Nghiên cứu xây dựng tập thông số chỉ thị hiệu năng kpi của thành phố thông minh trong điều kiện Việt Nam (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng tập thông số chỉ thị hiệu năng kpi của thành phố thông minh trong điều kiện Việt Nam (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng tập thông số chỉ thị hiệu năng kpi của thành phố thông minh trong điều kiện Việt Nam (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng tập thông số chỉ thị hiệu năng kpi của thành phố thông minh trong điều kiện Việt Nam (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng tập thông số chỉ thị hiệu năng kpi của thành phố thông minh trong điều kiện Việt Nam (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng tập thông số chỉ thị hiệu năng kpi của thành phố thông minh trong điều kiện Việt Nam (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng tập thông số chỉ thị hiệu năng kpi của thành phố thông minh trong điều kiện Việt Nam (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng tập thông số chỉ thị hiệu năng kpi của thành phố thông minh trong điều kiện Việt Nam (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng tập thông số chỉ thị hiệu năng kpi của thành phố thông minh trong điều kiện Việt Nam (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng tập thông số chỉ thị hiệu năng kpi của thành phố thông minh trong điều kiện Việt Nam (LV thạc sĩ)Nghiên cứu xây dựng tập thông số chỉ thị hiệu năng kpi của thành phố thông minh trong điều kiện Việt Nam (LV thạc sĩ)
Trang 1HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
-
Dương Văn Đoàn
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TẬP THÔNG SỐ CHỈ THỊ HIỆU NĂNG KPI CỦA THÀNH PHỐ THÔNG MINH TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Hệ thống Thông tin
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Trung Kiên, kết quả đạt được trong luận văn là sản phẩm của riêng cá nhân, không sao chép lại của người khác Trong toàn bộ nội dung của luận văn, những điều được trình bày hoặc là của cá nhân, hoặc là được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu Tất cả các tài liệu tham khảo đều có xuất xứ rõ ràng và được trích dẫn hợp pháp Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
NGƯỜI CAM ĐOAN
Dương Văn Đoàn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận văn, lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn
TS Nguyễn Trung Kiên – Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn Với sự hướng dẫn, cung cấp tài liệu, động viên của Thầy đã giúp tôi vượt qua nhiều khó khăn về chuyên môn trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Ban chủ nhiệm Khoa sau Đại học
và Khoa Công nghệ Thông tin, cùng các Thầy giáo, Cô giáo đã giảng dạy và quản
lý đào tạo trong suốt 2 năm theo học tại Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng chấm đề cương: PGS-TS Lê Hữu Lập, PGS-TS Hà Hải Nam, TS Đỗ Thị Bích Ngọc đã góp ý cho đề cương luận văn của tôi
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng nghiệp của trường THPT Nguyễn Trãi đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt 2 năm vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 05 năm 2017
Tác giả
Dương Văn Đoàn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH SÁCH BẢNG vii
DANH SÁCH HÌNH VẼ viii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ THÔNG MINH VÀ BỘ THÔNG SỐ CHỈ THỊ KPI CHO THÀNH PHỐ THÔNG MINH 5
1.1 Tổng quan về thành phố thông minh 6
1.1.1 Khái niệm về thành phố thông minh 6
1.1.2 Các đặc trưng của thành phố thông minh 8
1.1.3 Kinh nghiệm của các nước 12
1.1.3.1 Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 12
1.1.3.2 Khu vực Châu Âu 14
1.1.3.3 Khu vực Bắc Mỹ - Mỹ Latinh 15
1.1.4 Vai trò của thành phố thông minh 16
1.2 Tổng quan về chỉ số KPI 17
1.2.1 Khái niệm KPI 17
1.2.2 Phân biệt KPI với một số chỉ số đo lường khác 18
1.2.3 Đặc điểm của KPI 19
1.2.4 Phân loại các chỉ số KPI 20
1.2.5 Phương pháp xây dựng KPI 23
1.3 Kết chương 24
Trang 5CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG KPI CỦA THÀNH PHỐ THÔNG MINH, ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM 26
2.1 Cơ sở lý luận để xây dựng tập KPI cho TPTM 26
2.1.1 Thành phố thông minh 26
2.1.2 Vai trò của bộ chỉ số KPI trong đánh giá sự phát triển của TPTM 27
2.1.3 Một số đặc trưng của bộ chỉ số KPI 28
2.1.4 Một số yếu tố có ảnh hưởng đến việc xây KPI cho TPTM 28
2.1.5 Tập KPI cho TPTM 30
2.2 Nhận xét chung 32
2.3 Tập KPI áp dụng trong điều kiện Việt Nam 33
2.3.1 Tình hình Việt Nam hiện nay 33
2.3.2 Phân tích một số vấn đề để xây dựng bộ chỉ số cho TPTM Việt Nam hiện nay 35
2.4 Xây dựng bộ tiêu chí cho TPTM Việt Nam 37
2.4.1 Quy trình xây dựng KPI 37
2.4.2 Hệ thống các chỉ số của TPTM 41
2.5 Kết chương 46
CHƯƠNG 3 ÁP DỤNG XÂY DỰNG TẬP KPI TRONG ỨNG DỤNG ICT CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 47
3.1 Giới thiệu về thành phố Hà Nội 47
3.1.1 Khái quát về Hà Nội 47
3.1.2 Khảo sát ứng dụng CNTT của Hà Nội 48
3.1.3 Kỳ vọng về hiệu quả của TPTM với Hà Nội 50
3.1.3.1 Về quản trị 50
Trang 63.1.3.2 Về kinh tế 51
3.1.3.3 Về xã hội 52
3.1.4 Quan điểm và tầm nhìn xây dựng Hà Nội thông minh 53
3.1.5 Mục tiêu xây dựng thành phố Hà Nội thông minh 53
3.1.6 TPTM trong lộ trình phát triển của Hà Nội 55
3.2 Xây dựng tập KPI trong lĩnh vực ICT cho Hà Nội 58
3.2.1 Phân tích 58
3.2.2 Đề xuất 61
3.3 Tính hợp lý và khả thi của tập KPI về ICT cho Hà Nội 64
3.4 Kết chương 66
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 7DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Industrialization and Modernization Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa CNTT Information Technology Công nghệ thông tin
CNTT-TT Information and Communication
Technology
Công nghệ thông tin và truyền thông
CSF Crutical Success Factor Các yếu tố thành công then chốt
ICF Intelligent Community Forum Diễn đàn cộng đồng thông minh
ICT Information and Communication
KPI Key Formance Indicators Chỉ số hiệu suất cốt yếu
KPN TelecommunicationsService
KRI Key Result Indicators Chỉ số kết quả cốt yếu
OI Operational Indicator Chỉ số trung gian
PI Performance Indicators Các chỉ số đo lường hiệu suất
SMART Specific Measureable Achivable
TTHTTT Central Information System Trung tâm hệ thống thông tin
Trang 8DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1 Các giai đoạn đo lường hiệu suất KPI 38
Bảng 2.2 Chỉ số KPI cho Việt Nam 42
Bảng 3.1 Các chỉ số liên quan trực tiếp đến ICT 59
Bảng 3.2 Các chỉ số KPI gián tiếp liên quan đến ICT 59
Bảng 3.3 Các KPI tác động bền vững tới ICT 60
Trang 9DANH SÁCH HÌNH VẼ
Hình 1.1 Các đặc trƣng của TPTM[23] 10
Hình 2.1 KPI và các chỉ số trung gian PI, OI[5] 27
Hình 2.2 Một số viễn cảnh của TPTM[3] 29
Hình 2.3 Các đặc trƣng cấu thành trong các lĩnh vực của TPTM[23] 29
Hình 2.4 Một số tổ chức nghiên cứu tiêu chuẩn TPTM[17] 31
Hình 2.5 Một số mức phát triển trung gian[3] 36
Hình 2.6 Hệ thống chỉ số xây dựng TPTM[22] 41
Trang 10LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Nguồn gốc của ý tưởng thành phố thông minh xuất phát từ sự phát triển dân
số một cách nhanh chóng của các đô thị lớn Trên thế giới có xấp xỉ 8 tỷ người, dự báo còn tăng nhanh hơn trong các năm tiếp theo và dân số sẽ tập trung vào khoảng trên 67% sống ở các thành phố lớn nên sẽ quá tải cho các thành phố này
Những thành phố này sẽ đối mặt với nhiều vấn đề như: nguồn tài nguyên tự nhiên, ô nhiễm môi trường, giao thông, năng lượng, chất lượng cuộc sống, dịch vụ… Do đó các cấp lãnh đạo, chính quyền buộc phải đưa ra các giải pháp để giải quyết vấn đề đó
Trên thế giới, hiện nay có khoảng trên 200 thành phố đã giải quyết vấn đề này bằng cách phát triển mô hình “thành phố thông minh” và dần đi đến phát triển
