NHIỆM VỤ CỦA DỰ ÁN Điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, tài liệu, số liệu, bản đồ phục vụ lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011 2015 của tỉnh. Phân tích, đánh giá đặc điểm của các yếu tố về điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh tác động đến sử dụng đất. Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai, hiện trạng sử dụng đất, biến động sử dụng đất qua các thời kỳ; kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước; Đánh giá tiềm năng đất đai. Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất phù hợp với phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến năm 2020. Xây dựng kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 2015) của tỉnh.
Trang 1Thực hiện Luật Đất đai và các văn bản dưới Luật của Nhà nước về đất đai cóliên quan, UBND tỉnh Cà Mau đã tiến hành lập “Quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh CàMau thời kỳ 2000 - 2010” và điều chỉnh quy hoạch giai đoạn 2006 - 2010 được Thủtướng Chính phủ phê duyệt Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất những năm qua
đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất để thực hiện các chương trình, dự án nhưcác mục tiêu đề ra, góp phần tích cực thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội củatỉnh, đảm bảo quản lý, sử dụng hợp lý hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai theo quyhoạch và pháp luật
Trong thời gian qua, tỉnh đã xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xãhội đến năm 2020 nhằm đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trìnhhội nhập với các nước trên thế giới Các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội cũng nhưphương hướng mục tiêu phát triển của các ngành, các lĩnh vực đã có nhiều thay đổi.Điều này kéo theo những thay đổi trong cơ cấu sử dụng đất, cũng như nhu cầu sử dụngđất đai cho các ngành, các lĩnh vực Trong khi đó, tỉnh chưa thực hiện quy hoạch sửdụng đất đến năm 2020 để đáp ứng nhu cầu sử dụng đất theo quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế - xã hội đã được phê duyệt
Mặt khác, theo quy định Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản dưới Luật củaNhà nước về đất đai hiện hành, đối với việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấptỉnh thì kỳ quy hoạch là 10 năm, kỳ kế hoạch là 05 năm; kế hoạch sử dụng đất kỳ đầuphải được thực hiện đồng thời với việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất; Quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định, xét duyệt trong năm cuối của
kỳ trước đó
Xuất phát từ những lý do trên, UBND tỉnh Cà Mau tiến hành xây dựng dự án
“Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011
2015)” nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu về đất cho những mục tiêu phát triển kinh tế
-xã hội, quốc phòng, an ninh đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả theo đúng cácquy định của Luật đất đai
II CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA DỰ ÁN
Căn cứ Luật Đất đai năm 2003
Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thihành Luật Đất đai
Căn cứ Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổsung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Trang 2Căn cứ Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên vàMôi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất.
Căn cứ Công văn số 2778/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 04/8/2009 của Bộ Tàinguyên và Môi trường về việc triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và
kế hoạch sử dụng đất 05 năm (2011-2015)
Căn cứ Công văn số 3163/UBND-NĐ ngày 20/8/2009 của UBND tỉnh về việctriển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 05 năm(2011-2015)
Căn cứ Công văn số 1829/TCQLĐĐ-CQHĐĐ ngày 18/12/2009 của Tổng cụcQuản lý Đất đai - Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc góp ý triển khai công tác lậpquy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 05 năm (2011-2015)
Căn cứ Thông tư số 06/2010/TT-BTNMT ngày 15 tháng 3 năm 2010 của BộTài nguyên và Môi trường quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật lập và điều chỉnhquy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Căn cứ Thông tư số 13/2011/TT-BTNMT ngày 15 tháng 4 năm 2011 của BộTài nguyên và Môi trường quy định về ký hiệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụquy hoạch sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
Căn cứ Công văn số 23/CP-KTN ngày 23 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ vềviệc phân bổ chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia
Căn cứ Công văn số 429/TCQLĐĐ-CQHĐĐ ngày 16 tháng 4 năm 2012 củaTổng cục Quản lý đất đai về việc hướng dẫn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Chỉ thị số 01/CT-BTNMT ngày 17 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tài nguyên vàmôi trường về việc tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 (theo Nghị quyết Hội nghị Ban chấphành Trung ương Đảng lần thứ tư Khoá X)
Quyết định số 84/2006/QĐ-TTg ngày 19/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch thủy lợi vùng Đồng bằng sông Cửu Long giaiđoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020
Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy về thực hiện Nghịquyết Hội nghị lần thứ Tư của BCH TW Đảng khoá X và Chương trình hành động củaChính phủ về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020 đãđược Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 163/2008/QĐ-TTg ngày11/12/2008
III MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA DỰ ÁN
- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu(2011 - 2015) tỉnh Cà Mau nhằm đáp ứng nhu cầu đất đai cho mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của tỉnh và mục tiêu phát triển của các ngành, các lĩnhvực, các địa phương trong tỉnh đến năm 2020 đảm bảo sử dụng tiết kiệm, hợp lý, cóhiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái
- Làm cơ sở định hướng cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đấtcủa các địa phương trong tỉnh
Trang 3- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu(2011 - 2015) của tỉnh được lập theo đúng quy định của Luật Đất đai năm 2003; Nghịđịnh 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành LuậtĐất đai; Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung vềquy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Thông tư số19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về Quy địnhchi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
IV NHIỆM VỤ CỦA DỰ ÁN
- Điều tra, khảo sát, thu thập thông tin, tài liệu, số liệu, bản đồ phục vụ lập quyhoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu 2011 - 2015 của tỉnh
- Phân tích, đánh giá đặc điểm của các yếu tố về điều kiện tự nhiên, các nguồntài nguyên thiên nhiên và đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh tácđộng đến sử dụng đất
- Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai,hiện trạng sử dụng đất, biến động sử dụng đất qua các thời kỳ; kết quả thực hiện quyhoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước; Đánh giá tiềm năng đất đai
- Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất phù hợp với phương hướng,nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020
- Xây dựng kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 - 2015) của tỉnh
V SẢN PHẨM CỦA DỰ ÁN
(1) Báo cáo thuyết minh tổng hợp Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kếhoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) tỉnh Cà Mau (kèm theo bản đồ thu nhỏ,
sơ đồ, bảng biểu số liệu phân tích)
(2) Bản đồ Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 tỉnh Cà Mau, tỷ lệ 1/100.000.(3) Bản đồ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tỉnh Cà Mau, tỷ lệ 1/100.000.(4) Các bản đồ chuyên đề có liên quan (nếu có): bản đồ quy hoạch phát triểnmạng lưới giao thông, thuỷ lợi; bản đồ quy hoạch công nghiệp, dịch vụ, mạng lưới đôthị và điểm dân cư nông thôn
(5) Đĩa CD lưu trữ các file sản phẩm trên
Trang 4Phần I
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
1.1 Điều kiện tự nhiên:
1.1.1 Vị trí địa lý:
Tỉnh Cà Mau là vùng đất cực Nam của Tổ quốc, có vị trí lãnh thổ: điểm cựcNam 8030’ vĩ độ Bắc, điểm cực Bắc 9033’ vĩ độ Bắc, điểm cực Đông 105024’ kinh độĐông và điểm cực Tây 104043’ kinh độ Đông
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 529.487 ha được chia thành 9 đơn vị hànhchính trực thuộc tỉnh gồm: thành phố Cà Mau và 08 huyện: Thới Bình, Trần Văn Thời,
U Minh, Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân, Ngọc Hiển và Năm Căn Toàn tỉnh có 101 xã,phường, thị trấn, trong đó, có 10 phường, 09 thị trấn và 82 xã; ngoài ra, tỉnh Cà Maucòn có các đảo: cụm đảo Hòn Khoai (gồm 05 đảo, thuộc xã Tân Ân), cụm đảo HònChuối (gồm 02 đảo, thuộc thị trấn Sông Đốc), cụm đảo Hòn Đá Bạc (gồm 02 đảo,thuộc xã Khánh Bình Tây) và đảo Hòn Buông
Ranh giới hành chính:
- Phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang
- Phía Đông giáp tỉnh Bạc Liêu
- Phía Nam và Đông nam giáp biển Đông
- Phía Tây giáp biển Tây
1.1.2 Địa hình, địa mạo:
Nhìn chung, địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, trong đất liền không có núi
đá (ngoài biển cũng chỉ có một số cụm đảo gần bờ như Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc), caotrình phổ biến từ 0,5 - 1,0 m so với mặt nước biển, các khu vực trầm tích sông hoặcsông - biển hỗn hợp có địa hình cao hơn; các khu vực trầm tích biển - đầm lầy hoặcđầm lầy có địa hình thấp hơn (trung bình và thấp trũng) chiếm tới 89% Như vậy vềmặt địa hình, nếu giữ nguyên độ cao tự nhiên chỉ phù hợp cho các loại cây chịu ngậpnước như rừng ngập mặn, rừng tràm, lúa nước, nuôi thủy sản Việc trồng cây ăn trái,xây dựng kết cấu hạ tầng và các công trình dân dụng, khu dân cư đòi hỏi phải chi phítôn tạo mặt bằng rất lớn
Bên cạnh đó, địa hình của tỉnh còn bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông rạchchằng chịt, có nhiều sông rạch là lợi thế về giao thông đường thủy nhưng là hạn chế rấtlớn đối với phát triển giao thông đường bộ, phát sinh nhiều cầu cống, là một trongnhững nguyên nhân làm giao thông đường bộ của tỉnh chậm phát triển Đồng thờiphần lớn diện tích của tỉnh thuộc dạng đất ngập nước ven biển, nền đất yếu nên việcxây dựng các công trình kết cấu hạ tầng và xây dựng dân dụng rất tốn kém do yêu cầu
xử lý nền móng phức tạp; tính ổn định của các công trình xây dựng bị hạn chế, thường
bị lún nền Đây cũng là những trở ngại cho chương trình phát triển đô thị của tỉnh (hạnchế khả năng phát triển khu đô thị cao tầng, tốn kém nhiều trong đầu tư xây dựng hạtầng đô thị…), cùng với nhiều khu vực thuộc bờ biển Đông và Tây thường xảy ra xói
lở, nhất là trong những năm gần đây và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống vàtài sản nhân dân
Trang 51.1.3 Khí hậu:
Tỉnh Cà Mau mang những đặc tính chung của khí hậu vùng Đồng bằng sôngCửu Long, đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền nhiệt cao (nhiệt độtrung bình 27,90C, nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm không còn vào tháng 4 màvào tháng 5 với 30,20C, nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng giêng với 26,50C), đây
là điều kiện thích hợp cho phát triển sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản
Khí hậu trong tỉnh những năm gần đây không còn phân mùa rõ rệt như trước,mùa mưa cũng không còn tập trung từ tháng 5 - 11 và các tháng mùa khô không diễn
ra từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau nữa mà lượng mưa thường phân bố rãi rác ở tất cảcác tháng trong năm, vào các tháng mùa mưa thường xuất hiện những đợt nắng hạnkéo dài hoặc xuất hiện nhiều cơn mưa lớn vào các tháng mùa khô Cụ thể lượng mưa
từ tháng 5 - 11 năm 2005 là 2.090,4 mm, đến năm 2010 là 1.973 mm; lượng mưa từtháng 12 đến tháng 4 năm 2005 là 172,6 mm, năm 2010 là 25,3 mm
So với các tỉnh khác trong vùng ĐBSCL thì tỉnh Cà Mau có lượng mưa cao hơnhẳn Bình quân hàng năm có 165 ngày có mưa với lượng mưa trung bình năm là 1.998,3
mm (so với ở Gò Công tỉnh Tiền Giang chỉ có 74 ngày mưa và 1.209,8 mm, ở Bạc Liêu
có 114 ngày mưa và 1.663 mm, ở Vĩnh Long có 120 ngày mưa và 1.414 mm, ở RạchGiá có 132 ngày mưa và 1.050 mm) Lượng mưa từ tháng 5 - 11 từ năm 2005 – 2009 chỉcòn khoảng 84,7% lượng mưa cả năm (so với 90% ở những năm trước 2005), riênglượng mưa từ tháng 5 - 11 năm 2010 chiếm 98,73% lượng mưa cả năm, lượng mưa phân
bố không đều trong các tháng và có sự khác biệt giữa các khu vực trong tỉnh, thời điểm
có lượng mưa cao nhất cũng diễn biến phức tạp trong các năm chứ không còn tập trung
từ tháng 8 đến tháng 10, sau đó giảm dần đến tháng 11 như trước Độ ẩm trung bình là81% nhưng mùa khô độ ẩm thấp hơn, vào tháng 3 độ ẩm khoảng 74%
Chế độ gió thịnh hành theo mùa, mùa khô thịnh hành hướng gió Đông Bắc vàgió Đông, vận tốc gió trung bình khoảng 1,6 - 2,8m/s; mùa mưa thịnh hành hướng gióTây Nam hoặc gió Tây, vận tốc trung bình 1,8 - 4,5m/s Trong những năm gần đây,thời tiết diễn biến phức tạp hơn, trong mùa mưa thường xảy ra các cơn giông, lốc xoáycấp 7 đến cấp 8 ở vùng biển, ven biển; trên vùng biển Cà Mau - Kiên Giang chịu ảnhhưởng của một số cơn bão với những diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạtđộng khai thác hải sản và các hoạt động kinh tế khác trên vùng biển Trong mùa mưacũng thường có những đợt nắng hạn kéo dài (hạn Bà Chằng) làm tăng sự nhiễm mặncho những vùng sản xuất luân canh một vụ lúa trên đất nuôi tôm
Về cơ bản, khí hậu trong tỉnh ôn hoà, ít khắc nghiệt hơn các vùng khác, thuận lợicho sản xuất nông nghiệp, thủy sản, nhưng cũng cần chú ý các điểm sau:
+ Yếu tố mưa phân mùa là cơ sở để tỉnh quy hoạch sản xuất luân canh 01 vụ lúatrên đất nuôi tôm trong mùa mưa, nhưng trong điều kiện chưa chủ động về thủy lợinên khi gặp hạn, lúa bị chết do bị nhiễm mặn Đây là yếu tố làm cho quy hoạch sảnxuất một vụ lúa trên đất nuôi tôm của tỉnh Cà Mau chưa thành công trên diện rộng (vìkhông chủ động được nguồn nước ngọt tưới bổ sung)
+ Trong mùa mưa, có những trở ngại cho đời sống dân cư và thi công các côngtrình giao thông, xây dựng dân dụng; nhưng đối với vùng quy hoạch ngọt hoá ở huyệnTrần Văn Thời và U Minh trong mùa khô hoạt động xây dựng cũng gặp khó khăn dokhông vận chuyển vật liệu xây dựng đến chân công trình được vì phải đắp đập ngăn mặn
+ Trong mùa khô, nắng hạn kéo dài làm tăng nguy cơ cháy rừng tràm, nhất lànhững vùng rừng tràm có than bùn; nắng hạn cũng làm cho độ mặn nước sông và
Trang 6trong đầm nuôi tôm tăng cao (có khi lên đến trên 40‰) làm cho tôm nuôi chậm lớn vàdễ phát sinh dịch bệnh.
