1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)

80 636 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường cao đẳng y tế ninh bình (LV thạc sĩ)

Trang 1

-

TRẦN VĂN NINH

XÂY DỰNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ DỰA TRÊN NỀN TẢNG CÔNG NGHỆ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

(Theo định hướng ứng dụng)

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

-

TRẦN VĂN NINH

XÂY DỰNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ DỰA TRÊN NỀN TẢNG CÔNG NGHỆ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ NINH BÌNH

CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC MÁY TÍNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

(Ký và ghi rõ họ tên)

Trần Văn Ninh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn, biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Vĩnh An –

Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Thông tin – Truyền thông, người đã trực

tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và định hướng cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn, giúp tôi có nhận thức đúng đắn về kiến thức khoa học và giải quyết được những vấn đề khó khăn, vướng mắc để luận văn được hoàn thành

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo của Học viện

Công nghệ Bưu chính Viễn thông đã tạo điều kiện cho tôi có một môi trường học

tập tốt, đồng thời truyền đạt cho tôi nguồn vốn kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại trường

Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp và người thân

đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 – TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY VÀ THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ 3

1.1 Tổng quan về hệ thống thư viện điện tử 3

1.1.1 Khái niệm thư viện điện tử 3

1.1.2 Đặc điểm thư viện điện tử 4

1.1.3 Tầm quan trọng của thư viện điện tử 5

1.1.4 Các yếu tố cấu thành thư viện điện tử 6

1.1.5 Khả năng và xu hướng phát triển thư viện điện tử trong các trường Cao đẳng và Đại học tại Việt Nam 8

1.2 Giới thiệu về công nghệ điện toán đám mây 10

1.2.1 Khái niệm 11

1.2.2 Kiến trúc điện toán đám mây 13

1.2.3 Các đặc tính của điện toán đám mây 13

1.2.4 Các mô hình dịch vụ của điện toán đám mây 14

1.2.5 Các mô hình triển khai điện toán đám mây 17

1.3 Lợi ích, ưu điểm của điện toán đám mây 20

1.3.1 Triển khai nhanh chóng 20

1.3.2 Giảm chi phí 20

1.3.3 Đa phương tiện truy cập 21

1.3.4 Chia sẻ 21

1.3.5 Khả năng chịu tải nâng cao 21

1.3.5 Độ tin cậy 21

1.3.6 Tính co giãn linh động 21

1.3.7 Bảo mật 22

1.4 Tình hình sử dụng công nghệ điện toán đám mây trong và ngoài nước 22

1.4.1 Trên thế giới 22

1.4.2 Tại Việt Nam 23

1.5 Kết luận chương 24

Chương 2 – THIẾT KẾ HỆ THỐNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ DỰA TRÊN CÔNG NGHỆ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY 25

2.1 Ứng dụng công nghệ điện toán đám mây trong xây dựng thư viện điện tử 25

Trang 6

2.1.1 Lợi thế của điện toán đám mây trong thư viện số 25

2.1.2 Tình hình ứng dụng dịch vụ điện toán đám mây trong thư viện điện tử26 2.1.3 Thực trạng thư viện các trường đại học Việt Nam 27

2.1.4 Mô hình điện toán đám mây trong thư viện số và thư viện các trường Đại học 28

2.2 Phát biểu bài toán 31

2.3 Thiết kế kiến trúc hệ thống 34

2.3.1 Kiến trúc tổng thể 34

2.3.2 Mô hình cài dặt 37

2.3.3 Các chức năng chính của hệ thống 37

2.3.4 Các mô hình hoạt động 38

2.4 Thiết kế dữ liệu và xây dựng cấu trúc nội dung thư viện 40

2.4.1 Số hóa tài liệu 40

2.4.2 Tổ chức, sắp xếp tài liệu trong thư viện số 41

2.4.3 Chuẩn Mô Tả Dữ Liệu Dublin core metadata 43

2.5 Kết luận chương 44

Chương 3 – PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ NINH BÌNH 45

3.1 Thư viện số mã nguồn mở Dspace 45

3.2 Giao thức truy nhập dịch vụ và kiểm soát kiểm soát truy nhập 46

3.2.1 CAS - Central Authentication Service 46

3.2.2 LDAP - Lightweight Directory Access Protocol 48

3.3 Mô hình bảo vệ hệ thống và dữ liệu 54

3.3.1 Mô hình chứng thực CAS – LDAP – Application 54

3.3.2 Mô hình phân quyền và quản trị 55

3.4 Kiểm nghiệm và đánh giá hệ thống 58

3.4.1 Kết quả hệ thống xây dựng được 58

3.4.2 Đánh giá kết quả hệ thống 66

KẾT LUẬN 68

IV DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 7

DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, CHỮ VIẾT TẮT

API Application Programming

Interface

Giao diện lập trình ứng

dụng Application Layer Application Layer Lớp ứng dụng BEIC European Library of

Information and Culture

Thư viện Thông tin Văn hóa châu Âu Bussiness Logic

Layer Bussiness Logic Layer Lớp nghiệp vụ CAS Central Authentication

Service

Kiểm soát truy nhập dịch

vụ CD-I Compact Disk-Interactive Trạm tương tác Collection Collection Bộ sưu tập

Communication Communication Cộng đồng

Community Cloud Community Cloud Đám mây cộng đồng

DCM Dublin core metadata Chuẩn mô tả dữ liệu Deployment Models Deployment Models Các mô hình triển khai Digital television Digital television Vô tuyến truyền hình số

DL Digital Library Thư viện điện tử Dspace Dspace Phần mềm thư viện số ĐTĐM Cloud Computing Điện toán đám mây E-bookshop E-bookshop Hiệu sách trực tuyến EcCommerse EcCommerse Thương mại điện tử

E-publishing E-publishing Xuất bản điện tử Essential

Characteristics Essential Characteristics Các đặc tính thiết yếu E-university E-university Trường đại học ảo Grid computing Grid computing Điện toán lưới

HP Hewlett-Packard Công ty Hewlett-Packard Hybrid Cloud Hybrid Cloud Đám mây lai IaaS Infrastructure as as Service Cơ sở hạ tầng như một

dịch vụ IEEE Institute of Electrical and

Electronics Engineers

Viện Kỹ thuật Điện và

Điện tử LDAP Lightweight Directory Access

Protocol

Giao thức truy cập nhanh

các dịch vụ

Trang 8

LDIF LDAP Interchange Format

Chuẩn định dạng file text lưu trữ những thông tin cấu hình LDAP

MIT Massachusetts Institute of

Technology Thư viện MIT OAI Open Archives Initiative Sáng kiến lưu trữ mở OPAC Online Public Access

Catalogue Mục lục trực tuyến Open archive Open archive Lưu trữ điện tử mở PaaS Platform as a Service Các dịch vụ nền tảng như

dịch vụ Pre-print service Pre-print service Dịch vụ tiền xuất bản Private Cloud Private Cloud Đám mây doanh nghiệp Public Cloud Public Cloud Đám mây công cộng SaaS Software as a Service Các dịch vụ ứng dụng Service Models Service Models Các mô hình dịch vụ Storage Layer Storage Layer Lớp lưu trữ

TVĐT Electronic library Thư viện điện tử

US NIST National Institute of Standards

and Technology

Viện Quốc gia Tiêu chuẩn

và Công nghệ Mỹ Utility computing Utility computing Điện toán theo nhu cầu

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 Danh sách phân bố tài liệu thư viện 58 Bảng 2 Cấu trúc các đơn vị và bộ sưu tập 61 Bảng 3 Phân quyền nhóm thành viên 63

Trang 10

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Mô hình tổng quan về Cloud computing 12

