tr.83-84]

1.2.5.1 Phương pháp so sánh các chỉ tiêu

Đây là phương pháp phổ biến và đơn giản, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của dự án được so sánh với các dự án đã và đang xây dựng hoặc đang hoạt động Sử dụng phương pháp này giúp cho việc đánh giá tính hợp lý và chính xác các chỉ tiêu của dự án Từ đó có thể rút ra các kết luận đúng đắn về dự án để đưa ra quyết định đầu tư được chính xác Phương pháp so sánh được tiến hành theo một số chỉ tiêu sau:

- Tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng, tiêu chuẩn về cấp công trình Nhà nước quy định hoặc điều kiện tài chính mà dự án có thể chấp nhận được

- Tiêu chuẩn về công nghệ, thiết bị trong quan hệ chiến lược đầu tư công nghệ quốc gia, quốc tế

- Tiêu chuẩn đối với loại sản phẩm của dự án mà thị trường đòi hỏi

- Các chỉ tiêu tổng hợp như cơ cấu vốn đầu tư, suất đầu tư

- Các định mức về sản xuất, tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, nhân công, tiền lương, chi phí quản lý,… của ngành theo các định mức kinh tế - kỹ thuật chính thức hoặc các chỉ tiêu kế hoạch và thực tế

- Các chỉ tiêu về hiệu quả đầu tư (ở mức trung bình tiên tiến)

Trang 27

- Các tỷ lệ tài chính doanh nghiệp theo thông lệ phù hợp với hướng dẫn, chỉ đạo của Nhà nước, của ngành đối với doanh nghiệp cùng loại

- Các chỉ tiêu trong trường hợp có dự án và chưa có dự án

Trong việc sử dụng phương pháp so sánh cần lưu ý, các chỉ tiêu dùng để tiến hành so sánh phải được vận dụng phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của dự

án và doanh nghiệp, tránh khuynh hướng so sánh máy móc cứng nhắc

dự án cần bổ sung hoặc sửa đổi Chỉ khi tiến hành thẩm định chi tiết, những vấn đề sai sót của dự án mới được phát hiện

 Thẩm định chi tiết: Được tiến hành sau thẩm định tổng quát Việc thẩm định này được tiến hành với từng nội dung của dự án từ việc thẩm định các điều kiện pháp lý đến phân tích hiệu quả tài chính và kinh tế - xã hội của dự án Mỗi nội dung xem xét đều đưa ra những ý kiến đánh giá đồng ý hay cần phải sửa đổi thêm hoặc không thể chấp nhận được Tuy nhiên mức độ tập trung cho những nội dung

cơ bản có thể khác nhau tùy theo đặc điểm và tình hình cụ thể của dự án

Trong bước thẩm định chi tiết, kết luận rút ra nội dung trước có thể là điều kiện để tiếp tục nghiên cứu Nếu một số nội dung cơ bản của dự án bị bác bỏ thì có thể bác bỏ dự án mà không cần đi vào thẩm định toàn bộ các chỉ tiêu tiếp sau Chẳng hạn, thẩm định mục tiêu của dự án không hợp lý, nội dung phân tích kỹ thuật

và tài chính không khả thi thì dự án sẽ không thể thực hiện được

Trang 28

1.2.5.3 Phương pháp thẩm định dự án dựa trên việc phân tích độ nhạy của dự án đầu tư

Cơ sở của phương pháp này là dự kiến một số tình huống bất trắc có thể xảy

ra trong tương lai đối với dự án, như vượt chi phí đầu tư, sản lượng đạt thấp, giá trị chi phí đầu vào tăng và giá tiêu thụ sản phẩm giảm, có thay đổi về chính sách theo hướng bất lợi… Khảo sát tác động của những yếu tố đó đến hiệu quả đầu tư và khả năng hòa vốn của dự án