+ Những diễn biến phức tạp về thời tiết trên vùng biển đã ảnh hưởng nhiều đếnhoạt động khai thác thủy hải sản, đe dọa an toàn cho ngư dân, làm giảm hiệu quả cácchuyến khai thác biển
1.1.4 Thuỷ văn:
Tỉnh Cà Mau chịu tác động trực tiếp của chế độ thủy triều biển Đông (bán nhậttriều không đều) và của biển Tây (nhật triều không đều) Triều biển Đông tương đốilớn, độ lớn triều tại cửa Gành Hào từ 3,19 - 4,18 m, trong khi thủy triều biển Tây thấp
hơn, độ lớn triều tại cửa sông Ông Đốc từ 0,73 - 0,9 m (Nguồn: Bảng dự tính mực nước thủy triều năm 2009 dành cho các cửa sông Nam Bộ, với mực nước triều tính theo hệ cao độ Nhà Nước)
Do ảnh hưởng của hai chế độ thủy triều và có nhiều cửa sông thông ra biển, nêntoàn bộ diện tích đất liền của tỉnh đều bị nhiễm mặn và chế độ truyền triều rất phứctạp Từ khi chuyển đổi sản xuất sang nuôi tôm, nhiều cống đập được mở thông, làmcho quá trình truyền triều càng vào sâu trong đất liền Chế độ thủy triều đã được ngườidân tận dụng trong đời sống, sản xuất như: giao thông đi lại theo con nước, lấy nước
và thoát nước cho các vùng đầm nuôi tôm… Nhưng do chế độ truyền triều không đềucủa biển Đông và biển Tây đã hình thành một số vùng giáp nước, là những khó khăncho giải pháp thủy lợi phục vụ sản xuất
Thủy triều đưa nước biển vào ra thường xuyên, mang theo một lượng phù sa lớnlàm nhanh bồi lắng ở các sông, kênh thủy lợi, việc nạo vét kênh mương thủy lợi rất tốnkém, phải đầu tư thường xuyên, nhất là ở một số cửa sông lớn trong tỉnh như: Cái ĐôiVàm, Khánh Hội, Sông Đốc… Ngoài ra, trong mùa khô (mùa gió chướng) nước biểndâng cao, gây tình trạng tràn mặn, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống, vì vậy côngtác ngăn mặn, chống tràn là công việc phải thực hiện hàng năm của địa phương
Do ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều, nên dự án thủy lợi ngọt hoá vùng bán đảo
Cà Mau nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi sự đầu tư và vậnhành đồng bộ các công trình thủy lợi trong vùng và liên tỉnh (như dự án Xẻo Rô, hệ thốngcống tuyến Quản lộ - Phụng Hiệp, cống dưới đê biển Tây, Âu thuyền Tắc Thủ… )
1.1.5 Tác động của Biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng đến tình hình sản xuất của tỉnh Cà Mau:
Khí hậu trong tỉnh Cà Mau những năm gần đây diễn biến ngày càng phức tạp,nhiệt độ ngày càng tăng, lượng mưa lớn Nhiệt độ trong giai đoạn 1970 - 1979 tănghơn 0,20C so với giai đoạn 1960 - 1969; nhiệt độ trong giai đoạn 1990 - 1999 tăng hơn0,40C so với giai đoạn 1980 - 1989 và giai đoạn 2000 - 2009 tăng cao hơn giai đoạn
1990 - 1999 khoảng 0,30C Khí hậu trong tỉnh không còn phân mùa rõ rệt như trước,mùa mưa không còn tập trung từ tháng 5 - 11 và mùa khô cũng không còn tập trung từtháng 12 đến tháng 4 năm sau nữa mà lượng mưa thường phân bố rãi rác ở tất cả cáctháng trong năm, vào các tháng mùa mưa lại thường xuất hiện những đợt nắng hạn kéodài hoặc xuất hiện nhiều cơn mưa lớn vào các tháng mùa khô Kết quả quan trắc cũngcho thấy mực nước trên địa bàn tỉnh tăng dần qua từng thập niên
Tại Cà Mau, diễn biến tình hình hạn hán càng thêm gay gắt do phần lớn nguồnnước trong ao hồ, kênh rạch là nước mặn Tuy UBND tỉnh đã kịp thời chỉ đạo chongành nông nghiệp thực hiện ngay việc nạo vét kênh mương để dẫn nước tưới tiêu, lập
Trang 7dự án trạm cấp nước ở những vùng quá khó khăn để cấp nước sinh hoạt cho ngườidân Đến nay, Cà Mau đã chuyển đổi hơn 7.000 ha đất trồng lúa sang trồng hoa màu
để chủ động nguồn nước sản xuất
Trong nhiều năm qua, hệ thống thuỷ lợi phục vụ sản xuất chưa đáp ứng yêucầu Do hệ thống kênh cấp III nằm sâu trong nội đồng, đa số người dân sống trên hệthống kênh này kinh tế còn khó khăn nên ít được đầu tư nâng cấp (không vận độngđược nhân dân tham gia) Hàng năm cấp vốn cho các huyện, thành phố để đầu tư thuỷlợi còn hạn chế Hiện các tiểu vùng chưa được đầu tư khép kín nên tình trạng tràn bờ,xâm nhập mặn diễn biến phức tạp
Từ năm 2005 - 2010 thời tiết trong tỉnh thay đổi phức tạp đã gây thiệt hại nhiềudiện tích sản xuất trong địa bàn, với tổng diện tích bị thiệt hại 38.177 ha, trong đó,diện tích lúa bị thiệt hại khoảng 22.500 ha, chủ yếu là diện tích lúa luân canh trên đấtnuôi tôm, còn lại là diện tích nuôi tôm Cụ thể, trong năm 2005 nắng nóng kéo dài, tạođiều kiện cho đất, nước bị nhiễm phèn, mặn đã gây thiệt hại cho 10.245 ha diện tíchlúa luân canh trên đất nuôi tôm, làm giảm năng suất thu hoạch Đồng thời gây tác độngđến vấn đề nuôi trồng thủy sản, đặc biệt phần lớn diện tích sản xuất lúa trên đất nuôitôm trong thời gian qua chưa đạt hiệu quả Trong năm 2008, triều cường đã ảnh hưởngđến sản xuất với tổng diện tích bị ảnh hưởng là 20.265,3 ha Năm 2009, triều cườngtràn bờ ảnh hưởng làm thiệt hại 14.795,6 ha (trong đó, diện tích lúa - tôm là 3.867 ha;chuyên tôm là 10.928,6 ha) Năm 2010 nắng hạn kéo dài làm thiệt hại 3.800 ha diệntích trồng lúa Đồng thời thiên tai còn làm sạt lở đất, phá hủy nhiều công trình tácđộng đến tình hình sản xuất của nhân dân trong vùng
Tác động rõ rệt nhất của biến đối khí hậu là gia tăng độ mặn xâm nhập vào nộiđồng, làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất Theo số liệu thống kê, năm 2000 tổng diện tíchsản xuất theo hệ sinh thái ngọt của tỉnh Cà Mau (trừ cây lúa) là 38.981 ha và diện tíchđất gieo trồng lúa là 178.733 ha, chủ yếu là lúa 02 vụ; diện tích nuôi thủy sản là113.087 ha nhưng đến năm 2010 thì diện tích các loại cây trồng (ngoài lúa) chỉ còn19.193 ha và diện tích gieo trồng lúa còn 125.581 ha (trong đó, có khoảng 55.000 hadiện tích trồng lúa trên đất nuôi tôm) và diện tích nuôi thủy sản tăng lên 296.300 ha.Các huyện ven biển như Cái Nước, Phú Tân và Năm Căn trước đây còn luân phiên sảnxuất tôm – lúa nhưng hiện nay hầu hết đã chuyển sang nuôi tôm mà nguyên nhân chủyếu là do xâm nhập mặn nên trồng lúa không đạt hiệu quả mà nuôi tôm nước lợ là giảipháp phù hợp và mang lại hiệu quả hơn Như vậy, với mức độ gia tăng xâm nhập mặnhàng năm như hiện nay thì trong tương lai hệ sinh thái nông nghiệp với cây lúa là chủđạo sẽ chuyển dần thành nuôi tôm
Theo dự đoán do ảnh hưởng bởi hiện tượng biến đối khí hậu, nhiệt độ không khí
có thể tăng 0,70C vào năm 2020; 1,60C vào năm 2050 và 3,10C vào năm 2100 so vớinhiệt độ trung bình trong nhiều năm của tỉnh tính đến năm 2007, kết hợp với số giờ nắngtrong năm gia tăng sẽ làm tăng lượng nước mặt bị bốc hơi của tỉnh, nhiệt độ tăng caokéo theo độ bốc hơi trong không khí gia tăng, gây ra tình trạng hạn hán Thêm vào đó,theo dự đoán lưu lượng nước sông Mêkông giảm từ 2 – 24% trong mùa khô, tăng từ 7 –15% vào mùa mưa, dẫn đến giảm lượng nước, làm giảm lượng nước ngọt từ sông Hậudẫn về ngọt hóa vùng bán đảo Cà Mau Nguyên nhân là do hạn hán và ảnh hưởng củacác công trình thủy điện phía thượng nguồn của sông Vấn đề này sẽ làm quá trình xâmnhập mặn diễn ra mạnh mẽ hơn, mặn từ biển sẽ theo dòng chảy của sông, kênh rạch lấnsâu vào nội đồng, làm giảm nguồn tài nguyên nước ngọt Đồng thời hạn hán gia tănglàm hạ thấp mực thủy cấp trong khu vực, tạo điều kiện cho quá trình phèn hóa ngày
Trang 8càng tăng (Cà Mau có diện tích đất phèn lớn, chiếm trên 51% diện tích tự nhiên và chủyếu là đất phèn tiềm tàng), cùng với mực nước biển dâng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọngđến các vùng sản xuất trong tỉnh, đặc biệt là vùng ngọt hóa.
Trong thời gian tới, theo kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho ViệtNam (2009) vào thế kỷ 21 được Trung tâm Viễn thám Quốc gia (IPCC) - Bộ Tàinguyên và Môi trường xây dựng thì trong các vùng lãnh thổ của Việt Nam, ĐBSCL cóđịa hình thấp, nhiều nơi cao trình chỉ đạt từ 20 - 30 cm, đường bờ biển dài nên đượcđánh giá là khu vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và nghiêm trọng nhất Đối với ĐBSCL thìtỉnh Cà Mau lại là vùng nguy hiểm nhất, là tỉnh duy nhất chịu tác động của cả 2 chế độthủy triều biển Đông và biển Tây và có đường bờ biển dài nhất, khoảng 254 km
Để đánh giá các tác động của nước biển dâng đến địa bàn tỉnh Cà Mau, mộttrong những hệ quả của sự thay đổi khí hậu toàn cầu Dựa vào dự báo từ IPCC trongthời gian từ 30 tới 50 năm tới, Viện Quy hoạch thủy lợi Miền Nam đã xây dựng 2kịch bản nước biển dâng khác nhau: Trung bình 25 cm và cực đại 50 cm
Mô hình thuỷ lực và xâm nhập mặn toàn ĐBSCL đã được sử dụng để tính toántác động của các kịch bản đến chế độ thuỷ lực và xâm nhập mặn Trong điều kiện hiệntại (A0), ngoài khu vực bảo tồn U Minh Hạ là hệ sinh thái ngọt, trữ nước mưa bằng hệthống đê, cống và đập tạm còn lại phần lớn diện tích của tỉnh đều ảnh hưởng bởi haichế độ thuỷ triều, bán nhật triều biển Đông và nhật triều biển Tây, nhưng do biên độtriều biển Đông (từ 3,0 – 3,5 m vào ngày triều cường và từ 1,8 - 2,2 m vào các ngàytriều kém) lớn hơn rất nhiều so với triều biển Tây (0,5 - 1,0 m) nên chế độ truyền triềutrong địa bàn tỉnh rất phức tạp, phạm vi xâm nhập mặn do ảnh hưởng của triều biểnĐông có quy mô lớn hơn so với ảnh hưởng của triều biển Tây, tạo điều kiện cho nướcmặn xâm nhập sâu vào nội đồng Trong thời kỳ mùa khô, diện tích có độ mặn xâmnhập vượt hơn 28g/l chiếm xấp xỉ 60% đất canh tác của tỉnh và đạt mức đỉnh vàotháng 4, tháng 5 hàng năm
Khi nước biển dâng sẽ làm tăng thêm nhiều diện tích đất bị ngập nước Với mựcnước biển dâng 25 cm (ứng với năm 2040 trong kịch bản) thì nồng độ mặn đạt giá trịlớn nhất vẫn trong tháng 4 và 5 với giá trị >28g/l Phần diện tích bị ngập từ 1 - 1,2 m sẽtăng thêm 22% trong mùa khô và lên đến 40% trong mùa mưa so với diện tích bị ngập 1
- 1,2 m hiện tại Nhìn chung vào năm 2040, mực nước trung bình cả năm của tỉnh là từ 1
- 1,2 m, tăng hơn 0,2 m so với hiện nay Khi đó sẽ có hơn 4.693 km2 bị ngập từ 1 - 1,2 mtrở lên, chiếm 85,4% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
Với mực nước biển dâng 50 cm (ứng với giai đoạn các năm 2060 - 2070 trongkịch bản), trong mùa khô sẽ có 22% diện tích có mực nước từ 1,2 - 1,4 m, trong mùamưa có 33% diện tích có mực nước từ 1,2 - 1,4 m Nhìn chung mực nước ngập trungbình trong cả năm từ 1,2 - 1,4 m, tăng đến 0,4 m so với hiện nay Với mực nước nhưvậy tổng diện tích bị ngập từ 1,2 - 1,4 m trở lên của Cà Mau sẽ là 4.476 km2, chiếmđến 81,4% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh
Địa hình tỉnh Cà Mau có cao trình phổ biến từ 0,5 - 1,0 m so với mặt nướcbiển nhưng địa hình trong tỉnh có sự phân chia theo từng khu vực, phía Bắc có địahình thấp (trung bình từ 0,2 - 0,5 m) thuận lợi cho việc trữ nước mưa phục vụ sảnxuất nông nghiệp và phía Nam có địa hình cao hơn (trung bình từ 0,2 – 0,8 m), caoven biển và hướng nghiêng thấp dần từ biển vào nội địa nên theo các kịch bản trênkhi mực nước biển dâng thì phần diện tích ngập nước theo thứ tự sẽ là diện tích đấttrồng lúa luân canh trên đất nuôi tôm và đất chuyên lúa ở khu vực huyện Cái Nước,
Trang 9Phú Tân và TP Cà Mau, vùng trồng lúa của huyện Trần Văn Thời, phần lớn diện tíchđất nuôi trồng thủy sản, phần diện tích đất trồng lúa còn lại của tỉnh, diện tích rừngngập mặn và rừng tràm… (ngoại trừ một số khu vực thuộc xã Biển Bạch Đông và xãThới Bình thuộc huyện Thới Bình và khu vực ven biển Đông của huyện Đầm Dơi do
có địa hình cao hơn) Do đó, tùy từng mức độ dâng của mực nước biển sẽ tác độngkhác nhau đến cơ cấu sản xuất trong vùng, tuy nhiên khu vực ngọt hóa trong tỉnh làvùng đáng quan tâm nhất do biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng
Một tác động khác của mực nước biển dâng là làm gia tăng diện tích bị ảnhhưởng bởi mặn có nồng độ cao so với hiện nay, nguyên nhân vì triều biển Đông vớiđỉnh triều cao làm mặn xâm nhập mạnh vào nội đồng, đặc biệt là khu vực ven biển nơi
mà nguồn nước ngọt cực kỳ khan hiếm trong mùa khô Trong mùa khô, diện tích bị ảnhhưởng mặn ước tính khoảng 0,4 triệu ha, trong đó nghiêm trọng nhất là từ tháng 4 - 5khi mà mực nước xuống thấp nhất thì mặn xâm nhập mạnh cả về cường độ và thời gian
Biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng sẽ làm thay đổi sâu sắc các yếu tố tựnhiên trong môi trường sống của các hệ sinh thái Nước biển dâng sẽ làm chết các loàicây tiên phong, giảm diện tích rừng ngập mặn Nước biển dâng gây nhiễm mặn, ngậpúng, thay đổi tính chất môi trường đất và môi trường nước tác động xấu đến rừngtràm và rừng trồng trên đất bị nhiễm phèn Nhiệt độ và mức độ khô hạn gia tăng cũnglàm tăng nguy cơ cháy rừng, phèn hóa, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh Xâm nhậpmặn gia tăng, hạn hán kéo dài gây nên tình trạng thiếu hụt nguồn nước cung cấp chonông nghiệp trong tỉnh, ranh giới các loại cây trồng sẽ thay đổi, đồng thời dẫn đến tìnhtrạng các vùng đất chuyên canh lúa, nuôi tôm luân canh với trồng lúa sẽ chuyển sangnuôi tôm chuyên canh do thiếu nước ngọt phục vụ cho cây trồng Do đó, Biến đổi khíhậu và nước biển dâng được dự báo sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hệ sinh thái vàlàm thay đổi đến tình hình sử dụng đất trong vùng
Biến đổi khí hậu và nước biển dâng tác động sâu sắc đến nhiều thành phần kinh
tế - xã hội chính của tỉnh:
- Đối với nông nghiệp, biến đổi khí hậu tác động đến sinh trưởng, tăng dịchbệnh, dịch hại, làm giảm năng suất cây trồng, thay đổi thời vụ gieo trồng, gây nguy cơthu hẹp diện tích đất nông nghiệp Với ngành thủy sản, nuôi tôm bị ảnh hưởng nặng nềnhất do sự thay đổi số lượng và chất lượng nước, đặc biệt là khu vực sản xuất venbiển Với ngành lâm nghiệp, nước biển dâng sẽ đẩy nhanh tốc độ xói lở vùng ven biển
và cửa sông, đồng thời làm cho các bãi triều bị ngập sâu hơn, ảnh hưởng đến sự pháttriển của cây ngập mặn, đặc biệt là những loài có khả năng giữ lại phù sa để bồi đắpcho các bãi đất ven biển, làm giảm diện tích rừng ngập mặn, tác động xấu đến rừngtràm và rừng trồng, giảm tài nguyên động thực vật nên giảm hiệu quả kinh tế của cáchoạt động khai thác tài nguyên từ rừng
- Đối với hệ thống thủy lợi, đường giao thông, nước biển dâng sẽ làm ảnhhưởng đến khoảng 45.000 km kênh mương, trong đó chủ yếu là kênh nội đồng, kênhcấp I, II; khoảng 4.500 km đường giao thông sẽ bị ngập, đặc biệt khi có bão và triềucường thì con số này tăng đáng kể khoảng 13.000 km bị ngập
Như vậy biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng sẽ ảnh hưởng rất lớn đếnmôi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội tại Cà Mau Trước tình hình trên, nhiệm vụ đặt racho chính quyền và nhân dân địa phương là phải chuẩn bị để ứng phó và thích nghi hiệuquả với Biến đổi khí hậu và nước biển dâng, đảm bảo cuộc sống cho người dân, bảo vệ
an ninh kinh tế và an ninh xã hội Do đó, lập “Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020,
Trang 10kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) của tỉnh Cà Mau” nằm trong
chương trình kế hoạch hành động ứng phó với Biến đổi khí hậu và nước biển dâng tỉnh Cà Mau là rất cần thiết nhằm trang bị cho các cấp quản lý, chính quyền địa phương
cũng như người sử dụng đất trong tỉnh Cà Mau có cơ sở khoa học cho việc quản lý nhànước về đất đai và xây dựng các giải pháp cụ thể để hạn chế thiệt hại do biến đổi khíhậu, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững
1.2 Các nguồn tài nguyên:
dẫn bản đồ được trình bày ở bảng 1.
Kết quả điều tra cho thấy 91,41% DTTN toàn tỉnh là đất phèn và đất mặn; trong
đó nhóm đất phèn chiếm diện tích lớn nhất 268.843 ha (50,77% DTTN), kế đến là nhómđất mặn: 215.135 ha (chiếm 40,63% DTTN) Các nhóm đất than bùn phân bố dưới rừngtràm ở vùng trũng U Minh, đất bãi bồi, đất cát phân bố ở ven bờ biển và đất đỏ vàngphân bố ở ngoài các cụm đảo chỉ chiếm diện tích nhỏ (khoảng 4,3% DTTN), 4,29% diệntích còn lại là sông rạch
B ng 1: Phân lo i v quy mô di n tích các lo i ảng 1: Phân loại và quy mô diện tích các loại đất ở Cà Mau ại và quy mô diện tích các loại đất ở Cà Mau à quy mô diện tích các loại đất ở Cà Mau ện tích các loại đất ở Cà Mau ại và quy mô diện tích các loại đất ở Cà Mau đất ở Cà Mau ở Cà Mau à quy mô diện tích các loại đất ở Cà Mau t C Mau
Trang 11chất lượng ngọt nên một số nơi đã khai thác để trồng hoa màu (dưa, bí, rau đậu ).Các loại cây trồng đều sinh trưởng tốt và cho năng suất khá trên loại đất này.
- Nhóm đất mặn, diện tích 215.135,55 ha, chiếm 40,63% DTTN, được hìnhthành trên các trầm tích trẻ tuổi Holocene, có nguồn gốc sông, biển hoặc sông - biểnhỗn hợp Đất thường có thành phần cơ giới nặng và tính chất mặn (Salic properties).Nhóm đất này phân bố nhiều nhất ở huyện Đầm Dơi (26,7% tổng diện tích đất mặn),
kế đến là Trần Văn Thời (20,53%), Cái Nước (17,21%), Phú Tân (12,17%) và U Minh(11,33%) Các huyện còn lại chỉ chiếm khoảng 12,06% Tuỳ theo mức độ và cơ chếxâm nhập mặn, đất mặn được chia thành 4 đơn vị phân loại đất như sau:
Bảng 2: Phân loại và diện tích đất mặn tỉnh Cà Mau
Ký
hiệu
Việt Nam Tên tương đương WRB (*) (ha) (%)
II NHÓM ĐẤT MẶN SALIC FLUVISOLS 215.135,55 100
+ Đất mặn dưới rừng ngập mặn (Mm):
Đất mặn dưới rừng ngập mặn có diện tích 5.685 ha, chiếm 1,07% DTTN và2,64% diện tích nhóm đất mặn Phân bố dọc theo bờ biển Tây thuộc các huyện UMinh, Trần Văn Thời và Phú Tân Do phân bố ở những đai rừng phòng hộ ven biển, bịngập triều thường xuyên nên phần lớn diện tích đất này là rừng ngập mặn Về khảnăng sử dụng, phần diện tích đất này nên giữ đai rừng phòng hộ ven biển
+ Đất mặn nặng (Mn): có diện tích 117.834 ha, chiếm 22,25% DTTN Phân bốnhiều nhất ở vùng chuyển đổi nuôi tôm thuộc các huyện Đầm Dơi (57.441 ha), kế đến
là Cái Nước (30.394 ha), Phú Tân (24.291 ha), Thới Bình (1.195 ha), TP Cà Mau(1.898 ha) và dãi hẹp ven sông Cửa Lớn thuộc huyện Năm Căn (1.246 ha) và NgọcHiển (1.428 ha)
Hiện nay phần lớn diện tích đất này đang được sử dụng để nuôi tôm nên gầnnhư bị mặn quanh năm, phần diện tích còn lại là rừng ngập mặn nằm trong vành đairừng phòng hộ ven biển Đây là một loại đất không phèn, phân bố ở địa hình khá thíchhợp cho nuôi tôm Vì vậy, ngoài đai rừng phòng hộ ven biển ra, phần bên trong nội địanên bố trí chuyên nuôi tôm hoặc kết hợp mô hình tôm - rừng trên đất này
+ Đất mặn trung bình (M): có diện tích 20.765 ha, chiếm 3,92% DTTN, phân bốtập trung ở khu vực phía nam Sông Đốc, nhiều nhất ở huyện Trần văn Thời (7.731 ha),Cái Nước (6.686 ha) và Nam TP Cà Mau (5.807 ha) và một ít ở Thới Bình (541 ha) Đa
số là những vùng chuyển đổi sang nuôi thuỷ sản hoặc nuôi tôm kết hợp với trồng lúatrong mùa mưa
Đất mặn trung bình là một loại đất có độ phì tương đối khá, độ độc thấp Hầuhết diện tích đất mặn trung bình đang được sử dụng để trồng hoa màu, rau đậu và lúanước hoặc kết hợp với nuôi tôm Về khả năng sử dụng: do độ mặn và sắt hoà tankhông đáng kể nên đất mặn trung bình có thể sử dụng để trồng lúa, hoa màu hoặc kết
Trang 12hợp nuôi tôm, cá tuỳ thuộc vào việc điều tiết nguồn nước và bố trí lịch thời vụ thíchhợp cho từng loại hình sử dụng đất.
