Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)Nghiên cứu mô hình và giải thuật lựa chọn đối tác tiềm năng cho bài toán thương lượng tự động trong hệ đa tác tử (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐỖ VĂN HẠNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH VÀ GIẢI THUẬT LỰA CHỌN ĐỐI TÁC TIỀM NĂNG CHO BÀI TOÁN THƯƠNG LƯỢNG TỰ
ĐỘNG TRONG HỆ ĐA TÁC TỬ
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐỖ VĂN HẠNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH VÀ GIẢI THUẬT LỰA CHỌN ĐỐI TÁC TIỀM NĂNG CHO BÀI TOÁN THƯƠNG LƯỢNG TỰ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả đạt được trong luận văn là sản phẩm của riêng cá nhân tôi, không sao chép lại của người khác Trong toàn bộ nội dung của luận văn, những điều trình bày là của cá nhân tôi hoặc là được tôi tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo có xuất xứ rõ ràng và trích dẫn hợp pháp
Tôi xin chịu toàn bộ trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật theo quy định cho lời cam đoan của tôi
Hà Nội, tháng 06 năm 2017
Đỗ Văn Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong khoa Công nghệ thông tin, trường Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông đã hướng dẫn, giúp đỡ và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập để hôm nay tôi có thể hoàn thành được luận văn của mình
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS TS Đỗ Trung Tuấn - là người đã trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn các bạn đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như quá trình làm luận văn
Mặc dù đã cố gắng hoàn thành luận văn với tất cả sự nỗ lực của mình, song luận văn chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, ý kiến phê bình của các thầy cô giáo, của các bạn đồng nghiệp để tôi tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hơn luận văn của mình
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Học viên
Đỗ Văn Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 - TỔNG QUAN HỆ ĐA TÁC TỬ VÀ BÀI TOÁN THƯƠNG LƯỢNG TỰ ĐỘNG 3
1.1 Tác tử phần mềm 3
1.1.1 Khái niệm về tác tử phần mềm 3
1.1.2 Kiến trúc tác tử 4
1.2.3 Hệ đa tác tử 4
1.2.4 Tương tác trong hệ đa tác tử 5
1.2.5 Công nghệ phần mềm hướng tác tử 12
1.2 Bài toán thương lượng tự động 16
1.2.1 Thương lượng tự động 16
1.2.2 Các hình thức đàm phán 17
1.2.3 Cơ chế bán đấu giá 20
1.2.4 Thương lượng trong thương mại điện tử 21
1.3 Kết luận 27
Chương 2 - NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH KIẾN TRÚC HỆ THỐNG VÀ THUẬT TOÁN 28
2.1 Kiến trúc hệ thống của thị trường điện tử Tác tử 28
2.1.1 Kiến trúc thị trường 28
2.1.2 Tác tử mua 30
2.1.3 Tác tử bán 30
2.1.4 Tác tử trung gian 31
Trang 62.1.5 Kịch bản hoạt động 32
2.3 Ngôn ngữ truyền thông giữa các Tác tử 33
2.3.1 Cấu trúc thông điệp: 34
2.4 Kỹ thuật thương lượng của các Tác tử 35
2.4.1 Cấu trúc của thông tin thương lượng 35
2.4.2 Kỹ thuật lựa chọn thư chào hàng 36
2.5 Nghiên cứu trước đây 40
2.5.1 Mô hình kiến trúc hệ thống 40
2.5.2 Tiến trình thương lượng 40
2.5.3 Tìm kiếm 41
2.5.4 Đánh giá 41
2.5.5 Phản hồi 42
2.6 Các kịch bản thương lượng 42
2.6.1 Tác tử điều phối sử dụng phương pháp ThresholdReaching 42
2.6.2 Tác tử điều phối sử dụng phương pháp BestMatching 44
2.7 Kết luận 44
Chương 3 - THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ 45
3.1 Giới thiệu công cụ thực nghiệm 45
3.1.2 Giới thiệu về JADE 45
3.2 Phương pháp thực nghiệm 48
3.2.1 Kịch bản thực nghiệm 48
3.2.2 Thiết kế hệ thống 50
3.3 Các kết quả thực nghiệm 55
3.4 Kết luận chương 57
KẾT LUẬN 58
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 7BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
ACL Agent Communication Language Ngôn ngữ truyền thông Agent AMS Agent Management System Hệ thống quản lý Agent
DF Directory Facilitator Dịch vụ trang vàng
DTD Document Type Definition Tập tài liệu đánh dấu
FIPA Foudation for Intelligent Physical
Agent
Tổ chức các chuẩn cho các tác tử vật chất có tính thông minh JADE Java Agent Development
Framework
Môi trường hỗ trợ phát triển các hệ thống đa tác tử dựa trên nền tảng Java
KQML Knowledge Query and
Manipulation Language
Ngôn ngữ hỏi và thao tác kiến thức
UML Unified Modeling Language Ngôn ngữ đặc tả
XML eXtensible Markup Language Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Tác tử phần mềm [7] 3
Hình 1.2 Kiến trúc tác tử [7] 4
Hình 1.3 Mô hình tương tác của các tác tử [7] 8
Hình 1.4 Mô hình tương tác với các tác tử điều phối [7] 11
Hình 1.5 Mô hình tương tác với các tác tử môi giới [7] 12
Hình 1.3 Không gian ảnh hưởng của Agent [7] 14
Hình 2.1 Kiến trúc thị trường [10] 28
Hình 2.2 Tác tử mua [10] 30
Hình 2.3 Tác tử bán [10] 31
Hình 2.4 Tác tử trung gian [10] 31
Hình 2.5 Sơ đồ giải thuật lựa chọn Tác tử mua [10] 38
Hình 2.6 Sơ đồ giải thuật lựa chọn Tác tử bán [10] 39
Hình 2.8 Tác tử điều phối trong mô hình thương lượng [2] 40
Hình 2.9 Giải thuật lựa chon đối tác tiềm năng Pathner_Search[2] 43
Hình 2.10 Giải thuật thương lượng ThreshordReaching_Negotiation [2] 43
Hình 2.11 Giải thuật thương lượng BestMatching_Negotiation [2] 44
Hình 3.1 Cấu trúc của hệ thống đa tác tử được xây dựng bởi JADE [5] 47
Hình 3.2 Giao diện người dùng khi khởi động JADE [5] 48
Hình 3.1 Biểu đồ mô tả yêu cầu hệ thống 50
Hình 3.2 Biểu đồ tuần tự của một Tác tử mua trong hệ thống 51
Hình 3.3 Biểu đồ tuần tự của một Tác tử bán trong hệ thống 52