Hình 1.2 Kiến trúc điện toán đám mây 13

Hình 1.3 Mô hình các tầng dịch vụ trong điện toán đám mây 15

Hình 1.4 Mô hình Public Cloud 17

Hình 1.5 Mô hình Private Cloud 18

Hình 1.6 Mô hình Community Cloud 19

Hình 1.7 Mô hình Hybrid Cloud 19

Hình 2.1 Kế hoạch chia sẻ máy chủ 29

Hình 2.2 Sơ đồ thực hiện điện toán đám mây 30

Hình 2.3 Ứng dụng điện toán đám mây tại các thư viện đại học 31

Hình 2.4 Kiến trúc hệ thống Dspace 35

Hình 2.5 Mô hình tổ chức thông tin hệ thống Dspace 36

Hình 2.6 Kiến trúc tổng thể của thư viện 36

Hình 2.7 Mô hình cài đặt của hệ thống của thư viện 37

Hình 2.8 Các chức năng của hệ thống 37

Hình 2.9 Biểu đồ quản lý thành viên 38

Hình 2.10 Biểu đồ quản lý nhóm 39

Hình 2.11 Biểu đồ quản lý tài liệu 40

Hình 2.12 Tổ chức sắp xếp tài liệu thư viện 42

Hình 2.13 Biểu ghi Dublin Core hoàn chỉnh được gắn vào ngôn ngữ HTML 44

Hình 3.1 Truy cập vào ứng dụng khi đã chứng thực với CAS server 47

Hình 3.2 Truy cập vào ứng dụng mà chưa chứng thực với CAS server 47

Hình 3.3 Mô hình kết nối giữa client/server 49

Hình 3.4 Cấu trúc cây LDAP 50

Hình 3.5 Ví dụ thông tin một tập tin định dạng file ldif 51

Hình 3.6 Một số các thuộc tính cơ bản trong file Ldif 53

Hình 3.7 Mô hình chứng thực 54

Hình 3.8 Mô hình quản lý nhóm, thành viên của thư viện 56

Hình 3.9 Cloud server 59

Trang 11

Hình 3.10 Giao diện thư viện Cao đẳng Y tế Ninh Bình 59

Hình 3.11 Giao diện đăng nhập thư viện Cao đẳng Y tế Ninh Bình 60

Hình 3.12 Quản lý thành viên 60

Hình 3.13 Quản lý nhóm 61

Hình 3.14 Cấu trúc đơn vị, bộ sưu tập 62

Hình 3.15 Khởi tạo bộ sưu tập 62

Hình 3.16 Biên mục tài liệu 63

Hình 3.17 Chính sách quản lý đơn vị, bộ sưu tập 64

Hình 3.18 Kiểm duyệt tài liệu 64

Hình 3.19 Tìm kiếm tài liệu 65

Hình 3.20 Liên kết thư viện số 65

Trang 12

MỞ ĐẦU

Ngày nay, cùng với xu hướ ng toàn cầu hóa, viê ̣c ho ̣c tâ ̣p và trau dồi kiến thức của người dân đòi hỏi ngày càng nhiều, đă ̣c biê ̣t với các nhà nghiên cứu, giới ho ̣c sinh, sinh viên và cả những nông dân cũng có nhu cầu cao về tích lũy, bổ sung kiến thức Tuy nhiên hiện nay, hệ thống thư viện cho sinh viên, học sinh, người dân chưa nhiều, chưa đa dạng Các thư viện truyền thống vẫn hoạt động theo mô hình quản lý thủ công, mất nhiều thời gian tìm kiếm và đặc biệt là không quản lý được tình trạng sách Các thư viện điện tử, thư viện số thông thường giải quyết được các vấn đề nêu trên nhưng lại phải đầu tư rất nhiều vào hệ thống công nghệ thông tin của mình như: phần cứng, phần mềm, hạ tầng mạng,… Không những thế việc vận hành hệ thống, quá trình sửa chữa, bào trì, nâng cấp hệ thống là một vấn đề quan trọng, người quản trị viên không chỉ phải có kiến thức chuyên môn vững chắc, bên cạnh đó phải đầu tư rất nhiều thời gian Công nghệ điện toán đám mây (ĐTĐM) được áp dụng cung cấp cho các cơ sở thư viện các phương pháp tra cứu nhanh truy cập thông tin, giải quyết được bài toán về xây dựng cơ sở hạ tầng, phần mềm, và lưu trữ dữ liệu Điện toán đám mây có mô hình dịch vụ lưu trữ quy mô lớn thông tin, các cơ sở thư viện số dễ dàng hợp tác với nhau để xây dựng một kho lưu trữ thông tin theo mô hình lưu trữ tập trung ảo nhằm giảm chi phí lưu trữ để duy trì kho dữ liệu và giảm thiểu rủi ro mất mát, hư hỏng dữ liệu so với thư viện số thông thường, ngoài ra còn giúp người dùng

có thể dễ dàng truy cập đến dữ liệu của họ từ bất cứ đâu, thông qua nhiều thiết bị có khả năng kết nối Internet

Tại trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình hiện nay việc cung cấp tài liệu, giáo trình môn học cho sinh viên còn hạn chế, chủ yếu là tài liệu do các thầy cô tự biên soạn chuyển cho sinh viên sao lưu để học Việc in ấn, cấp phát giáo trình cho sinh viên chưa kịp chương trình Một số giáo trình và tài liệu tham khảo sinh viên cũng có thể tìm thấy trên website của trường nhưng số lượng rất ít và rất khó khăn trong việc tìm kiếm Với mục đích đưa những tiến bộ công nghệ vào phục vụ cho hoạt động của nhà trường, hỗ trợ giảng viên và sinh viên trong công tác giảng dạy, có thể dễ dàng tra cứu tài liệu, tìm kiếm giáo trình, tài liệu tham khảo liên quan đến môn học của mình

Trang 13

tôi xin chọn đề tài nghiên cứu “Xây dựng thư viện điện tử dựa trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây tại trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình”

Mục tiêu cụ thể được trình bày trong luận văn như sau:

- Nghiên cứu về thư viện điện tử và công nghệ điện toán đám mây

- Tìm hiểu phần mềm mã nguồn mở Dspace

- Xây dựng thư viện điện tử trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây bằng phần mềm Dspace

Nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương như sau:

- Chương 1: Tổng quan về công nghệ điện toán đám mây và thư viện điện tử

- Chương 2: Thiết kế hệ thống thư viện điện tử dựa trên công nghệ điện toán đám mây

- Chương 3: Phát triển hệ thống thư viện điện tử tại trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình

Trang 14

Chương 1 – TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY VÀ THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ

1.1 Tổng quan về hệ thống thư viện điện tử

Sách là sản phẩm quan trọng để bảo lưu, truyền bá và phát triển tri thức Để bảo quản sách, cách đây hơn 2000 năm, các triều đại, các trung tâm tôn giáo đều thành lập thư viện Thư viện ngày nay khác xa so với thư viện truyền thống Trong thư viện không những có sách, mà còn có sách điện tử, báo, tạp chí và các vật mang tin hiện đại khác Thư viện không chỉ phục vụ cho đối tượng trí thức và các tầng lớp trên, mà còn là nơi phục vụ rộng rãi cho mọi tầng lớp trong xã hội Thông tin đã trở thành nhân tố cơ bản quyết định sự phát triển của một quốc gia Mặt khác, cùng với

sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và Internet cho phép người sử dụng

dễ dàng tiếp cận thông tin từ xa Chính vì vậy, sự xuất hiện của thư viện điện tử có thể nói như một xu thế tất yếu nhằm thoả mãn nhu cầu tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin của con người trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của tri thức

1.1.1 Khái niệm thư viện điện tử

Mặc dù hiện nay nhiều trường đại học, cao đẳng cho biết đã xây dựng được thư viện điện tử nhưng cách hiểu về thư viện điện tử, vẫn chưa đầy đủ, từ đó dẫn đến việc xây dựng nặng về hình thức mà không chú trọng đến nội dung hoạt động Tuy nhiên ngay trong giới thông tin - thư viện cũng còn đang tranh cãi để tìm ra một khái niệm thống nhất về vấn đề này

Trong cuốn “Từ điển dành cho công tác thư viện và khoa học thông tin” của Nhà xuất bản Libraries Unlimited in năm 2005, tác giả Joan M.Reitz [9] đã khẳng định không còn phân biệt giữa khái niệm thư viện điện tử và thư viện số Như vậy, phải hiểu hai khái niệm này chính là một Vì vậy xây dựng thư viện điện tử là phải biết chọn lọc, sưu tầm và tổ chức thông tin có ý nghĩa và hữu ích nhằm đáp ứng đúng yêu cầu của người sử dụng

Có thể hiểu khái niệm thư viện điện tử (electronic library) là tin học hóa, điện

tử hóa toàn bộ các quá trình hoạt động của một thư viện truyền thống

Trang 15

Cùng quan điểm với Joan M.Reitz, một chuyên gia trong ngành thư viện cho rằng: thư viện điện tử cũng chính là thư viện số, đó là nơi mà toàn bộ các tài liệu của thư viện đó được số hoá và được quản lý bằng một phần mềm chuyên nghiệp có tổ chức để người dùng tin dễ dàng truy cập, tìm kiếm và xem được nội dung toàn văn của chúng từ xa thông qua hệ thống mạng thông tin và các phương tiện truyền thông

Theo tác giả Vũ Văn Sơn: “Thư viện điện tử là hình thức kết hợp giữa thiết bị tính toán, lưu trữ và truyền thông số với nội dung và phần mềm cần thiết để tái tạo, thúc đẩy và mở rộng các dịch vụ của các thư viện truyền thống vốn dựa trên các biện pháp thu thập, biên mục và phổ biến thông tin trên giấy và các vật liệu khác”

Tuy ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất, nhưng tựu chung lại, thư viện điện tử phải sử dụng các phương tiện điện tử trong thu thập, lưu trữ, xử lý, tìm kiếm và phổ biến thông tin Đây là nơi phối hợp giữa các nhà thư viện học, nhà xuất bản, các nhà khoa học và công nghệ nhằm tiếp cận tới tới đầy đủ thông tin, ở mọi nơi và mọi lúc Một thư viện điện tử vừa là nơi phổ biến các nguồn tin điện tử nhưng đồng thời cũng tham gia vào việc tạo ra các nguồn tin đó