“bền vững” Có thể kể đến như thành phố Amseterdam (Hà lan), Lyon (Pháp), Edinburgh (Scotland), Zagreb, Luxemburg…;cùng một số hãng viễn thông nổi tiếng như IBM, Thales Group, Schineider, Telefonica,…đã tiên phong trong việc phát triển thành phố thông minh Theo thống kê của Telefonica một thành phố thông minh sẽ giảm được 25% áp lực về giao thông, giảm 17% về lượng khí thải CO2, giảm 15% lượng nước tiêu thụ, giảm 10% lượng điện tiêu thụ
Dự báo nếu các thành phố trên thế giới có 10 triệu dân trở lên, đầu tư phát triển thành phố thông minh từ năm 2010 là 10 tỷ USD đến năm 2020 sẽ đạt nguồn vốn đầu tư lũy kế bằng 110 tỷ USD, vì thành phố thông minh sẽ mang lại nguồn lợi khổng lồ từ các dịch vụ tiện ích có thể đạt mức tổng doanh thu lũy kế lên đến 125 tỷ USD
Với Việt Nam hiện nay đang trên đà phát triển ứng dụng những tiến bộ công nghệ vào trong cuộc sống và hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực cũng như toàn thế giới cần có những con số mang tính định lượng, phản ánh rõ chất lượng và hiệu quả như KPI (Key Performance Indicators) trở thành mối quân tâm hàng đầu cho các thành phố thông minh, ứng dụng nhanh, mạnh công nghệ thông
Trang 11tin để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như xây dựng và phát triển các “thành phố thông minh” tiến tới phát triển “bền vững”, trong đó có các đô thị như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Đà Lạt, Bình Dương…
Thành phố thông minh bền vững không chỉ đóng vai trò quyết định tới sự phát triển cho một thành phố, mà cho cả một quốc gia cũng như trên toàn thế giới Chính vì vậy mà em chọn đề tài “Nghiên cứu xây dựng tập thông số chỉ thị hiệu năng KPI của thành phố thông minh trong điều kiện Việt Nam”
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu:
Trên thế giới, các quốc gia có trình độ công nghệ thông tin phát triển cũng là những quốc gia có nhu cầu, khả năng để triển khai thành phố thông minh Nước Mỹ ngay từ đầu năm 2009 và cho tới bây giờ đã phát triển thành phố thông minh bền vững một cách vững chắc và định hướng tương lai tiến tới là “hành tinh thông minh”
Tại Liên minh Châu Âu từ những năm 2007 đã đưa ra và bắt đầu thực hiện một loạt mục tiêu xây dựng thành phố thông minh bền vững Bộ tiêu chí đánh giá của Liên minh Châu Âu gồm 6 tiêu chí là: kinh tế thông minh, môi trường thông minh, quản lý thông minh, giao thông thông minh, cuộc sống thông minh, con người thông minh Các kết quả đánh giá cho thấy, Thụy Điển, Phần Lan, Hà Lan, Luxemburg, Bỉ và Áo là những thành phố có mức độ thông minh khá cao, các thành phố còn lại có những chỉ tiêu chỉ đạt ở mức trung bình.[7]
Những kinh nghiệm của các nước thuộc Liên minh Châu Âu trong việc cải thiện giao thông, tăng cường sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là những bài học bổ ích đối với các quốc gia đã và đang xây dựng thành phố thông minh bền vững
Trong khu vực thì Hàn Quốc là quốc gia triển khai thành phố thông minh bền vững là khá sớm, vào năm 2003 phát triển thành một đất nước thông minh thực hiện bằng “hệ thống cảm biến không dây” để thúc đẩy việc số hóa các tài nguyên, kết nối
Trang 12mạng, dễ sử dụng và thông minh đã làm thay đổi đáng kể xã hội và sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc và các nước Singapore, Malaysia, Trung quốc, Đài bắc
Việt Nam chúng ta cũng vậy trong vài năm trở lại đây “thành phố thông minh” ngày càng trở nên phổ biến, được tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều sự kiện, hội thảo đã đề cập đến thành phố thông minh bền vững diễn ra trên cả nước Một số tỉnh thành đã chủ động lập kế hoạch, đề án xây dựng thành phố thông minh như Đà Nẵng, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt,…
Thành phố thông minh tại Việt Nam nên hội tụ các yếu tố về cơ sở hạ tầng hiệu quả, môi trường sống thân thiện và phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nó được thể hiện qua nền kinh tế hiện đại, hệ thống giao thông thông minh, quản lý đô thị thông minh, quản lý năng lượng hiệu quả, giảm ô nhiễm, tăng cường an ninh, chất lượng cuộc sống tốt, sự hài lòng của công dân…Cơ sở của sự thông minh đó là công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), tập thông số chỉ thị hiệu năng KPI giúp đánh giá các lĩnh vực vận hành, quản lý, cung cấp dịch vụ đô thị được tiến hành một cách thông minh, tăng trưởng bền vững
3 Mục đích nghiên cứu:
Việc sử dụng KPI trong đánh giá thực hiện công việc nhằm mục đích:
Góp phần tham gia trên góc độ khoa học đối với quá trình triển khai thành phố thông minh ở Việt Nam nhằm nâng cao tính hiệu quả của việc triển khai thành phố thông minh
Mục tiêu nghiên cứu:
Nắm được phương pháp xây dựng KPI cho thành phố thông minh và áp dụng cụ thể cho một lĩnh vực trong thành phố thông minh phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và nơi sẽ triển khai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:
Thành phố thông minh (SmartCity) nói chung và đặt trong ngữ cảnh của Việt Nam hiện nay
Phương pháp xây dựng tập thông số chỉ thị hiệu năng (KPI)
Trang 13Phạm vi nghiên cứu:
Tìm hiểu những nét cơ bản đặc trưng của chỉ số KPI nói chung, phân tích
ý thức, ý nghĩa, tác dụng của những chỉ số KPI giới hạn trong phạm vi các hoạt động chức năng quản lý trong đô thị và đánh giá cơ bản khả năng áp dụng KPI quản lý, phát triển thành phố thông minh
Tập KPI cơ bản cho một lĩnh vực cụ thể của SmartCity
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Tổng quan về tập thông số chị thị hiệu năng KPI
Chương 2 Nghiên cứu phương pháp xây dựng KPI của thành phố thông minh, đề xuất áp dụng trong điều kiện Việt Nam
- Xây dựng tập KPI cho thành phố thông minh
- Tập KPI áp dụng trong điều kiện Việt Nam
Chương 3 Áp dụng xây dựng tập KPI trong ứng dụng ICI của thành phố
Hà Nội
- Tập KPI cho hạ tầng kết nối thông minh (Smart Connectivity)
Trang 14CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ THÔNG MINH VÀ BỘ THÔNG SỐ CHỈ THỊ KPI CHO THÀNH
PHỐ THÔNG MINH
Nhiều thành phố lớn trên thế giới đã xây dựng thành công dự án thành phố thông minh (Smart City) Thành phố thông minh (TPTM) vẫn có thể được xem như
là thành phố của tương lai, khi xem xét tỷ lệ phát triển với sự thay đổi qua bộ thông
số KPI (Key Perfomance Indicators), đánh giá đổi mới của nó là rất khả thi, nhìn thấy được, đo lường được, các mô hình TPTM đã bứt phá trong các thập kỷ qua, trở nên rất dễ thực hiện và chắc chắn phổ biến chiến lược phát triển TPTM nhờ KPI Một thành phố thông minh là một thành phố có tri thức, kiến thức, sử dụng kỹ thuật
số, mạng Internet, quản trị, kinh tế, dân số, môi trường sinh thái, năng lượng…
Mục tiêu đặt ra cho các nhà quy hoạch sự cải tiến về TPTM hiện nay những thách thức cơ bản, các chức năng và cấu trúc, sử dụng thông tin và công nghệ truyền thông (ICT) là một cơ sở hạ tầng quan trọng
Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) là một động lực chính trong thành phố để giải quyết những thách thức nảy sinh một cách "thông minh" Một thành phố thông minh là có ít nhất một sáng kiến giải quyết một hoặc trong số sáu đặc trưng sau đây: Quản trị thông minh, Người dân thông minh, Cuộc sống thông minh, Di động thông minh, Kinh tế thông minh và Môi trường thông minh Liên kết công nghệ thông tin truyền thông và sử dụng mạng cho các thiết bị thông minh của
cư dân thành phố, các doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng, nguồn tài nguyên, năng lượng
và không gian, cũng như cung cấp dịch vụ thông minh và tổ chức quản trị có sự đo
lường, đưa ra các chỉ số cụ thể
Đô thị hóa nhanh chóng là một hiện tượng toàn cầu Năm 2008, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, đã có cư dân trong thành thị nhiều hơn nông thôn, và các xu hướng cho thấy rằng điều này sẽ không thể dừng lại Liên Hiệp Quốc ước tính vào năm 2030, hơn 60% dân số toàn cầu sẽ được sống trong siêu thành phố sẽ có hơn 10 triệu dân Thành phố lớn từ 5-10 triệu dân, thành phố trung bình 3-5 triệu dân, và
