1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của đặc điểm giám đốc điều hành đến chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh

77 638 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 9,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy có thể thấy chất lượng báo cáo tài chính của mỗi doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp đại chúng luôn là mối quan tâm hàng đầu của không chỉ trong nội bộ doanh nghiệp mà còn

Trang 1

LÊ THỊ MẾN

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH C ỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN S Ở GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN

THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : KẾ TOÁN

Mã số : 60.34.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NG ƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS VÕ VĂN NHỊ

Trang 2

PH ẦN MỞ ĐẦU

1.Tính c ấp thiết của đề tài

Vai trò to lớn của báo cáo tài chính là cung cấp những thông tin tài chính ra bên ngoài

một cách kịp thời và hợp lý (Bolo và Hosseini 2007; Salehi và Azary, 2008) Chất lượng báo cáo tài chính ảnh hưởng nhiều tới các quyết định chiến lược của nhà quản

trị, và đặc biệt của các nhà đầu tư Các học giả như Bushman và Smith (2001), Healy

và Palepu (2001), Biddle và Hilary (2006),… đều cho rằng một báo cáo tài chính có

chất lượng cao sẽ làm gia tăng đầu tư hiệu quả Như vậy có thể thấy chất lượng báo cáo tài chính của mỗi doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp đại chúng luôn là mối quan tâm hàng đầu của không chỉ trong nội bộ doanh nghiệp mà còn của các đối tượng bên ngoài như nhà đầu tư, các nhà nghiên cứu

Không thiếu các hướng dẫn, những quy đinh về việc lập và trình bày báo cáo tài chính Cũng không khó để có thể hiều và thực hiện các hướng dẫn về việc lập và trình bày báo cáo tài chính Nhưng vẫn còn tồn tại những trường hợp lỗ giả lãi thật hoạc lãi giả lỗ

thật Không hẳn vì trình độ của kế toán viên, kiểm toán viên có hạn, không phải vì

quản trị công ty kém Mà đơn giản vì mục đích tư lợi của bản thân các giám đốc điều hành, họ chỉ định phải như thế, họ “phù phép” cho báo cáo tài chính theo ý của họ,… Các chuẩn mực kế toán và chính sách kế toán hay pháp luật nói chung cũng có thể chỉ

quản lý về mặt hành chính

Các vụ sụp đổ của các tập đoàn đa quốc gia như Enron, Woldcom, làm dấy lên lo

ngại về chất lượng báo cáo tài chính Vấn đề đặt ra không phải báo cáo đó có được

kiểm toán hay không, báo cáo đó có được lập bởi những người có chuyên môn nghiệp

vụ giỏi hay không, … mà là vấn đề đạo đức Cần thiết và cấp thiết rằng kế toán hành vi

phải quan tâm hơn đặc biệt là đặc điểm dẫn đến hành vi của các tổng giám đốc điều

Trang 3

hành (CEO) Chính vì vậy, luận văn hướng đến đề tài nghiên cứu: Tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch

chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”

2 M ục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận văn là đo lường sự tác động của các đặc điểm CEO chất lượng BCTC, qua đó kiến nghị những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng BCTC

Cụ thể, luận văn thực hiện nhằm đạt đến ba mục tiêu:

Luân văn hướng đến 2 mục tiêu chính:

Thứ nhất, đo lường sự tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính;

Thứ hai, đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính

Thứ ba, kiến nghị những giải pháp phù hợp từ kết quả nghiên cứu

3 Câu h ỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu như đã giới thiệu ở trên, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:

Câu h ỏi 1: Đặc điểm của CEO có thực sự tác động tới chất lượng báo cáo tài chính

hay không?