Tóm lại, thư viện điện tử được hiểu là nơi lưu trữ nguồn thông tin số hóa, đặc biệt là thông tin toàn văn, đồng thời sử dụng các phương tiện điện tử trong thu thập, lưu trữ, xử lý, tìm kiếm và phổ biến thông tin

1.1.2 Đặc điểm thư viện điện tử

Hiện nay chưa có một tiêu chuẩn cụ thể nào để đánh giá một thư viện điện tử tiêu biểu, song có thể tổng kết lại một số đặc điểm như sau:

- Các thư viện điện tử đều được bố trí trên giao diện Web

- Một thư viện điện tử phải có hạ tầng cơ sở đủ mạnh, bao gồm: Mạng Intranet

có tốc độ kết nối nhanh với mạng Internet, hệ thống máy chủ lớn thực hiện việc quản trị và các dịch vụ khác nhau (máy chủ web, máy chủ sao lưu, tường lửa, máy chủ phục vụ các ứng dụng khác), hệ thống máy trạm để truy cập và tiếp cận thông tin, các thiết bị công nghệ chuyên dụng phục vụ cho thư viện điện tử (mã vạch, thiết bị quản

lý kho sách bằng công nghệ từ tính,…)

Trang 16

- Thư viện phải tạo lập và phát triển kho tư liệu số (số hóa tài liệu từ dạng giấy sang dạng số, bổ sung, tích hợp nguồn tin điện tử thông qua mua tài liệu nước ngoài đang được xuất bản cả dạng giấy và dạng điện tử quyền truy cập, mua quyền truy cập các cơ sở dữ liệu của các nhà xuất bản lớn trên thế giới, )

- Phải cung cấp và tạo điều kiện cho người dùng sử dụng các dịch vụ điện tử như: yêu cầu tìm tin trong các cơ sở dữ liệu, truy nhập và khai thác các nguồn tin tại chỗ và các nguồn tin ở nơi khác,

1.1.3 Tầm quan trọng của thư viện điện tử

Thế kỷ 21, thông tin trở thành nguồn tài nguyên quan trọng nhất của xã hội Hiện tượng bùng nổ thông tin và nhu cầu thông tin, cuộc cách mạng công nghệ thông tin và xu hướng toàn cầu hóa đã đặt ra cho ngành Thư viện nhiều thời cơ và thách thức Thư viện điện tử trở thành hình mẫu lý tưởng của các thư viện trên thế giới Ở Việt Nam, hệ thống máy tính đã, đang và tiếp tục được trang bị tại các thư viện hiện nay, khả năng xây dựng các thư viện điện tử, thư viện số sẽ trở thành hiện thực Thư viện điện tử sẽ cung cấp các phương tiện cho phép xem vô tuyến vệ tinh, truyền hình cáp, tiếp cận các cơ sở dữ liệu quốc tế và dịch vụ thư viện tại nhà, các trạm tương tác CD-I (Compact Disk-Interactive), các trạm để xem phim, mục lục công cộng trực tuyến (Online Public Access Catalogue) và hệ thống cho mượn tự động Mặc dù hiện nay các thư viện còn rất nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, vấn đề đào tạo cán bộ, khả năng tài chính… nhưng việc hình thành, xây dựng các thư viện điện tử là hết sức cần thiết trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Với sự phát triển rộng rãi của mạng Internet, người sử dụng không cần trực tiếp đến thư viện mà chỉ cần ngồi ở bàn làm việc và truy cập vào trang web của cơ quan tổ chức thông tin sẽ tìm được tài liệu cần thiết

- Một trong những lợi thế của thư viện điện tử là công nghệ và tài nguyên số,

do vậy người dùng tin có thể đánh giá ngay được sự thuận tiện và tính thân thiện cao của hệ thống tra cứu và lưu truyền thông tin từ các nguồn với nhau

Trang 17

- Khách hàng của một thư viện hiện đại không còn khái niệm giờ phục vụ như trước đây Mọi khoảng cách về không gian và thời gian dường như được xóa bỏ hoàn toàn khi sử dụng các dịch vụ và tiện ích tại các thư viện này

- Một yếu tố bắt buộc khi xây dựng một thư viện điện tử đó là hoàn thành quá trình liên kết thư viện Tính mở của một thư viện hiện đại rất được đề cao Khi truy cập vào cơ sở dữ liệu của một cơ quan thông tin, người dùng tin có thể tìm kiếm thông tin cần thiết tại các thư viện khác trong khu vực và trên thế giới thông qua các đường link của dịch vụ thông tin liên kết

- Thông tin trong thư viện điện tử luôn luôn được cập nhật do đó tính mới, tính thời sự là một thế mạnh để thu hút được người dùng tin tìm đến và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của họ

1.1.4 Các yếu tố cấu thành thư viện điện tử

Phát triển thư viện truyền thống thành thư viện điện tử là xu thế tất yếu của tất

cả các quốc gia Để xây dựng thành công một thư viện điện tử đòi hỏi sự xem xét kỹ lưỡng các điều kiện cần thiết trước khi bắt tay vào thực hiện Cho dù thư viện đó có hiện đại đến đâu thì nó cũng phải tập trung vào bốn yếu tố cấu thành một thư viện, cũng phải đảm bảo tốt chức năng kết nối con người với thông tin, bao gồm: vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ, đội ngũ cán bộ và người dùng tin Song những yếu tố đó phải được nhìn nhận dưới tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin hiện đó Cụ thể:

- Tài nguyên số: Mức độ đồ sộ, phong phú của nguồn tin điện tử là cơ sở quan trọng nhất để đánh giá chất lượng của một thư viện hiện đại Một vấn đề đáng quan tâm nhất đối với nguồn tin số chính là các cơ sở dữ liệu toàn văn Đây chính là ưu thế rút ngắn khoảng cách về địa lý và thời gian giữa cộng đồng và thư viện, giúp người dùng tin dễ dàng tiếp cận với tài liệu gốc, chia sẻ thông tin thuận lợi thông qua mạng Internet mà không cần đến thư viện Tuy nhiên, một vấn đề luôn luôn được đặt ra đó

là bản quyền Bản quyền là cách làm truyền thống để bảo vệ quyền sở hữu thông tin của nhà xuất bản và sự kiểm soát của họ đối với việc phổ biến thông tin và liên quan đến việc thu phí sử dụng truy cập

Trang 18

- Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ: Để phát huy tối đa tác dụng của tài nguyên số thì phương thức lưu truyền không thể thiếu đó là công nghệ hiện đại, đặc biệt là vai trò của công nghệ thông tin Nền tảng công nghệ của thư viện điện tử là Internet và World Wide Web Công nghệ càng hiện đại, phần mềm thư viện càng thân thiện với người dùng, khả năng trao đổi liên thư viện càng cao thì càng phát huy được tối đa chức năng của thư viện điện tử, tri thức ngày càng phong phú, nối kết mọi người trên toàn thế giới lại gần với nhau hơn Để quản lý một thư viện điện tử rất cần thiết phải lựa chọn phần mềm tích hợp trong đó bao gồm đầy đủ các modul cần thiết cho toàn bộ hoạt động của thư viện, đồng thời tuân thủ mọi chuẩn quốc tế như ISO

2709, khổ mẫu MARC, sử dụng bảng phân loại thập phân Dewey, cổng liên kết Z39.50, làm việc trên môi trường Web,…

- Đội ngũ cán bộ: Con người là chủ thể của mọi hoạt động Trong quá trình chuyển đổi hình thức hoạt động từ thư viện truyền thống sang thư viện điện tử, vai trò của cán bộ thư viện có sự khác biệt rõ rệt Từ vị trí của một thủ thư đơn thuần, thu động trong công việc thì nay họ phải có đầy đủ các tiêu chuẩn của một chuyên gia thông tin, tư vấn giúp người dùng tin định hướng nguồn tin cần tìm, bao gói thông tin

- Người dùng tin: Đây là đối tượng cần hướng tới của bất kỳ một loại hình thư viện nào, ở bất kỳ một giai đoạn nào Thư viện phát triển theo nhu cầu đòi hỏi và trình

độ phát triển tư duy của xã hội, của người dùng tin Các sản phẩm và dịch vụ mà các thư viện điện tử tạo ra đều nhằm mục đích phục vụ tốt nhất, kịp thời nhất cho người dùng tin

Xây dựng thư viện điện tử là xu thế khách quan để thư viện Việt Nam, cụ thể

là hệ thống thư viện các trường đại học có thể hòa nhập với mạng TT-TV các nước trong khu vực và thế giới Do đó, các nhà lãnh đạo đầu ngành cần có sự định hướng chiến lược cho thư viện trong giai đoạn hội nhập hiện nay