+ Đất mặn ít (Mi): Diện tích đất mặn ít 70.851 ha, chiếm 13.38% DTTN, phân
bố chủ yếu ở dạng địa hình cao chạy theo hướng Bắc - Nam từ huyện Thới Bình chođến TP Cà Mau, dạng gờ cao hình cánh cung khu vực trung tâm thuộc huyện TrầnVăn Thời hoặc dạng đê tự nhiên ven các sông Cái Tàu và sông Trẹm Huyện Trần VănThời có diện tích đất mặn ít lớn nhất (33.706 ha), kế đến là huyện U Minh (23.311 ha),Thới Bình (7.837 ha) và TP Cà Mau (5.993 ha)
So với các đất khác trên địa bàn tỉnh Cà Mau, đất mặn ít được đánh giá là mộtloại đất tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp Nhiều loại hình sử dụng đất nông nghiệpnhư lúa 2 vụ, lúa 1 vụ, lúa + cá đồng, hoa màu, cây ăn quả được phát triển trên đấtnày Hạn chế chính cho bố trí cây trồng trên đất này chủ yếu là do khan hiếm nguồnnước ngọt vào mùa khô Vì vậy, để gia tăng hiệu quả sử dụng đất, cần phải đẩy mạnhcông tác thuỷ lợi nhằm khắc phục tình trạng thiếu nước ngọt, tạo điều kiện thuận lợicho bố trí tăng vụ và đa dạng hoá cây trồng trên loại đất này
- Nhóm đất phèn, chiếm đa số với diện tích 268.843,44 ha, chiếm 51,05%DTTN Các đất phát triển trên trầm tích Holocene có nguồn gốc đầm lầy biển (mbQIV3) thường chứa nhiều Pyrite (FeS2) Khối vật liệu chứa pyrite này (sulfidicmaterial) có màu xanh đen hoặc nâu sậm và tồn tại khá ổn định trong môi trường yếmkhí Khi quá trình ôxy hoá xảy ra (do thoát thuỷ tự nhiên hoặc xới xáo nhân tạo) pyritechuyển hoá thành jarosite (K/NaFe3/Al3(SO4)2(OH)6) có màu vàng rơm đồng thời giảiphóng ra một lượng Sulphate (SO42-) lớn làm cho pH đất giảm xuống mạnh (pHH2O3,5) gây độc cho cây trồng và vật nuôi Nhóm đất này phân bố nhiều nhất ở Ngọc Hiển(21,59% tổng diện tích đất phèn), tiếp đến là Thới Bình (19,63%), U Minh (17,09%)
và Năm Căn (14,62%), Trần Văn Thời (7,92%) Các huyện còn lại chỉ chiếm khoảng 4
- 8% tổng diện tích đất phèn Đất phèn ở Cà Mau được phân chia ra 02 nhóm phụ: Đấtphèn tiềm tàng và đất phèn hoạt động Trong đó:
+ Đất phèn tiềm tàng: Phân bố tập trung nhiều nhất ở huyện Ngọc Hiển(58.041 ha), kế đến là huyện Năm Căn (39.249 ha) và các huyện Đầm Dơi (18.850ha), Phú Tân (16.636 ha), Thới Bình (15.088 ha), Trần Văn Thời (13.437 ha) Cáchuyện còn lại có quy mô khoảng 4.000 - 6.000 ha
+ Đất phèn hoạt động: Phân bố tập trung nhiều nhất ở huyện U Minh (30.055 ha)
và Thới Bình (37.684 ha), kế đến là huyện Trần Văn Thời (7.868 ha), TP Cà Mau(6.110 ha), Đầm Dơi (1.773 ha), các huyện còn lại có quy mô rất nhỏ
Căn cứ vào độ sâu xuất hiện các tầng phèn kết hợp với độ mặn trong đất đãphân chia chi tiết ra 18 đơn vị chú dẫn bản đồ Nhóm phụ đất phèn tiềm tàng có 9 đơn
vị đất và nhóm phụ đất phèn hoạt động có 9 đơn vị đất (Bảng 3).
Bảng 3: Phân loại và diện tích đất phèn tỉnh Cà Mau
I.1 Đất phèn tiềm tàng (TT) Fluvisols (Protothionic) 175.098,85 65,13
Sp1Mm 1 Đất phèn TT nông, dưới RNM Salic Tidalic Fluvisols (Epiprotothionic) 20.156,09 7,50
Trang 13Ký hiệu TÊN ĐẤT Diện tích
Sp1Mn 2 Đất phèn TT nông, mặn nặng Umbric Hypersalic Fluvisols (Epiprotothionic) 80.443,02 29,92 Sp1Mh 3 Đất phèn TT nông, mặn TB Umbric Salic Fluvisols (Epiprotothionic) 199,74 0,07 Sp1Mi 4 Đất phèn TT nông, mặn ít Umbric Hyposalic Fluvisols 1.372,49 0,51 Sp2Mm 5 Đất phèn TT sâu, dưới RNM Salic Tidalic Fluvisols (Endoprotothionic) 21.856,77 8,13 Sp2Mn 6 Đất phèn TT sâu, mặn nặng Umbric hypersalic Fluvisols (Endoprotothionic) 35.907,35 13,36 Sp2M 7 Đất phèn TT sâu, mặn TB Umbric Salic Fluvisols (Endoprotothionic) 4.242,15 1,58 Sp2Mh 8 Đất phèn TT sâu, mặn TB Umbric Salic Fluvisols (Endoprotothionic) 435,21 0,16 Sp2Mi 9 Đất phèn TT sâu, mặn ít Umbric Hyposalic Fluvisols 10.486,03 3,90
I.2 Đất phèn hoạt động (HĐ) Fluvisols (Orthithionic) 93.744,59 34,87
Sj1pMn 10 Đất phèn HĐ nông trên nền phèn tiềm tàng, mặn nặng Umbric hypersalic Fluvisols (Epiothithionic) 10.214,25 3,80
Sj1Mn 11 Đất phèn HĐ nông, mặn nặng Umbric Hyporsalic Fluvisols (Endoothithionic) 3.659,62 1,36
Sj1pMi 12 Đất phèn HĐ nông trên nền phèn tiềm tàng, mặn ít Umbric Hyposalic Fluvisols (Epiothithionic) 22.904,65 8,52
Sj1Mi 13 Đất phèn HĐ nông, mặn ít Umbric Hyposalic Fluvisols (Endoothithionic) 9.771,50 3,63
Sj2pMn 14 Đất phèn HĐ sâu trên nềnphèn tiềm tàng, mặn nặng Umbric Hypersalic Fluvisols (Endoothithionic) 8.146,27 3,03
Sj2Mn 15 Đất phèn HĐ sâu, mặn nặng Umbric Hypersalic Fluvisols (Endoothithionic) 9.473,86 3,52
Sj2M 16 Đất phèn HĐ sâu, mặn TB Umbric Salic Fluvisols (Endoothithionic) 392,10 0,15
Sj2pMi 17 Đất phèn HĐ sâu, mặn ít Umbric Hyposalic Fluvisols (Endoothithionic) 1.243,93 0,46
Sj2Mi 18 Đất phèn HĐ sâu trên nềnphèn tiềm tàng, mặn ít Umbric Hyposalic Fluvisols (Endoothithionic) 27.938,41 10,39
- Nhóm đất than bùn: Chỉ có một đơn vị chú dẫn bản đồ đất là đất than bùnphèn (TS) có diện tích 9.785 ha, chiếm 1,85% tổng DTTN, phân bố tập trung trongkhu vực rừng tràm ở phía nam huyện U Minh (6.661 ha) và phía bắc huyện Trần VănThời (3.124 ha)
Hiện nay, hầu hết diện tích đất than bùn là rừng tràm, một ít diện tích là rẫy hoamàu Vào mùa khô, than bùn rất dễ bị cháy hoặc phân huỷ khá nhanh khi thiếu ẩm.Rừng tràm trên đất than bùn là một hệ sinh thái rừng úng phèn đặc thù của nước ta, vìvậy cần phải bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất than bùn này
- Nhóm đất đỏ vàng: Chỉ có một đơn vị chú dẫn bản đồ là đất đỏ vàng trênMacma axit (Fa) có diện tích 638,52 ha (chiếm 0,12% DTTN) phân bố chủ yếu ở
3 cụm đảo gần bờ như: cụm đảo Hòn Khoai, cụm đảo Hòn Chuối và cụm đảoHòn Đá Bạc
Hiện nay phần lớn diện tích loại đất Fa ở Cà Mau là đất lâm nghiệp, đất chưa sửdụng, đất ở và đất chuyên dùng Trong những khu vực đất lâm nghiệp và đất chưa sửdụng, đề nghị nên tiến hành trồng, tu bổ và bảo vệ rừng để bảo vệ đất, chống xói mòn
Trang 14- Nhóm đất bãi bồi: Nhóm đất này chỉ có một đơn vị chú dẫn bản đồ là đất bãibồi (Bb) có diện tích 11.213 ha (chiếm 2,16% DTTN), phân bố thành các dãy đất kéodài song song với mép nước biển Tây và mũi Cà Mau (huyện Năm Căn 3.338 ha,Ngọc Hiển 8.629 ha).
Trong những năm 1988 - 1990, một số khu vực bãi bồi đã được khai thác đểnuôi tôm và các loài thuỷ hải sản khác Tuy nhiên, do bãi bồi nằm trong vành đaiphòng hộ ven biển nên UBND tỉnh đã ra chỉ thị cấm nuôi tôm trong những khu vựcnày, đồng thời trồng bổ sung và bảo vệ thảm thực vật rừng ngập mặn Đây là nhữngquyết định rất đúng đắn nhằm bảo vệ vùng đất non trẻ này, tạo điều kiện thuận lợi chobãi bồi tiếp tục phát triển và ổn định với vai trò chức năng phòng hộ ven biển
1.2.2 Tài nguyên nước:
Cà Mau có 03 nguồn nước chủ yếu có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng mạnh
mẽ đến tiến trình khai thác sử dụng đất:
- Nước mưa: Là nguồn nước ngọt, hàng năm nước mưa cung cấp từ 6 - 10 tỷ
m3 nước Nước mưa được trữ lại tại các kênh mương vùng ngọt hoá trong mùa mưa vàtạo thành các vùng nước ngọt trong khu vực, hiện tại nguồn nước này chủ yếu còn lại
ở khu vực rừng tràm U Minh Hạ, vùng sản xuất nông nghiệp phía Bắc huyện Trần VănThời và huyện Thới Bình, vùng mía nguyên liệu của huyện Thới Bình Đây là nguồnnước chính phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và một phần cho sinh hoạt,nhờ đó có một số diện tích có thể sản xuất lúa 2 vụ, rau màu thực phẩm, cây côngnghiệp Diện tích vùng này trong những năm qua ngày càng bị thu hẹp
- Nước mặn: Đây là nguồn nước được đưa vào từ biển hoặc được pha trộn với
nguồn nước mưa Nước mặn không thích hợp đối với cây con nước ngọt, ngược lạinước mặn lại là nguồn tài nguyên quý giá để phát triển nuôi trồng thủy sản, làm muối,phát triển rừng ngập mặn Trên thực tế ngành thủy sản đã và đang là ngành kinh tếmũi nhọn có những đóng góp lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cà Mautrong những năm vừa qua
Trong mùa khô, độ mặn nước sông và nước trong các ruộng tôm tăng cao,thường ở những vùng cửa sông nước có độ mặn cao hơn, càng sâu vào trong nội đồng
độ mặn càng giảm Trái lại vào mùa mưa, độ mặn giảm nhanh (cả nước sông và trongcác đầm nuôi tôm) Do đó, một số vùng có điều kiện rửa mặn, giữ ngọt tốt có thể sảnxuất luân canh một vụ lúa trên đất nuôi tôm trong mùa mưa
- Nước ngầm: Đây là nguồn nước sạch quan trọng cho sinh hoạt dân cư và chế
biến nông sản, nếu không quản lý khai thác và bảo vệ tốt thì trong tương lai Cà Mau sẽmất đi nguồn tài nguyên quý giá và quan trọng này
Theo kết quả điều tra của Liên đoàn Bản đồ địa chất Miền Nam, nước ngầm ởtỉnh Cà Mau có trữ lượng lớn, chất lượng đảm bảo cho sinh hoạt và sản xuất côngnghiệp Có 07 tầng chứa nước dưới đất theo thứ tự như sau:
+ Tầng I: được phân bố trên toàn bộ diện tích phần đất liền của tỉnh có độ dàytrung bình 36,6 m, là tầng nước không có áp lực, nguồn nước cấp cho tầng này là lớpnước mặt
+ Tầng II: được phân bố trên toàn bộ diện tích đất liền của tỉnh Chiều sâu đáytầng từ 89 m đến 136 m
Trang 15+ Tầng III: phân bố khắp diện tích toàn tỉnh, đáy tầng nước này sâu từ 146 mđến 233 m.
+ Tầng IV: phân bố khắp diện tích toàn tỉnh, độ sâu đáy tầng từ 198 m đến
+ Tầng VII: nước ngọt tầng này mới gặp khi khoan ở đảo Hòn Khoai, có độ sâu
372 m đến 413 m, nước tầng này không có áp
Tổng trữ lượng tiềm năng khai thác nước ngầm của tỉnh Cà Mau khoảng 6 triệu
m3/ngày, trong đó của tầng I là 0,64 triệu m3/ngày, tầng II là 1,2 triệu m3, tầng III là1,53 triệu m3, tầng IV là 1 triệu m3, tầng V là 0,9 triệu m3, tầng VI là 0,75 triệu m3.Hiện nay nước ngầm ở tỉnh đang khai thác chủ yếu ở các tầng: II, III và IV (đối vớigiếng nước lẻ của hộ dân chủ yếu khai thác ở tầng II và tầng III) Tuy nhiên, hiện tạinguồn nước ở tầng II tại nhiều khu vực trong tỉnh đã bị ô nhiễm nên nguồn nước được
sử dụng chủ yếu là được khai thác ở tầng III và tầng IV, với độ sâu trung bình từ 180 200m, là nước ngầm có áp, trữ lượng dồi dào và có chất lượng tốt Đây là nguồn nướcsạch quan trọng cho sinh hoạt dân cư và chế biến nông sản, nếu không quản lý khaithác và bảo vệ tốt thì trong tương lai Cà Mau sẽ mất đi nguồn tài nguyên quý giá vàquan trọng này
hộ ven biển
Vị trí và ý nghĩa của rừng ngập mặn Cà Mau có thể so sánh với nhiều khu rừngngập mặn nổi tiếng trên thế giới Năm 2010 tổng diện tích đất rừng ở Cà Mau là112.250 ha, chiếm 21,20% diện tích toàn tỉnh Trong đó: diện tích rừng sản xuất:67.864 ha, diện tích rừng phòng hộ: 26.868 ha và diện tích rừng đặc dụng: 17.519 ha
Tuy nhiên, giá trị thuần kinh tế của rừng Cà Mau không cao, nhất là rừng tràm dotrữ lượng thấp, sản phẩm gỗ tràm khó tiêu thụ, nguy cơ cháy rừng rất cao
1.2.4 Tài nguyên biển:
Cà Mau là một trong số 28 tỉnh ven biển của cả nước và là tỉnh có 3 mặt tiếpgiáp với biển, với 254 km bờ biển, diện tích lãnh hải khoảng 67.000 km2 Đây là vùngbiển có trữ lượng hải sản lớn và phong phú cả về chủng loại Biển Cà Mau là vùng cónhiều loại động vật phù du sinh sống, là nguồn thức ăn cho cá tôm sinh sản và pháttriển Gần đây, các cửa biển được nạo vét cải tạo, số tàu thuyền đánh bắt cá tăng lênnhanh đã gợi ra một hướng giải quyết nhiều vấn đề cùng lúc: chuyển dịch cơ cấu kinh
Trang 16tế theo hướng hướng ra biển Biển còn gắn liền với lợi thế về giao thông vận tải biển,các cụm đảo Hòn Khoai, Hòn Chuối (những nơi có thể xây dựng các cảng cá, trungtâm dịch vụ biển) cùng với vùng ven biển làm bàn đạp đẩy nhanh kinh tế biển vànhững cụm đảo này có vị trí địa lý kinh tế rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế củatỉnh, vùng và cả nước.