Trang 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là sự tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính

Ph ạm vi nghiên cứu

Các dữ liệu nghiên cứu được lấy từ báo cáo thường niên và báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong năm

2014 và 2015 Mẫu nghiên cứu không bao gồm các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh

vực tài chính như: ngân hàng, bảo hiểm, các quỹ đầu tư và các công ty chứng khoán

5 Phương pháp nghiên cứu

Trước tiên, luận văn sẽ sử dụng phương pháp định tính: tiến hành lược khảo các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu Sau đó, với phương pháp định lượng: luận văn khảo sát chất lượng thông tin thông qua việc xây dựng thang đo Ngoài ra, luận văn

sử dụng phương pháp thống kê và phương pháp ước lượng mô hình hồi quy thích hợp

nhằm đo lường tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính Trong

mô hình nghiên cứu, biến phụ thuộc được xác định là chất lượng báo cáo tài chính Và

biến độc lập được xác định là đặc điểm của CEO bao gồm: độ tuổi CEO, giới tính, nhiệm kỳ công tác, quyền kiêm nhiệm, giới tính, tỷ lệ sở hữu và trình độ học vấn của CEO

6 Đóng góp của nghiên cứu

Như mục tiêu nghiên cứu đã trình bày, trước nhất nghiên cứu bổ sung thêm vào hàng loạt các nghiên cứu trước đây về vấn đề kế toán hành vi, về đặc điểm của nhà

quản lý mà cụ thể là tổng giám đốc điều hành ảnh hưởng tới chất lượng báo cáo tài chính như thế nào Qua đó, cũng cung cấp thêm những cơ sở khoa học giúp các đối

Trang 5

tượng sử dụng báo cáo tài chính có thể đánh giá được chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp

7 K ết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, luận văn bao gồm 5 chương, cụ thể:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

báo cáo tài chính trên th ế giới

Hambrick và Mason (1984) lập luận rằng đặc điểm nhân khẩu học như kinh nghiệm,

độ tuổi, giới tính và sở hữu ảnh hưởng đến giá trị và cơ sở nhận thức của CEO và làm cho họ có những sự lựa chọn khác nhau, đặc biệt là trong những tình huống phức tạp,

cuối cùng cho ra những kết quả kinh doanh khác nhau

1.1.1 Tác động của độ tuổi đến chất lượng báo cáo tài chính

Nghiên cứu về mối quan hệ này còn khá ít các nghiên cứu thực nghiệm Dù vậy, một nghiên cứu của Hua-Wei Huang và Ena Rose-Green (2012) cho thấy có mối quan hệ

giữa tuổi của CEO đến chất lượng báo cáo tài chính Sử dụng một mẫu gồm 3413 doanh nghiệp trong giai đoạn 2005 – 2008 Chất lượng báo cáo tài chính được đo lường thông qua hai công cụ: Thứ nhất là Bảng phân tích dự báo của các chuyên gia (dữ liệu dự báo I/B/E/S - Institutional Brokers' Estimate System, được thành lập bởi công ty môi giới New York Lynch, Jones & Ryan và công ty liên doanhTechnometrics); Thứ hai là Báo cáo tài chính được trình bày lại – Financial restatement Các tác giả đã tìm thấy được mối quan hệ cùng chiều giữa độ tuổi CEO và

chất lượng báo cáo tài chính

1.2.2 Tác động của nhiệm kỳ đến chất lượng báo cáo tài chính

Theo tác giả Hill và Phan (1991) cho rằng khi nhiệm kỳ CEO tăng thì mức rủi ro doanh nghiệp tăng cao và lợi nhuận của cổ đông sẽ giảm Ngoài ra, các CEO còn lựa chọn kế toán để phóng đại thu nhập trong những năm tài chính họ nắm quyền để làm tăng khoản thù lao của họ (Kalyta, 2009)

Trang 7

Tuy nhiên, sử dụng mô hình hôi quy đa biến mẫu, Keehwan Kim và Joon Sun Yang (2014) cho thấy rằng nhiệm kỳ của ban giám đốc có tác động tích cực đền chất lượng báo cáo tài chính Các tác giả sử dụng ba mô hình đại diện cho chất lượng báo cáo: + Thứ nhất, sử dụng giá trị tuyệt đối của các khoản trích trước tùy ý được sử dụng phổ

biến trong quản trị lợi nhuận được sửa đổi bởi Dechow(1995) Kết quả là, nhiệm kỳ

của giám đốc có mối quan hệ tiêu cực với giá trị tuyệt đối của các khoản trích trước tùy

ý, CEO có nhiệm kỳ dài thì giá trị tuyệt đối các khoản trích trước sẽ ít hơn Điều này

có nghĩa rằng, tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa chất lượng các khoản trích trước (chất lượng dồn tích) và nhiệm kỳ