Trang 19

1.1.5 Khả năng và xu hướng phát triển thư viện điện tử trong các trường Cao đẳng và Đại học tại Việt Nam

Trung tâm Thông tin - Thư viện trực thuộc các trường đại học từ lâu đã trở thành giảng đường thứ hai của các sinh viên, học viên Nơi đây cung cấp đầy đủ các kiến thức cần thiết, bổ trợ cho quá trình học tập, nghiên cứu trên lớp và cũng là con đường tiếp cận nhanh nhất, chính thống nhất tới các nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật

Thư viện chính là môi trường cung cấp dữ liệu, thông tin Thư viện trường đại học cũng như các loại hình thư viện khác đóng vai trò tích cực trong đổi mới giáo dục, biến thông tin trở thành tri thức cho cộng đồng

Xã hội thông tin đang phát triển mạnh mẽ và mang tính quốc tế Nó tác động đến mọi lĩnh vực đời sống - kinh tế - xã hội và trở thành nhu cầu tất yếu trong thời kỳ hội nhập hiện nay Xu thế này không loại trừ bất kỳ quốc gia nào và tất cả đều đang quan tâm đến việc dùng thông tin tri thức nói chung, thông tin khoa học và công nghệ nói riêng để tạo thế cạnh tranh, khẳng định chỗ đứng của họ trong một thị trường toàn cầu đa dạng và năng động Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó Nghị quyết 49/CP ban hành năm 1993, Chính phủ khẳng định quyết tâm phổ cập văn hóa thông tin trong

xã hội nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc chuẩn bị hướng tới một xã hội thông tin Đây là cơ hội và cũng là thách thức lớn đối với hoạt động thông tin và công tác

tổ chức quản lý hoạt động thông tin của Việt Nam

Nghiên cứu diễn biến và sự phát triển của hoạt động thông tin cho thấy việc xây dựng và khai thác các cơ sở dữ liệu trong hoạt động thông tin thư viện trở thành hoạt động chính và còn tiếp tục giữ vị trí chủ đạo cho tới hết những thập niên đầu của thế kỷ 21

Sử dụng các công nghệ thông tin mới để quản trị và trao đổi thông tin từ đó tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực khai thác và sử dụng thông tin là một phương hướng quan trọng trong hoạt động của các cơ quan thông tin thư viện Đến nay trong hệ thống thông tin thư viện ở Việt Nam các CSDL đã được xây dựng và đưa vào khai thác Thêm vào đó, bằng con đường đặt mua hoặc trao đổi quốc tế, các

Trang 20

cơ quan thông tin thư viện đã tích luỹ được một lượng không nhỏ các CSDL nước ngoài về các lĩnh vực khác nhau Đây là nguồn lực đáng kể cho toàn hệ thống

Sự phát triển của công nghệ thông tin - truyền thông và nguồn tin điện tử, nhất

là sau khi gia nhập WTO vào năm 2006 đã mở ra cho ngành thư viện Việt Nam một

cơ hội và thách thức lớn Theo thạc sĩ Cao Minh Kiểm dịch từ cuốn “The Library in the twenty-first Century: New Services for the Information Age” (Thư viện thế kỷ 21

- những dịch vụ mới cho kỷ nguyên thông tin) của tác giả Peter Brophy thì 10 vấn đề

có thể ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển của thư viện, làm biến đổi những hoạt động truyền thống của thư viện, thậm chí có thể dẫn đến suy giảm vai trò của mô hình thư viện truyền thống Đó là:

- Xuất hiện công nghệ giấy điện tử (E-paper);

- Mô hình xuất bản mới (E-publishing) dựa trên lưu trữ điện tử và dịch vụ tiền xuất bản (Pre-print service), các lưu trữ điện tử mở (Open archive);

- Hiệu sách trực tuyến (E-bookshop): người đọc được khuyến khích mua tài liệu trực tiếp mà không cần đến thư viện;

- Thương mại điện tử (EcCommerse);

- Vô tuyến truyền hình số (Digital television): truyền thông băng rộng sẽ tạo cho người sử dụng khả năng truy cập thông tin mạnh mẽ;

- Môi trường học tập tích hợp; thư viện không còn là nơi duy nhất cung cấp tri thức lưu trữ nữa mà còn nhiều phương tiện khác;

- Trường đại học ảo (E-university);

- Thông tin di động, không dây;

- In ấn theo yêu cầu;

- Những vấn đề chưa biết tới Qua những sự kiện và xu hướng phát triển ngành thông tin thư viện trong phạm vi toàn cầu, ngành thông tin thư viện Việt Nam phải

có những chuyển biến tích cực theo hướng chuẩn hóa, hội nhập để đi đến hoàn toàn liên thông, từng bước biến thư viện từ kho chứa sách thành trung tâm hình thành tri thức nhằm hỗ trợ tích cực cho việc giáo dục đào tạo

Trang 21

Hoạt động thông tin thư viện đại học phải luôn luôn bám sát mục tiêu, định hướng phát triển của trường đại học, của hoạt động nghiên cứu đào tạo nói chung Cùng với sự quan tâm và đầu tư thích đáng của Đảng và Nhà nước, của Bộ Giáo dục

và Đào tạo, đặc biệt là các Bộ chủ quản, hoạt động của thư viện đại học đã có nhiều khởi sắc Các dự án giáo dục đại học hiện đại hóa thư viện của Chính phủ cùng nhiều

dự án từ các nguồn tài chính khác đã tạo cơ hội cho thư viện đại học có điều kiện phát triển Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những đơn vị tiên phong trong việc tiếp cận công nghệ mới, cải tạo, nâng cấp và dần chuyển đổi từ thư viện truyền thống sang thư viện điện tử một cách khá thành công Được sự đầu tư quan tâm của Nhà nước, sự chỉ đạo sát sao của ban lãnh đạo Đại học Quốc gia

Hà Nội, Trung tâm đã trở thành đầu mối liên kết mạng lưới thư viện điện tử các trường Đại học phía Bắc với các khu vực khác trong cả nước, tiến tới hoà mạng khu vực và thế giới

1.2 Giới thiệu về công nghệ điện toán đám mây

Lịch sử phát triển hơn 30 năm của ngành công nghệ phần mềm tuy chưa phải

là dài, nhưng đã chứng kiến những cuộc cách mạng mang tính nhảy vọt Một trong những thay đổi mang tính quyết định và có ý nghĩa nhiều nhất là sự thay đổi của kiến trúc phần mềm Có thể kể đến việc chuyển từ cấu trúc Mainframe sang kiến trúc Client-server những năm cuối thập kỉ 80 của thế kỉ 20

Và đến những năm đầu của thập niên 2010 này, chúng ta lại chứng kiến một cuộc cách mạng nữa khi ngành công nghiệp phần mềm đang từng bước chuyển mình sang một kiến trúc mới: Cloud computing – điện toán đám mây

Điện toán đám mây (cloud computing) là một xu hướng công nghệ nổi bật trên thế giới trong những năm gần đây và đã có những bước phát triển nhảy vọt cả về chất lượng, quy mô cung cấp và loại hình dịch vụ, với một loạt các nhà cung cấp nổi tiếng như Google, Amazon, Salesforce, Microsoft,

Trang 22

1.2.1 Khái niệm

Điện toán đám mây (Cloud computing) có thể hiểu một cách đơn giản là: các nguồn điện toán khổng lồ như phần mềm, dịch vụ… sẽ nằm tại các máy chủ ảo (đám mây) trên Internet thay vì trong máy tính gia đình và văn phòng (trên mặt đất) để mọi người kết nối và sử dụng mỗi khi họ cần Với các dịch vụ sẵn có trên Internet, doanh nghiệp không phải mua và duy trì hàng trăm, thậm chí hàng nghìn máy tính cũng như phần mềm Mọi giải pháp liên quan đến công nghệ thông tin đều được cung cấp dưới dạng các dịch vụ qua mạng Internet, giải phóng người sử dụng khỏi việc phải đầu tư nhân lực, công nghệ và hạ tầng để triển khai hệ thống Từ đó điện toán đám mây giúp tối giản chi phí và thời gian triển khai, tạo điều kiện cho người sử dụng nền tảng điện toán đám mây tập trung được tối đa nguồn lực vào công việc chuyên môn

Đứng ở góc nhìn khoa học kỹ thuật cũng có nhiều định nghĩa khác nhau, trong

đó có hai định nghĩa của Ian Foster và Rajkumar Buyya được dùng khá phổ biến và

có nhiều điểm tương đồng

Theo Ian Foster: “Cloud Computing là một mô hình điện toán phân tán có tính

co giãn lớn mà hướng theo co giãn về mặt kinh tế, là nơi chứa các sức mạnh tính toán, kho lưu trữ, các nền tảng và các dịch vụ được trực quan, ảo hóa và co giãn linh động,

sẽ được phân phối theo nhu cầu cho các khách hàng bên ngoài thông qua Internet.”