Mức độ sai lệch so với dự kiến của các bất trắc thường được chọn từ 10% đến 20% và nên chọn các yếu tố tiêu biểu dễ xảy ra gây tác động xấu đến hiệu quả của dự án để xem xét Nếu dự án vẫn tỏ ra có hiệu quả kể cả trong trường hợp bất trắc phát sinh đồng thời thì đó là những dự án vững chắc có độ an toàn cao Trong trường hợp ngược lại, cần phải xem lại khả năng phát sinh bất trắc để đề xuất kiến nghị các biện pháp hữu hiệu khắc phục hay hạn chế Nói chung biện pháp này nên được áp dụng đối với các dự án có hiệu quả cao hơn mức bình thường nhưng có nhiều yếu tố thay đổi do khách quan

1.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến thẩm định dự án đầu tư

Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư sẽ bị chi phối bởi rất nhiều nhân tố, cụ thể như: [4]

Về yếu tố con người:

Con người đóng vai trò quan trọng mang tính chất quyết định đến chất lượng thẩm định tài chính dự án nói riêng và chất lượng thẩm định dự án nói chung Kết quả thẩm định tài chính dự án là kết quả của quá trình đánh giá dự án về mặt tài chính theo nhận định chủ quan của con người bởi vì con người là chủ thể trực tiếp

tổ chức và thực hiện hoạt động tài chính theo phương pháp và kỹ thuật của mình

Thẩm định tài chính dự án là một công việc hết sức phức tạp, tinh vi Nó không đơn giản chỉ là tính toán theo công thức cho sẵn mà đòi hỏi cán bộ thẩm định phải hội tụ được các yếu tố: Kiến thức, kinh nghiệm, năng lực và phẩm chất đạo

Trang 29

đức Ngoài ba yếu tố trên, cán bộ thẩm định phải có tính kỷ luật cao, phẩm chất đạo đức, lòng say mê và khả năng nhạy cảm trong công việc

Về yếu tố thông tin:

Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, việc thu thập những thông tin

về khách hàng phục vụ cho quá trình thẩm định không phải là vấn đề khó khăn mà làm sao để các nguồn thông tin thu thập được phải đảm bảo đầy đủ, chính xác, kịp thời Việc lấy số liệu, thông tin ở đâu với số lượng bao nhiêu phải được cân nhắc thận trọng trước khi tiến hành phân tích, đánh giá dự án Trên cơ sở các thông tin đã thu thập được thì việc lựa chọn phương pháp thẩm định thông tin cũng rất quan trọng để tránh được các rủi ro

Về hệ thống trang thiết bị phục vụ cho quá trình thẩm định:

Bằng hệ thống máy tính hiện đại và các phần mềm chuyên dụng đã giúp cho công tác thẩm định tài chính dự án của các Ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính – tín dụng diễn ra thuận lợi hơn, với việc tính toán các chỉ tiêu được nhanh chóng, chính xác chỉ trong tích tắc rút ngắn thời gian thẩm định dự án…

Về công tác thẩm định:

Đòi hỏi tập hợp của nhiều hoạt động khác nhau, liên kết chặt chẽ với nhau phải có một sự phân công, sắp xếp; quy định quyền hạn và trách nhiệm của các cá nhân, bộ phận tham gia thẩm định, trình tự tiến hành cũng như mối liên hệ giữa các

cá nhân và các bộ phận trong quá trình thực hiện Đồng thời, tổ chức tín dụng phải

có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình thẩm định đối với từng cá nhân và

bộ phận thẩm định Tuy nhiên, các quy định trên không được cứng nhắc, gò bó mất

đi tính chủ động, sức sáng tạo của từng cá nhân vì như vậy sẽ làm giảm chất lượng thẩm định dự án

Ngoài những yếu tố trên, công tác thẩm định dự án còn bị ảnh hưởng bởi những nhân tố khách quan, đó là những nhân tố bên ngoài tác động vào dự án làm cho chất lượng thẩm định tài chính dự án bị giảm sút Các dự án thường có tuổi thọ dài, do đó rủi ro mà các nhân tố khách quan mang lại là rất khó dự báo như: tình