+ Thứ hai, sử dụng mô hình lợi nhuận bền vững: giả định rằng những công ty có lợi nhuận bền vững thì chất lượng sẽ cao hơn so với những công ty có lợi nhuận không

bền vững Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiệm kỳ của ban giám đốc tăng đồng nghĩa

với việc tăng tính bền vững cho lợi nhuận

+ Thứ ba, mô hình ERC - earnings response coefficient (hệ số phản ứng thu nhập): Căn

cứ vào phản ứng của thị trường thông qua lợi nhuận cổ phiếu Ở mô hình này, Kim và Yang (2014) cũng cho thấy mối quan hệ giữa nhiệm kỳ của giám đốc có mối quan hệ tích cực với lợi nhuận cổ phiếu, đồng thời tác giả cũng cho thấy việc thay đổi trong lợi nhuận của công ty và lợi nhuận cổ phiếu cũng có mối quan hệ tích cực Tóm lại, nhiệm

kỳ dài của giám đốc làm tăng hệ số phản ứng thu nhập của thị trường

1.2.3 Tác động của quyền kiêm nhiệm đến chất lượng báo cáo tài chính

Ở khía cạnh này, Dechow et al (1996) cho thấy nếu có sự kiêm nhiệm Giám đốc điều hành Chủ tịch sẽ làm tăng khả năng vi phạm các nguyên tắc kế toán trong các doanh nghiệp Mỹ Biến báo cáo tài chính được đo lường thông qua: Khoản lợi nhuận trích trước

Byard et al (2006) cho rằng sự hiện diện của một CEO cũng là chủ tịch hội đồng quản

trị có liên quan với chất lượng kém của các thông tin tài chính Tương tự như vậy, Beekes và các tác giả (2004); Firth và các tác giả (2007) báo cáo rằng các báo cáo tài

Trang 8

chính là phù hợp hơn trong trường hợp tách các vị trí của Giám đốc điều hành và chủ

tịch hội đồng quản trị cho các doanh nghiệp Anh và Trung Quốc

Tuy nhiên, các tác giả khác đã không phát hiện đáng kể mối liên hệ giữa chế độ nhị nguyên và chất lượng thông tin trong các bối cảnh khác nhau của nghiên cứu Như nghiên cứu của Ahmed et al (2006) tại các doanh nghiệp ởNew Zealand cho năm tài chính 1991-1997 Tương tự là kết quả của Bradbury et al (2006) nghiên cứu 139 doanh nghiệp Singapore và 113 doanh nghiệp Malaisia được niêm yết trên sàn Kuala Lumpur cho năm tài chính 2000 Kết quả nghiên cứu của Petra (2007) cũng cho kết

quả tương tự là không tìm được mối tương quan

1.2.4 Tác động của giới tính đến chất lượng báo cáo tài chính

Với 2.938 doanh nghiệp Mỹ cho năm tài chính 2006, Barua và các tác giả (2010) báo cáo về mối quan hệ giữa giới tính của các CFO và chất lượng dồn tích (accurals quality) Họ tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng những công ty có CFO là nữ sẽ có chất lượng dồn tích cao hơn và rủi ro có sai sót khi đánh giá, ước tính các khoản trích trước

là thấp hơn so với những công ty có CFO là nam giới Tương tự, Srinidhi, Tsui (2011)

và Krishnan và Parson (2008) chỉ ra rằng sự đa dạng giới tính có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng lợi nhuận

1.2.5 Tác động của tỷ lệ sở hữu đến chất lượng báo cáo tài chính

Soongsoo (Sam) Han (2004) thu thập dữ liệu là tỷ lệ sở hữu vốn được lấy từ cơ sở dữ

liệu Compact Disclosure trong giai đoạn từ năm 1997-2001 Nghiên cứu này điều tra các mối quan hệ giữa các hình thức sở hữu chứng khoán và chất lượng các báo cáo tài chính của một công ty, được đo bằng độ lớn của khoản trích trước tùy ý và các bản đồ

của các khoản trích trước của dòng tiền và mức độ công bố thông tin Tác giả cho thấy

thấy quyền sở hữu chứng khoán của nhà quản lý có liên quan đến tiêu cực với chất lượng báo cáo và mức độ công bố thông tin