Theo Rajkumar Buyya: “Cloud là một loại hệ thống phân bố và xử lý song gồm các máy tính ảo kết nối với nhau và được cung cấp động cho người dùng như một hoặc nhiều tài nguyên đồng nhất dựa trên sự thỏa thuận dịch vụ giữa nhà cung cấp và người sử dụng

Trang 23

Hình 1.1 Mô hình tổng quan về Cloud computing [3]

Theo định nghĩa của Viện Quốc gia Tiêu chuẩn và Công nghệ Mỹ (US NIST), điện toán đám mây là mô hình cho phép truy cập trên mạng tới các tài nguyên được chia sẻ (ví dụ: hệ thống mạng, máy chủ, thiết bị lưu trữ, ứng dụng và các dịch vụ) một cách thuận tiện và theo nhu cầu sử dụng Những tài nguyên này có thể được cung cấp một cách nhanh chóng hoặc thu hồi với chi phí quản lý tối thiểu hoặc tương tác tối thiểu với nhà cung cấp dịch vụ [3]

Ở mô hình điện toán đám mây, mọi khả năng liên quan đến công nghệ thông tin đều được cung cấp dưới dạng các "dịch vụ", cho phép người sử dụng truy cập các dịch vụ công nghệ từ một nhà cung cấp nào đó "trong đám mây" mà không cần phải

có các kiến thức, kinh nghiệm về công nghệ đó, cũng như không cần quan tâm đến các cơ sở hạ tầng phục vụ công nghệ đó Theo IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers - Viện Kỹ thuật Điện và Điện tử) "Điện toán đám mây là hình

Trang 24

mẫu trong đó thông tin được lưu trữ thường trực tại các máy chủ trên Internet và chỉ được lưu trữ tạm thời ở các máy khách, bao gồm máy tính cá nhân, máy tính trong doanh nghiệp, các phương tiện máy tính cầm tay, "

1.2.2 Kiến trúc điện toán đám mây

Về cơ bản kiến trúc của điện toán đám mây bao gồm 3 thành phần chính:

- Các đặc tính thiết yếu (Essential Characteristics)

- Các mô hình dịch vụ (Service Models)

- Các mô hình triển khai (Deployment Models)

Hình 1.2 Kiến trúc điện toán đám mây

1.2.3 Các đặc tính của điện toán đám mây

Định nghĩa của US NIST chứa đựng kiến trúc, an ninh và chiến lược triển khai của đám mây Năm đặc tính cốt lõi của điện toán đám mây được thể hiện rõ như sau:

– Tự phục vụ theo yêu cầu (on-demand self-service): Khách hàng với nhu cầu tức thời tại những thời điểm thời gian xác định có thể sử dụng các tài nguyên tính toán (như thời gian CPU, không gian lưu trữ mạng, sử dụng phần mềm, ) một cách

tự động, không cần tương tác với con người để cấp phát

Trang 25

– Sự truy cập mạng rộng rãi (broad network access): Những tài nguyên tính toán này được phân phối qua mạng Internet và được các ứng dụng client khác nhau

sử dụng với những nền tảng không đồng nhất (như máy tính, điện thoại di động, PDA)

– Tập trung tài nguyên (Resource pooling): Những tài nguyên tính toán của nhà cung cấp dịch vụ đám mây được tập trung với mục đích phục vụ đa khách hàng

sử dụng mô hình ảo hóa với những tài nguyên vật lý và tài nguyên ảo được cấp phát động theo yêu cầu Động lực của việc xây dựng một mô hình tập trung tài nguyên tính toán nằm trong hai yếu tố quan trọng: tính quy mô và tính chuyên biệt Kết quả của mô hình tập trung tài nguyên là những tài nguyên vật lý trở nên trong suốt với người sử dụng Ví dụ, người sử dụng không được biết vị trí lưu trữ cơ sở dữ liệu của

họ trong đám mây

– Tính mềm dẻo (Rapid elasticity): Đối với người sử dụng, các tài nguyên tính toán được cung cấp tức thời hơn là liên tục, được cung cấp theo nhu cầu để mở rộng hoặc tiết giảm không hạn định tại bất kỳ thời điểm nào

– Khả năng đo lường (Measured Service): Mặc dù tài nguyên được tập trung

và có thể chia sẻ cho nhiều người sử dụng, hạ tầng của đám mây có thể dùng những

cơ chế đo lường thích hợp để đo việc sử dụng những tài nguyên đó cho từng cá nhân

1.2.4 Các mô hình dịch vụ của điện toán đám mây

Một đặc điểm quan trọng của điện toán đám mây đó là mọi thứ đều trở thành dịch vụ (Everything as a Service - XaaS)

Trang 26

Hình 1.3 Mô hình các tầng dịch vụ trong điện toán đám mây [3]

– Infrastructure as as Service (IaaS - Cơ sở hạ tầng như một dịch vụ):

Tầng đáy của đám mây là tầng các dịch vụ cơ sở hạ tầng Ở đây, chúng ta thấy một tập hợp các tài sản vật lí như các máy chủ, các thiết bị mạng và các đĩa lưu trữ được đưa ra như là các dịch vụ được cung cấp cho người tiêu dùng Các dịch vụ ở đây hỗ trợ cơ sở hạ tầng ứng dụng - bất kể cơ sở hạ tầng đó đang được cung cấp qua một đám mây hay không - và nhiều người tiêu dùng hơn Cũng như với các dịch vụ nền tảng, sự ảo hóa là một phương pháp thường được sử dụng để tạo ra chế độ phân phối các nguồn tài nguyên theo yêu cầu Ví dụ về các dịch vụ cơ sở hạ tầng bao gồm IBM Bluehouse, VMware, Amazon EC2, Microsoft Azure Platform, Sun ParaScale Cloud Storage…

Các dịch vụ cơ sở hạ tầng tập trung vào vấn đề trang bị đúng các trung tâm dữ liệu bằng cách đảm bảo công suất điện toán khi cần thiết Ngoài ra, do thực tế là các

kỹ thuật ảo hóa thường được sử dụng trong tầng này, nên có thể thấy rõ sự tiết kiệm chi phí do việc sử dụng nguồn lực hiệu quả mang lại

Trang 27

– Platform as a Service (PaaS - Các dịch vụ nền tảng như dịch vụ):

Đây là tầng ở đó chúng ta thấy cơ sở hạ tầng ứng dụng nổi lên như là một tập hợp các dịch vụ Dịch vụ này nhưng không bị hạn chế tầng giữa như là một dịch vụ, truyền thông như là một dịch vụ, tích hợp như là một dịch vụ, thông tin như là một dịch vụ, kết nối như một dịch vụ, v.v Các dịch vụ ở đây được dành để hỗ trợ cho các ứng dụng Các ứng dụng này có thể đang chạy trong đám mây và chúng có thể đang chạy trong một trung tâm dữ liệu doanh nghiệp truyền thống hơn Để đạt được khả năng mở rộng cần thiết trong một đám mây, các dịch vụ khác nhau được đưa ra ở đây thường được ảo hóa Các ví dụ về các đề nghị trong phần này của đám mây bao gồm các ảnh ảo của IBM® WebSphere® Application Server virtual images, Amazon Web Services, Boomi, Cast Iron, và Google App Engine Các dịch vụ nền tảng này cho phép người tiêu dùng chắc chắn rằng các ứng dụng của họ được trang bị để đáp ứng các nhu cầu của người dùng bằng cách cung cấp cơ sở hạ tầng ứng dụng dựa theo yêu cầu

– Software as a Service (SaaS - Các dịch vụ ứng dụng):

Tầng này có lẽ là hầu như quen thuộc với người dùng Web hàng ngày Tầng các dịch vụ ứng dụng này lưu trữ các ứng dụng phù hợp với mô hình SaaS Đây là những ứng dụng chạy trong một đám mây và được cung cấp theo yêu cầu về các dịch

vụ cho người dùng Đôi khi các dịch vụ này được cung cấp miễn phí và các nhà cung cấp dịch vụ tạo ra doanh thu từ những thứ khác như là các quảng cáo Web và nhiều khi các nhà cung cấp ứng dụng tạo ra doanh thu trực tiếp từ việc sử dụng dịch vụ Có hàng ngàn ứng dụng SaaS và số lượng phát triển hàng ngày nhờ các công nghệ Web 2.0

Trong cả hai trường hợp, các ứng dụng được cung cấp qua mô hình SaaS làm lợi cho người tiêu dùng bằng cách giải phóng cho họ khỏi việc cài đặt và bảo trì phần mềm và các ứng dụng có thể được sử dụng thông qua các mô hình cấp phép có hỗ trợ trả tiền để sử dụng các khái niệm

Trang 28

1.2.5 Các mô hình triển khai điện toán đám mây

- Đám mây công cộng (Public Cloud): Mô hình đầu tiên được nói đến khi đề cập tới Cloud Computing chính là mô hình Public Cloud Đây là mô hình mà hạ tầng Cloud Computing được một tổ chức sỡ hữu và cung cấp dịch vụ rộng rãi cho tất cả các khách hàng thông qua hạ tầng mạng Internet hoặc các mạng công cộng diện rộng Các ứng dụng khác nhau chia sẻ chung tài nguyên tính toán, mạng và lưu trữ Do vậy,

hạ tầng Cloud Computing được thiết kế để đảm bảo cô lập về dữ liệu giữa các khách hàng và tách biệt về truy cập