Trang 15các thành phố nhỏ hơn và ven đô thị ngày càng nhiều và tập trung ở Châu Á, Châu Phi và Mỹ Latinh Dự báo có thể tăng lên đến hai phần ba vào năm 2050 Gần đây, liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) báo cáo về định cư của dân số, cơ sở hạ tầng và các quốc gia Quy hoạch không gian sẽ là vấn đề lớn so với việc mở rộng đô thị tích lũy trong lịch sử loài người
Với tốc độ đô thị hóa nhanh này, nhu - cầu tăng lên đối với các nguồn tài nguyên như năng lượng, nước, vệ sinh môi trường cùng với các dịch vụ như giáo dục, chăm sóc sức khỏe Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng các nguồn lực hiệu quả hoặc theo một cách "thông minh", sự cần thiết để phát triển đô thị thông minh đáp ứng các nhu cầu của cư dân thành phố Đáp ứng những nhu cầu này, hiện có hàng trăm dự án thành phố thông minh trên toàn thế giới trong các nước phát triển và đang phát triển Ví dụ như Amsterdam, Barcelona, Bắc Kinh, Cafeidian, Kashiwa-no-ha, Konza, Lavasa, Masdar, San Francisco, Santander, Sant Cugat, Thượng Hải, Đài Bắc, Singapore, Tokyo… và hơn một 100 sáng kiến thành phố thông minh gần đây đưa ra bởi chính phủ Ấn Độ Một thành phố thông minh có thể góp phần vào việc cải thiện quản trị và quản lý hiệu quả cơ sở hạ tầng như nước, năng lượng, giao thông, môi trường và nhà ở… hướng đến một chất lượng cuộc sống cao hơn
Các thành phố và cơ sở hạ tầng sẽ chiếm lĩnh thị phần của sự phát triển con người trong tương lai gần, khoa học và công nghệ đổi mới, bao gồm cả công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) có thể kích hoạt chúng như môi trường sống thông minh hơn và sạch hơn thông qua bộ chỉ số KPI để đánh giá Theo đó, thành phố có thể được quy hoạch, thiết kế, xây dựng và vận hành một cách toàn diện hơn, như là thử thách khắc nghiệt của quyền lực chính trị, thương mại, giáo dục, y tế và đổi mới với tiềm năng to lớn giải quyết các nhu cầu phát triển thành phố thông minh
1.1 Tổng quan về thành phố thông minh
1.1.1 Khái niệm về thành phố thông minh
Thành phố thông minh (Smart City) là một mô hình mới áp dụng công nghệ thông tin cùng với các giải pháp đồng bộ được đưa vào thực hiện trong từng đơn vị,
Trang 16cơ quan, tổ chức của thành phố để tạo ra một hệ thống điều chỉnh quản lý và nâng cao chất lượng các dịch vụ hành chính công, để phát triển các ngành nghề trong đô thị được cả giới khoa học, nghiên cứu kiến trúc, xây dựng, các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư chấp thuận
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về thành phố thông minh như: Thành phố sinh thái, thành phố tri thức, thành phố cảm biến, thành phố công nghệ số hóa, thành phố kết nối…
- “Một thành phố giám sát và tích hợp điều kiện của tất cả các cơ sở hạ tầng quan trọng, nó bao gồm đường bộ, cầu, hầm, đường ray, tàu điện ngầm, sân bay, cảng biển, giao thông, nước, năng lượng, thậm chí lớn tòa nhà, có thể tối ưu hóa tốt hơn các nguồn lực, kế hoạch hoạt động bảo dưỡng phòng ngừa, và màn hình, khía cạnh bảo mật khi tối ưu hóa dịch vụ cho công dân của mình”
- “Một thành phố thực hiện tốt một cách nhìn về phía trước trong nền kinh tế, con người, quản trị, di động, môi trường, và sống được xây dựng trên sự kết hợp thông minh của các quỹ hiến tặng và các hoạt động tự quyết định, độc lập và ý thức công dân”
Thành phố thông minh yêu cầu lập kế hoạch cẩn thận, ở giai đoạn đầu, điều quan trọng là quốc gia và từng chính phủ, công dân và tất cả các bên liên quan khác đồng ý thực hiện TPTM, định nghĩa thành phố thông minh nhằm mục đích để thực hiện TPTM đồng thuận của tất cả trong nó
Nhìn vào các chức năng của nó cũng như mục đích của nó, một thành phố thông minh có lẽ, có thể được định nghĩa một thành phố có chiến lược sử dụng nhiều yếu tố thông minh như: “Thành phố thông minh là thành phố sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) cùng các phương tiện, thiết bị khác cải thiện chất lượng cuộc sống hiệu quả hơn, thực hiện công việc và dịch vụ tạo ra tính cạnh tranh lành mạnh, trong khi vẫn đảm bảo công bằng, minh bạch thông tin, công khai đáp ứng được các nhu cầu hiện tại cũng như tương lai”[22]
Do đó khái niệm về TPTM là rất phổ biến được cả thế giới công nhận
Trang 171.1.2 Các đặc trưng của thành phố thông minh
Theo một số nghiên cứu về công trình dự án (Smart City của EU)[7], "Thành phố của ngày mai" Các quyết định trong quy hoạch và quản lý đô thị có sự hợp tác lâu dài, theo cách tiếp cận toàn diện, tất cả những thách thức này có thể được phân lớp, liên quan đến các lĩnh vực hoạt động của thành phố Một thành phố thông minh
có sáu đặc trưng cơ bản:
- Quản trị thông minh:
o Đưa ra quyết định có sự tham gia của cư dân
o Dịch vụ công cộng và xã hội
o Minh bạch
o Các quá trình dân chủ và hòa nhập
o Tổ chức chính phủ và chính quyền
o Cải thiện tiếp cận cộng đồng cho các dịch vụ
- Cư dân thông minh:
o Vốn xã hội và con người
o Điều kiện để công dân đang học tập và sáng tạo
o Dịch vụ thông minh sử dụng công nghệ thông tin
o Cung cấp một kinh nghiệm giáo dục phù hợp hơn cả ở khu vực thành thị và nông thôn
o Các giải pháp cho giáo dục (học tập từ xa và phối hợp) để có thông tin tốt hơn công dân
- Kinh tế thông minh:
o Khu vực cạnh tranh toàn cầu
o Doanh nghiệp và đổi mới
o Mức độ năng suất cao
o Truy cập băng thông rộng cho tất cả công dân và các doanh nghiệp tạo cơ hội cho kinh doanh
o Độc lập về địa lý, giúp duy trì dân số ở khu vực nông thôn
Trang 18o Quy trình kinh doanh điện tử (Ví dụ: ngân hàng điện tử, mua sắm điện
- Di chuyển và giao thông thông minh:
o Cải thiện tiếp cận
o Giao thông vận tải an toàn
o Hệ thống giao thông hiệu quả hơn và thông minh
o Sử dụng mạng cho chuyển động hiệu quả của các phương tiện, người
o Các khía cạnh xã hội - giáo dục, y tế, an toàn công cộng, nhà ở
o Tiếp cận với các dịch vụ y tế chất lượng cao (bao gồm cả kiểm tra sức khỏe hoặc theo dõi, chăm sóc sức khỏe từ xa), quản lý hồ sơ điện tử
o Dịch vụ trang chủ tự động hóa, nhà thông minh và xây dựng thông minh
o Tiếp cận với các dịch vụ xã hội của tất cả các loại
Do đó các đặc trưng của thành phố thông minh có rất nhiều chương trình thực hiện khác nhau, công trình, dự án đã và đang làm là xây dựng thành phố thông minh Nên tùy theo từng đô thị sẽ cải cách, tổ chức, quản trị các lĩnh vực ứng dụng thông minh một cách phù hợp với địa phương của mình
Trang 19Vì vậy thách thức lớn đặt ra là khi xây dựng thành phố thông minh khi phát triển phong phú, đa dạng nhưng cần được đặt trong một kiến trúc cơ bản để tạo ra một nền tảng vững chắc tích hợp nhiều dữ liệu làm cơ sở, công cụ cho một TPTM
Mối quan hệ giữa các đặc trưng của một thành phố thông minh thông qua hình vẽ sau:
Hình 1.1 Các đặc trưng của TPTM[23]
- Một thành phố thông minh có thể được nhìn nhận theo các vấn đề sau:
o Từ góc độ đô thị hóa cũng như hiện đại hóa nông thôn: Các vấn đề phát sinh trong đô thị, cũng như nông thôn mới đang trở thành những thách thức không hề nhỏ cho các tổ chức, dịch vụ công cũng như các dịch vụ tiện ích khác mang tính tổng thể về giao thông, y tế, giáo dục, kinh tế, văn hóa,…cho cư dân trong thành phố Các giải pháp đồng bộ dựa trên cơ sở áp dụng các tiến bộ của Khoa học kỹ thuật là rất cần thiết để giải quyết tốt các vấn đề đặt ra
o Từ góc độ cơ chế, chính sách: Thành phố thông minh phải đưa ra được những giải pháp tức thời, định hướng và hành động của chính
Trang 20quyền mang tính phục vụ công dân nhiều hơn, nhiệt tình hơn hướng tới phục vụ tốt cho mỗi người dân, tổ chức, doanh nghiệp hiệu quả hơn Sử dụng những bước tiến vượt bậc của CNTT, đặc biệt là phân tích dữ liệu và chia sẻ với cư dân sẽ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hỗ trợ các kế hoạch, chiến lược cũng như ra những quyết định hiệu quả thực hiện được và gắn với đời sống hàng ngày của người dân
o Từ góc độ chuyển đổi ngành công nghiệp: Hiện nay các đô thị đang
có mức tiêu thụ năng lượng cao, lượng khí thải ra môi trường lớn gây