Hình 3.4 Quá trình đàm phán tay đôi giữa Tác tử mua và Tác tử bán 53
Hình 3.4 Biểu đồ hoạt động của tác tử 54
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 So sánh các hình thức đàm phán 20
Bảng 2.1 Cấu trúc thông điệp KQML 34
Bảng 2.2 Cấu trúc thông điệp FIPA-ACL 34
Bảng 2.3 Yêu cầu mua sách 35
Bảng 2.4 Thư chào hàng 36
Bảng 3.1 Cấu trúc tệp tin tác tử 49
Bảng 3.1 Thông tin yêu cầu mua và bán 55
Bảng 3.2 Kết quả thực nghiệm 56
Trang 10hệ thống tính toán thỏa mãn các đặc điểm và yêu cầu nói trên một số hướng nghiên cứu và ứng dụng mới của máy tính đã ra đời, trong đó có tác tử và hệ đa tác tử đang trở thành công nghệ của tương lai để giải quyết các vấn đề nêu trên
Khi tìm hiểu về công nghệ tác tử, chúng ta thường nghe nhắc nhiều đến cụm
từ “thương lượng tự động” Có thể hiểu, đây là hoạt động tương tự như người mua
và người bán đàm phán trong quá trình mua bán hàng hóa Tuy nhiên, điểm đặc biệt
là cả hai bên người mua và bán, không có bên nào trực tiếp tham gia mà để các tác
tử sẽ thay mặt người dùng thực hiện thương lượng với đối tác theo một chiến lược, một kịch bản đã được định trước
Cấu trúc luận văn
Trong luận văn này, tôi nghiên cứu một mô hình cải tiến trong đó tạo thêm một số tác tử điều phối giúp giảm bớt sự phức tạp của quá trình đàm phán Trước khi quá trình thương lượng thực sự diễn ra giữa tác tử mua và tác tử bán trong hệ thống, tác tử điều phối với chiến lược được định sẵn sẽ có nhiệm vụ tìm kiếm để chọn ra các đối tác tiềm năng cho quá trình đàm phán Theo đó, tác tử mua chỉ
Trang 11thương lượng với một số tác tử đối tác được lựa chọn, và nghĩa là thời gian cũng như chi phí tổng thể được giảm xuống đáng kể
Chương 1 – Tổng quan hệ đa tác tử và bài toán thương lượng tự động;
Chương 2 – Nghiên cứu mô hình kiến trúc hệ thống và thuật toán;
Chương 3 – Thực nghiệm và đánh giá
Trang 12Chương 1 - TỔNG QUAN HỆ ĐA TÁC TỬ VÀ BÀI TOÁN
THƯƠNG LƯỢNG TỰ ĐỘNG
Phần này sẽ trình bày một số các nghiên cứu lý thuyết liên quan được thu thập bài viết của các tác giả, tài liệu nghiên cứu về tác tử và hệ đa tác tử Trong chương này cũng trình bày bài toán về thương lượng và đặc biệt hướng tới bài toán thương lượng tự động trong thương mại điện tử và từ đó nghiên cứu đánh giá mô
hình kiến trúc hệ thống và thuật toán cải tiến sẽ được trình bày ở chương 2
1.1 Tác tử phần mềm
1.1.1 Khái niệm về tác tử phần mềm
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau, thậm chí mâu thuẫn, về tác tử Theo một định nghĩa thường được sử dụng, tác tử (agent) là hệ thống tính toán hoạt động tự chủ trong một môi trường nào đó, có khả năng cảm nhận môi trường và tác động vào môi trường
Hình 1.1 Tác tử phần mềm [7]
Có thể hiểu định nghĩa trên như sau: Hệ thống tính toán có thể là phần cứng, phần mềm, hoặc cả phần cứng lẫn phần mềm Bất cứ tác tử nào cũng tồn tại và hoạt động trong một môi trường nhất định Tác tử nhận thông tin từ môi trường qua các
cơ quan cảm nhận và tác động vào môi trường bằng các cơ quan tác động [7]
Trang 131.1.2 Kiến trúc tác tử
Hình 1.2 Kiến trúc tác tử [7]
Từ hình trên ta thấy, tác tử nhận thông tin từ môi trường (bao gồm thông tin
từ các tác tử khác) thông qua cơ quan cảm nhận Nhờ có cơ chế ra quyết định, tác tử lựa chọn hành động cần thực hiện Quá trình ra quyết định có thể sử dụng thông tin
về trạng thái bên trong của tác tử Trong trường hợp đó, tác tử lưu trữ trạng thái dưới dạng những cấu trúc dữ liệu riêng Hành động do cơ chế ra quyết định lựa chọn sau đó được tác tử thực hiện thông qua cơ quan tác động
1.2.3 Hệ đa tác tử
Năng lực của mỗi tác tử chỉ giải quyết các vấn đề của riêng tác tử đó Trong một hệ thống ứng dụng cụ thể, thông thường tài nguyên dành cho mỗi tác tử là hạn chế do đó khả năng hành động của mỗi tác tử cũng là hạn chế Mỗi tác tử chỉ tập trung giải quyết một vấn đề tại một vị trí cụ thể nào đó chứ không thể giải quyết được hết các vấn đề đặt ra cho cả hệ thống Trong các hệ phân tán phức tạp, hệ đa tác tử được xem là hệ xử lý thông tin có nhiều tiềm năng ứng dụng Có thể hiểu hệ
đa tác tử là một tập các tác tử cùng hoạt động trong một hệ thống, mỗi tác tử có thể
Trang 14có chức năng khác nhau nhưng toàn bộ hệ tác tử cùng hướng tới mục đích chung thông qua tương tác [9], [6]
Quá trình tính toán và xử lý thông tin trong hệ đa tác tử được xem là có
nhiều ưu điểm hơn so với các hệ thống khác như: Khả năng tính toán hiệu quả, độ tin cậy cao, khả năng mở rộng, sự mạnh mẽ, khả năng bảo trì, khả năng phản ứng,
sự linh hoạt và khả năng sử dụng lại [6]
Với những ưu điểm kể trên, hệ đa tác tử có nhiều ưu thế trong việc giải quyết các bài toán phức tạp hiện nay dựa vào tính năng của từng tác tử và sự phối hợp giữa các tác tử Hệ đa tác tử đã chứng tỏ sự phù hợp khi hệ thống phải hành động một cách tự chủ, thay mặt người dùng (ví dụ như trong thương lượng, đấu giá) Đây cũng là hệ thống có thể hoạt động bất đồng bộ, hệ thống hoạt động mà không nhất thiết các máy tính phải được kết nối liên tục
1.2.4 Tương tác trong hệ đa tác tử
Hệ đa tác tử bao gồm nhiều tác tử tự chủ có thể hoạt động trên những máy tính khác nhau Tuy nhiên, các tác tử thường phải trao đổi, tương tác với nhau và chính các tương tác trong hệ đa tác tử quyết định kiến trúc của hệ thống đó Các dạng tương tác này phức tạp hơn rất nhiều so với các tương tác trong hệ thống đối tượng Các tác tử tương tác với nhau bằng cách gửi thông điệp và bản chất của các thông điệp này cũng là những lời gọi hàm như trong hệ thống các đối tượng nhưng các lời gọi trong tương tác giữa các tác tử có nhiều khác biệt so với tương tác giữa các đối tượng:
Các tham số có thể có kiểu được định nghĩa trong một cấu trúc ngữ nghĩa gọi
Trang 15Ngoài sự khác nhau về dạng của các đối số, tương tác trong hệ đa tác tử cũng khác tương tác giữa các đối tượng do bản chất khác nhau giữa đối tượng và tác tử Tác tử là thành phần có tính tự chủ và hành động hướng đích chứ không thụ động như các đối tượng
Với mỗi hệ tác tử cụ thể được xây dựng thì mục đích chung của hệ thống và mục đích riêng của từng tác tử có thể khác nhau, thậm chí không tương thích nhau
Ví dụ trong hệ thương mại điện tử, nếu tác tử mua có nhiệm vụ mua được hàng với giá càng rẻ càng tốt thì tác tử bán lại có mục đích là bán với giá càng cao càng tốt
Sự thống nhất và mâu thuẫn về mục đích của các tác tử trong hệ thống dẫn đến sự
đa dạng của các mô hình tương tác trong hệ đa tác tử Như vậy, tương tác trong hệ
đa tác tử có những đặc trưng riêng khác biệt so với tương tác đa đối tượng Vai trò của tương tác trong hệ đa tác tử có thể được tổng kết như sau:
Mỗi tác tử sẽ thu thập thông tin và tri thức nhằm đạt được đích riêng của mình và hướng tới đích chung của cả hệ thống Tương tác tạo nên tính động cho hệ đa tác tử
Hệ thống có thể được mở rộng hay thu hẹp một cách dễ dàng, nhất là với các
hệ đa tác tử sử dụng tác tử trung gian
Không chỉ diễn ra giữa các tác tử mà còn có thể diễn ra giữa các hệ tác tử khác nhau Khi đó, khả năng phối hợp giữa các hệ thống để giải quyết các vấn đề phức tạp tăng lên nhiều lần
Tương tác giữa các tác tử quyết định kiến trúc và hoạt động của hệ đa tác tử
đó Thông qua việc xem xét các tương tác cần có giữa các tác tử, người thiết
kế hệ thống có thể xây dựng kiến trúc hệ thống và phân tách nhiệm vụ một cách rõ ràng cho từng tác tử
Tương tác giữa các tác tử giúp tích hợp các nguồn thông tin trong hệ thống Trong hệ tích hợp thông tin, mỗi tác tử đại diện cho một nguồn thông tin nhất định Các nguồn thông tin này thường là không đồng nhất, được biểu
Trang 16diễn theo những cách khác nhau Thông qua tương tác, thông tin giữa các nguồn đó sẽ được tích hợp để thu được những thông tin cần thiết
Ba vấn đề đặc biệt sau đây cần quan tâm xem xét khi nghiên cứu về tương tác trong hệ đa tác tử:
1 Mô hình tương tác: Tuỳ thuộc vào mục đích của hệ thống cụ thể mà người
phát triển hệ thống phải lựa chọn một mô hình tương tác phù hợp, mô hình tương tác này sẽ quy định kiến trúc của hệ thống cũng như hành vi của các tác tử trong hệ thống
2 Ngôn ngữ truyền thông sử dụng trong các thông điệp: Khi hoạt động trong
cùng một hệ thống với nhau các tác tử phải sử dụng chung một ngôn ngữ truyền thông Ngôn ngữ này không chỉ quy định cấu trúc thông điệp mà còn quy định các dạng thông điệp hỏi và trả lời trong các phiên hội thoại
3 Ontology và sử dụng ontology trong tương tác đa tác tử: Mỗi tác tử trong hệ
thống là một thành phần phần mềm riêng biệt, do đó, miền tri thức quan tâm của các tác tử trong một hệ thống có thể khác nhau Để các tác tử có thể hiểu nhau trong quá trình trao đổi thì hệ thống phải sử dụng ontology nhằm biểu diễn các khái niệm mô tả miền và mối quan hệ giữa các khái niệm đó
1.2.4.1 Mô hình tương tác
Phân loại mô hình tương tác: Dựa vào mục đích của các tác tử tham gia tương tác, có thể chia các hình thức tương tác thành hai loại chính: Hợp tác và cạnh tranh
1 Hợp tác: Hai tác tử cùng thực hiện một công việc chung (cộng tác) hoặc
công việc của tác tử này là bước tiền đề cho tác tử kia (phối hợp) Hình thức tương tác này thường xuất hiện khi các tác tử có chung mục đích, nhiệm vụ hoặc cùng thực hiện một tiến trình phức tạp
2 Cạnh tranh: Hai bên cạnh tranh nhau về thông tin, hoặc quyền lợi (thương
lượng) hoặc hoàn toàn trái ngược nhau về lợi ích (đối đầu)
Trang 17Hình 1.3 Mô hình tương tác của các tác tử [7]
Các giao thức phối hợp
Trong các môi trường phân tán và hạn chế về tài nguyên cho các tác tử do đó các tác tử thường phải phối hợp với nhau Như trình bày trong phần trên, mô hình tương tác được coi là phối hợp khi công việc của tác tử này là tiền đề cho công việc của tác tử kia Để các tác tử phối hợp với nhau, các nghiên cứu cho rằng cần xây dựng kỹ thuật phân tán công việc cần thực hiện, bao gồm cả phân tán về điều khiển
và phân tán dữ liệu Phân tán về điều khiển tức là các tác tử có thể tự chủ trong việc sinh ra các hành động mới và quyết định mục đích kế tiếp để hướng tới việc thực hiện công việc chung Tri thức của hệ thống trong trường hợp này cần được biết bởi tất cả các thành phần trong hệ thống Dựa trên tri thức này, các tác tử sẽ xác định hành động tiếp theo cần thực hiện
Liên quan đến mô hình phối hợp còn nhiều vấn đề khác như sự thoả thuận, các quy ước và việc biểu diễn các thoả thuận hay các quy ước này
Các giao thức cộng tác
Chiến lược chung của các giao thức cộng tác là phân rã nhiệm vụ cần thực hiện của cả hệ thống và sau đó phân tán các tác vụ cụ thể cho các thành viên Các tác tử cùng hướng tới đích chung thông qua việc thực hiện các tác vụ mà mình được giao
Trang 18Việc phân rã các tác vụ như thế nào được thực hiện bởi người thiết kế hệ thống và tuân theo các giao thức cụ thể
Các tác vụ được phân rã phải thoả mãn các yêu cầu sau:
1 Tránh xung đột tài nguyên
2 Các tác vụ phải phù hợp với khả năng của tác tử
3 Tạo ra một tác tử có nhiệm vụ phân phối tác vụ cho các tác tử khác trong hệ thống