Hình 1.4 Mô hình Public Cloud [2]

Các dịch vụ Public Cloud hướng tới số lượng khách hàng lớn nên thường có năng lực về hạ tầng cao, đáp ứng nhu cầu tính toán linh hoạt, đem lại chi phí thấp cho khách hàng Do đó khách hàng của dịch vụ trên Public Cloud sẽ bao gồm tất cả các tầng lớp mà khách hàng cá nhân và doanh nghiệp nhỏ sẽ được lợi thế trong việc dễ dàng tiếp cận các ứng dụng công nghệ cao, chất lượng mà không phải đầu tư ban đầu, chi phí sử dụng thấp, linh hoạt

Trang 29

- Đám mây doanh nghiệp (Private Cloud): là mô hình trong đó hạ tầng đám mây được sở hữu bởi một tổ chức và phục vụ cho người dùng của tổ chức đó Private Cloud có thể được vận hành bởi một bên thứ ba và hạ tầng đám mây có thể được đặt bên trong hoặc bên ngoài tổ chức sở hữu (tại bên thứ ba kiêm vận hành hoặc thậm chí là một bên thứ tư)

Hình 1.5 Mô hình Private Cloud [2]

Private Cloud được các tổ chức, doanh nghiệp lớn xây dựng cho mình nhằm khai thác ưu điểm được các tổ chức, doanh nghiệp lớn xây dựng cho mình nhằm khai thác ưu điểm về công nghệ và khả năng quản trị của Cloud Computing Với Private Cloud, các doanh nghiệp tối ưu được hạ tầng IT của mình, nâng cao hiệu quả sử dụng, quản lý trong cấp phát và thu hồi tài nguyên, qua đó giảm thời gian đưa sản phẩm sản xuất, kinh doanh ra thị trường

- Đám mây cộng đồng (Community Cloud): là mô hình trong đó hạ tầng đám mây được chia sẻ bởi một số tổ chức cho cộng đồng người dùng trong các tổ chức

đó Các tổ chức này do đặc thù không tiếp cận với các dịch vụ Public Cloud và chia

sẻ chung một hạ tầng Cloud Computing để nâng cao hiệu quả đầu tư và sử dụng

Trang 30

Hình 1.6 Mô hình Community Cloud [2]

- Đám mây lai (Hybrid Cloud): là sự kết hợp của Public Cloud và Private Cloud Trong đó doanh nghiệp sẽ “out-source” các chức năng nghiệp vụ và dữ liệu không quan trọng, sử dụng các dịch vụ Public Cloud để giải quyết và xử lý các dữ liệu này Đồng thời, doanh nghiệp sẽ giữ lại các chức năng nghiệp vụ và dữ liệu tối quan trọng trong tầm kiểm soát (Private Cloud)

Hình 1.7 Mô hình Hybrid Cloud [2]

Trang 31

Một khó khăn khi áp dụng mô hình Hybrid Cloud là làm sao triển khai cùng một ứng dụng trên cả hai phía Public và Private Cloud sao cho ứng dụng đó có thể kết nối, trao đổi dữ liệu để hoạt động một cách hiệu quả

Doanh nghiệp có thể chọn để triển khai các ứng dụng trên Public, Private hay Hybrid Cloud tùy theo nhu cầu cụ thể Mỗi mô hình đều có điểm mạnh và yếu của

nó Các doanh nghiệp phải cân nhắc đối với các mô hình Cloud Computing mà họ chọn Và họ có thể sử dụng nhiều mô hình để giải quyết các vấn đề khác nhau Nhu cầu về một ứng dụng có tính tạm thời có thể triển khai trên Public Cloud bởi vì nó giúp tránh việc phải mua thêm thiết bị để giải quyết một nhu cầu tạm thời Tương tự, nhu cầu về một ứng dụng thường trú hoặc một ứng dụng có những yêu cầu cụ thể về chất lượng dịch vụ hay vị trí của dữ liệu thì nên triển khai trên Private hoặc Hybrid Cloud

1.3 Lợi ích, ưu điểm của điện toán đám mây

1.3.1 Triển khai nhanh chóng

So với phương pháp thông thường triển khai một ứng dụng trên internet, người dùng phải thực hiện một loạt các công việc như mua sắm thiết bị (hoặc thuê thiết bị

từ bên thứ ba), cài đặt và cấu hình phần mềm, đưa các ứng dụng vào đám mây, việc

sử dụng điện toán đám mây giúp loại bỏ một số công việc đòi hỏi thời gian lớn, ví dụ người dùng chỉ việc quan tâm phát triển triển khai các ứng dụng của mình lên “mây” (internet) khi sử dụng các đám mây nền tảng Bên cạnh đó, khả năng tăng hoặc giảm

sự cung cấp tài nguyên nhanh chóng theo nhu cầu tiêu dùng của ứng dụng tại các thời điểm khác nhau nhờ công nghệ ảo hóa của điện toán đám mây cũng là một trong những đặc điểm vượt trội của công nghệ này, thể hiện khả năng triển khai nhanh đáp ứng đòi hỏi tài nguyên tức thời của ứng dụng

1.3.2 Giảm chi phí

Chi phí được giảm đáng kể do chi phí vốn đầu tư được chuyển sang chi phí duy trì hoạt động Điều này làm giảm những khó khăn khi người dùng cần tính toán

Trang 32

xử lý các tác vụ trong một lần duy nhất hoặc không thường xuyên do họ có thể đi thuê cơ sở hạ tầng được cung cấp bởi bên thứ ba

1.3.3 Đa phương tiện truy cập

Sự độc lập giữa thiết bị và vị trí làm cho người dụng có thể truy cập hệ thống bằng cách sử dụng trình duyệt web mà không quan tâm đến vị trí của họ hay thiết bị nào mà họ đang dùng, ví dụ như PC, mobile Vì cơ sở hạ tầng off-site (được cung cấp bởi đối tác thứ ba) và được truy cập thông qua Internet, do đó người dùng có thể kết nối từ bất kỳ nơi nào

1.3.4 Chia sẻ

Việc cho thuê và chia sẻ tài nguyên giữa các người dùng với nhau làm giảm chi phí đầu tư hạ tầng tính toán giữa một phạm vi lớn người dùng Sự chia sẻ này cũng cho phép tập trung cơ sở hạ tầng để phục vụ các bài toán lớn với chi phí thấp hơn việc đầu tư hệ thống máy chủ tính toán từ đầu

1.3.5 Khả năng chịu tải nâng cao

Về lý thuyết, tài nguyên tính toán trên đám mây là vô hạn Việc thêm vào năng lực tính toán để chịu tải cao có thể được thực hiện chỉ bằng các thao tác kích chuột hoặc đã được tự động hoá

1.3.6 Độ tin cậy

Người sử dụng điện toán đám mây được ký hợp đồng sử dụng với điều khoản chất lượng dịch vụ rất cao ghi sẵn trong hợp đồng Chất lượng dịch vụ đám mây đơn giản được đánh giá ổn định hơn hệ thống tự triển khai do nền tảng đám mây được thiết kế và bảo trì bởi đội ngũ chuyên gia nhiều kinh nghiệm về hệ thống Hơn nữa, việc luôn làm việc với hệ thống lớn và gặp nhiều lỗi tương tự nhau nên quá trình khôi phục hệ thống sau thảm họa thông thường là nhanh chóng

1.3.7 Tính co giãn linh động

Tính co giãn linh động: Tính co giãn thể hiện sự linh động trong việc cung cấp tài nguyên tính toán theo nhu cầu thực tế của người dùng hoặc các ứng dụng dịch vụ Theo đó tài nguyên sẽ được đáp ứng một cách tự động sát với nhu cầu tại thời gian thực mà không cần người dùng phải có kỹ năng cho quá trình điều khiển này

Trang 33

1.3.8 Bảo mật

Tính bảo mật trong điện toán đám mây từ trước đến nay vẫn là câu hỏi lớn cho người dùng tiềm năng Tuy nhiên, hiện nay, khả năng bảo mật trong môi trường đám mây đã được cải thiện đáng kể, nhờ vào một số lý do chính sau đây: do dữ liệu tập trung trong các đám mây ngày càng lớn nên các nhà cung cấp luôn chú trọng nâng cao công nghệ và đặt ra những rào cản để tăng tính an toàn cho dữ liệu Bên cạnh đó, các nhà cung cấp đám mây có khả năng dành nhiều nguồn lực cho việc giải quyết các vấn đề bảo mật mà nhiều khách hàng không có đủ chi phí để thực hiện Các nhà cung cấp sẽ ghi nhớ các nhật ký truy cập, nhưng việc truy cập vào chính bản thân các nhật

ký truy cập này có thể cũng rất khó khăn do chính sách của nhà cung cấp đám mây khi người dùng tự mình muốn xác minh rõ hệ thống của mình có an toàn không Mặc

dù vậy, mối quan tâm lo ngại về việc mất quyền điều khiển dữ liệu nhạy cảm cũng ngày càng tăng cao