ô nhiễm nặng, trong khi phát triển công nghiệp là mũi nhọn hàng đầu của nền kinh tế, nhưng cứ phát triển như vậy thì hậu quả, tác hại mà con người phải gánh chịu không hề nhỏ Chính vì vậy giải pháp ứng dụng công nghệ mới cho việc làm giảm ô nhiễm, bảo vệ môi trường là cần thiết và cấp bách đối với mỗi thành phố
o Từ vấn đề công nghệ: TPTM là một hệ sinh thái đồng bộ của các tổ chức, thành phần, công dân, doanh nghiệp…phải cùng nhau phối hợp, thực hiện và vận hành tạo nên một cỗ máy đô thị hoàn thiện, hoạt động hiệu quả, gắn kết với sự tham gia tích hợp của nhiều thành phần trên một chính sách mở và tiêu chuẩn cho xây dựng TPTM
Trên góc độ quản lý, quá trình triển khai TPTM rất cần được giám sát và đánh giá thường xuyên nhằm đảm bảo quá trình đang hướng đến mục tiêu đã xác định Để có công cụ, dữ liệu sử dụng cho việc quản lý sự phát triển của TPTM sẽ cần bộ chỉ số KPI (Key Performance Indicators) đánh giá cho TPTM
Cơ sở hạ tầng ICT như thế nào để dựa vào đó xây dựng một thành phố thông minh tối thiểu phải có hệ thống cáp quang, di động tốc độ cao, các thiết bị cảm biến
cố định và di động…cần thiết phải thông minh điều này phù hợp với sự phát triển của viễn thông sẵn có ICT và các ngành công nghệ như IoT hiện nay, khi dịch vụ 4G sẽ được phát triển mạnh mẽ bởi các nhà mạng viễn thông, các hệ thống cáp quang đã được đầu tư kéo đến các nơi, các thiết bị thông minh như Smart Phone,
Trang 21Smart Home…đang rất phổ biến và nhiều người dùng, giá cả ngày càng hạ, dịch vụ ngày càng nhiều nên phát triến thành phố thông minh là tất yếu khi ứng dụng ICT
1.1.3 Kinh nghiệm của các nước
1.1.3.1 Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
- Seoul
Seoul là thành phố thông minh nhất xét về mặt quản trị kỹ thuật số và dữ liệu công cộng Hiện nay thành phố có hơn 1.200 bộ dữ liệu mở cho công dân và rất sáng tạo trong việc sử dụng các công cụ kỹ thuật số để hỗ trợ người dân tham gia, như hệ thống OASIS trực tuyến cho phép công dân đưa ra đề nghị lập các kế hoạch trực tuyến Một mẫu "thành phố thông minh" đã được xây dựng bên cạnh sân bay Seoul
Đây là dự án thành phố có 40% không gian xanh, cung cấp dịch vụ phổ cập băng thông rộng lớn, tích hợp mạng cảm biến, loạt hệ thống công trình xanh chuẩn nhất và hệ thống ngầm sáng tạo vận chuyển chất thải nhà bếp từ các tòa nhà thẳng đến một cơ sở xử lý và chuyển đổi chất thải thành năng lượng
Kinh nghiệm rút ra từ Seoul là kinh nghiệm một cơ sở dữ liệu lớn tích hợp đã giúp cho việc quản trị thành phố và phục vụ việc phát triển các ngành kinh tế phát triển Các ứng dụng được triển khai trên một nền tảng cơ sở hạ tầng CNTT tốt và hạ tầng dữ liệu tốt là tiền đề của TPTM
- Tokyo
Tokyo của Nhật Bản đã thành lập chiến lược cho năm 2020 bao gồm 8 mục tiêu cho tương lai Trong đó bao gồm mục tiêu tăng khả năng phục hồi thảm họa thiên tai động đất, tạo ra năng lượng tái tạo tại địa phương, tạo 1.000 ha không gian
Trang 22xanh mới, khuyến khích chương trình công nghệ thông tin có sự tham gia của người dân và hòa nhập xã hội, tạo việc làm mới cho người khuyết tật…
- Sydney
Sydney sử dụng các nguồn lực và sự quan tâm của Thế vận hội Olympic như một cách để tạo ra thành phố xanh cho mình Làng Olympic Sydney là một dự án phát triển hỗn hợp, kéo theo việc thực hiện các giải pháp năng lượng tái tạo như lắp đặt 12 tấm quang điện trên mọi gia đình, xây dựng hệ thống tái chế chất thải, kết quả trong việc tái chế lên đến 90% và mạng lưới kết nối giao thông công cộng Gần đây, Sydney đã thử nghiệm một số dự án công nghệ sạch và thông minh
- Đài Bắc
Kinh nghiệm rút ra từ Đài Bắc đã tiến đến xây dựng thành phố thông minh
và phát triển mạnh về hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng trên nền tảng tích hợp
đa dạng và đẩy nhanh các ứng dụng thông minh vào quản lý đô thị
- Putrajaya
Khởi công từ tháng 8 năm 1995, với số tiền khoảng hơn 8 tỷ đô la Mỹ, thành phố Putrajaya của Malaysia được xem là công trình đô thị tiêu biểu cho khu vực Đông Nam Á với sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại và truyền thống Các chuyên gia quy hoạch đã biến Putrajaya thành một thành phố, nơi mà CNTT cùng tồn tại song song với những vườn cây tươi tốt Dọc theo đại lộ Putra, trục xương sống của thành phố, hai bên là những tòa dinh thự, công sở khổng lồ nhưng không ngột ngạt
vì được phủ xanh bóng cây, hoa lá Ngay cả lối xuống cầu thang cuốn vào khu trung tâm thương mại gắn máy điều hòa bên sông, cũng được trồng hoa, cây xanh bên trong
Là một thành phố "trẻ" nhất của Malaysia, nên đường phố Putrajaya rất thông thoáng và môi trường thì trong lành Gần 40% diện tích của thành phố này được dành cho cây xanh, bóng mát nên du khách luôn có cảm giác như mình đang ở trong rừng
Qua một số ví dụ trên cho thấy, việc xây dựng TPTM là một quá trình khó khăn và nó là rất khác nhau cho mỗi quốc gia, cho mỗi thành phố, có hoàn cảnh
Trang 23khác nhau, xuất phát điểm khác nhau, điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khác nhau Tuy nhiên, một điểm chung khi xây dựng TPTM, là phải xây dựng một cơ sở
hạ tầng tốt, đặc biệt là hạ tầng CNTT và hạ tầng đó được dùng chung, được chia sẻ làm nền tảng cho việc phát triển TPTM
1.1.3.2 Khu vực Châu Âu
- Copenhagen
Copenhagen là thành phố có hai năm liên tiếp đạt danh hiệu thành phố xanh nhất thế giới Thành phố cũng được chọn là Thủ đô xanh của châu Âu vào năm
2014 Copenhagen có chỉ số carbon bình quân đầu người thấp nhất thế giới và cũng
có kế hoạch cắt giảm carbon, hơn nữa tham vọng nhất của bất kỳ thành phố nào trên thế giới nhằm đạt được mục tiêu carbon trung tính vào năm 2025
Thành phố hiện đang triển khai một loạt các giải pháp mới và sáng tạo trong các lĩnh vực giao thông, rác thải, nước, sưởi ấm, y tế và các nguồn năng lượng thay thế nhằm mục đích cải thiện và phát triển bền vững Bằng cách kiểm tra các giải pháp này, thành phố hy vọng sẽ thu hút các công ty sáng tạo cùng chung tay, lần lượt hỗ trợ nền kinh tế thông qua quá trình trở nên xanh hơn và thông minh hơn
- Amsterdam
Amsterdam đề ra mục tiêu về mô hình phát triển bền vững tầm nhìn và Chiến lược năng lượng đến năm 2040 Các tham vọng được đề ra bao gồm:
o Thành phố có khí hậu trung lập vào năm 2018
o Giảm 40% lượng khí thải CO2 vào năm 2025, so với năm 1990
o Giảm 75% lượng khí thải CO2 vào năm 2040
Để giúp đạt được các mục tiêu này, ban đổi mới Amsterdam (AIM), nay là ban kinh tế Amsterdam, thành phố Amsterdam, công ty điều hành mạng lưới Liander và nhà cung cấp dịch vụ viễn thông KPN đã bắt đầu xây dựng nền tảng thành phố thông minh Amsterdam vào năm 2009 Sự hợp tác giữa các doanh nghiệp, chính phủ, các tổ chức nghiên cứu và người dân Amsterdam Có một văn phòng trung tâm với nhiều người cùng làm việc trong dự án TPTM
Trang 24Trong năm 2013, đã có hơn 70 đối tác với 37 dự án TPTM khác nhau được triển khai, bao gồm tất cả các đặc điểm của một TPTM như quá trình chuyển đổi năng lượng, các giải pháp thông minh di động và liên kết mở Một số sáng kiến khác của Châu Âu như: Citadel, Common4EU, NiCE, Digital Cities and Open Cities cũng có một liên kết với thành phố Amsterdam để phục vụ mục tiêu TPTM
Kinh nghiệm rút ra từ bài học Amsterdam là mục tiêu xây dựng sẽ phụ thuộc vào từng thành phố nhưng đều dẫn đến một đích chung, xây dựng nền tảng trước khi làm cơ sở để khai thác và phát triển các dự án TPTM, trên các lĩnh vực khác nhau trong thành phố
1.1.3.3 Khu vực Bắc Mỹ - Mỹ Latinh
- San Francisco
Thành phố San Francisco liên tục ở vị trí đứng đầu trên bảng xếp hạng của các thành phố Bắc Mỹ, trong mấy thập kỷ qua người dân thành phố này luôn cố gắng xây dựng thành phố trở thành một trong những TPTM nhất trên thế giới San Francisco đã thực hiện tham vọng giảm khí thải carbon bằng cách sử dụng nguồn năng lượng tái tạo Hiện nay có tới 41% năng lượng thành phố đang dùng là nguồn năng lượng tái tạo, những phương tiện công cộng và phương tiện giao thông thân thiện với môi trường xanh được sử dụng phổ biến tại nơi đây như xe buýt, tàu điện,