4 Xác định các tác vụ có độ độc lập cao để giảm thiểu việc truyền thông và đồng bộ hoá kết quả
5 Định nghĩa lại các tác vụ nếu cần thiết để hoàn thành một tác vụ “khẩn cấp”
1.2.4.2 Tương tác với tác tử trung gian
Trên quan điểm chú trọng đến các mô hình có sử dụng tác tử trung gian, ta
có thể chia các mô hình tương tác trong hệ đa tác tử thành: tương tác với tác tử trung gian và tương tác không sử dụng tác tử trung gian Các mô hình tương tác không sử dụng tác tử trung gian như mô hình bảng đen, mạng hợp đồng… có ưu điểm là đơn giản, dễ xây dựng và phù hợp với những hệ thống đa tác tử đóng Các
mô hình này yêu cầu các tác tử phải biết được khả năng của các tác tử khác trong hệ thống mà nó muốn tương tác Do đó, hệ thống với các mô hình này khó mở rộng cho tác tử khác tham gia như trong môi trường Intenet
Mô hình tương tác với tác tử trung gian sử dụng một tác tử trung gian nhằm quản lý khả năng của các tác tử khác Trong mô hình này, tác tử yêu cầu sẽ tương tác với tác tử trung gian để biết được khả năng của các tác tử trong hệ thống có thể giải quyết được yêu cầu của mình Vai trò của tác tử trung gian trong những mô hình cụ thể có thể khác nhau nhưng lớp tác tử này đều có chung những đặc trưng sau:
1 Cung cấp các phương tiện dịch vụ cơ bản để quản lý các tác tử
2 Phối hợp các dịch vụ được cung cấp theo một giao thức xác định nào đó
Trang 193 Ðảm bảo quản lý các tác tử bên trong và quản lý việc thêm hay bớt các tác tử tham gia vào hệ thống
Lớp mô hình tương tác sử dụng tác tử trung gian được chia ra thành 3 mô hình nhỏ gồm mô hình tương tác kiểu tác tử trung tâm, mô hình tương tác kiểu môi giới và mô hình tương tác kiểu điều phối
Mô hình tương tác với tác tử trung tâm (Mediator Agent): Trong mô hình này, nhiệm vụ của tác tử trung tâm là chủ động liên lạc với các tác tử khác có
dữ liệu hay tri thức cần thiết trong hệ thống Các dịch vụ mà tác tử trung tâm
có thể là:
1 Tự động xác định các dịch vụ thông tin
2 Xác định vai trò của các tác tử trong hệ thống
3 Tự thu thập và tạo ra thông tin từ các tác tử cung cấp (Provider Agent) sau đó gửi trả lại cho các tác tử yêu cầu
Ðể thực hiện nhiệm vụ trên, tác tử trung tâm sử dụng mô hình thông tin toàn cục bằng cách thu thập và tích hợp các thông tin cần thiết để giải quyết các yêu cầu hoặc có thể chuyển yêu cầu cho các tác tử phù hợp trong hệ thống để giải quyết Như vậy, tác tử trung tâm đóng vai trò vừa là tác tử trực tiếp quản lý các tác tử khác lại vừa tự tìm ra thông tin cần thiết để giải quyết và gửi trả lại kết quả cho các tác tử yêu cầu Công việc của tác tử trung tâm là rất nhiều và hiệu quả hoạt động của hệ thống phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng của tác tử này
Mô hình tương tác với tác tử điều phối (Broker Agent): Trong mô hình này, tác tử trung gian đóng vai trò là tác tử điều phối Công việc mà tác tử điều phối cần thực hiện là một phần công việc của tác tử trung tâm và được biểu diễn như trong Hình 2 Khi có một tác tử mới tham gia vào hệ thống, thì nó phải đăng ký khả năng cung cấp dịch vụ của mình cho tác tử điều phối Dịch
vụ, tên và địa chỉ của tác tử cung cấp này sẽ được cập nhật vào cơ sở tri thức của tác tử điều phối
Trang 20Hình 1.4 Mô hình tương tác với các tác tử điều phối [7]
Khi có một tác tử tác tử yêu cầu gửi cho tác tử điều phối một yêu cầu dịch vụ nào đó, tác tử điều phối sẽ tìm kiếm trong cơ sở tri thức của mình xem có tác tử nào
có thể giải quyết được yêu cầu của tác tử yêu cầu không và sau đó liên lạc trực tiếp với tác tử đó để giải quyết yêu cầu Sau cùng, tác tử điều phối sẽ gửi lại kết quả cho tác tử yêu cầu và kết thúc quá trình tương tác Như vậy, trong mô hình tương tác này, bất cứ một liên lạc nào giữa tác tử yêu cầu và tác tử cung cấp đều phải thông qua tác tử điều phối Ưu điểm của mô hình này là khả năng mở rộng hệ thống Một tác tử mới muốn tham gia vào hệ thống thì tác tử đó chỉ cần đăng ký dịch vụ với tác
tử điều phối Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là tác tử yêu cầu phải gửi đi toàn bộ yêu cầu của mình cho tác tử điều phối mà điều này thường không thực tế đặc biệt trong thương mại điện tử
Mô hình tương tác với tác tử môi giới (Matchmaker agent): Trong mô hình này, tác tử trung gian đóng vai trò như một tác tử môi giới mà nhiệm vụ chính của nó là tạo ra cơ chế liên lạc trực tiếp giữa tác tử yêu cầu và tác tử cung cấp như minh hoạ trong hình
Trang 21Hình 1.5 Mô hình tương tác với các tác tử môi giới [7]
Tương tự như mô hình tác tử điều phối, khi muốn tham gia vào hệ thống, mỗi tác tử phải đăng ký dịch vụ với tác tử môi giới và trở thành nhà cung cấp dịch
vụ (tác tử cung cấp) Tác tử môi giới sẽ cập nhật vào cơ sở tri thức của nó tên và khả năng dịch vụ của tác tử cung cấp Trong một tương tác cụ thể, khi có một tác tử yêu cầu yêu cầu một dịch vụ, nó sẽ gửi yêu cầu đó đến tác tử môi giới Tác tử môi giới sẽ xem xét trong cơ sở tri thức của nó để tìm ra tác tử cung cấp có thể thực hiện yêu cầu và sẽ gửi cho tác tử yêu cầu tên, địa chỉ của tác tử cung cấp đó Quá trình tương tác sau đó sẽ diễn ra trực tiếp giữa tác tử yêu cầu và tác tử cung cấp Như vậy, công việc mà tác tử môi giới phải thực hiện là một phần công việc như của tác
tử điều phối Trong mô hình này, tác tử yêu cầu chỉ cần gửi đi yêu cầu nào liên quan đến việc tìm ra tác tử cung cấp phù hợp
1.2.5 Công nghệ phần mềm hướng tác tử
1.2.5.1 Phần mềm hướng tác tử là gì