Biển Cà Mau nằm trong vùng biển Tây Nam Bộ (phần lớn là vùng Vịnh TháiLan), đây là vùng biển kéo dài từ vùng biển tỉnh Tiền Giang đến Hà Tiên, tỉnh KiênGiang; trong vùng biển có 156 đảo lớn nhỏ thuộc 5 quần đảo và các đảo lẻ Đây làvùng biển tiếp giáp với nhiều nước như: Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore,Indonesia nên vùng biển này có vai trò cửa ngõ của vùng ĐBSCL lưu thông với cácnước trong khu vực và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế đất nước Riêngtỉnh Cà Mau có đường bờ biển dài 254 km (không kể bờ 3 cụm đảo), bằng 34,46%chiều dài bờ biển của toàn vùng biển Tây Nam Bộ và bằng 7,8% chiều dài bờ biển của
cả nước
Vùng biển Tây Nam Bộ nói chung và vùng biển Cà Mau nói riêng là vùng biển
có nguồn tài nguyên và hệ sinh thái đa dạng, phong phú Các hệ sinh thái biển và venbiển có giá trị quan trọng như điều hoà khí hậu, là nơi cư trú, sinh đẻ và ươm nuôi nhiềuloài thủy sinh, nhiều hệ sinh thái có năng suất sinh học cao như: rừng ngập ven biển,vùng bãi bồi ven biển, vùng cửa sông… Biển đã và sẽ tạo ra vị thế phát triển cho tỉnh CàMau thông qua các lĩnh vực khai thác thủy sản, du lịch, công nghiệp cơ khí và chế biếnthủy sản, vận tải biển và đặc biệt là nhiệm vụ quốc phòng an ninh vùng biển Nhiều hoạtđộng kinh tế - xã hội của tỉnh đang và sẽ có mối quan hệ chặt chẽ với việc khai thác, bảo
vệ tài nguyên biển
Vùng biển Cà Mau là vùng biển nông và là vùng biển bồi, điều kiện khí tượngthủy văn thường ổn định hơn các vùng biển khác, thuận lợi cho các hoạt động kinh tếbiển Dọc theo bờ biển, có nhiều cửa sông lớn đổ ra biển (gồm các cửa: Hương Mai,Khánh Hội, Đá Bạc, Sông Đốc, Cái Đôi Vàm, Bảy Háp, Ông Trang, Rạch Tàu, Bồ Đề,Rạch Gốc, Hố Gùi, Gành Hào…) đã hình thành một số cụm kinh tế ven biển, các làng
cá có khá đông dân cư sinh sống
Trong vùng biển của tỉnh Cà Mau có 3 cụm đảo gần bờ là cụm đảo Hòn Khoai(diện tích 577 ha, đỉnh cao nhất 318 m), cụm đảo Hòn Chuối (diện tích 55,22 ha, đỉnhcao nhất 165 m) và cụm đảo Hòn Đá Bạc (diện tích 6,3 ha, đỉnh cao nhất 24 m) Đặcbiệt cụm đảo Hòn Khoai có khả năng phát triển du lịch, dịch vụ kinh tế biển và có vị tríquan trọng về bảo vệ an ninh quốc phòng do có vị trí án ngữ ở cửa vịnh Thái Lan, nằm ởgiữa vùng biển Đông và vịnh Thái Lan
Đối với vùng biển của cả nước nói chung và vùng biển Tây Nam Bộ nói riêng có
vị trí địa lý và chính trị hết sức trọng yếu, có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh
tế và an ninh quốc phòng Vì vậy chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định:
“Trở thành một nước mạnh về biển là mục tiêu chiến lược xuất phát từ yêu cầu kháchquan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam” và “vùng biển và ven biển làđịa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển, là cửa
mở của cả nước để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài Khai thác tối
đa các lợi thế của vùng biển và ven biển, kết hợp với quốc phòng an ninh, tạo thế và lực
để phát triển mạnh về kinh tế - xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của tổ quốc”
Trang 171.2.5 Tài nguyên khoáng sản:
- Dầu khí: theo báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển khí khu vực Tây Nam, ởthềm lục địa Tây Nam gồm nhiều lô thăm dò khai thác dầu khí (từ lô 36 đến lô 51; các
lô A, lô B; vùng thoả thuận thương mại giữa Việt Nam và Malaysia PM3-CAA vàvùng mới phân định giữa Việt Nam và Thái Lan), đây là những lô có trữ lượng và tiềmnăng đáng kể về khí thiên nhiên; chỉ riêng các khu vực đang thăm dò khai thác và một
số lô có tài liệu khảo sát đã cho thấy trữ lượng tiềm năng khoảng 172 tỷ m3, đã pháthiện 30 tỷ m3 Dự báo sản lượng khai thác các mỏ khí có thể đạt khoảng 8,25 tỷ
m3/năm Hiện nay đang khai thác ở lô PM3-CAA; đang thăm dò và thẩm lượng, chuẩn
bị khai thác các lô 46, 50, 51; đã phát hiện và đang khoan thăm dò ở lô B Đây lànguồn tài nguyên quý của đất nước, là điều kiện để phát triển công nghiệp vùngĐBSCL nói chung và tỉnh Cà Mau nói riêng (cụm dự án Khí - Điện - Đạm Cà Mau,khu công nghiệp Khánh An… )
- Cát ven biển: từ cửa Bồ Đề đến Mũi Cà Mau dài 36 km (ở huyện Ngọc Hiển)
có bãi cát nằm sát ven biển với chiều rộng khoảng 1,0 km Đây là bãi cát có trữ lượngkhông lớn, cát mịn và lẫn nhiều chất mùn bã, không có ý nghĩa khai thác công nghiệplớn Tuy nhiên, cũng cần tiếp tục khảo sát để có thể khai thác ở những địa điểm phùhợp phục vụ nhu cầu cát san lấp xây dựng
- Than bùn: Vùng than bùn U Minh Hạ của tỉnh Cà Mau là một trong nhữngvùng chứa than bùn lớn nhất Việt Nam, tập trung chủ yếu ở khu vực Vườn quốc gia UMinh Hạ và một phần của Lâm ngư trường U Minh 1 cũ; tổng diện tích có chứa thanbùn còn lại (sau các vụ cháy rừng lớn năm 1982 và năm 2002) là 9.785 ha, trữ lượngthan bùn hiện còn khoảng 14,1 triệu tấn (giảm gần 12 lần so với năm 1976), trong đótrữ lượng đã thăm dò là 4,8 triệu tấn
- Sét gạch ngói và sét Ceramic: tỉnh Cà Mau có tiềm năng lớn về sét gạchngói và sét ceramic, qua khảo sát điều tra 15 điểm (các xã Trí Phải, Khánh lâm, AnXuyên, Hồ Thị Kỷ, Tân Thành, Khánh Bình, Khánh Bình Tây, Khánh Lộc, KhánhBình Đông, Lương Thế Trân, Tắc Vân, Tân Hưng…) cho tổng trữ lượng khoảng
250 triệu m3, có thể thăm dò khai thác giai đoạn 1 khoảng 9 triệu m3 (ở Tân Thành,Lương Thế Trân, An Xuyên)
1.2.6 Tài nguyên du lịch:
- Du lịch sinh thái: tỉnh Cà Mau có đất bồi hàng năm lấn thêm ra biển từ 80 - 100
m, có tổng chiều dài hệ thống kênh rạch khoảng 7.000 km, xen vào đó là các dải vườn
cây ăn trái, các sân chim tự nhiên, sân chim nhân tạo, cùng với diện tích rừng ngập mặn
và rừng tràm rộng lớn, tỉnh có 02 Vườn quốc gia đã được UNESCO công nhận là khu
dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2009 (VQG Mũi Cà Mau và U Minh Hạ) mang đậmnét đặc trưng của vùng đất rừng phương Nam, là những cơ hội để tỉnh Cà Mau phát triển
du lịch sinh thái, đem lại cho du khách những tuyến du lịch hấp dẫn Hiện nay, du lịchrừng ngập mặn Cà Mau đang được đầu tư theo dự án du lịch chuyên đề quốc gia Nhờ
đó, sản phẩm du lịch sinh thái của tỉnh Cà Mau ít bị trùng lặp với các tỉnh khác trongvùng ĐBSCL (chủ yếu là sinh thái miệt vườn)
- Du lịch biển: Với chiều dài bờ biển 254 km, có một số bãi cát ven bờ (GiáLồng Đèn, Khai Long), có cồn bồi lắng cửa sông, các cụm đảo gần bờ: Hòn Khoai,Hòn Chuối, Hòn Đá Bạc còn giữ được vẻ đẹp nguyên thủy của tự nhiên, là tiềm năng
để khai thác du lịch biển đảo
Trang 18- Du lịch lịch sử nhân văn: Gắn liền với quá trình lịch sử của dân tộc, tỉnh CàMau có nhiều khu di tích lịch sử như: Hồng Anh thư quán, đình Tân Hưng, khu căn cứLung Lá Nhà Thể, căn cứ Xẻo Đước, khu chứng tích tội ác Mỹ ngụy Hải Yến - BìnhHưng Đây là những công trình văn hoá du lịch, đang được đầu tư tôn tạo Nghệ thuậtđờn ca tài tử, văn hoá dân gian, lễ hội Nghinh ông, hoạt động mua bán chợ nổi trênsông… là những yếu tố có thể khai thác trong hoạt động du lịch.
Ngành du lịch trong tỉnh đã và đang được khai thác phục vụ chủ yếu trong lĩnhvực du lịch sinh thái hấp dẫn du khách cả nước và quốc tế, được đánh giá là ngànhkinh tế mũi nhọn đứng vị trí thứ 2 của tỉnh chỉ sau ngành thuỷ sản Tuy nhiên, các tàinguyên du lịch của tỉnh hiện chủ yếu còn ở dạng tiềm năng, để sớm khai thác có hiệuquả đòi hỏi phải đẩy nhanh đầu tư kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông đường bộ, cácdoanh nghiệp cần có những ý tưởng mới về các sản phẩm du lịch, mô hình kinh doanh
- Hiện tượng xâm nhập mặn tự nhiên và do quá trình chuyển đổi cơ cấu sảnxuất nông nghiệp từ sản xuất cây con nước ngọt sang nuôi tôm nước mặn, lợ đã làmthay đổi đột ngột về hệ sinh thái và môi trường nước trong khu vực, làm thay đổi chứcnăng của toàn bộ hệ thống thủy lợi ở các vùng chuyển đổi (từ ngăn mặn giữ ngọtchuyển sang đưa nước mặn vào nội đồng), đã và đang xuất hiện những tổn thất lớn vềmôi trường sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng phát triển bền vững củatỉnh Độ che phủ của thảm thực vật đã giảm sút nhanh chóng, diện tích canh tác nôngnghiệp (trồng cây hàng năm và lâu năm) đã giảm đáng kể so với trước khi chuyển đổi.Quá trình xâm nhập mặn ngày càng sâu vào nội đồng, tình trạng tự phát đưa nước mặnvào đất lúa, đất rừng tràm phân tán để nuôi tôm vẫn diễn ra Do hệ thống thủy lợi hầuhết chưa được đầu tư khép kín, chưa chủ động được nguồn nước ngọt trong những đợthạn kéo dài cùng với tình hình thời tiết diễn biến phức tạp làm cho tình trạng nhiễmmặn trong đồng ruộng ngày càng cao nên sản xuất lúa trên đất nuôi tôm thời gian quachưa thành công trên diện rộng
- Các cơ sở sản xuất công nghiệp phân tán, còn nằm xen lẫn trong khu vực tậptrung dân cư, chưa được quy hoạch tập trung để xử lý nước thải nhằm giảm thiểu tácđộng đến con người và môi trường xung quanh Việc đầu tư riêng lẻ hệ thống xử lýnước thải cho từng nhà máy là rất tốn kém, do đó tình trạng thải trực tiếp nước thải rasông rạch vẫn chiếm tỉ lệ lớn và thường xuyên xảy ra
Trang 19Bên cạnh đó, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa đã và đang gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến tình hình môi trường trong tỉnh:
- Hệ thống đô thị đang phát triển mở rộng nhưng không được đầu tư đồng bộ về
hạ tầng kỹ thuật, hệ thống thu gom, xử lý nước thải trong tỉnh hiện tại chủ yếu chỉ mớiđược đầu tư xây dựng tại TP Cà Mau và khu vực thị trấn của các huyện nhưng kíchthước chưa đồng bộ, đang bị xuống cấp, chỉ tập trung tại các khu vực chợ và một sốkhu dân cư (trừ hệ thống thoát nước khu vực TP Cà Mau được xây dựng khá hoànchỉnh), việc thoát nước thải sinh hoạt với nước mưa cùng một hệ thống, chưa được quyhoạch thiết kế riêng, hình thức xử lý chủ yếu vẫn là thoát trực tiếp vào nguồn tiếp nhậnkhông qua xử lý (hoặc chỉ được xử lý sơ bộ qua hệ thống hố gas), gây tình trạng ngậpúng trong khu vực và ô nhiễm nguồn nước sông rạch Hệ thống chợ chưa được đầu tưđúng quy hoạch, số chợ tự phát còn khá nhiều nên việc đầu tư kết cấu hạ tầng, nhất làcác hạng mục công trình bảo vệ môi trường còn rất hạn chế Hệ thống bãi rác phục vụcho các khu đô thị, khu dân cư còn thiếu, hầu hết là các bãi rác tạm (trừ TP Cà Mau),việc xử lý chưa đảm bảo vệ sinh môi trường, ở các vùng nông thôn phần lớn rác thảixuống sông rạch, khu vực quanh nhà hoặc tập trung để đốt, gây ô nhiễm môi trường
- Nguồn nước ngầm đang bị khai thác, sử dụng với áp lực rất lớn, hiện tại sốtrạm cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh còn hạn chế, số lượng giếng khoan nhỏ lẻ củacác hộ dân chiếm tỷ lệ cao Vì vậy nguy cơ ô nhiễm thông tầng sẽ rất lớn vì nhiềugiếng khoan trong dân không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật lúc lắp đặt, bảo dưỡng, quản lý
và trong thời gian sử dụng, nhất là chưa quản lý tốt các giếng khoan không còn sửdụng được
- Ở các vùng nông thôn trong tỉnh, do tập quán và do còn thiếu các nghĩa địachôn cất tập trung, tình trạng mộ được chôn phân tán theo nghĩa địa họ tộc, chôn cấtxen kẻ trong phần đất gia đình gần với nhà ở, các công trình nước sinh hoạt… còn rấtphổ biến, đây là nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường
II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
Thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XIII, từ năm 2005đến 2010 tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn đạt 13,73%, cao hơn nhiệm
kỳ trước, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) bình quân hàng năm tăng 13,5%, đạt 14.604
tỷ đồng (giá cố định 1994) vào năm 2010 Các khu vực kinh tế đều phát triển nhanh
Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng dần trong cơ cấu kinh tế Các tiềmnăng, lợi thế của tỉnh bước đầu được khai thác có hiệu quả
- Cơ cấu kinh tế năm 2010 (theo giá hiện hành):
+ Nông - Ngư - Lâm nghiệp: 39,88%
+ Công nghiệp và xây dựng: 35,94%
+ Thương mại, dịch vụ: 24,18%
- GDP bình quân đầu người (giá hiện hành): 19,99 triệu đồng
- Tổng sản lượng lương thực quy thóc năm 2010 đạt: 520.000 tấn
- Sản lượng thuỷ sản năm 2010 đạt: 387.070 tấn
- Tốc độ tăng dân số tự nhiên năm 2010: 1,01%/ năm
Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế – xã hội trong tỉnh thời gian qua cũngnhư giai đoạn sắp tới vẫn còn gặp phải những tồn tại sau:
Trang 20- Các sản phẩm nông nghiệp và thủy sản của tỉnh đã, đang và sẽ bị sức ép cạnhtranh lớn từ thị trường nội địa và quốc tế.
- Môi trường đất, nước, không khí đã bị ô nhiễm và có nguy cơ gia tăng trongkhi khả năng kiểm soát rất hạn chế, việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản cũng như môitrường sinh thái chưa được chú trọng đúng mức đã dẫn tới tình trạng tôm nuôi bịnhiễm bệnh gây thiệt hại về kinh tế và tác động xấu đến môi trường
- Một số lĩnh vực kinh tế phát triển còn chậm, một số ngành kinh tế phát triểnkhông đều như ngành dịch vụ
2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
2.1.1 Tăng trưởng kinh tế:
Trong giai đoạn 1996 - 2005, kinh tế tỉnh Cà Mau tăng trưởng khá nhanh Quy
mô tổng giá trị tăng thêm trên địa bàn tỉnh (GDP) năm 2005 gấp 2,5 lần so với năm
1995 (đạt 7.673,663 tỷ đồng so với 3.092 tỷ đồng của năm 1995 theo giá so sánh năm1994), tăng bình quân hàng năm giai đoạn 1996 - 2005 là 9,57% Trong đó, giai đoạn
1996 - 2000 tăng bình quân hàng năm 8% và giai đoạn 2001 - 2005 tăng bình quânhàng năm 11,18%
Đặc biệt, trong 5 năm (từ 2006 – 2010), với sự khởi động của dự án cụm Khí Điện - Đạm Cà Mau (đầu tư xây dựng và nhà máy Điện Cà Mau 1, 2 đi vào hoạt động)
-đã tác động mạnh đến nền kinh tế tỉnh, đạt tốc độ tăng trưởng cao GDP năm 2010 đạt14.604 tỷ đồng (giá thực tế là 24.224 tỷ đồng), tăng gấp 1,9 lần so với năm 2005(trong đó, năm 2006 tăng 19,82%, năm 2007 tăng 12,34%, năm 2008 tăng 13,04%,năm 2009 tăng 11,52% và đến năm 2010 tăng 13,50%) Tính chung cả giai đoạn 1996
- 2010 thì GDP tăng bình quân hàng năm đạt 13,55%, trong đó giai đoạn 2001 - 2010tăng 12,9%
Cơ cấu kinh tế ngành trong tỉnh thời kỳ 2005 – 2010 có sự chuyển dịch đúnghướng, giảm dần tỷ trọng ngành nông – ngư – lâm nghiệp (năm 2005 là 52,46%, đếnnăm 2010 là 39,88%), tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp – xây dựng và thươngmại - dịch vụ (năm 2005 ngành công nghiệp – xây dựng chiếm 24,21%, đến năm 2010
là 35,94%; thương mại - dịch vụ năm 2005 là 23,33%, đến năm 2010 là 24,18%)
Các khu vực kinh tế đều có mức tăng trưởng khá cao, nhất là khu vực côngnghiệp, xây dựng và dịch vụ, cụ thể như sau:
- Khu vực ngư - nông - lâm nghiệp tiếp tục phát triển, tổng giá trị sản xuất toànngành ngư - nông - lâm nghiệp năm 2005 (giá thực tế) đạt 11.458 tỷ đồng, năm 2010 đạt20.407 tỷ đồng, tăng bình quân 11,7% Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 21,45%, ngànhthủy sản tăng 10,14%, riêng lâm nghiệp giảm 4,01% do hiệu quả kinh tế của rừng trồngsản xuất đem lại còn thấp, giá cả không ổn định Tổng giá trị tăng thêm của các ngànhnông, lâm, thủy sản năm 2005 đạt 3.563 tỷ đồng, năm 2010 đạt 4.909 tỷ đồng, tăng bìnhquân giai đoạn 2005 - 2010 là 6,96%; giai đoạn 2001 - 2010 tăng bình quân 6,56%
Trong các ngành khu vực I, thủy sản là ngành có tốc độ tăng trưởng khá nhanh,nhất là nuôi trồng do thực hiện chuyển đổi cơ cấu sản xuất, diện tích nuôi tôm nước lợ,nước mặn tăng nhanh, tạo ra lượng hàng thủy sản xuất khẩu lớn Sản lượng lúa giảm
so với trước năm 2000, nhưng vẫn đảm bảo cân đối lương thực trong tỉnh
- Khu vực công nghiệp và xây dựng vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng cao:tổng giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng năm 2005 đạt 14.843 tỷ đồng (giá thực
Trang 21tế Trong đó, giá trị sản lượng công nghiệp là 13.989 tỷ đồng, ngành xây dựng là 854
tỷ đồng), năm 2010 đạt 39.671 tỷ đồng; tăng bình quân hàng năm 21,43%, trong đóngành công nghiệp tăng 20,1%; ngành xây dựng tăng 70,43% Tổng giá trị tăng thêmngành công nghiệp và xây dựng năm 2005 đạt 1.992 tỷ đồng, năm 2010 đạt 5.726 tỷđồng; tăng bình quân giai đoạn 2005 - 2010 là 21,9%; giai đoạn 2001 - 2010 tăng bìnhquân 21,64%
- Khu vực dịch vụ phát triển nhanh, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về sản xuất,kinh doanh và phục vụ đời sống nhân dân Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xãhội năm 2005 đạt khoảng 7.583 tỷ đồng, năm 2010 đạt 24.245 tỷ đồng, tăng bình quânhàng năm 24,08% Tổng giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ năm 2005 đạt 2.118 tỷđồng, năm 2010 đạt 3.968,8 tỷ đồng, tăng bình quân giai đoạn 2005 - 2010 là 13,94%;giai đoạn 2001 - 2010 tăng 18,45%
Như vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh cũng như các lĩnh vực trong giaiđoạn 2005 - 2010 đều cao hơn cả giai đoạn 2001 - 2010, chứng tỏ tốc độ tăng trưởnggiai đoạn 2005 - 2010 nhanh hơn giai đoạn 2001 - 2005, các lĩnh vực công nghiệp, xâydựng và dịch vụ tăng nhanh hơn giai đoạn trước, cho thấy kinh tế tỉnh trong 05 nămqua tăng trưởng khá bền vững, đây là kết quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế,tập trung đẩy mạnh phát triển công nghiệp, đặc biệt là tác động của dự án cụm Khí -Điện - Đạm Cà Mau, xây dựng kết cấu hạ tầng và các ngành dịch vụ; là kết quả củaquá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất ngư nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh
Năm 2005, GDP theo giá hiện hành đạt 11.213,9 tỷ đồng, bình quân đầu ngườiđạt 9,2 triệu đồng (tương đương 580 USD), cao hơn GDP bình quân đầu người vùngĐBSCL (khoảng 520 USD) nhưng thấp hơn so với bình quân cả nước (640 USD); năm
2007 đạt 785 USD/người (bình quân cả nước năm 2007 đạt khoảng 835 USD); năm
2009 GDP giá hiện hành đạt 21.616 tỷ đồng, bình quân đầu người đạt 17 triệu đồng(tương đương 1.030 USD); đến năm 2010 GDP giá hiện hành đạt 24.224 tỷ đồng, bìnhquân đầu người đạt 19,99 triệu đồng (tương đương 1.100 USD)
Như vậy, kinh tế tỉnh Cà Mau có bước phát triển khá nhanh, có vị trí quan trọngtrong vùng ĐBSCL và đóng góp ngày càng cao vào tăng trưởng kinh tế của vùng
2.1.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Trong thời gian qua, nền kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch về cơ cấu ngànhkinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng tăng dần tỷ trọngkhu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ
- Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế:
Tỷ trọng khu vực nông - ngư - lâm nghiệp trong GDP đã giảm từ 68,24% năm
1995 xuống 59,26% vào năm 2000 và 52,46% vào năm 2005 Đặc biệt năm 2006 lànăm đầu tiên tỷ trọng các ngành khu vực I đã giảm xuống ở mức dưới 50% nhờ sựtriển khai xây dựng dự án cụm Khí - Điện - Đạm Cà Mau (còn 48,28%), năm 2010 chỉcòn 39,88% Tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng tăng từ 16,68% năm 1995 lên20,49% năm 2000 và 24,21% năm 2005, năm 2010 đạt 35,94% Tương tự, tỷ trọng cácngành khu vực dịch vụ cũng tăng từ 15,05% năm 1995 lên 20,24% năm 2000 và23,33% năm 2005, năm 2010 đạt 24,18%
Như vậy, giai đoạn 2001 - 2010 sự chuyển dịch giảm tỷ trọng các ngành khuvực I nhanh hơn giai đoạn 1996 - 2000 (giảm 19,38% so với 8,98% của giai đoạn
Trang 22trước), nguyên nhân do thực hiện một số dự án công nghiệp, xây dựng lớn, nhất là dự
án cụm Khí - Điện - Đạm Cà Mau
Bảng 4: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau 1995 - 2010 (%)
(Nguồn: Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020 và
Niên giám thống kê tỉnh Cà Mau năm 2005, 2010).