xe đạp điện… Hiện nay có trên 100 trạm sạc công cộng cho xe điện trên toàn thành phố
- Rio de Janeiro
Rio de Janeiro của Brazil là một thành phố không thực sự giàu có và không
có nền kinh tế phát triển mạnh như các nước trên thế giới, nhưng Rio de Janeiro đang đi đầu phát triển mô hình đô thị thông minh về du lịch với văn hóa phong phú, cuộc sống sôi động, thiên nhiên hiền hòa tươi đẹp, trước thực tế cơ sở hạ tầng thì xuống cấp và thiên tai nhiều, nạn trộm cắp và băng đảng Thành phố Rio biết rằng quản lý đô thị phải chịu những áp lực số lượng dân số tăng trên 7 triệu người, phương tiện giao thông, năng lượng, môi trường… sẽ phá vỡ mọi giới hạn chịu
Trang 25đựng của thành phố Nên một trung tâm công nghệ cao hoạt động sẽ đáp ứng kỳ vọng đem đến một chiếc chìa khóa giải quyết bài toán cho Rio.[4]
Kinh nghiệm rút ra từ Rio cho thấy việc xây dựng TPTM không chỉ ở những nước giàu mà là của tất cả các nước đang phát triển Xây dựng TPTM là sách lược hàng đầu để giải bài toán đô thị hóa nhanh do sức ép của tăng dân số
1.1.4 Vai trò của thành phố thông minh
Việc xây dựng TPTM là việc triển khai ứng dụng đồng bộ các giải pháp CNTT trên tất cả các lĩnh vực đời sống của thành phố dựa trên sáu đặc trưng cơ bản
đã trình bày ở trên Các đặc trưng này đem lại rất nhiều tiện ích, thuận lợi cho cư dân và chính quyền của thành phố như:
- Quản trị đô thị: Thành phố thông minh cho phép chính quyền có thể thực hiện hoạt động giám sát các hệ thống cơ sở hạ tầng một cách thông minh nhất có thể, thông qua các hệ thống quản lý giám sát tự động Các hệ thống dịch vụ, giao thông, môi trường, điện và nước được quản lý vận hành tập trung… Hệ thống giám sát cũng đảm bảo cho thành phố quản lý được các hoạt động khác nên an ninh sẽ tốt hơn
- Cung cấp dữ liệu hỗ trợ cho việc ra quyết định: Thành phố thông minh thu thập được rất nhiều dữ liệu, thông tin về quá khứ, thông tin về hiện tại, thời gian, địa điểm… nên đã đưa ra được những cảnh báo, dự báo có độ chính xác cao hơn, dài hạn hơn, toàn diện hơn nhằm đưa ra những phương án tối ưu trong một thời gian tương đối ngắn, tức thời giúp lãnh đạo ra quyết định hiệu quả hơn, chính xác hơn
- Quản lý quy hoạch: Thành phố thông minh kết nối đồng bộ nhiều lĩnh vực trong một không gian, đô thị từ đó tích hợp đầy đủ thông tin và kết cấu cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội của thành phố Tác động đầu tiên là cung cấp đầy đủ thông tin cho công tác quy hoạch phát triển đô thị về hạ tầng điện nước, giao thông, hạ tầng kinh tế xã hội đảm bảo một quy hoạch hợp lý và khoa học Đây là vấn đề không hợp
lý hiện nay do cách làm quy hoạch truyền thống của các đô thị bị thiếu những thông tin khách quan, phản biện từ bên ngoài mang tính dự báo và rất hạn chế
Trang 26Để xây dựng tốt công tác quy hoạch cần chú trọng tới giáo dục, y tế, giao thông, môi trường, an ninh trật tự… được thực hiện và phát triển có một quy hoạch cân bằng cho công dân, ở đâu cũng đảm bảo được tạo điều kiện tốt nhất tiếp cận ICT, sử dụng các dịch vụ một cách tiện lợi, ngay, luôn, liên tục, bình đẳng
- Phát triển kinh tế: TPTM tạo đà cho phát triển cho các lĩnh vực kinh tế theo định hướng phát triển xanh, sẽ phát huy hết những lợi thế của các ngành công nghiệp địa phương, đảm bảo kiểm soát tốt môi trường, khai thác các nguồn tài nguyên hiệu quả và đẩy mạnh công nghiệp có chất xám cao tại địa phương, hướng đến nền kinh tế áp dụng những tri thức khoa học TPTM sẽ kêu gọi được, thúc đẩy
sự liên kết từng khu vực với nhau và hội nhập quốc tế, khuyến khích sáng tạo, các hoạt động khởi nghiệp làm cho cư dân và nền kinh tế địa phương năng động và sáng tạo, đẩy mạnh phát triển CNH-HĐH đất nước đưa thành phố phát triển sang cơ cấu hội nhập và dịch vụ
- Cung cấp dịch vụ cho cư dân: Người dân sống trong TPTM được sống trong môi trường an toàn, không ô nhiễm môi trường, sẽ còn được thụ hưởng đầy
đủ các dịch vụ chất lượng về y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, giao thông thuận tiện Ngoài các dịch vụ hành chính công đã và đang được cung cấp người dân sẽ được sử dụng nhiều dịch vụ hơn nữa, các dịch vụ này được cung cấp bình đẳng như nhau cho mọi người, mọi tầng lớp trong xã hội do sử dụng ICT và hạ tầng kinh tế
xã hội
Vai trò của TPTM là làm cho người dân cảm thấy được cuộc sống hạnh phúc hơn, đáng sống hơn khi sử dụng ICT và các thiết bị thông minh, các dịch vụ tốt hơn, môi trường sống an toàn hơn, trong sạch hơn và kinh tế phát triển bền vững
1.2 Tổng quan về chỉ số KPI
1.2.1 Khái niệm KPI
KPI (Key Performance Indicators) trong tiếng Anh được hiểu là các chỉ số
đo lường hiệu suất cốt yếu, hay chỉ số đo lường sự thành công KSI (Key Success Indicators), hay còn được gọi bằng tên phổ biến là chỉ số đánh giá hiệu quả hoạt động, được xây dựng nhằm đánh giá được hiệu quả, sự tăng trưởng của các hoạt
Trang 27động trong tổ chức so với mục tiêu đã đề ra Nó giúp cơ quan, tổ chức, đơn vị định hình, theo dõi quá trình hoạt động và tăng trưởng so với mục tiêu ban đầu.[5]
1.2.2 Phân biệt KPI với một số chỉ số đo lường khác
Một thực tế hiện nay là các tổ chức đang sử dụng các chỉ số đo lường rộng rãi Lý do là bởi có rất ít cơ quan, tổ chức, nhà lãnh đạo, doanh nghiệp tìm hiểu và chưa đầy đủ về các chỉ số cốt yếu, chỉ số cốt yếu có ba loại như:
- Chỉ số kết quả cốt yếu (KRI - Key Result Indicators) là chỉ số cho biết tổ chức đã làm được gì với một chỉ tiêu
- Chỉ số hiệu suất (PI - Key Peformance Indicators) là chỉ số cho biết tổ chức cần làm gì
- Chỉ số hiệu suất cốt yếu (KPI - Key Performance Indiacators) là chỉ số cho biết tổ chức phải làm gì để tăng hiệu suất lên một cách rõ nét.[5]
Do đó, nhiều chỉ số đo lường hiệu suất là hỗn hợp của ba loại trên, các chỉ số này cung cấp thông tin lý tưởng cho quản trị tức là chúng liên quan đến hoạt động quản trị diễn ra hàng ngày, chúng thường được theo dõi theo tháng, theo quý, và hơn cả là chỉ số KPI theo dõi hàng tuần, hàng ngày
Giữa chỉ số hiệu suất cốt yếu và chỉ số hiệu suất chắc chắn tồn tại nhiều chỉ
số phản ánh hiệu suất, là các thước đo kết quả lao động dựa trên khối lượng công việc đã làm được trong một khoảng thời gian nhất định
Những chỉ số hiệu suất này được đo lường trên tất cả các mặt hoạt động trong cơ quan, tổ chức, đơn vị không phân biệt được những chỉ số đó sẽ cho kết quả không đúng, do đó chỉ số đó đóng vai trò quan trọng, đó chính là nguồn bổ sung và hình thành nên các bộ chỉ số KPI, chỉ số đo lường hiệu năng của những hoạt động quan trọng, được biểu thị cùng với các chỉ số này trên bảng điểm cân bằng của cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng như của phòng, ban, nhóm, ngành, doanh nghiệp
Như vậy, bộ chỉ số KPI biểu thị cho một tập hợp các thông số đo lường có vai trò quan trọng, hướng vào các phương diện hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn
vị, doanh nghiệp đóng vai trò không thể thay thế đối với sự thành công hay thất bại trong hiện tại cũng như trong tương lai của cơ quan, tổ chức, đơn vị
Trang 281.2.3 Đặc điểm của KPI
KPI là những thông số chỉ thị hiệu năng nhằm đo lường hiệu quả hay sự thành công của các hoạt động trong cơ quan, tổ chức, đơn vị để đạt được mục tiêu
mà nhà quản trị đưa ra Mỗi một chức danh, phòng, ban, bộ phận sẽ có bản mô tả công việc hoặc kế hoạch làm việc hàng tháng Các nhà quản trị sẽ áp dụng các thông số để đánh giá hiệu quả các hoạt động đó Mỗi chức danh, phòng, ban lại có những chỉ số KPI riêng, tuy nhiên, các chỉ số KPI đều mang những đặc điểm như:
- Đáp ứng được năm tiêu chuẩn của một mục tiêu Được chỉ rõ trong phương
pháp quản trị mục tiêu SMART, đó là:
o S (Specific): Cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu
Các chỉ số đưa ra phải thật cụ thể, rõ ràng Các thông số chỉ thị hiệu năng khi đưa ra phải giải thích được, thông số này nói lên điều gì? Tại sao lại lựa chọn thông số này? Thông số này được đo lường như thế nào?