Hiện nay, có rất nhiều cuộc tranh luận đang xảy ra xung quanh định nghĩa chính xác về cái gì tạo thành một tác tử, nhưng vẫn chưa có một sự nhất trí hoàn toàn nào Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tìm ra sự mô tả đặc điểm hữu ích sau:
“Một tác tử là một hệ thống máy tính được đóng gói và đặt trong một vài môi
Trang 22trường và có khả năng hành động mềm dẻo, tự trị trong môi trường đó để đạt được các mục tiêu thiết kế của nó”
Có một số vấn đề định nghĩa này cần giải thích rõ hơn Các tác tử là:
Các thực thể có thể nhận dạng rõ ràng của bài toán đang được giải quyết với các giao diện và ranh giới rõ ràng,
Được đặt trong một môi trường cụ thể - chúng nhận các đầu vào từ trạng thái của môi trường thông qua các bộ cảm nhận của chúng và tác động lên môi trường thông qua cơ quan cảm ứng của chúng;
Được thiết kế để thực hiện một vai trò cụ thể - chúng có các mục tiêu cụ thể cần đạt đến, có thể rõ ràng hay không rõ ràng trong các tác tử;
Tự trị - chúng kiểm soát qua trạng thái trong và các hành vi của chúng;
Có khả năng thể hiện hành vi giải quyết vấn đề mềm dẻo (phụ thuộc ngữ cảnh) - chúng cần reactive (có thể phản ứng ngay lập tức với những thay đổi của môi trường để thoả mãn các mục tiêu thiết kế của chúng) và proactive (có khả năng cập nhật các mục đích mới và nắm thế chủ động để thoả mãn mục tiêu thiết kế của chúng)
Trong hầu hết các trường hợp, các tác tử hành động để đạt đến mục tiêu đại diện cho các thành phần riêng lẻ hay các hệ thống Vì vậy, khi các tác tử tương tác, thường có một số ngữ cảnh cơ bản thuộc tổ chức Ngữ cảnh này trợ giúp việc định nghĩa tính chất của mối quan hệ giữa các tác tử
Ví dụ, chúng có thể hoạt động ngang hàng trong một nhóm, một tác tử có thể
là ông chủ của các tác tử khác, hoặc chúng có thể được bao hàm trong một loạt các mối quan hệ chủ - tớ Để giành được các liên kết đó, các hệ thống tác tử thường có cấu trúc rõ ràng cho việc mô hình các mối quan hệ tổ chức (chẳng hạn như peer, boss ) và các cấu trúc tổ chức (chẳng hạn như là teams, groups ) Lưu ý rằng
Trang 23trong nhiều trường hợp, các mối quan hệ này có thể thay đổi trong khi hệ thống hoạt động
Hình 1.3 Không gian ảnh hưởng của Agent [7]
Bằng cách vẽ các vấn đề trên cùng nhau, ta có thể thấy việc chấp nhận một hướng tiếp cận hướng tác tử với công nghệ phần mềm có nghĩa là việc phân rã bài toán thành nhiều thành phần tương tác và tự trị (tác tử) mà có các mục tiêu cụ thể đạt tới
1.2.5.2 Vòng đời phần mềm hướng tác tử
1 Đặc tả (Specification) Theo cách nhìn các tác tử như trên, cách tiếp cận nổi
bật để đặc tả các tác tử bao gồm cả việc xử lý chúng như là các hệ thống có mục đích có thể được hiểu bằng cách quy cho chúng các trạng thái tri thức chẳng hạn như lòng tin, mong muốn và mục đích Dựa vào ý tưởng này, một
số cách tiếp cận cho việc đặc tả một cách hình thức các tác tử đã được phát triển, có khả năng thể hiện các hướng sau đây của một hệ thống tác tử:
Beliefs: thông tin mà các tác tử có về môi trường xung quanh nó, có
thể không đầy đủ hoặc không chính xác;
Trang 24 Goals: là các mục đích mà các tác tử cố gắng đạt đến;
Action: các hành động mà các tác tử thực hiện và các ảnh hưởng của
các hành động đó
Ongoing interaction: cách mà tác tử tương tác với các tác tử khác
trong môi trường của chúng qua thời gian
2 Thực hiện (Implementation) Một khi đã có một đặc tả, ta phải thực hiện một
hệ thống đúng đắn với đặc tả này Vấn đề tiếp theo là sự chuyển đổi từ một đặc tả trừu tượng sang một hệ thống tính toán cụ thể Các kỹ thuật bao gồm:
Làm mịn (Refinement) Hầu hết các nhà phát triển phần mềm sử dụng
các kỹ thuật cấu trúc không chính thức để chuyển các đặc tả thành các thực hiện cụ thể Hầu hết các kỹ thuật được ứng dụng rộng rãi dựa vào
ý tưởng làm mịn top-down Trong cách tiếp cận này, một đặc tả hệ thống trừu tượng được làm mịn thành các đặc tả hệ thống con nhỏ hơn
và ít trừu tượng hơn mà cùng nhau thoả mãn đặc tả ban đầu Nếu các
hệ thống con này vẫn còn quá trừu tượng cho việc thực hiện trực tiếp thì chúng vẫn tiếp tục được làm mịn
Thực hiện trực tiếp các đặc tả tác tử Giả sử rằng chúng ta có một đặc
tả hệ thống ∅ được biểu diễn trong một số ngôn ngữ logic L Một cách
để đạt được một hệ thống cụ thể từ ∅ là coi nó như là một đặc tả có thể thực hiện được, và thông dịch đặc tả một cách trực tiếp để tạo ra hành vi của tác tử
Biên dịch các đặc tả tác tử Một sự thay đổi cho việc thực hiện trực
tiếp là sự biên dịch (compilation) Theo ý đồ này, ta biết được đặc tả trừu tượng và chuyển đổi chúng thành một mô hình tính toán cụ thể qua một số quá trình tổng hợp tự động
Trang 25 Xác minh Khi phát triển một hệ thống cụ thể, ta cần phải chỉ ra rằng
hệ thống này là đúng đắn với những gì đã có trong đặc tả ban đầu Quá trình này được gọi là sự xác minh Các hướng tiếp cận theo sự xác minh của các hệ thống là: (1) axiomatic và (2) sematic (kiểm tra
Thương mại điện tử chủ yếu hoạt động theo nguyên tắc: hãy chọn và chấp nhận những sự lựa chọn đó Như thế, người dùng có thể duyệt qua danh mục hàng hóa cần mua rồi quyết định chọn thứ cần mua Có thể nhận xét trong các hệ thống hiện nay, chương trình chỉ hỗ trợ người dùng ở giai đoạn môi giới sản phẩm hoặc/và môi giới người bán [6]