So với cơ cấu kinh tế chung của cả nước và của vùng ĐBSCL thì đến năm 2006
cơ cấu kinh tế của tỉnh Cà Mau có sự chuyển dịch chậm hơn, tỷ trọng kinh tế nôngnghiệp còn cao, tỷ trọng các ngành dịch vụ còn thấp hơn khá nhiều; điều đó cũng thểhiện Cà Mau hiện đang là tỉnh có thế mạnh về thủy hải sản và nông nghiệp So với cáctỉnh, thành phố trong vùng vào năm 2006, Cà Mau là tỉnh có tỷ trọng các ngành khu vực
I cao thứ 7/13 tỉnh, thành phố (sau các tỉnh: Đồng Tháp 57,1%, Bến Tre 56,3%, TràVinh 54,6%, Bạc Liêu 55,7%, Vĩnh Long 52,5%)
Sự đóng góp vào tăng trưởng kinh tế tỉnh của các lĩnh vực (Nông nghiệp - Côngnghiệp - Dịch vụ) có sự chuyển dịch theo hướng các ngành công nghiệp, dịch vụ đónggóp ngày càng nhiều vào tăng trưởng kinh tế tỉnh, tuy nhiên tỷ trọng đóng góp của cácngành khu vực II và khu vực III vào tăng trưởng kinh tế còn thấp hơn bình quân cảnước khá nhiều
Tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế:
+ Các ngành khu vực I đóng góp 49,6% vào tăng trưởng kinh tế tỉnh trong giaiđoạn 2001 - 2005 đã giảm xuống còn 38,66% trong giai đoạn 2005 - 2010
+ Các ngành khu vực II đóng góp 24,69% vào tăng trưởng kinh tế tỉnh tronggiai đoạn 2001 - 2005 tăng lên 34,25% trong giai đoạn 2005 - 2010
+ Các ngành dịch vụ đóng góp 25,72% vào tăng trưởng kinh tế tỉnh trong giaiđoạn 2001 - 2005 đã tăng lên 27,1% trong giai đoạn 2005 - 2010
Cơ cấu nội bộ các ngành khu vực I của tỉnh cũng có sự chuyển dịch đáng kểtheo hướng tăng nhanh kinh tế thủy sản, phát huy lợi thế về kinh tế biển, đẩy mạnhnuôi trồng thủy sản Tỷ trọng kinh tế thủy sản trong các ngành khu vực I tăng từ60,58% năm 1995 lên 65,59% năm 2000 và đến năm 2005 đã chiếm tỷ trọng 84,4%,năm 2010 chiếm 86,25% Tương ứng tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 36,97%năm 1995 xuống còn 31,61% vào năm 2000 và 15,6% năm 2005, năm 2010 chỉ còn12,78% Cơ cấu sản phẩm đã được chuyển đổi mạnh từ sản xuất lương thực sang hàngthủy sản xuất khẩu, chủ yếu là con tôm
Trong công nghiệp, công nghiệp chế biến vẫn chiếm phần lớn giá trị sản lượngcủa ngành, chủ yếu là chế biến thủy hải sản xuất khẩu, nhưng cơ cấu sản phẩm đãđược chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng chế biến hàng giá trị gia tăng
Cơ cấu các ngành dịch vụ cũng có những chuyển biến tích cực, thương nghiệp
và dịch vụ sửa chữa vẫn chiếm tỷ trọng cao, nhưng tỷ trọng các ngành khách sạn nhàhàng, bưu chính viễn thông, tư vấn đã tăng lên đáng kể
Trang 23đó, sản lượng tôm đạt 389.230 tấn, gấp 1,96 lần giai đoạn 1996 - 2000 Riêng năm
2005, sản lượng thủy hải sản đạt 254.259 tấn, có 92.884 tấn tôm; đến năm 2010 đạt387.070 tấn, trong đó, có 122.960 tấn tôm
- Nuôi trồng:
Cà Mau là tỉnh có tiềm năng lớn về nuôi trồng thuỷ sản, nhất là nuôi tôm nước
lợ Các điều kiện phục vụ sản xuất như: diện tích mặt nước, đất đai, điều kiện nguồnnước, thời tiết khí hậu tương đối thuận lợi cho nuôi thủy sản Những năm 2001 - 2005vấn đề nuôi thủy sản phát triển ngày càng ổn định, nghề nuôi thủy sản đã chiếm tỷtrọng lớn trong giá trị ngành thủy sản, giải quyết việc làm cho trên 50% lao động trongtỉnh Diện tích nuôi thủy sản năm 2005 đạt 278.241 ha, trong đó, có 248.406 ha nuôitôm; diện tích nuôi năm 2010 là 296.300 ha, trong đó, diện tích nuôi tôm 266.592 ha
(trong đó, diện tích trồng lúa kết hợp nuôi tôm là: 55.530,67 ha)
Về phân bố nuôi thủy sản: diện tích nuôi tôm nước lợ được phân bố ở tất cả 09huyện, thành phố, đến nay diện tích nuôi tập trung nhiều nhất là ở huyện Đầm Dơi(65.583 ha), thấp nhất là huyện U Minh (11.400 ha); nhưng về cơ bản trong địa bàn
tỉnh Cà Mau đã hình thành 02 vùng khá rõ rệt: vùng phía Nam Cà Mau chủ yếu là sản
xuất theo hệ sinh thái mặn – lợ (nuôi tôm chuyên canh và nuôi tôm kết hợp trồng
rừng), vùng phía Bắc Cà Mau chủ yếu là sản xuất theo hệ sinh thái ngọt (chuyên canh
lúa và kết hợp luân canh một vụ lúa trên đất nuôi tôm) Ngoài nuôi tôm, các hộ nôngdân đã từng bước thực hiện nuôi đa con kết hợp với nuôi tôm như: nuôi cua, cá chẽm,một số giống cá có hiệu quả cao như cá chình, bống tượng… cũng đang được nuôinhân rộng Cá đồng là nguồn lợi của tỉnh Cà Mau, nhưng từ sau chuyển đổi sản xuất,diện tích nuôi cá đồng đã giảm nhiều, nhiều hộ đang phát triển nuôi các loài cá có giátrị kinh tế cao, địa bàn nuôi tập trung ở rừng tràm U Minh, huyện Trần Văn Thời vàthành phố Cà Mau Vùng mặt nước ven biển hiện mới chỉ nuôi thí điểm một số loàinhuyễn thể như nghêu, sò, hào
Tình hình tôm nuôi của tỉnh Cà Mau hiện phần lớn là nuôi quảng canh cải tiếnvới nhiều mô hình: nuôi chuyên canh, nuôi luân canh trồng 1 vụ lúa, nuôi kết hợptrong rừng, nuôi dưới mương liếp vườn… ; một số hộ đang chuyển sang nuôi quảngcanh cải tiến bậc cao với sự hỗ trợ của công tác khuyến ngư, đến nay diện tích nuôithâm canh, bán thâm canh (nuôi công nghiệp, bán công nghiệp) mới đạt 1.300 ha, diệntích nuôi tôm chân trắng 91 ha; một số diện tích được nuôi theo mô hình sinh thái(nuôi kết hợp trong rừng)
Trong các mô hình nuôi hiện nay, mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến đúngquy trình kỹ thuật năng suất cao và nuôi tôm sinh thái được đánh giá là bền vững vềmôi trường và có hiệu quả kinh tế cao Công tác khuyến ngư, ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật được chú trọng, các dịch vụ phục vụ nuôi trồng thủy sản phát triển nhanh,nhất là đầu tư sản xuất cung ứng con giống, trong 5 năm đã xây dựng mới trên 530 cơ
sở sản xuất và kinh doanh tôm giống, nâng tổng số cơ sở sản xuất, kinh doanh tôm
Trang 24giống lên 923 cơ sở (tính đến năm 2009); trong đó có khoảng 800 cơ sở sản xuất tômgiống, lượng tôm giống sản xuất tại tỉnh năm 2005 đạt 6 tỷ con, gấp 4 lần năm 2000,đáp ứng được 55% nhu cầu tôm giống trong tỉnh Năm 2009 lượng tôm giống sản xuấtđược 8 tỷ con, tăng 1,33 lần so với năm 2005 và đáp ứng được trên 73% nhu cầu tôm
giống trong tỉnh (Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
Sản lượng nuôi thủy sản năm 2005 đạt 120.086 tấn, tăng gấp 2,57 lần so vớinăm 1995 và gấp 1,64 lần năm 2000; trong đó, sản lượng tôm nuôi đạt 81.100 tấn; năm
2010 sản lượng nuôi trồng đạt 233.356 tấn, trong đó sản lượng tôm nuôi đạt 107.847tấn; tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2010 tăng gấp 4,78 lần so với năm 1995,gấp 3,18 lần so với năm 2000 và gấp 1,94 lần so với năm 2005 Năng suất tôm nuôibình quân năm 2005 đạt 326 kg/ha/năm so với 230 kg/ha/năm của năm 1995 và năm
2000 (tăng gấp 1,55 lần), đến năm 2010 năng suất tôm nuôi bình quân đạt 404kg/ha/năm, tăng trên 1,23 lần so với năm 2005 Như vậy, tôm nuôi của tỉnh đã tăng cả
về diện tích và năng suất, dẫn đến sản lượng tôm nuôi tăng nhanh
- Khai thác thuỷ hải sản:
Vùng biển Cà Mau là một trong những ngư trường lớn của cả nước, điều kiệnthời tiết cơ bản thuận lợi, đảm bảo cho khai thác quanh năm
Về năng lực khai thác: Tổng số phương tiện tàu cá có đến năm 2005 là 4.225tàu với tổng công suất 318.641 CV, công suất bình quân đạt 75,41 CV/phương tiện.Đến năm 2010, tổng số phương tiện khai thác và hậu cần dịch vụ là 5.335 tàu với tổngcông suất 382.714 CV, công suất bình quân đạt 71,73 CV/phương tiện; tổng sốphương tiện khai thác thủy sản năm 2010 tăng gấp 1,26 lần và tổng công suất khai tháccũng tăng gấp 1,2 lần so với năm 2005
Cơ sở hậu cần nghề cá đang được xúc tiến đầu tư, tỉnh đã xây dựng cảng cáHòn Khoai, cơ sở hạ tầng (bến lên xuống đảo) ở đảo Hòn Chuối, cảng cá Sông Đốc,khu neo đậu tránh bão Sông Đốc, đầu tư 01 tàu hậu cần nghề cá; tuy nhiên tiến độ xâydựng chậm nên các công trình này chưa phát huy được hiệu quả như dự kiến
Sản lượng khai thác biển năm 2005 đạt 134.173 tấn, tăng gấp 1,8 lần so vớinăm 1995 và tăng 8% so với năm 2000, đến năm 2010 đạt 153.714 tấn; trong đó sảnlượng tôm biển hàng năm khai thác khoảng 10 - 15 nghìn tấn Như vậy sản lượng khaithác biển tăng chủ yếu do tăng năng lực khai thác biển sau bão số 5 và chương trìnhđánh bắt xa bờ
Trong những năm gần đây, do giá nhiên liệu tăng cao, thời tiết diễn biến phứctạp và nguồn lợi ngư trường suy giảm nên hiệu quả khai thác biển thấp, đời sống laođộng nghề biển đang gặp nhiều khó khăn nhưng nhờ chính sách hỗ trợ dầu cho ngưdân đánh bắt thủy sản của Chính phủ được kịp thời đã cơ bản khắc phục được tìnhhình khai thác trong tỉnh Ngoài ý nghĩa kinh tế, với số lao động trên biển khoảng gần19.000 người là lực lượng quan trọng, góp phần bảo vệ an ninh, chủ quyền vùng biểnTây Nam Bộ Vì vậy, cần tiếp tục có các giải pháp, chính sách để hỗ trợ phát triểnnghề khai thác biển vừa vì mục đích kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng
2.2.1.2 Nông nghiệp:
Trước khi chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông - ngư nghiệp, giá trị sản xuất nôngnghiệp giai đoạn 1996 - 2000 tăng khá, năm 2000 đạt 2.005,3 tỷ đồng (giá cố định1994), tăng bình quân hàng năm 7,3%; tuy nhiên sau chuyển đổi, giá trị sản xuất nôngnghiệp đã giảm đi gần 50%, năm 2005 chỉ đạt 1.018 tỷ đồng, đến năm 2010 đạt
Trang 251.332,6 tỷ đồng (giá cố định 1994), hiện tại giá trị sản xuất nông nghiệp chỉ đóng góp12,78% trong GDP của tỉnh (so với 23% năm 2000).