Trang 30

hình kinh tế, chính trị, các cơ chế chính sách, pháp luật của nhà nước … Trong khi

đó, các nhân tố này lại luôn luôn thay đổi và nằm ngoài tầm kiểm soát của các tổ chức tín dụng và chủ dự án

1.3 Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại các tổ chức tài chính công

1.3.1 Khái quát chung về tổ chức tài chính công

Hiện nay, tại Việt Nam chưa có tác giả nào đưa ra khái niệm về tổ chức tài chính công Theo tác giả, xét về ý nghĩa và phạm vi, thuật ngữ tổ chức tài chính

công được hiểu là sự hợp thành bởi ý nghĩa và phạm vi của 2 thuật ngữ Tổ chức tài

Tổ chức tài chính là Tổ chức thu thập các nguồn quỹ từ công chúng để đầu tư vào các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, công cụ trên thị trường tiền tệ, tài

khoản tiết kiệm ở ngân hàng hoặc cho vay [14]

Xét về ý nghĩa, thuật ngữ Công có thể hiểu trên các khía cạnh: về quan hệ sở

hữu (đối với tài sản, các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ) là sở hữu công cộng; về mục đích hoạt động: là vì lợi ích công cộng; về chủ thể tiến hành hoạt động: là các chủ thể công; về pháp luật điều chỉnh: là các Luật công [2]

Xét về phạm vi, thuật ngữ Công có thể được hiểu trên các khía cạnh: công

trên phạm vi toàn quốc, toàn xã hội, cả cộng đồng; công trong phạm vi một nhóm

người, một tập thể, một tổ chức Tuy nhiên, trên phạm vi cả quốc gia, Công cần

được hiểu là:

– Toàn quốc, toàn xã hội, cả cộng đồng

Trang 31

– Loại trừ Công trong phạm vi hẹp của một nhóm người, một tập thể, một tổ chức [2]

Những luận giải trên đây cho phép rút ra nhận xét về các đặc trưng của Tổ chức tài chính công là:

– Về sở hữu: Các tổ chức tài chính công thuộc sở hữu công cộng, sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện, thường gọi là sở hữu nhà nước

– Về chức năng: Tổ chức tài chính công hoạt động vì lợi ích chung của toàn

xã hội, của toàn quốc, của cả cộng đồng, vì các mục tiêu kinh tế vĩ mô, không vì mục tiêu lợi nhuận

Từ những phân tích trên đây, có thể có khái niệm tổng quát về tổ chức tài chính công như sau:

Tổ chức tài chính công là tổ chức tài chính thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động

vì lợi ích chung của toàn xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận

1.3.2 Thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại các tổ chức tài chính công

Dựa trên bài viết “Nghiên cứu Pháp luật về Tài chính công Việt Nam”

của TS.Phạm Thị Giang Thu (2011), có thể nhận thấy đặc điểm hoạt động cho vay tại các tổ chức tài chính công như sau: [2]

- Lãi suất cho vay là lãi suất ưu đãi, do nhà nước điều tiết phù hợp với yêu cầu, đặc điểm, điều kiện cụ thể của đất nước và chủ trương khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ

- Nguồn vốn của hoạt động là nguồn vốn của Nhà nước, tức là nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước và có nguồn gốc từ Ngân sách Phần còn lại là từ các nguồn tài chính trong xã hội, chủ yếu là nguồn tài chính tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế, xã hội, và các tầng lớp dân cư

- Nhà nước hoặc người được Nhà nước ủy quyền quyết định về lãi suất cho vay, điều kiện vay, thủ tục cho vay và cách tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính sách

Trang 32

- Đối tượng cho vay là những tổ chức, cá nhân, các dự án đầu tư theo các chương trình, mục tiêu, định hướng theo chủ trương của nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

- Lĩnh vực cho vay giới hạn như tập trung cho vay hỗ trợ cho các ngành, khu vực kinh tế kém phát triển, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, an sinh xã hội hay ngành kinh tế mũi nhọn mà nhà nước đang hướng đến