o M (Measureable): Có thể đo lường được
Thông số KPI chỉ có giá trị khi được xác định và đo lường một cách chính xác Cũng là sự “nổi tiếng nhất” không phải là thông số KPI do không có cách nào đo được sự nổi tiếng của tổ chức hay so sánh nó với các tổ chức khác
o A (Achievable): Có thể đạt được
Có rất nhiều các thông số KPI đo lường được nhưng lại không phải là chìa khóa giúp các tổ chức này thành công Khi chọn lựa các chỉ số KPI nên khi lựa chọn những thông số thực sự cần thiết, giúp cho tổ chức đó có thể đạt được mục tiêu đặt ra Thông số này sẽ theo sát mục tiêu, là những mục tiêu mà tổ chức nhận thấy nó có nhiều yếu tố có thể đạt được một cách thực tế Do vậy các KPI đưa ra cũng phải là những thông số thực tế có thể đạt được
o R (Realistic): Thực tế
Trang 29Các thông số đưa ra cũng cần cân nhắc và theo sát mục tiêu và thực
tế Không nên đưa ra những thông số nằm ngoài khả năng đo lường thực tế, hoặc những KPI không đúng với thực tế công việc thì cần loại
bỏ
o T (Time bound): Có thời hạn
Các thông số này được áp dụng trong thời gian bao lâu, khi nào? Là các thông số phi tài chính không? KPI không được biểu thị bằng đơn
vị tiền tệ như đồng bảng, đồng đôla… Nó có thể là số nhân viên tuyển dụng thành công trong một đợt tuyển dụng hay có bao nhiêu cuộc gặp
gỡ hàng ngày của nhân viên với khách hàng…
- Các thông số phải được theo dõi thường xuyên, giống như các thông số đo lường khác, KPI phải thường xuyên được giám sát và đánh giá, tùy theo thực trạng của tổ chức, việc đánh giá được tiến hành theo tháng, theo quý hay theo năm
- Chịu tác động bởi đội ngũ quản trị cấp cao Việc theo dõi thường xuyên sự biến động, thay đổi của các KPI luôn thu hút đội ngũ quản lý, quản trị, các tổ chức bởi đây là cách làm tương đối đơn giản làm căn cứ để cấp quản lý, quản trị, lãnh đạo đưa ra những quyết định của mình
- Đòi hỏi nhân viên các cấp phải hiểu thông số và phải điều chỉnh phù hợp KPI có thể được gắn với từng nhân viên, để từ đó đo lường và đánh giá được nhân viên Vì vậy chỉ có hiểu rõ KPI và có sự điều chỉnh hoạt động làm việc của bản thân nhằm hoàn thành tốt mục đích từ chính phía cá nhân từng cán bộ, nhân viên
- Có tác động đáng kể và tích cực tới các chỉ tiêu đã đặt ra trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp…
Việc theo dõi KPI giúp cho tổ chức đó biết họ phải làm gì, thay đổi như thế nào Để từ đó điều chỉnh cải thiện KPI, sẽ có tác động tích cực đến các thông số khác
1.2.4 Phân loại các chỉ số KPI
Có rất nhiều các thông số KPI đã và đang được sử dụng và phát triển trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp Tùy theo hiện trạng của tổ chức mà các
Trang 30KPI được hình thành, đa dạng, phong phú và phục vụ mục đích của tổ chức, doanh nghiệp, Số lượng các KPI sẽ còn được gia tăng nhiều hơn nữa cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội Vì vậy, khó khăn có thể nói hiện nay có bao nhiêu thông số KPI Tuy nhiên, nhìn chung có thể phân chia KPI thành ba nhóm lớn như sau:
- Nhóm các chỉ số KPI dùng trong các ngành kinh tế lớn: Trong các ngành kinh tế lớn, để đo lường sự thành công và hiệu quả, các nhà quản trị thường xây dựng những thông số nhất định, thống nhất để so sánh giữa các doanh nghiệp với nhau Đây là những thông số đã được nghiên cứu và thống nhất trong toàn ngành,
để dễ dàng trong quá trình theo dõi, đánh giá, giám sát chỉ cần qua một vài thông số
đo lường hoạt động, có thể biết các đối thủ cạnh tranh của mình trong cùng ngành đang hoạt động, phát triển ra sao Ví dụ như trong ngành tài chính, ngân hàng, có thể dùng các thông số như: Số lượng máy ATM trên toàn quốc khi so sánh dịch vụ ATM giữa các ngân hàng, hay tỷ lệ lãi suất cho vay được ngân hàng áp dụng…
Trên thế giới hiện nay đã có khoảng gần hai mươi ngành kinh tế có áp dụng các thông số KPI để đo lường hiệu quả hoạt động, như:
o Ngành hàng không, vận tải (gồm 84 chỉ số)
o Ngành dịch vụ công nghệ thông tin (gồm 81 chỉ số)
o Ngành ngân hàng, bảo hiểm (gồm 57 chỉ số)
o Ngành nghiên cứu, giáo dục (gồm 71 chỉ số)
có những tập thông số KPI để đo lường, đánh giá Trong đó có không ít những thông số đóng vai trò quan trọng trong tổ chức Chẳng hạn như, những thông số liên quan đến khách hàng như: Tỷ lệ khách hàng quay lại với cửa hàng, hay tỷ lệ khách
Trang 31mua hàng lần thứ ba trở lên… đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất, kinh doanh của các tổ chức kinh tế
Các hoạt động chủ yếu đã được áp dụng KPI hiện nay gồm có: Hoạt động bán hàng và chăm sóc khách hàng, cung cấp dịch vụ viễn thông, hoạt động marketing, hoạt động tài chính, vận tải giao nhận, hoạt động liên quan đến pháp lý… Các thông số KPI ứng với các hoạt động này sẽ được gói gọn và phân chia thành bốn nhóm thông số KPI như sau:
o Nhóm thông số KPI tài chính
o Nhóm thông số KPI hoạt động
- Nhóm các KPI được xây dựng theo các khung chương trình: Mỗi ngành hoạt động bao gồm nhiều quá trình, nhiều hạng mục công việc trong ngành đó Mỗi quá trình ấy, hạng mục công việc ấy đều được đánh giá bằng các chỉ số KPI nhất định
Chúng tập hợp lại với nhau thành những khung chương trình đánh giá mang tính chuẩn mực tương đối, phục vụ cho các mục đích quản lý khác nhau của nhà quản trị, lãnh đạo Ví dụ: Trong ngành CNTT, có thể sử dụng các bộ khung như: Cobit (gồm Cobit Acquire & Implement, Cobit Delivery & Support, Cobit Monitor
& Evaluate, và Cobit Plan & Organise) hay bộ APM, ASL, BiSL, ITIL, VRM…
Trang 321.2.5 Phương pháp xây dựng KPI
Phương tiện dùng để đo cho bất kỳ thành công nào của một TPTM có các cơ quan, tổ chức, cho hoạt động hiện tại và tương lai thì chỉ số KPI thực sự hữu ích Nó
là một chỉ số thể hiện một cách thống nhất về phương pháp đo lường, bằng cách đưa
ra chi tiết số đo gắn liền với các mục tiêu cụ thể
KPI mô tả các tính chất hoạt động và đưa ra một cái nhìn sâu sắc vào một tiến trình cụ thể được sử dụng, không chỉ cho đối tượng riêng biệt mà còn cho cả các đối tượng giống nhau, tương tự nhau, liên quan với nhau Sau đó các đối tượng của KPI được thể hiện trong một cấu trúc tương tự nhau, với mục tiêu đưa ra hướng dẫn cụ thể cho việc áp dụng phép đo Nên chỉ số KPI là chìa khóa cho thành công cho hiện tại và tương lai
- Cam kết của lãnh đạo thành phố: Cần xác định sứ mệnh, tầm nhìn, các giá trị, chiến lược cũng như quyết tâm, cung cấp nguồn lực thực thi dự án KPI thành công Đồng thời có sự cam kết tham gia của đội ngũ quản trị cấp cao ở các cấp độ
- Xác định sứ mệnh, tầm nhìn, các giá trị và chiến lược của tổ chức một cách nhất quán trước khi xây dựng hệ thống KPI: Các tài liệu chiến lược phải liên kết được với các lĩnh vực của hệ thống KPI hay là các lĩnh vực phải được thể hiện trong chiến lược của tổ chức