Nguyên nhân giảm giá trị sản xuất nông nghiệp chủ yếu là giảm ngành trồngtrọt, từ 1.616,4 tỷ đồng năm 2000 (giá cố định 1994, theo giá thực tế là 1.992,2 tỷđồng) xuống còn 782,6 tỷ đồng năm 2005 nhưng đến năm 2010 được khôi phục dần vàđạt 911 tỷ đồng (giá cố định 1994, theo giá thực tế năm 2010 là 2.920,5 tỷ đồng), đồngthời ngành chăn nuôi cũng giảm từ 237 tỷ đồng xuống còn 171,3 tỷ đồng vào năm
2005, đến năm 2010 cũng được khôi phục dần ở mức 289,3 tỷ đồng (giá cố định1994) Trong cả trồng trọt và chăn nuôi đều có sự giảm rất lớn về quy mô cây trồng,vật nuôi
- Về trồng trọt:
+ Cây lúa: Vẫn là cây trồng chính, giai đoạn 1996 - 2000 diện tích gieo trồnglúa tương đối ổn định, trung bình đạt từ 206.000 - 225.000 ha, trong đó lúa Hè Thu vàlúa Đông Xuân đạt gần 100 nghìn ha; sản lượng lúa hàng năm đạt từ 730.000 -850.000 tấn Sau năm 2000 diện tích gieo trồng lúa giảm nhiều do chuyển sang nuôitôm, bình quân hàng năm còn khoảng 110.000 - 130.000 ha, trong đó diện tích vụ HèThu và Đông Xuân còn khoảng gần 40 nghìn ha; sản lượng lúa hàng năm từ 350.000 -400.000 tấn, năm 2010 đạt 498,3 nghìn tấn Diện tích lúa luân canh trên đất nuôi tômđạt thấp so với quy hoạch, trung bình đạt 20 - 25 nghìn ha (so với quy hoạch 90 nghìnha); riêng năm 2010 đạt 55.530 ha Năng suất lúa có tăng nhưng thấp hơn so với nhiềuđịa phương khác (năm 1995 đạt 2,83 tấn/ha, năm 2005 đạt 3,53 tấn/ha, năm 2010 đạt3,97 tấn/ha gieo trồng so với bình quân của cả nước là 4,5 - 4,6 tấn/ha) Diện tích trồnglúa trong tỉnh hiện đang tập trung chủ yếu ở các huyện: Trần Văn Thời, U Minh, ThớiBình và một phần ở thành phố Cà Mau (các huyện vùng phía Bắc Cà Mau)
+ Rau đậu các loại phát triển khá, diện tích năm 1995 đạt 3.246 ha tăng lên4.391 ha năm 2000 và 5.243 ha năm 2005, đến năm 2009 đạt 6.400 ha, tập trung chủyếu ở huyện Trần Văn Thời, còn lại phân bố ở các huyện khác, đã giải quyết đượcphần lớn nhu cầu rau thực phẩm trong tỉnh
+ Cây mía: giai đoạn 1996 - 2000 diện tích mía phát triển khá nhanh, từ 3.390
ha của năm 1995 lên 5.655 ha vào năm 2000, nhưng sau đó giảm dần vì một số diệntích đã tự phát chuyển sang nuôi tôm, năm 2005 còn 3.422 ha và đến năm 2010 chỉcòn 1.803 ha Diện tích mía của từng huyện có thay đổi, nhưng vùng trồng mía củatỉnh vẫn chủ yếu tập trung ở huyện Thới Bình và một phần ở các huyện Trần VănThời, U Minh Sản lượng mía không ổn định, năm 1995 đạt 193 nghìn tấn, năm 2000đạt 335,5 nghìn tấn, năm 2005 đạt 215,6 nghìn tấn và đến năm 2010 đạt 121,6 nghìntấn Tổng sản lượng mía hàng năm có thể đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho nhà máyđường Thới Bình, nhưng do thiếu nguồn nước tưới bổ sung nên việc trồng mía rải vụgặp khó khăn, dẫn đến tình trạng thừa - thiếu nguyên liệu mía, giá thu mua không ổnđịnh gây khó khăn cho cả người trồng mía và nhà máy đường
+ Cây dừa: Diện tích cây dừa tập trung ở các huyện: Phú Tân, Trần Văn Thời,Đầm Dơi nhưng đã giảm nhanh sau chuyển đổi sản xuất, từ 22.517 ha năm 1995 giảmxuống còn 20.102 ha năm 2000, đến năm 2005 còn 9.585 ha và đến năm 2010 là 8.080
ha, hiện tại diện tích này tập trung chủ yếu ở 03 huyện: Trần Văn Thời, Cái Nước vàPhú Tân Hầu hết diện tích vườn dừa còn lại đã được chuyển sang nuôi tôm theo môhình vườn - tôm, vì vậy năng suất và sản lượng dừa trái trong những năm gần đây
Trang 26giảm rõ rệt Sản lượng dừa năm 1995 đạt 67.829 tấn giảm xuống còn 66.283 tấn năm
2000, năm 2005 còn 24.975 tấn và năm 2010 là 26.035 tấn
+ Cây ăn quả khác: Diện tích trồng cây ăn quả trong tỉnh thời gian qua có xuhướng giảm do quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất, năm 2001 có 8.833 ha, tập trungchủ yếu ở các huyện: Cái Nước, Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình và TP Cà Mau;đến năm 2005 diện tích cây ăn quả chỉ còn 6.680 ha, nhưng đến năm 2010 được phụchồi dần ở diện tích 8.248 ha và tập trung ở huyện Trần Văn Thời và U Minh
- Về chăn nuôi:
Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong tỉnh cũng giảm hơn giai đoạn trước năm 2000,
do chuyển đổi sang nuôi tôm nên điều kiện phát triển đàn heo, đàn gia cầm không cònthế mạnh như trước, đặc biệt đàn gia cầm đã giảm nhanh trong 4 năm gần đây do dịchcúm gia cầm
+ Đàn heo: đàn heo giảm từ 285.830 con năm 2000 xuống còn 245.924 con năm
2005, do đàn heo đang bị dịch bệnh tai xanh, năm 2008 giảm xuống còn 197.682 con vàđến năm 2010 đàn heo được khôi phục 217.662 con) Các huyện có đàn heo nhiều vẫn lànhững huyện có sản lượng lúa khá như Trần Văn Thời (năm 2005 có trên 75.000 con,năm 2008 còn 73.471 con và năm 2010 có 74.912 con), ở các huyện còn lại quy mô đànheo khoảng từ 10 - 24 nghìn con Heo nuôi chủ yếu theo quy mô hộ gia đình, số hộ nuôiquy mô trang trại không nhiều (hiện tại toàn tỉnh chỉ có 08 hộ nuôi heo có quy mô kinh
tế trang trại (Nguồn: Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn).
+ Đàn gia cầm giảm sút rất nhanh, từ 2,8 triệu con năm 2000 giảm xuống còn 647nghìn con vào năm 2005; đến năm 2010, đàn gia cầm được cải thiện và đạt 1.465 nghìncon Gia cầm được nuôi chủ yếu ở các huyện Trần Văn Thời (trên 673 nghìn con), cáchuyện Thới Bình, Đầm Dơi, U Minh và Phú Tân, mỗi đơn vị khoảng trên 100 nghìn con
+ Đàn trâu hiện chỉ còn 421 con và tập trung ở các huyện: Thới Bình, U Minh,Trần Văn Thời và TP Cà Mau (so với gần 5.000 con vào năm 1995) do diện tích cóđiều kiện chăn thả thu hẹp (nước mặn) và do cơ khí hoá sản xuất nông nghiệp
Như vậy, quy mô sản xuất nông nghiệp đã giảm nhiều do chuyển đổi cơ cấu sảnxuất Nhưng hạn chế chủ yếu của ngành nông nghiệp là việc thay đổi cơ cấu cây trồngvật nuôi chậm, chưa đưa được những giống mới có giá trị và các ứng dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật vào sản xuất, diện tích sản xuất lúa luân canh trên đất nuôi tôm đạtthấp và sản xuất không ổn định do hệ thống thuỷ lợi chưa hoàn toàn chủ động trongviệc ngăn mặn, giữ ngọt, sản xuất còn phụ thuộc chủ yếu vào thời tiết Giá trị sản xuất/
ha đất canh tác nông nghiệp (không kể diện tích chuyên nuôi thủy sản) tăng chậm,bình quân khoảng 683 USD (11 triệu đồng)/ha năm 2000 tăng lên 815 USD (13 triệuđồng)/ha năm 2005 Giá trị tạo sản lượng/ha đất nông nghiệp của tỉnh thấp hơn khánhiều so với các địa phương khác trong cả nước
2.2.1.3 Lâm nghiệp:
Việc thực hiện đề án đổi mới tổ chức quản lý rừng và đất lâm nghiệp đã manglại những kết quả bước đầu, các lâm ngư trường đẩy nhanh công tác giao đất, giaorừng, sắp xếp ổn định dân cư, gắn với trách nhiệm bảo vệ và phát triển rừng, số vụ viphạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng giảm rõ rệt, công tác phòng chống cháy rừngđược chủ động, tăng cường Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định thành lập VQGMũi Cà Mau và VQG U Minh Hạ và đến năm 2009 đã được UNESCO công nhận làkhu dự trữ sinh quyển của Thế giới Các nguồn vốn đầu tư bảo vệ khôi phục rừng
Trang 27được huy động tích cực hơn, đặc biệt nguồn vốn ODA (Dự án quản lý bảo vệ và pháttriển các vùng đất ngập nước ven biển) đã giải quyết tái định cư được cho một sốlượng lớn các hộ dân trong khu vực rừng phòng hộ Trong 6 năm đã trồng mới vàkhoanh nuôi tái sinh trên 20.900 ha rừng, diện tích rừng tràm bị cháy năm 2002 đã cơbản được khôi phục, một số diện tích rừng được trồng theo hình thức thâm canh pháttriển tốt, cho năng suất cao Tổng diện tích có rừng tập trung năm 2005 là 97.328 ha,đến năm 2010 đạt 112.250 ha, nâng tỷ lệ che phủ rừng tập trung bằng 21,20% tổngdiện tích tự nhiên.
Bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất lâm nghiệp và công tác khôi phụcquản lý bảo vệ rừng cũng còn một số khó khăn, đó là:
+ Mục tiêu phát triển quỹ rừng đạt thấp, phần lớn các hộ chưa đảm bảo được tỷ
lệ quy định giữa trồng rừng và sản xuất ngư, nông kết hợp trong đất lâm nghiệp đượcgiao (do có nhiều hộ có diện tích dưới 3,0 ha)
+ Việc triển khai chủ trương tách sản xuất nông nghiệp ra khỏi rừng tràm, đấtnuôi tôm ra khỏi rừng ngập mặn vẫn còn lúng túng, thiếu kế hoạch và giải pháp cụ thể,nhiều hộ chưa đồng tình
+ Dân cư trong khu vực đất rừng còn phân tán, nhất là ở khu vực rừng tràm dophương thức giao đất khoán rừng cho các hộ trước đây theo hướng “liền canh - liền cư,liền ruộng - liền rừng”, dẫn đến sản xuất không bền vững, kém hiệu quả, dân cư phân tán.Đời sống các hộ dân làm nghề rừng còn khó khăn, chưa được giải quyết toàn diện vàđồng bộ, tỷ lệ hộ nghèo ở địa bàn các xã có rừng còn cao (ở khu vực rừng tràm trên 28%)
2.2.2 Khu vực kinh tế công nghiệp:
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Cà Mau trong những nămgần đây có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, năm 2005 đạt 6.542,8 tỷ đồng (giá cốđịnh 1994) tăng bình quân hàng năm giai đoạn 1996 - 2005 là 15,72%, trong đó giaiđoạn 2001 - 2005 tăng bình quân hàng năm 18,8%; đến năm 2010 đạt 15.516,5 tỷ đồng,tăng 19,04% so với năm 2009 (do nhà máy Điện Cà Mau 1 và 2 đã đi vào hoạt động)
Số cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngày càng tăng, năm 2005toàn tỉnh có 2.727 cơ sở, đến năm 2010 có 5.135 cơ sở, trong đó, số cơ sở xay xát lúagạo và cơ khí phục vụ sản xuất nông nghiệp đã giảm rất nhiều sau khi chuyển đổi cơcấu sản xuất nông nghiệp Tuy vậy, năng lực sản xuất công nghiệp của tỉnh vẫn tănglên đáng kể, nhất là công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu Các cơ sở sản xuất côngnghiệp tập trung chủ yếu ở khu vực TP Cà Mau (chiếm 39%), ở các huyện U Minh,Thới Bình, Trần Văn Thời có số lượng cơ sở khá hơn, các huyện còn lại số lượng cơ
sở công nghiệp không nhiều
Số lao động trong ngành công nghiệp tăng chậm, sau 15 năm số lao động côngnghiệp chỉ tăng thêm 19.789 người (từ 15.353 người năm 1995 lên 26.252 người năm
2005, đến năm 2010 là 35.142 người), trong đó, chủ yếu là lao động chế biến thủy sản
Về cơ cấu ngành công nghiệp, công nghiệp chế biến vẫn chiếm tỷ trọng tuyệtđối (năm 2000 chiếm 99,73%, năm 2005 chiếm 98,9% và đến năm 2009 chỉ còn53,43%), trong đó, chế biến lương thực thực phẩm có tỷ trọng rất cao trong côngnghiệp chế biến do công nghiệp chế biến thủy hải sản phát triển mạnh (năm 2000 chiếm
tỷ trọng 89,62%, năm 2005 chiếm 97,21% và đến năm 2010 còn 95,25%) Tuy nhiên,đến năm 2010 thì công nghiệp chế biến chỉ chiếm 48,75% trong cơ cấu ngành côngnghiệp và thay vào đó là công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, hơi nước,
Trang 28nước nóng và điều hòa không khí với tỷ lệ đóng góp chiếm 51,02% trong toàn ngànhcông nghiệp do sự góp phần của nhà máy Điện Cà Mau 1 và 2
Về phân bố sản xuất công nghiệp: Đến nay đã hình thành một số cụm côngnghiệp như: Phường 8 thành phố Cà Mau, Hoà Trung huyện Cái Nước, huyện Năm Căn,khu Sông Đốc huyện Trần Văn Thời Đây là cơ sở để quy hoạch hình thành các khu,cụm công nghiệp tập trung Cụm công nghiệp Khí - Điện - Đạm ở xã Khánh An, huyện
U Minh đã được đầu tư đưa vào sử dụng và khu công nghiệp Khánh An được Thủ tướngcho phép xây dựng là điều kiện quan trọng để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và tỷ trọngngành công nghiệp của tỉnh trong thời gian tới
2.2.3 Khu vực kinh tế dịch vụ:
Kinh tế dịch vụ thời gian qua có bước phát triển khá nhanh, đóng góp tích cựcvào phát triển kinh tế, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu sản xuất kinh doanh và đời sốngnhân dân Tổng giá trị tăng thêm các ngành dịch vụ năm 2005 đạt 2.118 tỷ đồng, đếnnăm 2010 đạt 3.968,8 tỷ đồng (giá so sánh năm 1994), tăng bình quân giai đoạn 2005 -
2010 14,33%, giai đoạn 2001 - 2010 tăng 17,79% (cao gấp 1,03 lần tốc độ tăng trưởngchung của nền kinh tế tỉnh) Mức độ đóng góp của ngành dịch vụ vào tăng trưởngGDP hàng năm của tỉnh đạt khá cao, chiếm từ 23,8 - 27,7% trong tăng trưởng kinh tếcủa tỉnh
Cơ cấu các ngành dịch vụ đã có sự chuyển dịch, bên cạnh các ngành dịch vụtruyền thống đã hình thành và phát triển một số ngành dịch vụ mới như bảo hiểm, muabán và thanh toán nợ, kinh doanh bất động sản… Tuy nhiên, các ngành dịch vụ truyềnthống vẫn chiếm tỷ trọng cao, cụ thể năm 2010, thương mại chiếm 85,08%, khách sạnnhà hàng 9,54%, vận tải chiếm 3,6%
2.2.3.1 Thương mại:
+ Nội thương: khối lượng hàng hoá lưu thông tăng liên tục với tốc độ cao, với sự
tham gia của tất cả các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân Số cơ sở kinh doanhthương mại và dịch vụ ngày càng tăng và tập trung chủ yếu ở thành phố Cà Mau Trênđịa bàn tỉnh đã hình thành 03 trung tâm thương nghiệp lớn là Cà Mau, Năm Căn vàSông Đốc, cùng với hệ thống chợ phân bố trên địa bàn các huyện, thành phố Phươngthức kinh doanh ngày càng đa đạng, mạng lưới kinh doanh rộng khắp đến các vùngnông thôn ven biển Công tác quản lý thị trường có nhiều cố gắng, đã cơ bản bình ổn thịtrường, không để xảy ra sốt giá các mặt hàng thiết yếu Tổng mức bán lẻ hàng hoá vàdịch vụ năm 2005 đạt 7.583,6 tỷ đồng, đến năm 2010 đạt 24.244,8 tỷ đồng, tăng bìnhquân hàng năm giai đoạn 2005 - 2010 là 24,08%, giai đoạn 2001 - 2010 tăng bình quân23,68% Mức bán lẻ hàng hoá dịch vụ bình quân đầu người đã tăng từ 2,4 triệuđồng/người năm 2000 lên 6,2 triệu đồng/người năm 2005, đến năm 2010 đạt 20 triệuđồng/người
+ Hoạt động xuất khẩu tăng nhanh, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là thủy sản,gạo; thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, đến nay đã xuất khẩu sang 40nước cho trên 100 bạn hàng Thông qua công tác xúc tiến thương mại và diễn biến tìnhhình thực tế đã chủ động điều chỉnh cơ cấu thị trường xuất khẩu phù hợp
Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, năm 2005 đạt 521 triệu USD, đến năm
2010 đạt 856 triệu USD, tăng bình quân hàng năm 11,01%, giai đoạn 2001 - 2010 tăngbình quân hàng năm 15,58% Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người năm 2005 đạt
Trang 29422 USD (so với bình quân cả nước là 390 USD/người và vùng ĐBSCL là 175 USD),đến năm 2010 đạt 706,4 triệu USD/người (so với bình quân vùng ĐBSCL là 390,4 USD).