1.4 Tình hình sử dụng công nghệ điện toán đám mây trong và ngoài nước

1.4.1 Trên thế giới

Điện toán đám mây (Cloud computing) không còn là điều gì mới mẻ Bắt nguồn từ điện toán lưới (grid computing) từ những năm 80, điện toán theo nhu cầu (Utility computing) và phần mềm dịch vụ (SaaS), Oracle là nhà tiên phong trong việc triển khai công nghệ này Cho đến nay, điện toán đám mây đang được phát triển và cung cấp bởi nhiều nhà cung cấp, trong đó có Amazon, Google, DataSynapse, Salesforce cũng như các nhà cung cấp truyền thống Microsoft, IBM, HP… Đã được rất nhiều người dùng cá nhân cho đến các công ty lớn như L’Oréal, General Electric, Ebay, Coca-cola… chấp nhận và sử dụng

Công ty nghiên cứu Gartner đánh giá rằng ưu tiên chính của những Giám đốc Công nghệ (CIO) sẽ là các ứng dụng doanh nghiệp ảo hóa và điện toán đám mây để giúp công ty họ bớt lo lắng về quản lý cơ sở hạ tầng thông tin, tập trung vào việc chèo lái quá trình phát triển của công ty hơn Cũng theo đánh giá, tính đến năm 2012, 80%

Trang 34

doanh nghiệp trong danh sách 1.000 công ty hàng đầu (theo đánh giá của tạp trí Fortune - Mỹ) sẽ sử dụng ít nhất một vài loại hình dịch vụ đám mây và khoảng 20% doanh nghiệp sẽ không còn sở hữu các tài sản hoặc hạ tầng công nghệ thông tin

1.4.2 Tại Việt Nam

IBM là doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực này khi mở trung tâm điện toán đám mây vào tháng 9/2008 với khách hàng đầu tiên là là Công ty cổ phần công nghệ và truyền thông Việt Nam Sau đó, Microsoft là một trong những “đại gia” tiếp bước điện toán đám mây ở thị trường Việt Nam, nhưng hiện vẫn đang trong giai đoạn phát triển thử nghiệm

Tiếp theo phải kể đến khi FPT – nhà công nghệ hàng đầu của Việt Nam đã khẳng định vị thế tiên phong của mình trong công nghệ bằng lễ ký kết với Microsoft châu Á-Trend Micro để hợp tác phát triển “đám mây” ở châu Á

Một số cơ quan chính phủ đã lựa chọn mô hình đám mây riêng hoặc đám mây cộng đồng cho các dự án xây mới trung tâm tích hợp dữ liệu hoặc cho môi trường phát triển, kiểm thử, điển hình như các Bộ Tài nguyên & Môi trường, Khoa học & Công nghệ, TT&TT hoặc các địa phương như TPHCM, Đà Nẵng, Cà Mau, Phú Yên…

Mới đây, xuất hiện thêm nhiều công ty mới cung cấp dịch vụ đám mây, song

đa số tập trung vào những phân khúc thị trường hẹp, chẳng hạn QTSC, VNTT, Prism, Exa, HostVN, MOS, BiakiCRM Một số nhà cung cấp như Bkav, FPT, VDC, NEO,… thì chỉ cung cấp những dịch vụ riêng lẻ quản lý văn phòng, nhân sự, quan hệ khách hàng…

Nhìn chung, các nhà cung cấp dịch vụ đám mây công cộng tại Việt Nam vẫn còn ở quy mô nhỏ Một số công ty tích hợp hệ thống (SI) và nhà cung cấp phần mềm độc lập (ISV) đã có chiến lược đầu tư vào điện toán đám mây, kết hợp xây dựng đám mây công cộng với triển khai đám mây riêng cho khách hàng Trong số này, FIS, SBD, HiPT đang chiếm thị phần lớn ở mảng IaaS; còn Lạc Việt, MISA, NEO, CT-

IN giữ vai trò chủ chốt ở mảng SaaS (coi phần mềm như một dịch vụ, khách hàng có thể thuê phần mềm về sử dụng và trả phí theo tháng hoặc năm)

Trang 35

Nhiều công ty vẫn chưa triển khai ứng dụng công nghệ này mà vẫn chỉ dừng

ở mức nghiên cứu và khảo sát

1.5 Kết luận chương

Kết thúc chương này chúng ta đã hiểu được tổng quan về thư viện điện tử và công nghệ điện toán đám mây Ngoài ra cũng khái quát thực trạng triển khai công nghệ điện toán đám mây trong và ngoài nước, mô hình các thư viện điện tử trên thế giới Chương tiếp theo luận văn sẽ đi vào nghiên cứu thiết kê hệ thống thư viện điện

tử dựa trên công nghệ điện toán đám mây làm nền tảng xây dựng thư viện điện tử trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình

Trang 36

Chương 2 – THIẾT KẾ HỆ THỐNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ DỰA TRÊN CÔNG NGHỆ ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY

2.1 Ứng dụng công nghệ điện toán đám mây trong xây dựng thư viện điện tử

2.1.1 Lợi thế của điện toán đám mây trong thư viện số

Trong thư viện số thường xuyên phải sử dụng nhiều đến các cơ sở dữ liệu cùng với các phép tính toán thống kê Điện toán đám mây có thể cung cấp cho các cơ sở thư viện số một phương pháp nhằm giúp người dùng tin một công cụ tra cứu nhanh truy cập thông tin Thông qua điện toán đám mây, các cơ sở thư viện số giải quyết được bài toán về xây dựng cơ sở hạ tầng, phần mềm, và lưu trữ dữ liệu Nhờ điện toán đám mây có thể xây dựng dịch vụ sử dụng một lần và sau đó sử dụng nhiều lần bởi đông đảo người sử dụng theo nhu cầu của họ Điện toán đám mây là một lựa chọn tốt cho các cơ sở thư viện số sử dụng hiệu quả Nó sẽ không chỉ làm lợi cho người sử dụng còn giúp các thư viện xây dựng cơ sở hạ tầng đa năng tính toán thường xuyên Dịch vụ điện toán đám mây thực hiện theo các mô hình dịch vụ khác nhau như nền tảng như một dịch vụ (PaaS), lưu trữ như một dịch vụ hoặc phần mềm như một dịch

vụ (SaaS), cơ sở hạ tầng như một dịch vụ (IaaS) SaaS được sử dụng trong các đám mây riêng để cung cấp các phần mềm hỗ trợ cho người sử dụng khai thác các phần mềm đắt giá khó tìm trên mạng Điều này không chỉ cung cấp cho họ những phần mềm chất lượng mà còn giải phóng người sử dụng khỏi gánh nặng chi phí các phần mềm bản quyền IaaS và PaaS được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu cơ sở hạ tầng của sinh viên, giảng viên, học giả nghiên cứu với một số cấu hình phần cứng cụ thể cho các nhiệm vụ cụ thể

Sử dụng hệ thống đăng nhập đơn giản, người sử dụng dễ dàng đưa ra yêu cầu

và có thể sử dụng cơ sở hạ tầng hầu như không giới hạn Vì thế mạnh nhất của điện toán đám mây là mô hình dịch vụ lưu trữ quy mô lớn thông tin Dữ liệu có liên quan với công việc nghiên cứu khác nhau, dự án hoặc thông tin có thể tái sử dụng, có thể được giao cho các đám mây lưu trữ quản lý và có thể được truy cập theo yêu cầu Các

Trang 37

cơ sở thư viện số hợp tác với nhau để xây dựng một kho lưu trữ thông tin theo mô hình lưu trữ tập trung ảo Đây là cơ chế hoạt động có hiệu quả nhằm giảm chi phí lưu trữ để duy trì kho dữ liệu thư viện số theo điện toám đám mây

“Dịch vụ lưu trữ đám mây” là cách gọi gần gũi chỉ những dịch vụ trực tuyến cung cấp giải pháp giúp người dùng cất giữ các loại dữ liệu của họ lên “đám mây”, tức hệ thống máy chủ của nhà cung cấp dịch vụ.“Dịch vụ lưu trữ đám mây” không chỉ giúp người dùng có thể truy cập đến dữ liệu của họ từ bất cứ đâu, thông qua nhiều thiết bị có khả năng kết nối Internet, mà còn giúp giảm thiểu rủi ro mất mát, hư hỏng

dữ liệu đôi khi xảy ra, nếu sử dụng các biện pháp lưu trữ truyền thống, như ổ cứng, ổ cứng di động USB, hay đĩa DVD, CD…