Trang 9

Fan, J & Wong, J (2002) nghiên cứu mối quan hệ về cấu trúc sở hữu với chất lượng thông tin kế toán ở bảy nền kinh tế Đông Á trừ Nhật Bản gồm 282 doanh nghiệp Hong Kong, 91 doanh nghiệp Indonesia, 177 doanh nghiệp Malaysia, 133 doanh nghiệp Singapore, 95 doanh nghiệp Hàn Quốc, 66 doanh nghiệp Đài Loan và , 133 doanh nghiệp Thái Lan Kết quả cho thấy tỷ lệ sở hữu cao đồng nghĩa với việc chất lượng thông tin kế toán thấp Điều này được giải thích là tỷ lệ sở hữu cao thì cơ hội để một cá nhân đó thao túng doanh nghiệp và can thiệp vào báo cáo tài chính theo hướng có lợi cho họ sẽ cao Đồng nghĩa với việc thông tin kế toán có thể bị bóp méo

1.2.6 Tác động của trình độ học vấn đến chất lượng báo cáo tài chính

Mặc dù không có nhiều nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào trình độ học vấn của các CEO Nhưng đây là một trong những đặc điểm quan trọng, góp phần nâng cao năng lực

quản lý của nhà quản trị

Cá nhà nghiên cứu tài chính đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa năng lực quản lý và

hiệu quả hoạt động công ty (Dunphy, Turner và Crawford, 1997; Ljungquist, 2007) Darmadi (2011) phát hiện ra rằng các thành viên Ban giám đốc tốt nghiệp sau đại học

có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động công ty

Tuy nhiên, trái ngược với quan điểm đó, một nghiên cứu của Bathula (2008) trên 61 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoáng New Zealand giai đoạn 2004-2007 cho rằng có mối quan hệ ngược chiều giữa thành viên có bằng tiến sỹ với hiệu quả hoạt động công ty Bathula (2008) nhận định, kỹ năng nghiên cứu và phân tích thật sự là cần thiết cho công ty nhưng không nhất thiết là phải có một chất lượng học thuật cao như

vậy, điều này không mang lại bất kỳ giá trị nào cho hiệu quả hoạt động công ty

1.2.7 Tác động của thu nhập và chất lượng báo cáo tài chính

Một cách tổng quát thu nhập của CEO bao gồm lương, thưởng, quyền chọn cổ phiếu, các lợi ích dài hạn khác (Cheng và Farber ,2008) Dựa trên việc phân tích dữ liệu của

Trang 10

289 công ty phải công bố lại báo cáo tài chính giai đoạn 1997-2001, tác giả đã cho thấy

việc giảm thu nhập của CEO sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Laux và Laux (2009) cho rằng việc tăng thu nhập của CEO thông qua cổ phiếu tức là khuyến khích CEO sở hữu cổ phần tại doanh nghiệp xem ra không cần thiết để nâng cao vấn đề

B ảng 1.1: Bảng tóm tắt các nghiên cứu trước đây về sự tác động của đặc điểm CEO

đến chất lượng báo cáo tài chính:

Tác gi ả Bi ến đo lường

đặc điểm CEO

Công c ụ đo lường chất lượng báo cáo tài chính

K ết quả

Huang và

Green

(2012)

Độ tuổi + Bảng phân tích của công ty môi

giới (Dữ liệu dự báo I/B/E/S) + Công bố lại BCTC

Mối quan

hệ cùng chiều

A : Tổng tài sản ; ΔAR : Sự thay đổi trong khoản phải

Mối quan

hệ tích cực

Trang 11

thu ; ΔRev : Sự thay đổi của doanh thu ; PPE : tài s ản, nhà máy và thiết bị ròng

+ Mô hình lợi nhuận bền vững: Sử

dụng giá trị lùi của ROA hiện hành (ROA) bằng lợi nhuận thuần trên tổng tài sản của ROA kỳ trước (lagROA) để ước tính lợi nhuận bền vững :

ROAt= lợi nhuận của năm t/tổng tài sản năm trước (lagged total assets);

lag ROA=lợi nhuận thuần của năm t-1/tổng tài sản của năm trước (lagged total assets)

+ Mô hình ERC - earnings response coefficient (hệ số phản ứng thu nhập): Mối liên hệ giữa

Lợi nhuận cổ phiếu trong sự thay đổi của lợi nhuận thuần hàng năm Dechow et

Trang 12

kho ản tương đương tiền;

ASTD = sự thay đổi trong các khoản nợ bao g ồm nợ phải trả ngắn hạn;

Dep = Chi phí khấu hao.