2.2.3.2 Du lịch:
Đến nay, tỉnh đã quy hoạch đầu tư một số khu du lịch như: Đất Mũi Cà Mau,bãi biển Khai Long, cụm du lịch đảo Đá Bạc, rừng ngập mặn Mũi Cà Mau, Lâm ngưtrường 184, Lâm ngư trường Sông Trẹm, VQG U Minh Hạ… Hệ thống khách sạn, nhàhàng được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp bằng vốn của các thành phần kinh tế; đếnnăm 2010 toàn tỉnh có 42 khách sạn với tổng số 1.162 phòng, chủ yếu là khách sạnquy mô vừa và nhỏ (từ 10 - 65 phòng/khách sạn)
Lượng khách du lịch tăng nhanh, từ 44,8 nghìn lượt người năm 1995 tăng lên 99,6nghìn lượt người năm 2000 và 451,3 nghìn lượt người năm 2005, đến năm 2010 đạt 571,3nghìn lượt người; tăng bình quân hàng năm 14,34%, trong đó, giai đoạn 2001 - 2010 tăng23,76% Chủ yếu là khách du lịch nội địa, còn lượng khách quốc tế đạt thấp (năm 1995đạt 6.850 lượt người, năm 2000 đạt 4.000 lượt người và tăng dần qua những năm gần đây(năm 2005 đạt 5.129 lượt người, năm 2010 đạt 9.285 lượt người)) Tỷ lệ khách du lịch cólưu trú ngày càng tăng, năm 2005 là 87,5%, đến năm 2010 là 100% Tổng thời gian kháchlưu trú năm 2005 đạt 452.370 ngày, đến năm 2010 đạt 645.450 ngày, tăng bình quân hàngnăm 28,37% Thời gian lưu trú bình quân/lượt khách tăng dần, riêng khách quốc tế tăng từ1,3 ngày/lượt khách năm 1995 lên 1,47 ngày/lượt khách năm 2000 và đạt 1,6 ngày/lượtkhách năm 2005 nhưng đến năm 2010 là 1,13 ngày/lượt khách
Tuy nhiên, việc đầu tư khai thác tiềm năng du lịch trong tỉnh mới ở bước đầu, dulịch Cà Mau chưa tạo được thương hiệu riêng, lượng khách quốc tế, khách ngoài tỉnhđến Cà Mau còn ít, số ngày lưu trú bình quân thấp Hoạt động kinh doanh du lịch chưađồng bộ, sản phẩm du lịch chưa phong phú, ngoài dịch vụ lưu trú và ăn uống thì cáckhách sạn ở Cà Mau có rất ít các dịch vụ bổ sung Tốc độ tăng doanh thu du lịch nhanhnhưng quy mô còn nhỏ, mức đóng góp cho nền kinh tế chưa nhiều Việc liên kết hoạtđộng giữa du lịch và các ngành khác chưa đồng bộ, sự phối hợp với các tỉnh, các doanhnghiệp du lịch ngoài tỉnh để khai thác du lịch chưa được chú trọng Nguồn nhân lực làm
du lịch của tỉnh còn hạn chế về kỹ năng giao tiếp, ý thức phục vụ khách, ngoại ngữ
2.2.3.3 Dịch vụ vận tải:
Cà Mau là tỉnh đặc trưng của vùng sông nước với hệ thống sông ngòi chằng chịt, vìvậy đã tạo điều kiện cho vận tải đường thủy trong tỉnh phát triển mạnh với 6.561 phươngtiện vận tải hàng hoá, 8.511 phương tiện vận chuyển hành khách và 16.802 phương tiệnthủy gia dụng; vận tải đường bộ bước đầu phát triển với trên 1.398 phương tiện ôtô vận tảihàng hoá, vận chuyển hành khách với 2.196 phương tiện ôtô, vận tải hàng không vớituyến bay Cà Mau - Thành phố Hồ Chí Minh là một thuận lợi lớn, cơ bản đáp ứng đượcnhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá, chất lượng dịch vụ vận tải ngày càng được nânglên Khối lượng vận chuyển hành khách năm 2005 đạt trên 34,7 triệu lượt người, năm
2010 đạt 33,9 triệu lượt người, tăng bình quân hàng năm 1,07%, luân chuyển hành kháchnăm 2005 đạt trên 985,3 triệu lượt người.km, năm 2010 đạt 934,6 triệu lượt người.km,tăng bình quân 3,85% Khối lượng vận tải hàng hoá năm 2005 đạt 684 nghìn tấn, năm
2010 đạt 808 nghìn tấn, giảm bình quân 4,1% (không kể khối lượng vận tải hàng hoá vàhành khách do các đơn vị ngoài tỉnh thực hiện) Giao thông nội ô TP Cà Mau chủ yếubằng phương tiện cá nhân, vận tải công cộng chỉ mới phát triển từ giữa năm 2009 với 36
xe buýt phục vụ, đến năm 2010 đã tăng lên 78 phương tiện
Trang 302.2.3.4 Các dịch vụ tà quy mô diện tích các loại đất ở Cà Maui chính ngân hà quy mô diện tích các loại đất ở Cà Maung, bảng 1: Phân loại và quy mô diện tích các loại đất ở Cà Mauo hiểm, tư vất ở Cà Maun, văn hoá thể thao…
Các loại hình dịch vụ này trong thời gian qua đều có bước phát triển, cơ bảnđáp ứng các yêu cầu sản xuất và đời sống nhân dân
+ Dịch vụ ngân hàng đã cơ bản đáp ứng yêu cầu về vốn và thanh toán cho pháttriển sản xuất kinh doanh, với chất lượng dịch vụ cao, đảm bảo chính xác, an toàn vàbảo mật, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn của nền kinh
tế được liên tục; các dịch vụ mới như thẻ thanh toán, chuyển tiền điện tử, thanh toán liênngân hàng điện tử đã phát triển rất nhanh Các tổ chức tín dụng đã cơ bản đáp ứng nhucầu đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế, nhất là cho vay chuyển đổi cơ cấukinh tế, thu mua hàng thủy sản xuất khẩu; doanh số cho vay tín dụng trung và dài hạnnăm 2005 là 743,718 tỷ đồng, đến năm 2010 là 2.465 tỷ đồng, tăng bình quân 27,23%
+ Các dịch vụ tài chính như dịch vụ kế toán, kiểm toán, thẩm định giá, xổ sốkiến thiết, hoạt động có hiệu quả, đóng góp đáng kể nguồn thu ngân sách địa phương(thu từ xổ số kiến thiết)
+ Dịch vụ bảo hiểm đã cơ bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cánhân tham gia bảo hiểm, góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nềnkinh tế xã hội, ổn định đời sống nhân dân
2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập:
Dân số trung bình tỉnh Cà Mau năm 2010 là 1.212.089 người; tỷ lệ tăng dân sốbình quân giai đoạn 2005 - 2010 là 13,53‰/năm, tổng dân số so với năm 2005 tăng2,47%; trong đó, nữ 602.779 người, chiếm 49,73% tổng dân số, giảm 2,28% so vớinăm 2005 Mật độ dân số 229 người/km2, so với năm 2005 giảm 2,14%, dân số đượcphân bố tại 02 khu vực rõ rệt: Khu vực thành thị dân số 260.475 người, chiếm 21,49%tổng dân số Khu vực nông thôn có 951.614 người, chiếm 78,51% tổng dân số
Bảng 5: Phân bố dân số tỉnh Cà Mau theo huyện, thành phố năm 2010
STT Đơn vị hành chính
Hiện trạng năm 2010 Tổng số dân
(người)
Diện tích tự nhiên (km 2 )
Mật độ (người/km 2 ) Tỉnh Cà Mau 1.212.089 5.294,87 229
Trang 31Số lượng lao động qua đào tạo và được giải quyết việc làm trong thời gian quangày càng tăng, năm 2005 đã có 26.950 lao động được giải quyết việc làm, đến năm
2010 có 32.960 lao động được giải quyết việc làm, tăng 22,3% so với năm 2005
Mức sống dân cư trong tỉnh tiếp tục được cải thiện, thu nhập bình quân theo giá hiệnhành năm 2010 đạt 19,99 triệu đồng/người/năm, tăng gấp 2,16 lần so với năm 2005.Thu nhập bình quân đầu người tiếp tục tăng, đời sống các tầng lớp dân cư ngàycàng được cải thiện Số hộ nghèo tiếp tục giảm đáng kể, đến năm 2010 tỉ lệ hộ nghèotrong tỉnh giảm còn 12,14% so với 19% năm 2005 (nhưng tỷ lệ hộ nghèo năm 2010được xác định theo tiêu chí mới), chênh lệch thu nhập bình quân giữa nghèo và giàu có
xu hướng được rút ngắn nhưng vẫn còn cao
2.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn:
Hệ thống đô thị trên địa bàn tỉnh gồm có 01 thành phố, 09 thị trấn, trong đó: có
01 đô thị đạt tiêu chuẩn đô thị loại II và 09 đô thị đạt tiêu chuẩn đô thị loại V Diệntích đất đô thị năm 2010 có 29.666 ha, chiếm 5,6% diện tích tự nhiên của tỉnh Dân số
đô thị có 260.475 người, chiếm 21,49% tổng dân số toàn tỉnh, bình quân diện tích đất
đô thị là 1.138,9 m2/người
Nhìn chung, đặc điểm hệ thống đô thị của tỉnh là quy mô diện tích lớn, đất xâydựng đô thị không tập trung, thường phát triển theo các tuyến giao thông và kênh rạch.Ngoài TP Cà Mau được quy hoạch khá đồng bộ còn lại hầu hết các đô thị khác đangđược thực hiện, tỷ lệ đất nông nghiệp trong khu đô thị chiếm trên 50% diện tích tựnhiên Hạ tầng đô thị TP Cà Mau và một số thị trấn huyện lỵ như: Năm Căn, ĐầmDơi, Cái Đôi Vàm, Cái Nước, Trần Văn Thời… từng bước được đầu tư xây dựngchỉnh trang, nhiều dự án hạ tầng khu dân cư đang được triển khai
Các khu dân cư nông thôn của tỉnh mang những nét đặc thù của ĐBSCL với 02hình thái chính là phân bố dọc theo các tuyến kênh rạch, các tuyến giao thông và phân
bố tập trung thành các cụm điểm tại các đầu mối giao thông, kênh rạch lớn và quanhcác đô thị Trong những năm qua hệ thống hạ tầng cơ sở như: giáo dục, y tế, thông tinliên lạc, điện, nước sạch… từng bước đã được quan tâm đầu tư Tuy nhiên, do hệthống dân cư phát triển phân tán và tự phát nên hiệu quả đầu tư của các công trìnhchưa cao
2.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng:
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 06 năm 2005 - 2010 đạt 54.715 tỷ đồng,chiếm 52,43% GDP, tăng bình quân hàng năm 45,5% Riêng năm 2010, vốn đầu tưtoàn xã hội đạt 10.530 tỷ đồng, chiếm 43,47% GDP, tăng 18,35% so với năm 2009 Cơcấu nguồn vốn được đầu tư cải tạo nâng cấp và mở rộng kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội trong tất cả các lĩnh vực, tập trung nhất là giao thông, thuỷ lợi, lưới điện, hạ tầngthuỷ sản, trường học, hạ tầng đô thị… góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.Các lĩnh vực được tập trung đầu tư nhiều là NTTS, công nghiệp chế biến xuất khẩu,xây dựng kết cấu hạ tầng,… năng lực mới tăng thêm của các ngành, lĩnh vực đạt khá,góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
2.5.1 Giao thông:
Giao thông đường bộ:
Có 2 tuyến Quốc lộ 1A và QL 63 chạy qua tỉnh với tổng chiều dài QL chạy qua
là 108 km và tuyến Quản lộ Phụng Hiệp thuộc địa bàn tỉnh khoảng 8,0 km Hệ thống
Trang 32giao thông đường bộ từ tỉnh đến các huyện và các cụm, khu kinh tế với tổng chiều dài
525 km (hiện tại đã đầu tư nâng cấp trên 230 km đường về trung tâm huyện, theo tiêuchuẩn đường cấp V đồng bằng), còn lại là đường giao thông nông thôn Hệ thống giaothông đường bộ trong tỉnh Cà Mau thời gian qua có bước phát triển vượt bậc, đáp ứngngày càng tốt hơn nhu cầu đi lại của người dân trong vùng và khu vực, các tuyến QL,đường đến trung tâm các huyện, các cụm kinh tế ven biển, đến trung tâm các xã được ưutiên đầu tư xây dựng, nâng cấp Đến nay đã cơ bản hoàn thành dự án QL 1A, tuyếnđường Cà Mau - Tắc Thủ, Tắc Thủ - U Minh - Khánh Hội, Tắc Thủ - Vồ Dơi - CoXáng, Tắc Thủ - Rạch Ráng - Sông Đốc, Láng Trâm - Thới Bình, Cái Nước - Đầm Dơi;đang tiếp tục xây dựng các tuyến: Cái Nước - Vàm Đình - Cái Đôi Vàm, cầu Lương ThếTrân - Đầm Dơi … Tuy nhiên, đến nay vẫn còn huyện Ngọc Hiển chưa có đường ô tôđến trung tâm huyện và các xã trong huyện
Hệ thống bến bãi, cảng và sân bay:
Trong những năm gần đây với nhu cầu đi lại của người dân trong khu vực ngàycàng tăng, bên cạnh việc gia tăng số lượng phương tiện giao thông phục vụ đi lại thì hệthống bến bãi cũng ngày càng được cải thiện và nâng cấp
- Về bến xe: Có 02 bến xe tại TP Cà Mau với diện tích hiện trạng là 3,6 ha
- Bến tàu thuyền: Hiện tại có 03 bến tàu thủy và 01 bến xếp dỡ hàng hoá tại TP
Cà Mau và 23 bến tàu thuyền tại các huyện
- Về sân bay, bến cảng: Cà Mau có 02 sân bay là sân bay Cà Mau và sân bayNăm Căn, với hệ thống bến cảng phục vụ vận tải, sản xuất công nghiệp và hậu cần nghề
cá như: cảng Năm Căn, cảng cá Cà Mau, cảng cá Sông Đốc
Giao thông đường thuỷ:
Với đặc thù là vùng sông nước nên hệ thống giao thông đường thuỷ của tỉnhkhá phát triển: Cà Mau có 02 tuyến giao thông đường thuỷ đối ngoại quan trọng nhấttrong tỉnh là tuyến Cà Mau - TP Hồ Chí Minh, Quản Lộ - Phụng Hiệp và tuyến CàMau - Bạc Liêu có thể cho các tàu có trọng tải 1.000 tấn lưu thông thuận lợi Với cácphương tiện vận tải thủy từ Cà Mau đi trung tâm các huyện, đến Mũi Cà Mau, cáctrung tâm kinh tế, cụm dân cư: Rạch Gốc, Gành Hào, Bồ Đề, Sông Đốc, Khánh Hội vàluồng tàu biển thị trấn Năm Căn - cửa Bồ Đề… rất dễ dàng Hệ thống giao thôngđường thuỷ nội tỉnh có mật độ phân bố khắp nơi trong tỉnh, nơi rộng nhất 40 - 50 m,hẹp nhất là 10 m Các tuyến giao thông đường sông được phân bố thành các tuyếnchính, liên hệ với nhau bằng các tuyến ngang, dọc Tùy theo tuyến sông mà cácphương tiện tàu thuyền có trọng tải từ 300 - 1.000 tấn có thể đi lại thuận tiện Songsong với phát triển hệ thống giao thông đường thuỷ, tỉnh Cà Mau còn chú trọng pháttriển hệ thống bến cảng, trong đó, ở mỗi huyện đã hình thành một bến tàu khách cùngcác bến tàu vừa và nhỏ phân bố rộng khắp ở các tuyến kênh nhằm đáp ứng nhu cầuvận tải trong và ngoài tỉnh được thuận lợi
2.5.2 Thủy lợi:
Thủy lợi có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sản xuất ngư - nông - lâm nghiệp ởvùng Cà Mau, một vùng ảnh hưởng mạnh mẽ của hệ thống thủy triều Trong nhữngnăm qua, mục tiêu cơ bản của thủy lợi là xây dựng hệ thống giữ, cung cấp nước ngọt
và tiêu úng xổ phèn để sản xuất thâm canh lúa Do đó, nhiều công trình thủy lợi đầumối, như đê biển, đê sông, hệ thống kênh trục, kênh cấp II, cống thủy lợi phục vụtrồng lúa được đầu tư khá đồng bộ Từ sau Miền Nam giải phóng, 1975 đến nay tỉnh
Trang 33Cà Mau đã đầu tư đào đắp, bồi trúc hơn 600 km đê biển và đê sông lớn, đào mới vànạo vét khoảng 1.537 km kênh cấp I, trên 17.000 km kênh cấp II và cấp III, xây dựng,duy tu 90 cống vừa và nhỏ, hơn 400 cống thời vụ Xây dựng được hệ thống kênhmương bờ bao chống cháy rừng tràm dài trên 1.200 km Tuy nhiên, nhiều công trìnhthủy lợi chưa được xây dựng kiên cố, hệ thống ngăn mặn theo các vùng sản xuất chưađược khép kín, vì vậy chưa đảm bảo cho sản xuất.
Mặt khác, trong những năm gần đây, phong trào chuyển đổi phương hướng sảnxuất từ trồng lúa và một số mô hình sản xuất sinh thái ngọt sang nuôi trồng thủy sản hệsinh thái mặn, lợ trên diện rộng thì hệ thống thủy lợi hiện tại không còn phù hợp vàkhông thể phục vụ được yêu cầu sản xuất Vì vậy, để phục vụ sản xuất theo phương thứcmới thì phải cải tạo và xây dựng hệ thống thủy lợi chuyển đổi theo cơ cấu sản xuất Hệthống thuỷ lợi tỉnh Cà Mau đã được quy hoạch từ năm 2000 và được chia thành 23 tiểuvùng sản xuất (với 05 tiểu vùng phía Bắc Cà Mau và 18 tiểu vùng phía Nam Cà Mau),đến nay dự án thuỷ lợi các tiểu vùng phục vụ chuyển đổi sản xuất hầu hết đã được lậpnhưng đến nay chỉ có 02 tiểu vùng được khép kín (tiểu vùng 3 Bắc Cà Mau và tiểu vùng
2 Nam Cà Mau) do thiếu nguồn vốn, chủ yếu mới tập trung nạo vét kênh thuỷ lợi Trong
6 năm đã nạo vét trên 700 công trình kênh phục vụ nuôi tôm và nuôi tôm kết hợp trồnglúa, phục vụ phòng chống cháy rừng với số vốn trên 500 tỷ đồng Hạ tầng phục vụ kinh
tế thuỷ sản được quan tâm đầu tư, trong 6 năm đã đầu tư trên 900 tỷ đồng để xây dựngcác công trình hạ tầng nghề cá, xây dựng nâng cấp các nhà máy chế biến thuỷ sản, đầu
tư chiều sâu máy móc thiết bị …
2.5.3 Giáo dục và đào tạo:
Số lượng học sinh các ngành học, bậc học trong các năm học qua khá ổn định.Học sinh mầm non có tăng nhưng còn chậm, tỷ lệ huy động trẻ đi nhà trẻ, mẫu giáo từnăm 2005 - 2010 trung bình đạt 7,86% Đến cuối năm 2008, tỉnh Cà Mau đã được BộGiáo dục và Đào tạo công nhận tỉnh đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học
cơ sở và đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi
Chương trình kiên cố hoá trường học, lớp học được triển khai thực hiện từ năm
2001 và tiến triển rất nhanh, đến nay đã cơ bản giải quyết được số phòng học bằng cây
lá tạm, nhiều trường học đã thực hiện tầng hoá Đến năm 2010, trong số 6.741 phònghọc của tỉnh đã có trên 45% số phòng được xây dựng kiên cố, 55% bán kiên cố vàkhông còn phòng học cây lá tạm, tính đến năm 2010 toàn tỉnh đã có 39 trường đạt chuẩnquốc gia, bằng 8,14% tổng số trường học các cấp
Công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục và đào tạo được thực hiện khá tốt, đạthiệu quả ngày càng cao Cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường đã được tăng cường mộtbước đáng kể Mục tiêu xây dựng phòng học kiên cố, bán kiên cố, xoá phòng học 03
ca và cây lá tạm đã và đang thực hiện có kết quả
Chất lượng giáo dục các ngành học, bậc học đều có chuyển biến tích cực Vấn
đề chăm sóc, nuôi dạy trẻ tại các cơ sở giáo dục mầm non ngày càng tốt hơn, tỷ lệ trẻ
em suy dinh dưỡng giảm dần qua các năm Tỷ lệ học sinh phổ thông xếp loại học lựckhá, giỏi, trúng tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệpđược nâng lên, đã liên kết mở các lớp đào tạo từ Trung học chuyên nghiệp, dạy nghềđến Đại học
Bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành giáo dục và đào tạo của tỉnh cònnhững khó khăn, yếu kém như: tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường ở các
Trang 34cấp học chưa đạt so với chỉ tiêu đề ra, tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học tuy có giảm nhưngvẫn còn cao Hiệu quả giáo dục còn thấp, giáo dục chuyên nghiệp chưa phát triển, chấtlượng đào tạo hạn chế, nguồn nhân lực qua đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển.
tư nhân được quản lý đúng quy định
Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu chonhân dân được thực hiện tốt Chủ động phòng chống dịch bệnh, các chương trình mụctiêu quốc gia đã được triển khai có hiệu quả Các bệnh dịch nguy hiểm đã được khốngchế và đẩy lùi, tỷ lệ tiêm chủng mở rộng trẻ em dưới 1 tuổi đạt trên 98% Hệ thốngkhám chữa bệnh được đầu tư nâng cấp, nhiều kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị
đã được áp dụng Công tác truyền thông dân số, kế hoạch hoá gia đình và chăm sócsức khoẻ sinh sản có nhiều chuyển biến tích cực Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinhdưỡng đến năm 2010 giảm còn 18% so với 22% năm 2005
Mặc dù vậy, ngành y tế tỉnh Cà Mau còn gặp phải những vấn đề khó khăn như:tình trạng hoạt động quá tải của các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện chưa giải quyếttriệt để; cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế còn thiếu và lạc hậu, quản lý hành nghề ydược tư nhân chưa được kiểm soát chặt chẽ
2.5.5 Văn hóa:
Hoạt động văn hoá thông tin đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địaphương, hiệu lực quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hoá thông tin được tăng cường.Các công trình văn hoá, các thiết chế văn hoá từng bước được đầu tư xây dựng, mứchưởng thụ văn hoá của các tầng lớp nhân dân ngày một nâng lên Công tác bảo vệ, pháthuy các giá trị văn hoá dân tộc được chú trọng, xã hội hoá hoạt động văn hoá tiếp tụcphát triển, huy động nhiều nguồn lực cho phát triển sự nghiệp văn hoá thông tin
Công tác xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở tiếp tục được đẩy mạnh, phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đã triển khai rộng khắp trong tỉnh với
mô hình gia đình văn hoá; ấp - khóm văn hoá; xã - phường - thị trấn văn hoá Đã triểnkhai mô hình văn hoá cấp huyện, thành phố Đời sống văn hoá ở cơ sở có bước chuyểnbiến tích cực, nhiều công trình văn hoá, thiết chế văn hoá được đầu tư xây dựng chủ yếubằng nguồn vốn đóng góp của nhân dân Đến năm 2010, toàn tỉnh có 87% hộ gia đình;84% khóm, ấp; 42% xã, phường, thị trấn được công nhận đạt chuẩn văn hoá
Công tác thông tin tuyên truyền được chú trọng, hệ thống thông tin đại chúng
đã có bước phát triển mạnh mẽ, toàn diện cả về quy mô, trình độ kỹ thuật và công nghệ;hình thức, nội dung tuyên truyền ngày càng được khẳng định Cơ sở vật chất, công trìnhvăn hoá, thiết chế văn hoá như: thư viện, nhà văn hoá thiếu nhi, các khu di tích lịch sử,
Trang 35tượng đài, bia tưởng niệm, trung tâm văn hoá thể thao cấp huyện, xã… từng bước đượcđầu tư xây dựng, góp phần nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân.