- Cần xác định rõ các lĩnh vực của chiến lược: Theo David Parmenter[5], KPI cần có 6 lĩnh vực: Tài chính, Kinh tế, Quản trị, Di động, Khách hàng, Quy trình nội bộ, Học hỏi và phát triển, Sự hài lòng của nhân viên, Môi trường và cộng đồng
- Không nên có quá nhiều các yếu tố thành công then chốt (CSF)
- Hệ thống các thước đo hiệu suất không nên có quá nhiều (max 100) Nên tuân thủ quy tắc về cơ cấu của 3 loại chỉ số hiệu suất là 10/80/10, trong đó bao gồm:
10 chỉ số Kết quả / 80 chỉ số Hiệu suất / 10 chỉ số Hiệu suất cốt yếu
- Phân tầng các chỉ số hiệu suất xuống các cấp độ một cách có hệ thống Phân cấp việc thiết lập các chỉ số hiệu suất xuống các cấp theo nguyên tắc từ Tổ chức, Bộ phận, Phòng ban, Tổ, Cá nhân (hay là Hệ thống, Quá trình và Công việc)
- Các chỉ số hiệu suất cần đảm bảo SMART
Trang 33- Ngoài ra, các chỉ số hiệu suất cần:
o Có liên quan đến nghề nghiệp và nhiệm vụ của nhân viên
o Phù hợp với mục tiêu của bộ phận, chiến lược của tổ chức
o Đảm bảo tính hài hòa của các thước đo Việc cải thiện hiệu suất của chỉ số này không trở thành sự hy sinh của chỉ số khác
o Giải thích thật rõ ràng về mỗi chỉ số thông qua hồ sơ chỉ số hiệu suất
- Tiêu chuẩn hóa hệ thống KPI: Cần thực hiện việc xây dựng, ban hành và áp dụng các tài liệu quy định về cách thức xây dựng, duy trì áp dụng, báo cáo và cải tiến hệ thống KPI trong tổ chức
- Kết hợp việc đo lường với đánh giá, hoạch định và cải tiến hiệu suất:
o Về đo lường: Sau khi đã xây dựng hệ thống KPI, cần tiến hành liên tục thống kê các dữ liệu, tính toán và báo cáo, truyền thông kết quả hiệu suất đạt được
o Về đánh giá: Dựa trên việc so sánh kết quả đo được với chỉ tiêu đã đạt
để đánh giá kết quả thực hiện của từng cấp độ, áp dụng khen thưởng, đãi ngộ
o Về hoạch định: Tiếp tục hoạch định chiến lược, mục tiêu, đề xuất sáng kiến và cải tiến chế độ đãi ngộ một cách thích hợp theo hướng tập trung phát triển tài sản vô hình
o Về cải tiến: Cần thực thi hệ thống KPI khởi thảo và tiếp tục cải tiến phù hợp với trình độ quản lý và tiêu chuẩn hệ thống KPI khi có sự thay đổi
- Đảm bảo tính thống nhất của hệ thống quản lý chung: Cần phải triển khai
áp dụng phương pháp xây dựng KPI sao cho nó phù hợp nhất, có thể tích hợp hoàn hảo nhất vào hệ thống chung của tổ chức
1.3 Kết chương
Thế kỷ 21 sẽ là một giai đoạn vô cùng khó khăn đối với thế giới, tăng trưởng
đô thị nhanh, mật độ dân cư cao, việc quản lý đô thị thường không kiểm soát được, biến thành những thách thức to lớn, thêm vào đó là sự nóng lên toàn cầu, quá nhiều
Trang 34người và sự thiếu hụt nước sạch, ở các nước đang phát triển, cơ sở hạ tầng thiếu yếu, người dân là đối tượng đầu tiên bị ảnh hưởng Tuy nhiên, do phát triển kinh tế tại nhiều nước là tương đối tốt trong những thập kỷ gần đây, họ có thể cải thiện công tác quản lý của họ, nâng cao cuộc sống của người dân Mô hình quản lý của TPTM sẽ giúp giải quyết được các vấn đề đó
Xây dựng một TPTM không chỉ có ICT, tri thức con người, mà hơn thế phải dựa vào bộ chỉ số KPI đánh giá khả năng phát triển và sáng tạo trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, để mục tiêu phục vụ cho cuộc sống dân cư có được một môi trường tốt hơn, hoàn mỹ và tiện ích hơn cho cư dân thành phố
Một TPTM phải tạo ra một môi trường sống thông minh cho tất cả các công dân của mình, thông qua việc sử dụng các dịch vụ ICT Các thành phần khác nhau của một TPTM cần phải được xác định rõ và sử dụng các số liệu thông qua bộ chỉ
số KPI, là một phần tất yếu, các điểm được tham chiếu để xác định các vấn đề thông minh của thành phố Điều này sẽ đóng góp cho thành phố phát triển tốt hơn, sâu sắc hơn, hiểu biết hơn về những gì tạo nên một TPTM
Trong khi thực tế TPTM cần xây dựng tập thông số KPI (bộ chỉ số), cho thành phố thông minh hơn, do đó một số nền tảng được áp dụng đối với việc xác định và phát triển của KPI, như vậy là chuẩn hóa cho TPTM Nó khẳng định vai trò của các chỉ số hoạt động quan trọng và nhấn mạnh một số nỗ lực quốc tế phát triển KPI để đánh giá, so sánh các TPTM với nhau
Trang 35CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG KPI CỦA THÀNH PHỐ THÔNG MINH, ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG
TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM
Nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đang tích cực nghiên cứu triển khai thành phố thông minh (TPTM) Trong các công việc chuẩn bị cho TPTM, việc xây dựng bộ chỉ số hiệu năng cốt yếu để đánh giá mức độ triển khai, mức độ phát triển của TPTM là rất cần thiết Tuy nhiên để bộ chỉ số đảm bảo tính khoa học và khả thi trong ứng dụng thực
tế, cần chú ý đến các đặc trưng của KPI đồng thời đặt ra bài toán TPTM trong điều kiện Việt Nam, để có phương pháp xây dựng và hướng dẫn áp dụng cho các thành phố, đề xuất cách tiếp cận xây dựng và sử dụng tập chỉ số này
2.1 Cơ sở lý luận để xây dựng tập KPI cho TPTM
2.1.1 Thành phố thông minh
Tình hình đô thị hóa đang diễn ra nhanh trên thế giới Theo dự báo, đến 2050
có gần 70% dân số sống ở thành thị (khoảng 8 tỷ người) Số lượng các đô thị cũng như quy mô các đô thị đang tăng nhanh, nếu không có giải pháp thì sẽ diễn ra tình trạng sụp đổ toàn cầu với một số lý do như: không quản lý được, không đủ tài nguyên, ô nhiễm môi trường, không đủ nguồn nước, không kiểm soát được dịch bệnh… Việt Nam là nước đang phát triển, xu thế đô thị hóa diễn ra Ở các đô thị của Việt Nam rất nhiều vấn đề đang tồn tại và các vấn đề mới cũng phát sinh, thực
tế cho thấy việc giải quyết các vấn đề này gặp nhiều khó khăn lúng túng
Được kỳ vọng là chìa khóa vàng cho các vấn đề của đô thị hóa trên quy mô toàn cầu cũng như các quốc gia, TPTM chưa có một khái niệm chung, nhưng đều đề cập tới việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) để phát triển kinh
tế bền vững, nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng cuộc sống ở đô thị, cải thiện sự tương tác tích cực giữa người dân và chính quyền thành phố, đồng thời quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên [2]
Từ góc độ nhìn nhận TPTM là nơi giải quyết các vấn đề đô thị thông minh hơn, các vấn đề hiện nay được chia theo các lĩnh vực gồm: Nền kinh tế thông minh
Trang 36(Smart Economy), Di chuyển thông minh (Smart Mobility), Cư dân thông minh (Smart People), Môi trường thông minh (Smart Environment), Chính phủ thông minh (Smart Government) và Cuộc sống thông minh (Smart Living) Dựa trên các lĩnh vực này người ta đưa ra các đặc trưng diễn giải thế nào là thông minh, chính quyền thành phố sẽ định hướng, đầu tư các công trình, dự án nhằm làm cho thành phố ngày càng “thông minh hơn”