+ Ý kiến kiểm toán Ahmed et

+ Chất lượng lợi nhuận: Chất lượng khoản trích trước (Accrual) : trích trước vốn lưu động :

WCA t = ( ΔCA t - ΔCL t - ΔCash/TA t-1 ) WCA t: : Trích trước vốn lưu động trong năm t;

ΔCA t : S ự thay đổi trong tài sản ngắn

h ạn trong năm t;

ΔCL t : S ự thay đổi trong nợ ngắn hạn trong năm t;

ΔCash: Sự thay đổi tiền trong năm t;

TA t-1 : Tổng tài sản trong năm t-1

Trang 13

(2004) trích trước tùy ý (Theo mô hình

của Dechow và Dichev, 2002)

+Mức độ công bố thông tin: dựa trên chỉ số minh bạch và công khai T&D của Standard and Poor's tại Hoa Kỳ (The Standard and Poor’s Transparency and Disclosure

hệ trái chiều giữa

tỷ lệ sở

hữu của nhà quản

lý với chất lượng thông tin

kế toán Fan, J &

Wong, J

(2002)

+ Thông tin kế toán hữu ích đo lường thông qua lợi nhuận cổ phiếu

Mối quan

hệ trái chiều

độ học vấn của nhà quản lý với

hiệu quả hoạt động công ty thông qua chỉ số tobin’Q, ROE

Mối quan

hệ cùng chiều(Dunphy, Turner và Crawford, 1997;

Ljungquist, 2007;

Darmadi, 2011) và không có

mối quan

hệ

Trang 14

(Bathula ,2008) Laux và

kế toán hơn

báo cáo tài chính t ại Việt Nam

Tại Việt Nam, theo tìm hiểu của tác giả thì chưa có một nghiên cứu nào nói về mối quan hệ giữa đặc điểm CEO và chất lượng báo cáo tài chính Có chăng là mối quan hệ

giữa đặc điểm Hội đồng quản trị với chất lượng báo cáo tài chính như luận án tiến sỹ

của Nguyễn Trọng Nguyên (2015), và luận văn thạc sỹ của Đoàn Thị Mỹ Thương (2015) Ngoài ra, nếu chỉ xét đến việc đo lường chất lượng báo cáo tài chính thì luận văn thạc sỹ của các tác giả như Mai Hoàng Hạnh (2014), Trương Ngọc Quỳnh Trang (2014), Nguyễn Công Tiến (2014) cũng kế thừa cách đo lường của các học giả trên thế

giới đó là sử dụng mô hình chi phí trích trước và chất lượng trích trước được phát triển

bởi Dechow and Dichev (2002)

Trang 15

1.3 Nh ận xét chung và khe hổng nghiên cứu

Từ các nghiên cứu trước đây cho thấy các tác giả thường sử dụng mô hình dồn tích để

đo lường cho chất lượng báo cáo tài chính Phương pháp này có nhược điểm là chỉ tập trung vào chất lượng lợi nhuận, mặt khác lại khó đo lường các khoản trích trước Mặt khác, khi đo lường về sự tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính tại Việt Nam thì chưa có một nghiên cứu nào về mối quan hệ này và ngay cả trên

thế giới cũng còn rất ít và cũng chưa thật đầy đủ, chỉ dừng lại đơn lẻ ở một vài đăc điểm của CEO như hoặc độ tuổi hoặc giới tính, hoặc thu nhập Mà chưa có nghiên cứu toàn diện về đặc điểm của CEO tác động tới chất lượng báo cáo tài chính như thế nào Như vậy có thể thấy dường như rất ít tác giả tập trung vào mối quan hệ giữa đặc điểm

của CEO và chất lượng báo cáo tài chính, nếu có thì cũng chưa thật đầy đủ về đặc điểm

của CEO Hơn nữa, về phương pháp đo lường chất lượng báo cáo tài chính cũng lộ rõ

nhập

Trang 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Vai trò c ủa CEO

CEO là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, đóng vai trò là người chịu trách nhiệm cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là người thừa hành đại diện cho chủ doanh nghiệp trong các nhệm vụ, quyết định có liên quan (Theo

lý thuyết người đại diện và lý thuyết quản trị)