Như vậy, hoạt động cho vay các dự án đầu tư ở các tổ chức tài chính công thường không vì mục đích lợi nhuận nhưng phải bảo toàn vốn Nhược điểm lớn nhất của hoạt động này là nguy cơ không trả nợ đúng kỳ hạn/vỡ nợ Vì thế, vai trò của thẩm định dự án đầu tư tại các tổ chức tài chính công cũng giống với các tổ chức tài chính – tín dụng, ngân hàng thương mại là cơ sở cho việc ra quyết định cho vay cũng như những giải pháp phòng ngừa rủi ro, kiểm tra, giám sát sau khi cho vay Ngoài ra, là căn cứ đánh giá cơ cấu chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh tế khả năng thu nợ, những rủi ro có thể xảy ra của dự án Điều này dẫn đến quy trình và nội dụng thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của các tổ chức tài chính công cũng gần như tương tự với nghiệp vụ cho vay với các tổ chức tài chính – tín dụng, ngân hàng thương mại Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng kinh nghiệm thẩm định dự án đầu tư tại các tổ chức tài chính công còn hạn chế so với các ngân hàng thương mại - nơi có chính sách tín dụng, quy trình nghiệp vụ chặt chẽ, đầy đủ các phòng ban nghiệp vụ Do vậy, tham khảo cách thức hoạt động từ ngân hàng thương mại là một điều thiết yếu cho các tổ chức tài chính công đến thời điểm hiện tại

 Kết luận chương

Trên cơ sở hệ thống hoá những quan niệm về thẩm định dự án đầu tư của các

tổ chức và các nhà nghiên cứu trước đó, chương 1 của luận văn đã tổng hợp khái niệm khoa học về thẩm định dự án đầu tư, làm rõ bản chất và vai trò của công tác thẩm định dự án đầu tư để ra quyết định tài trợ hoặc cho vay vốn Chương 1 luận văn cũng đã phân tích, làm rõ vai trò, nội dung và phương pháp và các nhân tố ảnh hưởng đến thẩm định dự án đầu tư Đây là một trong những tiền đề quan trọng để

Trang 33

phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp cho hoạt động thẩm định dự án đầu tư tại Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam trong các chương sau

Trang 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU

TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI QUỸ BẢO VỆ

MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM

 Giới thiệu chương

Bên cạnh việc giới thiệu tổng quan Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam về quá trình hình thành phát triển, tình hình hoạt động,… thì nội dung chính của chương 2 chỉ ra thực trạng hoạt động thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam trên các khía cạnh: đối tượng cho vay, chi tiết nội dung, quy trình thẩm định Từ đó, đánh giá kết quả đạt được, hạn chế, những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong thẩm định dự án đầu tư

2.1 Tổng quan về Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

2.1.1 Giới thiệu chung về Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

2.1.1.1 Quan điểm về Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

Nhiều quốc gia trên thế giới đã hình thành các quỹ để đầu tư cho bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu Việc ra đời các Quỹ này đã tạo điều kiện và thúc đẩy cho công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu một cách chủ động và kịp thời Ở mỗi quốc gia cũng có thể có tên gọi khác nhau một chút nhưng điều có chung mục đích là đầu tư cho bảo vệ môi trường và phát triển bên vững Trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, Đảng và Nhà nước

ta luôn đặt vấn đề tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững Vì vậy đã có sự ra đời của các Quỹ Bảo vệ môi trường ở các địa phương và cấp quốc gia

Tại khoản 1 - Điều 115, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 quy định rõ:

“Quỹ Bảo vệ môi trường là tổ chức tài chính được thành lập ở trung ương, ngành, lĩnh vực, địa phương để hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường”

Theo quan điểm về quản lý Nhà nước thì Quỹ Bảo vệ môi trường là một tổ chức tài chính được lập ra để hỗ trợ việc sử dụng và bảo tồn tài nguyên bền vững