Thương lượng tự động dựa vào công nghệ tác tử kết hợp với hệ thống phân tán và trí tuệ nhân tạo đang là một hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm Ở đây, thương lượng là tiến trình nhóm các tác tử giao tiếp với nhau để cố gắng tiến đến một thỏa thuận về một số vấn đề Khái niệm thương lượng được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực thương mại (đồng ý thông qua giá bán, chất lượng, mẫu mã… của hàng hóa), chính trị (đàm phán giữa những quốc gia về những vùng tài nguyên muốn sử dụng) và một số lĩnh vực khác nữa
Khi nghiên cứu về thương lượng, có 3 vấn đề chính được quan tâm như sau [6][1]: Giao thức thương lượng, là tập luật ràng buộc các thành phần tham gia cần tuân thủ trong quá trình thương lượng, nó miêu tả các bước thương lượng, những thông điệp có thể trao đổi trong quá trình thương lượng, những hành vi mà các
Trang 26thành viên tham gia được phép làm trong quá trình thương lượng Đối tượng thương lượng, miêu tả những gì được đưa ra đàm phán giữa các đối tác Nó có thể là những thỏa thuận người dùng muốn đạt được, một hành vi họ muốn thực thi hoặc đơn giản
là một mặt hàng họ muốn có Nếu đối tượng có nhiều thuộc tính sẽ được gọi là đàm phán đa phương (multi-issue), ngược lại thì gọi là đàm phán đơn phương (single-issue)
Ví dụ:
Khi người bán xe hơi và khách hàng đàm phán về một chiếc xe, họ có thể thương lượng về giá bán, công nghệ và những lựa chọn nội thất…như thế gọi là multi-issue Chiến lược thương lượng, là cách thức các tác tử ra quyết định trong suốt quá trình đàm phán, điều này phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực của bài toán, giao thức, đối tượng và thông tin mà tác tử có
1.2.2 Các hình thức đàm phán
1 Đàm phán cạnh tranh:
Các cuộc đàm phán cạnh tranh giao dịch thương mại thường xoay quanh một vấn đề duy nhất là giá cả hàng hoá Mục tiêu của mỗi bên về vấn đề đàm phán luôn đối lập nhau (người bán mong muốn bán được hàng với giá càng cao càng tốt, ngược lại người mua mong muốn mua hàng hóa với giá càng thấp càng tốt) Vì thế, mỗi bên cố gắng dành được kết quả tốt nhất cho mình
Trong cuộc đàm phán cạnh tranh không có sự hợp tác giữa các bên Các bên tham gia đưa ra sự chào hàng của mình và sẽ quyết định xem nên chấp nhận hay phản đối lời đề nghị của đối thủ hay không Chiến lược thay đổi sự chào hàng của người đàm phán không dựa trên sự đề nghị của đối thủ đàm phán mà phụ thuộc vào thị trường diễn ra giao dịch
Ví dụ như trong thị trường chứng khoán, giá cả cổ phiếu sẽ phụ thuộc vào quy luật cung cầu hàng hóa hoặc trong cuộc bán đấu giá, người bán đấu giá luôn có khuynh hướng nâng giá hàng hóa cao hơn giá đã được trả cao nhất hiện tại
Trang 272 Đàm phán thỏa hiệp:
Trong đàm phán thỏa hiệp (compromise), ngoài vấn đề giá cả, các bên có thể
sẽ quan tâm về nhiều điều kiện mua bán khác Giống như đàm phán cạnh tranh, các bên tham gia có các mục tiêu đối lập nhau Tuy nhiên, trong đàm phán thỏa hiệp có
sự nhượng bộ để giảm khác biệt về mục tiêu của những người đàm phán Một bên đưa ra sự chào hàng của mình (bao gồm giá cả và các vấn đề khác) Nếu bên kia không đồng ý với sự chào hàng đó, họ có thể đưa ra một đề nghị mới (thư hoàn giá) Quá trình cứ diễn ra như vậy cho đến khi tìm thấy một lời chào hàng được cả hai bên đều đồng ý Độ chênh lệch giữa giá trị được chấp nhận và giá trị giới hạn của các vấn đề là giá trị thặng dư của mỗi bên đàm phán
Điều khó khăn để đạt được thỏa thuận trong cuộc đàm phán thỏa hiệp là các bên tham gia che giấu các thông tin của mình (như giá thấp nhất (cao nhất) có thể chấp nhận, chiến lược thay đổi giá cả, thời hạn hoàn thành ) và chỉ tiết lộ nó một cách gián tiếp thông qua sự chào hàng
Thật ra, đàm phán cạnh tranh và đàm phán thỏa hiệp đều có bản chất giống nhau là sự đối kháng mục đích: lợi ích của một bên đàm phán chính là tổn thất của bên kia Chúng là hai trường hợp của hình thức đàm phán phân phối Nếu lợi nhuận của hợp đồng thương mại đạt được sau cuộc đàm phán được xem là “một miếng bánh” thì hình thức đàm phán phân phối được hiểu nôm na là việc xác định “cách chia miếng bánh” đó cho các bên tham gia, mỗi bên đều muốn được phần chia lợi nhuận càng lớn càng tốt Kết quả của cuộc đàm phán cạnh tranh là một bên sẽ thắng hoàn toàn (được cả miếng bánh) và một bên sẽ thua hoàn toàn (không được gì cả), còn đối với đàm phán thỏa hiệp là cả hai bên cùng chấp nhận “thắng một phần - thua một phần” (được một phần của miếng bánh)
3 Đàm phán hợp tác:
Trang 28Trong khi mục đích của đàm phán phân phối là tìm cách chia một miếng bánh cố định cho các bên tham gia, thì mục đích của đàm phán hợp tác lại là tìm cách mở rộng miếng bánh này trước khi chia nó
Đàm phán hợp tác giả sử rằng tất cả các bên cùng hướng về một mục đích chung Nó tập trung vào việc tìm các giải pháp thay thế mang lại giá trị lợi ích cao hơn (hoặc ít nhất không có thiệt hại gì) cho tất cả các bên đàm phán Vì vậy, đàm phán hợp tác được gọi là đàm phán “win-win”, vì nó tìm kiếm một giải pháp “chiến thắng” cho tất cả các bên, ngược với đàm phán cạnh tranh là đàm phán “thắng - thua” (“win – lose”)
Loại đàm phán này thường được áp dụng trong việc đàm phán nội bộ Ví dụ như mỗi chi nhánh cố gắng làm tăng tối đa lợi nhuận của mình nhưng sẽ chấp nhận các điều kiện ít thuận lợi hơn để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho toàn công ty; hoặc trong một đội ngũ lập trình phần mềm, mỗi người đều có mục đích là lập trình giỏi, họ sẽ đàm phán để phân công thành viên nào sẽ làm phần việc này và khi nào phải hoàn tất
Nghi thức đàm phán hợp tác không chỉ cho phép đàm phán về nhiều vấn đề,