Trên góc độ quản lý, quá trình triển khai TPTM rất cần được giám sát và đánh giá thường xuyên, nhằm đảm bảo quá trình thực hiện mục tiêu đạt được Để có công cụ, dữ liệu sử dụng cho việc quản lý đạt mục tiêu phát triển của TPTM, sẽ cần tập chỉ số đánh giá KPI (Key Performance Indicators) cho TPTM
2.1.2 Vai trò của bộ chỉ số KPI trong đánh giá sự phát triển của TPTM
Khái niệm KPI nói chung được hiểu là các chỉ số đo lường hiệu suất cốt yếu được xây dựng nhằm đánh giá được hiệu quả, sự tăng trưởng của các hoạt động trong tổ chức so với mục tiêu đã đề ra Nó giúp tổ chức định hình và theo dõi quá trình hoạt động và tăng trưởng so với mục tiêu của tổ chức Bên cạnh tập chỉ số đánh giá cốt yếu (KPI-Key Performance Indicators), còn có chỉ số hiệu suất (PI-Peformance Indicators) và chỉ số hoạt động (OI-Operational Indicators) là chỉ số có tính trung gian Các chỉ số cốt yếu cũng như các chỉ số trung gian cung cấp thông tin cho quản trị ở các mức độ từ quan trọng đến các hoạt động quản trị diễn ra hàng ngày và tần suất giám sát có thể từ thời gian thực ngày, tuần, tháng hay lớn hơn
Hình 2.1 KPI và các chỉ số trung gian PI, OI[5]
KPI (Performance Indicators)
PI (Performance Indicators)
OI (Operational Indicators)
Trang 37Trong công tác quản lý đô thị, tập chỉ số đánh giá sự phát triển của TPTM có tác dụng hỗ trợ cung cấp thông tin cho chính quyền thành phố, trợ giúp quá trình ra quyết định nhằm đảm bảo tiến trình thông minh hóa đô thị đi đúng hướng, đúng tiến
độ và đạt được các mục tiêu đã đặt ra Các chỉ số KPI được phân tích, so sánh tương quan giữa các lĩnh vực, giữa các địa phương để tìm ra sự tương đồng, sai khác… từ
đó có thể đưa ra giải pháp phù hợp Như vậy, tập chỉ số KPI đánh giá TPTM có vai trò quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của cả quá trình đầu tư TPTM
2.1.3 Một số đặc trưng của bộ chỉ số KPI
Tập chỉ số đánh giá KPI cần đáp ứng được các tiêu chuẩn SMART mục tiêu:
o S (Specific): Cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu Các KPI khi đưa ra phải giải
thích được thông số này nói lên điều gì? Tại sao lại lựa chọn thông số này? Thông số này được đo lường và tính toán như thế nào?
o M (Measureable): Có thể đo lường được Các KPI chỉ có giá trị khi
có thể được định lượng và đo lường một cách chính xác
o A (Achievable): Có thể đạt được Các KPI phải là các thông số thực
sự cần thiết, giúp cho tổ chức đó có thể đạt được mục tiêu đặt ra Thông số này phải theo sát mục tiêu, là những mục tiêu mà cơ quan,
tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhận thấy nó có nhiều yếu tố có thể đạt được một cách thực tế
o R (Relevant): Thực tế, thích hợp Các KPI cần có tính thực tế, không
nên đưa ra những thông số nằm ngoài khả năng đo lường thực tế
o T (Time bound): Có thời hạn Các thông số chỉ thị hiệu năng này
được áp dụng trong thời gian bao lâu, khi nào?
2.1.4 Một số yếu tố có ảnh hưởng đến việc xây KPI cho TPTM
Để đảm bảo tính rõ ràng khi đưa ra KPI áp dụng cho TPTM cần làm rõ viễn cảnh của TPTM muốn hướng đến là gì? Hay sử dụng để đạt được mục đích gì? Đây
là vấn đề liên quan đến tầm nhìn của lãnh đạo một quốc gia hay đô thị Ví dụ, một
số đô thị dùng KPI để hướng đến viễn cảnh đô thị phát triển bền vững, đô thị xanh hay đô thị hạnh phúc; cũng có quốc gia coi TPTM như công cụ giúp chuyển từ một
Trang 38nước đang phát triển sang nước phát triển Nếu không chỉ ra viễn cảnh hay mục
đích này sẽ rất khó xác định được mục tiêu rõ ràng làm cơ sở xây dựng KPI
Hình 2.2 Một số viễn cảnh của TPTM[3]
Dựa trên viễn cảnh của một đô thị thông minh, người ta sẽ phân tích, chọn
ưu tiên một số lĩnh vực còn một số lĩnh vực khác có thể giảm bớt hoặc bỏ qua
Chẳng hạn, khi chọn viễn cảnh là một thành phố xanh có thể phải đề cao các yếu tố
đặc trưng cấu thành của môi trường thông minh Chỉ số đánh giá KPI mức vĩ mô
được xây dựng trên các yếu tố đặc trưng cấu thành của các lĩnh vực và sẽ được tiếp
tục phân rã xuống các mức trung gian (các PI) và dừng lại ở mức dữ liệu thu thập
trực tiếp từ nguồn dữ liệu Hình dưới đây minh họa các lĩnh vực và các yếu tố đặc
trưng cấu thành của TPTM
Hình 2.3 Các đặc trưng cấu thành trong các lĩnh vực của TPTM [23]
…
Sustainable City
Green City
Happy City
Mức độ phát triển
Trang 39Hiện nay rất nhiều tổ chức quốc tế, các đô thị lớn trên thế giới đã đưa ra tập KPI cho TPTM[17], trong đó cũng đã có các tiêu chuẩn được ban hành, cho việc xây dựng tập KPI đánh giá sự phát triển của TPTM Tuy nhiên, đây thường là các KPI được xây dựng dựa trên một viễn cảnh cũng như điều kiện thực tế rất khác, nên khó có thể áp dụng nguyên các tiêu chuẩn này cho Việt Nam Hầu hết các nước sử dụng các tiêu chuẩn này như tài liệu tham khảo để xây dựng các tập KPI riêng cho mình
2.1.5 Tập KPI cho TPTM
Sự phát triển của TPTM đã và đang là xu thế phát triển mạnh mẽ của thế giới, nó đang là một cuộc cách mạng cho quản lý đô thị thông minh hơn, hiệu quả hơn, là hình thức mới, cách thức mới cho thành phố thông minh hơn
Nên khi xây dựng TPTM cần phải xác định các tiêu chuẩn áp dụng, có thể liên kết được tất cả các ứng dụng thông minh thành một hệ thống, một chỉnh thể vận hành đồng bộ và hiệu quả Các tiêu chuẩn, các chỉ số cho phép kết nối giữa các bộ phận Tiêu chuẩn về dữ liệu sẽ giúp đảm bảo một khả năng lưu trữ, trao đổi, chia sẻ, tích hợp, an toàn bảo mật Tiêu chuẩn về quản trị tạo ra một cách thức làm việc thống nhất, đồng bộ cho tất cả các bên tham gia
Hệ thống các tiêu chuẩn này cho phép triển khai, kiểm tra, đánh giá, quản lý chất lượng, chia sẻ dữ liệu, khai thác cơ sở hạ tầng dùng chung giữa các lĩnh vực: kinh tế, quản trị, môi trường, dân cư, di động, cuộc sống thông minh
Các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế hàng đầu như ISO, IEC, ITU, CENCELEC đã và đang rất tích cực nghiên cứu, triển khai xây dựng tiêu chuẩn quốc tế về thành phố thông minh, trong các lĩnh vực, chuyên ngành khác nhau
CEN-Tháng 6/2015, Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) đã thành lập Nhóm Tham vấn chiến lược (SAG) trực thuộc Ban Quản lý Kỹ thuật (TMB) xây dựng chiến lược, định hướng phát triển tiêu chuẩn quốc tế ISO cho thành phố thông minh Bên cạnh đó ISO có các ban kỹ thuật tiêu chuẩn ISO/TC 268, TC 59/SC17, TC 163,
TC 205, TC 242, ISO/IEC, JTC1/SC1 tập trung nghiên cứu, xây dựng các tiêu chuẩn ISO cho thành phố thông minh
Trang 40Hình 2.4 Một số tổ chức nghiên cứu tiêu chuẩn TPTM [17]
Đến nay ISO đã có các tiêu chuẩn đầu tiên cụ thể về thành phố thông minh nhƣ sau: ISO 37120, ISO/TR 37150, ISO 37101, ISO 37102, ISO/TR 37121, ISO
37151, ISO 37152… Nội dung các tiêu chuẩn này tập trung vào việc định hình và phát triển bền vững cộng đồng, đƣa ra các bộ tiêu chí đánh giá chất lƣợng cuộc sống
và chứng nhận một cộng đồng dân cƣ thông minh, tòa nhà thông minh, công nghệ cộng đồng thông minh và tầm nhìn thành phố thông minh.[7]