Trang 35

Nguồn tài chính của Quỹ bảo vệ môi trường được lấy từ nhiều nguồn khác nhau như phí, các khoản bồi thường thiệt hại về môi trường, tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường,… Cơ chế cấp vốn cho Quỹ môi trường tương đối thống nhất thông qua các hình thức cấp kinh phí cho vay với lãi suất ưu đãi hoặc không lãi suất Ngoài ra còn một số hình thức như hỗ trợ lãi suất sau đầu tư đối với các đơn vị

đã vay vốn ngân hàng, cho vay vốn thông qua một ngân hàng trung gian,…

Như vậy, có thể nói, Quỹ BVMT là một tổ chức tài chính được xây dựng nhằm hỗ trợ tài chính cho các mục đích bảo vệ môi trường, trong đó nguồn tài chính cho hoạt động của Quỹ BVMT có được từ nguồn ngân sách Nhà nước, đóng góp từ thiện của các tổ chức công cộng, xã hội và tư nhân, các cá nhân

2.1.1.2 Quá trình hình thành, phát triển của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Quá trình hình thành

Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập theo Quyết định số 82/2002/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2002 của Thủ tướng Chính Phủ về việc thành lập tổ chức và hoạt động của Quỹ BVMT Việt Nam

Tính đến năm 2016, sau hơn 14 năm hoạt động hình thành và phát triển chức năng và nhiệm vụ của Quỹ BVMTVN cũng có sự thay đổi cho phù hợp với mục tiêu, yêu cầu quản lý và phục vụ sự phát triển của đất nước qua từng thời kỳ khác nhau Đến nay Quỹ BVMTVN đã trở thành một Quỹ BVMT lớn mạnh với qui mô, chức năng không ngừng mở rộng và tăng trưởng bền vững Vốn điều lệ đã tăng từ thời điểm ban đầu là 200 tỷ đồng đến nay đạt 1.000 tỷ đồng

Mục tiêu phấn đấu của Quỹ BVMTVN là nâng cao năng lực hướng tới là công cụ tài chính lớn nhất để thu hút và đầu tư cho các dự án, các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trên toàn quốc Một số mốc sự

kiện quan trọng của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam:

Trang 36

Bảng 2.1: Các mốc lịch sử quan trọng Quỹ BVNTVB

26/6/2002

Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định thành lập tổ chức và hoạt động Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, trực thuộc Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường với số vốn điều lệ 200 tỷ đồng 16/7/2002

Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam chuyển từ Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường sang trực thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi trường

23/6/2003 Ban hành Điều lệ tổ chức, hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường

Việt Nam theo Quyết định số 82/2002/QĐ-TTg

06/10/2003 Ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện chế độ quản lý tài chính

đối với Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

31/12/2007 Cho vay với lãi suất ưu đãi đạt 100 tỷ đồng

03/3/2008 Chính phủ điều chỉnh sửa đổi bổ sung tổ chức hoạt động Quỹ Bảo

vệ môi trường Việt Nam tăng số vốn điều lệ 500 tỷ đồng 13/10/2008

Ban hành Điều lệ tổ chức, hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam theo Quyết định số 35/2008/QĐ-TTg thay thế Quyết định số 82/2002/QĐ-TTg

31/12/2013 Cho vay với lãi suất ưu đãi đạt hơn 1.000 tỷ đồng

13/01/2014

Ban hành Điều lệ tổ chức, hoạt động Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam theo Quyết định số 02/2014/QĐ-TTg thay thế Quyết định số 35/2008/QĐ-TTg Trong đó tăng số vốn điều lệ lên 1.000 tỷ đồng

(Nguồn: Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam)

 Địa vị pháp lý

Quỹ BVMTVN Là tổ chức tài chính nhà nước trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, chịu sự quản lý nhà nước về tài chính của Bộ Tài chính Quỹ có tư cách pháp nhân, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước và các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhưng phải bảo toàn vốn điều lệ và tự bù đắp chi phí quản lý