mà còn cho phép mở rộng tập hợp vấn đề đàm phán, tạo ra các chọn lựa (giá trị của vấn đề) mới trong suốt cuộc đàm phán Quá trình đàm phán giữa các bên làm thay đổi tập hợp các thư chào hàng Sự thay đổi này chính là một phần của quá trình đàm phán Vì tất cả các bên đều hướng về mục đích chung nên các bên đều bộc lộ các thông tin riêng của mình như giá trị giới hạn có thể chấp nhận, chiến lược và chiến lược đàm phán, thời hạn hoàn tất (các thông tin này được giữ bí mật trong đàm phán cạnh tranh và đàm phán thỏa hiệp)
4 So sánh các hình thức đàm phán
Trang 29Bảng 1.1 So sánh các hình thức đàm phán
1.2.3 Cơ chế bán đấu giá
Bán đấu giá là một hình thức kinh doanh truyền thống đã có từ lâu đời Đây
là một phương pháp rất hiệu quả để xác định giá cả của món hàng, đặc biệt là những hàng hoá như đồ cổ, tác phẩm nghệ thuật Đối với các công ty, bán đấu giá là phương pháp thích hợp để thanh lý hàng hoá tồn kho Trong các cuộc bán đấu giá công khai, người tham gia biết được sự trả giá của những người khác Ngược lại, trong các cuộc bán đấu giá bí mật, chỉ người điều khiển cuộc bán đấu giá mới biết được những lời trả giá để quyết định chọn người thắng cuộc
Sau đây là một số dạng bán đấu giá phổ biến:
Bán đấu giá kiểu Anh (English auction): Những người tham gia đưa ra sự trả giá tăng dần theo thời gian Tất cả những lời trả giá đều được công bố cho mọi người tham gia Cuộc bán đấu giá sẽ kết thúc khi không còn lời trả giá nào được đưa ra nữa Người trả giá cao nhất sẽ là người thắng cuộc
Bán đấu giá theo kiểu Hà Lan (Dutch auction): Người điều khiển cuộc bán đấu giá sẽ công bố giá cả món hàng và giảm dần cho đến khi có một người đầu tiên chấp nhận mức giá đó
Trang 30 Bán đấu giá theo giá đầu tiên (First-price auction): Đây là dạng bán đấu giá
bí mật, những người tham gia đưa sự trả giá của mình cho người điều khiển cuộc bán đấu giá Sau một khoảng thời gian, người điều khiển sẽ xác định người thắng cuộc là người trả giá cao nhất
Bán đấu giá theo giá thứ hai (Second-price auction) hay còn gọi là bán đấu giá kiểu Vickrey: Tương tự như hình thức bán đấu giá theo giá đầu tiên, nhưng người thắng cuộc chỉ phải trả số tiền bằng mức trả giá cao thứ hai mà thôi
Cùng với sự phát triển của Internet, nhiều Web site bán đấu giá đã ra đời, trong đó có một sốsite nổi tiếng như Ebay, Amazon và OnSale Đặc trưng quan trọng và hấp dẫn nhất của các cuộc bán đấu giá từ quan điểm lý thuyết là tính hiệu quả của quá trình và khả năng quản lý đồng thời một số lượng lớn những người tham gia Tuy nhiên, từ quan điểm người dùng, khía cạnh trò chơi thường là nhân tố vượt trội thu hút nhiều người tham gia
Hầu hết các cuộc bán đấu giá tập trung vào một vấn đề duy nhất là giá cả Trong cuộc bán đấu giá kiểu Anh, nếu người bán thu được càng nhiều lợi ích do bán được hàng hóa giá cao, thì đồng thời người mua phải trả càng nhiều tiền cho món hàng đó (có thể vượt quá giá trị thật sự của món hàng) Ngược lại, trong bán đấu giá kiểu Hà Lan, nếu người mua được hàng hóa với giá rẻ, có nghĩa là người bán phải chịu lỗ cho món hàng đó Vì thế bán đấu giá là hình thức đàm phán cạnh tranh
1.2.4 Thương lượng trong thương mại điện tử
Thương lượng là một phần quan trọng của quá trình giao dịch kinh doanh
Vì thế, để thúc đẩy việc tiến hành giao dịch điện tử trở nên phổ biến hơn, các hệ thống TMĐT cần cung cấp khả năng thương lượng cho người dùng
Tuy nhiên, hiện nay các kỹ thuật hỗ trợ thương lượng trong TMĐT còn rất hạn chế Nhiều hệ thống không đưa cho khách hàng cơ hội thương lượng về giá cả
Trang 31và điều kiện mua bán, khách hàng chỉ có thể chấp nhận mua hàng với giá cả do người bán đưa ra hoặc phải tìm kiếm những người bán khác có giá cả phù hợp hơn
Đối với các giao dịch bán lẻ, giai đoạn đàm phán thường được thực hiện một cách đơn giản là người tiêu dùng chọn những món hàng muốn mua từ danh mục hàng hóa của những nhà cung cấp và đặt chúng vào các giỏ mua sắm điện tử của mình Điều này ngầm ý rằng người tiêu dùng chấp nhận giá cả do người bán đưa ra trong danh mục hàng hóa Khách hàng có thể dùng các công cụ tìm kiếm để tìm món hàng phù hợp có giá cả thấp nhất, nhưng người bán không thể thay đổi sự chào hàng của họ dựa vào yêu cầu của khách hàng và không thể đưa ra sự chào hàng phản hồi ngược lại Trong giao dịch B2B, nếu công ty mua muốn thương lượng giá
cả với công ty bán, thì sau khi tìm kiếm trên Internet những món hàng thích hợp với yêu cầu của mình, công ty mua phải liên hệ với công ty bán bằng các hình thức thông thường như điện thoại, gửi fax hoặc e-mail Việc thương lượng sẽ được thực hiện trực tiếp giữa người mua và người bán
Các cuộc thương lượng trực tiếp như vậy rất tốn thời gian và không tiện lợi cho khách hàng, chúng không phù hợp với hình thức TMĐT Thương lượng trong TMĐT là một quá trình mà hai hoặc nhiều bên trả giá về nhiều vấn đề bằng cách dùng các công cụ và kỹ thuật của TMĐT Vì thế, ngay cả quá trình trao đổi sự chào hàng bằng thư điện tử không được coi là thương lượng trong TMĐT
1 Yêu cầu của thương lượng trong thương mại điện tử
Kiến trúc hệ thống thương lượng trong TMĐT phải phù hợp với nền tảng của TMĐT: nó phải tích hợp với hệ thống catalog điện tử chứa danh mục hàng hóa, dùng Internet để truyền dữ liệu giữa các bên thương lượng và dùng giao diện Web để nhận và thể hiện thông tin đối với người dùng Vì thế, để đảm bảo an toàn, các kỹ thuật mã hóa và hệ thống thanh toán điện tử cần được chú trọng