2.1.2 Tình hình ứng dụng dịch vụ điện toán đám mây trong thư viện điện tử

Một số nước trên toàn thế giới đã có sáng kiến sử dụng điện toán đám mây để phục vụ cho giảng viên, sinh viên và các nhà nghiên cứu Ở các nước, đặc biệt là Mỹ, các thư viện của trường học đã tranh thủ nhanh việc ứng dụng này để giúp giảm thiểu những chi phí liên quan đến việc đầu tư hệ thống, bản quyền phần mềm và nhân sự Điều này càng phù hợp hơn đối với các trường cao đẳng, đại học, nơi phải phục vụ cho một khối lượng người dùng lên đến hàng chục nghìn Tiêu biểu là Thư viện số toàn bộ duy nhất tại Italy, Thư viện Thông tin Văn hóa châu Âu (the European Library

of Information and Culture - BEIC) chọn triển khai Primo tại site để làm giao diện cho các bộ sưu tập số của mình, hiện đang được quản lý bởi hệ thống quản lý tài sản

số Digitool của Ex Libris Pierfranco Minsenti, quản lý dự án hệ thống thư viện tại Đại học Ca’ Foscari, nhận xét: “Tính linh hoạt của giao diện người dùng Primo sẽ cho phép chúng tôi kết hợp một cách dễ dàng các tài nguyên trên Google với việc sử dụng công cụ lọc tiên tiến theo cả bộ sưu tập và dạng tài liệu Vì Primo Central bao gồm 97% tạp chí có phản biện mà Đại học Ca’Foscari đặt mua, bởi vậy người dùng

sẽ truy cập ngay lập tức tới số lượng bài báo nghiên cứu khổng lồ Primo giúp người dùng phát hiện sự phong phú và đa dạng của các bộ sưu tập thư viện và quảng bá hệ

Trang 38

thống thư viện này như là một giao diện cung cấp thông tin học tập và nghiên cứu chính của trường.”

Đại học Iuav chọn triển khai Primo trong môi trường điện toán đám mây Pierre Piccotti, quản lý thông tin và dự án tại Đại học Iuav, giải thích, “Vì chúng tôi

có một thư viện nhỏ với nguồn lực hạn chế, dịch vụ điện toán đám mây của Primo Direct là một giải pháp hoàn hảo cho chúng tôi Nó cho phép chúng tôi giảm chi phí bảo trì phần cứng và sử dụng thành thạo của các chuyên gia kỹ thuật từ Ex Libris hộ trợ kỹ thuật 24/24 giờ Đồng thời, thủ thư của chúng tôi vẫn duy trì được kiểm soát việc chuyển giao thông tin tới người dùng.”

2.1.3 Thực trạng thư viện các trường đại học Việt Nam

Việc khai thác hiệu quả thông tin đã trở thành một trong những nhân tố hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của bất kỳ một quốc gia nào Thư viện

là cầu nối giữa thông tin và người sử dụng Hiệu quả chất lượng đào tạo của trường đại học không thể tách rời với thư viện trường đại học Thư viện đại học là nơi cung cấp nguồn thông tin tạo môi trường tự học và tự nghiên cứu, kích thích sự chủ động của người học; kết nối thông tin của xã hội và nhu cầu thông tin của sinh viên; đồng thời hỗ trợ cải tiến nội dung chương trình giảng dạy và thay đổi phương pháp giảng dạy học tập ở trường đại học

Hiện nay, hệ thống thư viện đại học Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu học tập nghiên cứu của sinh viên Hội nghị thư viện các trường đại học, cao đẳng lần thứ nhất do Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch phối hợp Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tại Thành phố Đà Nẵng (10/2008), đã nhận định: “Thư viện các trường đại học đang phải đối diện với nhiều cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập, những khó khăn tập trung vào: Nguồn lực thông tin còn nghèo nàn, cần được tăng cường; công nghệ phát hiện tài nguyên thông tin hiện đại, qui trình và nghiệp vụ quản lý chưa được thống nhất và chuẩn hóa; Bên cạnh đó sự phối hợp liên kết, liên thông giữa các thư viện còn yếu nên chưa tạo ra được một sức mạnh tập trung”

Việc đổi mới phương pháp dạy - học, chuyển đổi từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ và mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu

Trang 39

cầu xã hội Đồng thời, đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ mới cho hoạt động thông tin - thư viện trong các trường đại học Thực hiện các giải pháp phát triển nguồn lực thông tin như: nguồn học liệu điện tử, cơ sở dữ liệu các môn học, số hoá các giáo trình, các bộ sưu tập số, thư viện số là hướng phát triển đúng nhằm phát huy hiệu quả hoạt động thông tin - thư viện, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của trường đại học

Thực hiện chia sẻ nguồn lực thông tin trong hệ thống thư viện các trường đại học, Trường Đại học Luật TP.HCM triển khai Giải pháp iDragon Cloud do Viện Công nghiệp Phần mềm và Nội dung số thực hiện từ tháng 8/2011- 12/2011 trong giai đoạn 1 trường đã xây dựng được 580 tài liệu của Thư viện trường Đại học Luật TP.HCM đã lên “mây” kho tài liệu điện tử để tra cứu tài liệu toàn văn phục vụ cho nhu cầu thông tin của cán bộ và giáo viên, và khuyến khích cán bộ, giảng viên trong toàn trường tra cứu, sử dụng kho tài liệu điện tử trên nền tảng iDragon Cloud có phân quyền truy cập, bằng giải pháp điện toán đám mây – kỹ thuật tối ưu của thư viện điện

tử đại học hiện nay, nhằm tăng cường nguồn lực thông tin cho thư viện các trường đại học, đáp ứng tốt nhu cầu thông tin cho hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy

và học tập, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế cần được nghiên cứu và triển khai

2.1.4 Mô hình điện toán đám mây trong thư viện số và thư viện các trường Đại học

Nhìn chung thư viện số của các trường đại học hiện nay còn những mặt khiếm khuyết Các nguồn dữ liệu giữa hai đại học vẫn còn tương đối độc lập, lượng các đề

án dư thừa vẫn còn khá cao, đã gây không ít lãng phí cho các nguồn tài chính và nhân lực, hay có một số trường đại học và cao đẳng chỉ sử dụng một phần nhỏ các nguồn

cơ sở dữ liệu, chưa sử dụng hết hiệu suất, nên chưa tận dụng hết các nguồn tài nguyên

số hóa Chính vì vậy, điện toán đám mây có thể giúp sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, và có thể giải quyết những khiếm khuyết của các thư viện số Giải pháp này giúp tin học hoá, đơn giản hoá và thống nhất nghiệp vụ trong thư viện, tiết kiệm thời gian phục vụ người sử dùng và kiểm kê kho định kỳ, tránh tình trạng thất thoát tài

Trang 40

liệu do có hệ thống tự động nhắc nhở mỗi khi có tài liệu quá hạn, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa người sử dùng với nhau, giữa người sử dùng với cán bộ thư viện (thảo luận diễn đàn), và giữa các thư viện (qua cổng thông tin), tích hợp dữ liệu đa phương tiện, kết nối các tập dữ liệu số, sưu tập số quy mô lớn Điểm đặc biệt ở nền tảng điện toám đám mây này là không gian làm việc độc lập, khả năng lưu trữ lớn, có thể truy cập mọi lúc mọi nơi trên nhiều thiết bị như: iPad, điện thoại di động… liên thông giữa các dịch vụ khác nhau, dịch vụ tham khảo trực tuyến, dịch vụ thư viện số di động Điện toán đám mây thực hiện các chức năng phân phối cho rất nhiều máy tính chứ không riêng cho các máy tính cục bộ hay các máy chủ từ xa Nói cách khác, điện toán đám mây có khả năng tích hợp dữ liệu và đưa chúng lên đám mây công cộng để phục

vụ người sử dụng

Điện toán đám mây rất phù hợp với tính toán chi phí, hiệu suất, hợp tác nhóm

và những ưu điểm về vị trí địa lý Vì đồng thời với từng quy trình ứng dụng sử dụng riêng cho mình một nền riêng, một máy chủ riêng sẽ rất lãng phí Sử dụng điện toán đám mây có thể chia sẻ máy chủ cho nhiều quy trình ứng dụng, thực hiện chia sẻ tài nguyên, và qua đó cũng giảm thiểu dung lượng cho máy chủ, thực hiện tiết giảm chi phí Do đó tận dụng điện toán đám mây trong thư viện kỹ thuật số, sẽ đem lại hiệu quả cao hơn cho công việc, đời sống và học tập

Hình 2.1 Kế hoạch chia sẻ máy chủ [4]

Mọi máy chủ điện toán đám mây đều có thể là máy chủ điện toán, và như vậy sẽ tiết kiệm máy chủ hay băng thông rộng các nguồn… Trong mọi đám mây đại diện cho nguồn cơ sở dữ liệu của các thư viện số các đại học Cứ hai đám mây trở lên có thể tạo thành một đám mây lớn hơn, và ta có thể chia đám mây hay đám mây tích hợp cho những vùng khác nhau hay các trường đại học có thứ hạng khác nhau Saas, chữ

Ngày đăng: 23/10/2017, 12:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w