Trang 37

Quỹ BVMTVN là Quỹ bảo vệ môi trường Quốc gia, có phạm vi hoạt động trên phạm vi cả nước và có quan hệ với các tổ chức Quốc tế Được trực tiếp quan hệ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để kêu gọi, thu hút và tiếp nhận tài trợ hoặc huy động vốn bổ sung cho Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 thì Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác Theo đó Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng

Mặt khác, theo Điều 115 Quỹ bảo vệ môi trường của Luật Bảo vệ môi trường có quy định cụ thể hình thái tổ chức, vốn hoạt động và quyết định thành lập của Quỹ Bảo vệ môi trường quốc gia và địa phương

Nguồn vốn hoạt động

Vốn điều lệ của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam do ngân sách nhà nước cấp Hàng năm, Quỹ được Bộ Tài chính cấp bổ sung từ nguồn ngân sách nhà nước chi sự nghiệp môi trường để bù đắp kinh phí tài trợ cho các dự án, nhiệm vụ bảo vệ môi trường, bảo đảm vốn hoạt động của Quỹ từ nguồn ngân sách ít nhất bằng giá trị được quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Vốn điều lệ của Quỹ BVMTVN được bổ sung từ 02 (hai) nguồn bao gồm (1) Ngân sách nhà nước cấp theo quy định của pháp luật; (2) Quỹ đầu tư phát triển được trích 30% từ nguồn chênh lệch thu chi hàng năm

Vốn hoạt động bổ sung hàng năm từ các nguồn khác gồm:

- Ngân sách nhà nước chi sự nghiệp môi trường cấp bù kinh phí tài trợ cho các dự án, nhiệm vụ bảo vệ môi trường đã thực hiện hàng năm và bổ sung vốn hoạt động cho Quỹ BVMTVN;

- Các khoản bồi thường thiệt hại về môi trường và đa dạng sinh học nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;

Trang 38

- Lệ phí bán, chuyển các chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính được chứng nhận (CERs) thu được từ các dự án CDM thực hiện tại Việt Nam;

- Các khoản tài trợ, hỗ trợ, đóng góp tự nguyện, ủy thác đầu tư của tổ chức,

cá nhân trong và ngoài nước dành cho lĩnh vực bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu;

- Bổ sung từ 20% chênh lệch thu chi hàng năm vào nguồn vốn bổ sung của Quỹ để thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ, tài trợ Quỹ BVMTVN có trách nhiệm hạch toán, theo dõi riêng khoản vốn này

- Các nguồn vốn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật

 Chức năng, nhiệm vụ

Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam có chức năng cho vay lãi suất ưu đãi, tài trợ, hỗ trợ lãi suất cho các chương trình, dự án, các hoạt động, nhiệm vụ bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu không nằm trong kế hoạch ngân sách trên phạm vi toàn quốc

Tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, các nguồn tài trợ, đóng góp, ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm

hỗ trợ tài chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trên phạm vi toàn quốc

Cho vay vốn với lãi suất ưu đãi đối với các dự án bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc

Hỗ trợ lãi suất vay vốn cho các dự án bảo vệ môi trường vay vốn từ các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật

Tài trợ, đồng tài trợ cho các hoạt động bảo vệ môi trường: Xử lý khắc phục ô nhiễm môi trường, ứng phó, khắc phục hậu quả do sự cố môi trường, thiên tai gây

ra, các hoạt động phổ biến, tuyên truyền về quản lý, khai thác tài nguyên và môi trường biển và hải đảo; thực hiện các chương trình, dự án, kế hoạch, nhiệm vụ theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ; hỗ trợ trao các giải thưởng về môi trường, các hình thức khen thưởng nhằm tôn vinh tổ chức, cá nhân điển hình tiên tiến về

Trang 39

bảo vệ môi trường; thực hiện các dự án, nhiệm vụ bảo vệ môi trường được quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ

Nhận ký quỹ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản với các tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản

Thực hiện một số cơ chế, chính sách tài chính đối với dự án đầu tư theo Cơ chế phát triển sạch (CDM)

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

Thực hiện Quyết định số 899/QĐ-BTNMT ngày 15 tháng 04 năm 2015 của

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về ban hành Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam, hiện nay, cơ cấu tổ chức của Quỹ gồm có: Hội đồng quản lý, Ban Kiểm soát và Cơ quan điều hành nghiệp vụ

Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

(Nguồn: Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam)

Hội đồng quản lý Quỹ BVMT Việt Nam bao gồm Chủ tịch và các thành viên của Hội đồng Chủ tịch Hội đồng quản lý là Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Hội đồng quản lý Quỹ BVMT Việt Nam có 06 thành viên, là đại diện có thẩm quyền của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi

– KẾ TOÁN

PHÒNG

KẾ HOẠCH - PHÁT TRIỂN

PHÒNG TÍN DỤNG XLMT

TẬP TRUNG

PHÒNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ, PHÁP CHẾ VÀ QUẢN LÝ RỦI

RO

PHÒNG CDM

PHÒNG TÍN DỤNG XLMT KHÔNG TẬP

TRUNG

PHÒNG TÀI TRỢ

BAN QUẢN LÝ

DỰ ÁN

WB

Trang 40

trường và Ngân hàng Nhà nước Các thành viên Hội đồng quản lý do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường bổ nhiệm và hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm

Trưởng Ban kiểm soát do Hội đồng quản lý Quỹ BVMT Việt Nam bổ nhiệm

và miễn nhiệm Thành viên Ban kiểm soát do Hội đồng quản lý quyết định theo đề nghị của Trưởng Ban kiểm soát và hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm

Giám đốc Quỹ BVMT Việt Nam được Hội đồng quản lý đề xuất và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường bổ nhiệm Giám đốc là đại diện cho Quỹ BVMT Việt Nam trong các hoạt động của Quỹ ở trong và ngoài nước, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Hội đồng quản lý về toàn bộ hoạt động nghiệp vụ của Quỹ

Phó Giám đốc Quỹ là người giúp Giám đốc Quỹ chỉ đạo, điều hành một số mặt công tác của Quỹ theo sự phân công của Giám đốc Quỹ và chịu trách nhiệm trước Giám đốc Quỹ và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công Trong trường hợp Giám đốc Quỹ vắng mặt, một Phó Giám đốc Quỹ được ủy quyền giải quyết các công việc của Quỹ và báo cáo Giám đốc Quỹ về kết quả thực hiện Hiện tại Quỹ BVMT Việt Nam có 02 Phó Giám đốc

Cán bộ cấp Trưởng phòng gồm có 08 cán bộ và cấp Phó Trưởng phòng có 12 cán bộ Hiện nay, tổng số cán bộ, viên chức và người lao động của Quỹ là 76, được

bố trí tại 08 phòng: 02 Phòng Tín dụng đầu tư; Phòng Tài Trợ; Cơ chế phát triển sạch; Kế hoạch phát triển; Tài chính - Kế toán; Kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro và pháp chế; Văn phòng Ngoài ra còn có 01 Ban quản lý dự án WB

Toàn bộ CBCNV đều có trình độ từ đại học trở lên, đội ngũ cán bộ Quỹ được đào tạo trong lĩnh vực Kinh tế, Tài chính, Ngân hàng, Luật và Môi trường, cơ bản đáp ứng được yêu cầu công việc hiện tại và định hướng phát triển của Quỹ

2.1.3 Tình hình hoạt động của Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam

2.1.3.1 Cho vay, giải ngân và thu hồi nợ

Kể từ khi hoạt động vào năm 2014 đến cuối năm 2016, qua thực tế xét duyệt dựa trên quy chế cho vay, tiêu chí lựa chọn của Quỹ đã cấp vốn cho 233 dự án với

Ngày đăng: 23/10/2017, 13:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w