Tuy nhiên, lĩnh vực văn hoá thông tin còn nhiều mặt hạn chế như: phong trào
“Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” ở một số nơi hiệu quả còn thấp, chấtlượng chưa tương xứng với tiêu chuẩn quy định, có nhiều trường hợp còn chạy theo sốlượng và hình thức Thiết chế văn hoá từ tỉnh đến cơ sở chưa được đầu tư đúng mức
2.5.6 Thể dục - thể thao:
Phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” đã triểnkhai đạt được kết quả tốt với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, thu hút đông đảoquần chúng nhân dân tham gia, số người tham gia tập luyện thường xuyên tăng nhanh,đến năm 2010 tỷ lệ dân số tham gia luyện tập thể dục thể thao thường xuyên đạtkhoảng 24,5%, có 20% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao, số môn được thamgia tập luyện ngày càng mở rộng như: tập dưỡng sinh, đá cầu, đi bộ, xe đạp, thể dụcthể hình, thể dục thẩm mỹ…
Công tác rèn luyện thể chất trong các trường học được quan tâm, phong trào thểthao quần chúng phát triển mạnh mẽ đã thu hút nhiều thành phần, lứa tuổi trong toàn
xã hội tham gia Thể thao có thành tích cao đạt các giải thứ hạng ngày càng nhiều đãthúc đẩy các phong trào tập luyện phát triển mạnh mẽ Cơ sở vật chất của ngành đượcquan tâm đầu tư, đã hoàn thành một số công trình đưa vào sử dụng
Tuy nhiên, các công trình văn hoá thể thao nhìn chung chưa đáp ứng yêu cầu cả
về số lượng và chất lượng Tình hình xã hội hoá chưa cao, ứng dụng khoa học côngnghệ còn chậm Số lượng và quy mô sân bãi chưa đáp ứng yêu cầu tập luyện và giải trícủa nhân dân, nhiều huyện chưa có sân văn hoá thể thao tổng hợp, phần lớn các xãchưa có sân bóng đá
2.5.7 Năng lượng:
Nguồn điện và lưới điện trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong thời gian qua đã đượccủng cố phát triển, đến nay cơ bản đã đảm bảo cung cấp điện phục vụ sản xuất và sinhhoạt, sản lượng điện sản xuất đến năm 2010 đạt 9 tỷ KWh, tăng 1,42 lần so với năm
2009 Chương trình điện khí hóa nông thôn được triển khai tích cực, tỷ lệ hộ dân sửdụng điện đến năm 2010 đạt 91,5%, tăng 12% so với năm 2005, đạt mục tiêu kế hoạch
Tuy nhiên, việc sử dụng điện trên địa bàn tỉnh còn thiếu nguồn cung cấp, dovậy, còn phải khống chế công suất tiêu thụ trong giờ cao điểm Chất lượng điện ápchưa ổn định, giờ cao điểm nhiều nơi không sử dụng được điện lưới và thường xảy ratình trạng mất điện, phải chạy máy phát điện dự phòng Hệ thống lưới điện chưa đạttiêu chuẩn, nhiều hộ còn sử dụng chung một đường dây; độ dài từ trục hạ thế vào nơitiêu thụ còn quá dài gây ra giảm áp Tốc độ điện khí hoá nông thôn chậm, tỷ lệ hộ sửdụng điện vào loại thấp so với khu vực ĐBSCL và cả nước An toàn điện nông thôn
Trang 36chưa đảm bảo còn xảy ra nhiều tai nạn, tình trạng đấu nối điện bất hợp pháp chưa đượckiểm tra xử lý triệt để.
2.5.8 Bưu chính viễn thông:
Hệ thống mạng lưới bưu chính trong tỉnh đã cơ bản đảm bảo phục vụ nhu cầuphát triển kinh tế - xã hội và nguyện vọng của nhân dân Toàn tỉnh hiện có 944 kmđường thư với 51 tuyến được nối liền với các tỉnh và các huyện trong tỉnh Các hànhtrình vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện, báo chí, thư liên tỉnh, nội tỉnh đều ổn định Côngtác phát hành báo chí ngày càng phát triển, một số tờ báo chính được phát hành đến100% số xã, phường Dịch vụ chuyển tiền nhanh, chuyển phát nhanh và dịch vụ nhậngửi tiền tiết kiệm bưu điện được đưa vào khai thác có hiệu quả
Bưu chính viễn thông phát triển với tốc độ cao cả về mạng lưới và kết quả kinhdoanh dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc, phục vụ sản xuất sinh hoạt của nhândân, phục vụ cho công tác tuyên truyền, chỉ đạo lãnh đạo của các cấp, các ngành, gópphần đảm bảo an ninh quốc phòng Số thuê bao điện thoại tăng rất nhanh, nhất là trongnhững năm gần đây, tính đến năm 2009, toàn tỉnh có 1.038,9 nghìn máy điện thoạiđang hoạt động, đạt bình quân 86,06 máy/100 dân, đến năm 2010 tổng số thuê bao điệnthoại đạt 1.141,8 nghìn máy, bình quân đạt 94,2 máy/100 dân, tăng nhanh so với năm
2005 (bình quân tăng 13,96 máy/100 dân)
2.6 Quốc phòng, an ninh:
Cùng với phát triển kinh tế - xã hội, công tác quốc phòng, an ninh trên địa bàntỉnh Cà Mau thường xuyên được tăng cường và giữ vững, đạt kết quả quan trọng, tạo cơ
sở cho phát triển kinh tế - xã hội
Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong thời gian qua tiếp tục
ổn định Chế độ trực sẵn sàng chiến đấu từng cấp được duy trì đúng quy định Hàng nămluôn thực hiện tốt công tác xét tuyển nhập ngũ, đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, đã tổ chứcthành công các buổi diễn tập về phòng, chống gây rối, diễn tập tác chiến khu vực phòngthủ thành phố Cà Mau; phòng, chống lụt bão, diễn tập chiến đấu trị an tại nhiều xã,phường, thị trấn và tổ chức các đợt huấn luyện khác theo đúng kế hoạch Riêng tháng 10năm 2009, tỉnh đã tổ chức thành công diễn tập khu vực phòng thủ “CM-09” đảm bảođúng mục đích, yêu cầu đề ra
Thường xuyên củng cố và tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thếtrận an ninh nhân dân, nhất là ở địa bàn vùng ven biển, hải đảo; thường xuyên cảnh giác
và chủ động làm thất bại các âm mưu diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của các thế lựcthù địch Đời sống vật chất, tinh thần của lực lượng vũ trang cơ bản được bảo đảm
Việc kết hợp kinh tế với quốc phòng được thực hiện ở một số địa bàn, góp phầnphát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh ở các địa bàn quan trọng
Trang 37Công tác bảo đảm an ninh, phòng chống tội phạm được tăng cường, tuy vậytình hình an ninh nông thôn có lúc có nơi vẫn còn diễn biến phức tạp, cần tiếp tục tăngcường hơn nữa Tuy được các ngành chức năng thường xuyên tuyên truyền, nhắc nhởnhưng tình hình vi phạm của các tàu thuyền khai thác trên biển của ngư dân tỉnh vànước ngoài trong thời gian qua vẫn thường xuyên xảy ra
III ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG
Qua nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội như đã nêu trên, có một
số nhận định tổng quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và áp lực đối với đất đaitrong tỉnh Cà Mau như sau:
3.1 Thuận lợi:
Cà Mau là tỉnh nằm ở cực Nam của Tổ quốc, có 03 mặt giáp biển; có bờ biểndài nhất trong cả nước, với ngư trường rộng lớn và vị trí địa lý khá đặc biệt, vì vậy lợithế so sánh có tính chất nổi bật của tỉnh là khả năng phát triển kinh tế biển tổng hợpnhư: khai thác hải sản, dịch vụ kinh tế biển, vận tải biển, khai thác khí tự nhiên vàcông nghiệp sử dụng khí, du lịch sinh thái…
Trong quy hoạch của cả nước, Cà Mau nằm gọn trong vùng bán đảo Cà Mau.Tam giác công nghiệp Cà Mau - Cần Thơ - Kiên Giang, với cụm công nghiệp Khí -Điện - Đạm là bước đột phá, là động lực phát triển kinh tế tỉnh Cà Mau nói riêng vàtoàn khu vực ĐBSCL nói chung
Cà Mau là tỉnh có diện tích đất rừng ngập mặn và rừng tràm lớn nhất cả nước.Trong những năm qua, quỹ rừng bị suy giảm so với trước, nhưng nếu được quan tâmđầu tư đúng mức thì rừng sẽ thực sự là nguồn tài nguyên quý giá tạo sự phát triển bềnvững cho môi trường sinh thái và cho các ngành khác như: NTTS, du lịch
Nước mặn là nguồn tài nguyên vốn có của tỉnh, tạo cho tỉnh một thế mạnh vềNTTS Do đặc điểm của thủy triều biển Đông và biển Tây với địa hình bằng phẳng vàthấp cho nên nước mặn dễ dàng dẫn sâu vào nội đồng, tạo điều kiện cho Cà Mau trởthành tỉnh có khả năng NTTS rất lớn Đồng thời, Cà Mau lại là vùng có lượng mưa lớn,đây là nguồn cung cấp nước ngọt quan trọng phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất Nếuđược sử dụng có hiệu quả 02 nguồn nước mặn và nước mưa thì: một mặt sẽ làm tăng đadạng của các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp, mặt khác sẽ làm tăng năng suất cây trồng
và vật nuôi, mang lại hiệu quả sử dụng đất cao trên cùng một đơn vị diện tích
Với quỹ đất rộng, dân số chưa nhiều, tiềm năng khai thác còn rất lớn Bình quândiện tích tự nhiên, bao gồm đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất nông nghiệp đều cao
so với toàn quốc Ngược lại bình quân đất ở vào loại thấp
Trang 38Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời gian qua đang có chiềuhướng tích cực: Theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng côngnghiệp, xây dựng và dịch vụ trong GDP Đặc biệt là những thành công trong quá trìnhthực hiện chuyển dịch sản xuất của ngành nông nghiệp: từ cơ cấu nông - lâm - ngưnghiệp chuyển sang ngư - nông - lâm nghiệp.
3.2 Những khó khăn và thách thức:
Mang những nét đặc trưng của vùng ĐBSCL với hệ thống sông ngòi chằng chịt,thuận lợi cho phát triển hoạt động giao thông thủy… Tuy nhiên, đây cũng là những mặthạn chế do toàn tỉnh có nền móng địa chất rất yếu, là trở ngại lớn trong xây dựng cơ sở
hạ tầng, làm tăng cao suất đầu tư Mặc dù hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đã hìnhthành nhưng chưa đạt tiêu chuẩn và đang bị xuống cấp nghiêm trọng, đặc biệt là giaothông nông thôn, hệ thống thủy lợi, trạm, trại phục vụ sản xuất nông nghiệp và thủy sảncần được đầu tư xây dựng và nâng cấp
Quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất giữa trồng lúa và NTTS thời gian qua đãmang lại nhịp độ tăng trưởng cao, tuy nhiên còn diễn ra tự phát, bị động, làm ảnhhưởng đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chung của tỉnh Quy mô chuyển đổi pháttriển ồ ạt, không có kế hoạch trong khi hệ thống hạ tầng chưa phát triển kịp thời đồng
bộ, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Đồng thời để duy trì tốc độ tăng trưởng đòihỏi phải có nguồn vốn đầu tư lớn và tăng diện tích sản xuất (do thời gian qua vấn đềNTTS chủ yếu chỉ phát triển theo chiều rộng)
Những sản phẩm nông nghiệp (lúa gạo và thủy sản) là thế mạnh của tỉnh đangphải chịu sức ép lớn từ cạnh tranh ở các thị trường nội địa và quốc tế bởi mức phí thuếquan Nâng cao khả năng cạnh tranh là yêu cầu bức thiết song cũng là thách thức lớnđối với kinh tế của tỉnh khi tỷ lệ tích lũy nội bộ còn thấp
Giá trị sản lượng và hiệu quả kinh tế do sản xuất NTTS tăng đáng kể nhưng còntiềm ẩn nhiều rủi ro do thị trường không ổn định và thiếu tính bền vững Là vùng cómôi trường sinh thái rất nhạy cảm, tiềm ẩn những mâu thuẫn gay gắt vốn có, bất cứ sựkhai thác quá mức nào cũng dễ gây ra nguy hại
Tài nguyên đất chủ yếu là đất phèn và đất mặn, trong đó, chủ yếu là đất phèn, làmột trở ngại không nhỏ trong sử dụng và bảo vệ môi trường Môi trường bị ô nhiễm vànguy cơ ô nhiễm đang có xu thế gia tăng, trong khi khả năng kiểm soát rất hạn chế,việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản cũng như môi trường sinh thái chưa được chú trọngthỏa đáng Hệ thống dịch vụ thủy sản, đặc biệt là khu sản xuất, cung ứng giống và thức
ăn cho tôm cũng như việc phát hiện và xử lý khi tôm bị nhiễm bệnh còn thiếu
Trang 39- Kế hoạch số 01/KH-UB ngày 10/01/2005 của UBND tỉnh Cà Mau về triểnkhai thi hành Luật Đất đai.
- Quyết định số 379/QĐ-CTUB ngày 16/5/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh vềviệc Ủy quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo,người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài trênđịa bàn tỉnh Cà Mau
- Chỉ thị số 04/2005/CT-UB ngày 26/5/2005 của UBND tỉnh Cà Mau về việctăng cường công tác quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 34/2005/QĐ-UB ngày 27/5/2005 của UBND tỉnh Cà Mau vềviệc quy định quản lý hoạt động đo đạc và bản đồ trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 107/QĐ-CTUB ngày 25/7/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh vềviệc thành lập Ban Chỉ đạo rà soát điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho cáclĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao
- Quyết định số 02/2006/QĐ-UBND ngày 19/01/2006 của UBND tỉnh Cà Mau
về việc Ban hành Bảng giá cây trồng và vật nuôi trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 03/2006/QĐ-UBND ngày 19/01/2006 của UBND tỉnh Cà Mau
về việc Ban hành Bảng đơn giá xây dựng mới nhà ở và công trình, vật kiến trúc trênđịa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 24/2006/QĐ-UBND ngày 31/5/2006 của UBND tỉnh Cà Mau
về giá thu tiền thuê đất, thuê mặt nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 28/2005/QĐ-UB ngày 14/4/2005 của UBND tỉnh Cà Mau vềviệc quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau (năm 2005)
- Quyết định số 56/2005/QĐ-UB ngày 21/12/2005 của UBND tỉnh Cà Mau vềviệc quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 39/2006/QĐ-UB ngày 18/12/2006 của UBND tỉnh Cà Mau vềviệc quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 38/2007/QĐ-UB ngày 20/12/2007 của UBND tỉnh Cà Mau vềviệc quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau
Trang 40- Quyết định số 11/2008/QĐ-UBND ngày 13/5/2008 của UBND tỉnh Cà Mau
về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồiđất trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 14/2008/QĐ-UBND ngày 9/6/2008 của UBND tỉnh Cà Mau vềviệc ban hành Quy định về Ban hành quy trình tiếp nhận đơn, giải quyết tranh chấp,khiếu nại về đất đại trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 35/2008/QĐ-UB ngày 19/12/2008 của UBND tỉnh Cà Mau vềviệc quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 23/2009/QĐ-UB ngày 18/12/2009 của UBND tỉnh Cà Mau vềviệc quy định giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 01/2010/QĐ-UBND ngày 05/01/2010 của UBND tỉnh Cà Mau
về việc Quy định diện tích đất tối thiểu được phép sau khi tách thửa và cấp giấy chứngnhận quyền sử dụng đất sau khi tách thửa trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 05/01/2010 của UBND tỉnh Cà Mau
về việc Quy định hạn mức đất ở giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân tự xây dựng nhà ở
và hạn mức công nhận đất ở đối với thửa đất ở đối với thửa đất ở có vườn, ao trên địabàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 04/2010/QĐ-UBND ngày 29/01/2010 của UBND tỉnh Cà Mau
về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồiđất trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 03/2010/QĐ-UBND ngày 19/01/2010 của UBND tỉnh Cà Mau
về việc Ban hành Bảng giá cây trồng và vật nuôi trên địa bàn tỉnh Cà Mau
- Quyết định số 07/2010/QĐ-UBND ngày 27/4/2010 của UBND tỉnh Cà Mau
về việc Ban hành Bảng đơn giá xây dựng mới nhà ở và công trình, vật kiến trúc trênđịa bàn tỉnh Cà Mau
Ngoài các văn bản nêu trên, trong quá trình tổ chức thi hành Luật Đất đaiUBND tỉnh đã ban hành nhiều quyết định, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cho các cấp,các ngành tổ chức thực hiện
1.2 Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính:
Năm 2008, UBND tỉnh Cà Mau đã giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường làmchủ đầu tư Dự án xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hànhchính, lập bản đồ hành chính, Sở đã ký hợp đồng với Nhà xuất bản bản đồ chi nhánhphía Nam làm đơn vị thi công thực hiện Dự án Đến nay, đã hoàn thiện xong công tácngoại nghiệp và nội nghiệp đối với 3 cấp (tỉnh, huyện xã) và đang chuẩn bị bàn giaosản phẩm cho địa phương quản lý sử dụng
1.3 Công tác khảo sát đo đạc lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất:
- Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính: Đến nay, tỉnh Cà Mau đã thực hiện
hoàn thành công tác đo đạc bản đồ có toạ độ, thành lập hồ sơ địa chính cho 101/101 xãphường thị trấn với tổng diện tích đã đo đạc là 524.493,98 ha đạt 99,06% diện tích tựnhiên Các loại tỷ lệ bản đồ và diện tích đã đo đạc cụ thể như sau: Tỷ lệ 1: 500(4814,72 ha); tỷ lệ 1:1000 (10.549,98 ha); tỷ lệ 1: 2000 (14.402,37 ha); tỷ lệ 1: 5000