Trang 32 Quá trình trao đổi các thư chào hàng và thư hoàn giá giữa các bên thương lượng phải được tiến hành tự động để nhằm tiết kiệm thời gian cho người dùng Tuy nhiên, việc xác nhận hợp đồng có thể do người dùng tự quyết định
Công cụ thương lượng phải hỗ trợ khả năng thương lượng về nhiều vấn đề như thời gian giao hàng, phương thức và thời hạn thanh toán, mức tiền phạt khi vi phạm hợp đồng hơn là chỉ đơn thuần về giá cả
Vấn đề bản thể học (ontology) rất cần thiết trong lĩnh vực thương lượng TMĐT Bản thể học cần mô tả được tất cả các thuộc tính quan trọng của một món hàng như giá cả, màu sắc, thời gian phân phối Quá trình thương lượng trong TMĐT yêu cầu một bản thể học đủ cụ thể để định nghĩa đúng món hàng mà cả người mua và người bán cùng quan tâm, đủ tri thức để cho phép
sự trả giá thông minh và phải phù hợp với nội dung trong các catalog điện tử
Vì các cuộc thương lượng có thể diễn ra giữa những người tham gia không đáng tin cậy, nên những người thương lượng thường có khuynh hướng che giấu các thông tin của mình như giá trị giới hạn, chiến thuật trả giá, tầm quan trọng của mỗi vấn đề Hơn nữa, những người thương lượng phải làm việc dưới áp lực thời gian
Vì thế, quá trình thương lượng phải có thể đối phó với việc thiếu thông tin và thời gian bị giới hạn
2 Lựa chọn giải pháp cho công cụ thương lượng tự động
Dựa vào các yêu cầu kể trên, tiến hành lựa chọn giải pháp cho việc xây dựng một công cụ thương lượng tự động
Mô hình phần mềm:
Quá trình thương lượng tự động được thực hiện bởi một loại phần mềm đại diện cho mỗi người tham gia thương lượng Loại phần mềm này có khả năng hành động tự trị để đạt được mục đích của người dùng như mua một món hàng với giá cả thấp nhất và thời gian giao hàng sớm nhất Trong quá trình hoạt động, nó sẽ tương
Trang 33tác với các thực thể phần mềm khác để tìm kiếm một sự thỏa thuận có lợi nhất cho người dùng
Như đã trình bày ở phần trước, Agent phần mềm là kỹ thuật thích hợp nhất
để mô hình loại phần mềm này Hiện nay, công nghệ agent đã được áp dụng trong một số các hệ thống TMĐT như BargainFinder, Jango phục vụ cho công việc tìm kiếm thông tin, tập hợp và so sánh hàng hóa theo một số tiêu chuẩn nào đó (áp dụng cho dịch vụ tìm kiếm và kết hợp) Agent còn có thể thực hiện các nhiệm vụ phức tạp hơn như đại diện cho người dùng tiến hành các cuộc thương lượng về điều kiện mua bán hàng hóa
Vì vậy, yêu cầu về khả năng tự động của công cụ thương lượng sẽ được đáp ứng nhờ vào các agent tự trị
Hình thức thương lượng:
Vì thương lượng là một cơ chế khá phức tạp, nên trong một số tài liệu, các tác giả đề nghị dùng cơ chế bán đấu giá để thay thế các hình thức thương lượng trong giao dịch TMĐT Bán đấu giá điện tử đã trở nên phổ biến vì chúng cung cấp một cơ chế kinh doanh hiệu quả cho các hàng hóa quý hiếm hoặc hàng hóa thanh lý chưa xác định được giá cả Các giao dịch thông qua bán đấu giá trực tuyến dễ dàng được cài đặt và ít tốn kém, điều này đem lại sự thành công cho hình thức này
Tuy nhiên, khi xem xét kỹ hơn, mặc dù hình thức bán đấu giá có nhiều lợi ích nhưng nó lại có các đặc trưng không thân thiện với khách hàng như:
Trong cuộc bán đấu giá, những người tham gia chỉ có thể quan tâm đến một vấn đề duy nhất là giá cả, các vấn đề khác liên quan đến điều kiện thanh toán, giao hàng không được đề cập đến
Cuộc bán đấu giá chỉ tập trung vào lợi nhuận, do đó chúng hướng đến việc tăng tính cạnh tranh giữa những người tham gia Chỉ người thắng cuộc mới
có thể mua được hàng hóa Những khách hàng còn lại cần phải tham gia vào các cuộc bán đấu giá khác để mua hàng hóa mình cần
Trang 34 Người thắng cuộc thường phải trả số tiền lớn hơn giá trị thật của sản phẩm Ngoài ra, chúng còn có các luật khá nghiêm ngặt như: người mua không thể rút lại sự trả giá khi tìm thấy một hàng hóa tương tự nhưng có giá rẻ hơn
Rõ ràng, trong cuộc bán đấu giá, khách hàng phải “đọ sức” với người bán trong một cuộc chiến đấu gay go về giá Đây không phải là loại mối quan hệ mà người bán mong muốn có với khách hàng của mình Với những vấn đề hạn chế kể trên, ta nhận thấy rằng hình thức này không thể thay thế cho việc thương lượng trong mọi trường hợp kinh doanh
Vì trong môi trường Internet, số lượng người bán và người mua rất lớn bao gồm các công ty, các tổ chức lẫn các cá nhân Những người tham gia trong giao dịch có thể biết rõ nhau hoặc có thể là những người nặc danh Họ sẽ có nguy cơ rủi
ro cao nếu bộc lộ tất cả các thông tin riêng (như giá giới hạn, chiến lược thương lượng ) cho một đối thủ không đáng tin cậy Dựa vào sự phân tích ở trên, ta nhận thấy rằng thương lượng thoả hiệp là hình thức thương lượng thích hợp nhất để áp dụng vào các giao dịch diễn ra trong TMĐT
Ngoài ra, với việc dùng các agent thương lượng thay mặt người dùng, chúng
có thể dễ dàng thực hiện nhiều cuộc thương lượng đồng thời vừa để giảm thời gian thương lượng, vừa có thể lựa chọn cơ hội mua bán tốt nhất cho người dùng Khi nhu cầu mua hàng thấp, người bán phải cố gắng bán càng nhiều hàng hóa càng tốt, nhưng khi hàng hóa trở nên khan hiếm, người bán sẽ lựa chọn khách hàng chấp nhận điều kiện có lợi nhất cho mình (tương tự như cơ chế bán đấu giá)
Tóm lại, thương lượng thỏa hiệp là hình thức được lựa chọn cho công cụ thương lượng trong TMĐT Ngoài ra, khi mức cung cầu hàng hóa quá chênh lệnh, một cơ chế tương tự như bán đấu giá được áp dụng để lựa chọn sự thỏa thuận có lợi nhất (không chỉ về giá cả mà còn về cả các điều kiện khác)
3 Kỹ thuật thương lượng