CEO cũng là người đóng vai trò chiến lược là người quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp với các bên liên quan, thực thi các chiến lược (Theo lý thuyết quản trị và lý thuyết các bên liên quan)

Mintzberg (1973) nghiên cứu các họat động của nhà quản trị và cho rằng mỗi nhà quản

trị đều phải thực hiện 10 vai trò khác nhau và được phân thành 3 nhóm:Nhóm vai trò quan hệ với con người,Nhóm vai trò thông tin và Nhóm vai trò quyết định

B ảng 2.1: Vai trò của CEO (Mintzberg,1973)

Nhóm vai trò

người

Nhóm vai trò thông tin

Nhóm vai trò quy ết định

sự kiện khác nhau:

phát biểu, giới thiệu, tượng trưng cho tổ chức

hệ với cấp dưới, động viên, thúc đẩy

Trang 17

bên trong và bên ngoài về những vấn

đề có thể ảnh hưởng tổ chức

thông tin cả bên trong và bên ngoài cho nội bộ

chức cho bên ngoài

người khởi xướng, thiết kế, khuyến khích những cải

tiến và đổi mới

8.Gi ải quyết những

xung đột

Có những hành động đúng và kịp

thời khi DN đối mặt

với những vấn đề

Trang 18

quan trọng những khó khăn bất ngờ

phân phối các nguồn lực: thời gian, ngân quỹ, phương tiện, nhân

sự

chức thương lượng, đàm phán

2.2 Ch ất lượng Báo cáo tài chính

2.2.1 Khái ni ệm báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính (Financial statements) là sản phẩm của kế toán tài chính, là đầu ra

của hệ thống thông tin kế toán, phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính,

kết quả tài chính của doanh nghiệp Báo cáo tài chính cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, kết quả tài chính và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu

của số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế, nó cũng cho thấy kết quả quản lý của ban giám đốc đối với các nguồn lực được giao phó cho họ (IASB, 2012)

2.2.2 Khái ni ệm chất lượng

Chất lượng là một khái niệm phức tạp và chỉ mang tính chất tương đối Có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu, chất lượng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định, chất lượng là sự thỏa

Trang 19

mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với

mục đích khác nhau, nên có nhiều quan điểm khác nhau về chất lượng Tuy nhiên, định nghĩa chất lượng được thừa nhận ở phạm vi quốc tế đó là định nghĩa của Tổ

chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) ISO 9000:2005, định nghĩa “Chất lượng là mức

độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”

Theo FASB (1999); IASB (2008) mục đích của một báo cáo tài chính là cung cấp thông tin tài chính chất lượng cao liên quan đến đơn vị kinh tế, hữu ích để ra các quyết định kinh tế

2.2.3 Thông tin báo cáo tài chính

Khái niệm thông tin BCTC được nhìn nhận theo hai quan điểm sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, BCTC là sản phẩm của kế toán tài chính, là đầu ra của hệ thống thông tin kế toán, phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả tài chính của doanh nghiệp BCTC cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, kết quả tài chính và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu của số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế, nó cũng cho thấy kết quả quản lý của ban giám đốc đối với các nguồn lực được giao phó cho họ (IASB, 2010) Để đáp ứng mục tiêu này, BCTC trình bày thông tin về: tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí, bao gồm cả lãi và lỗ, khoản góp vốn của chủ sở hữu và phân phối cho chủ sở hữu, các dòng tiền Thông thường, một hệ thống BCTC bao gồm: báo cáo tình hình tài chính, báo cáo thu nhập; báo cáo vốn chủ sở hữu; báo cáo lưu chuyển tiền và thuyết minh BCTC Quan điểm thứ hai cho rằng, mặc dù thông tin BCTC truyền thống trình bày trên

cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán, nhưng chỉ mang tính chất quá khứ nên không đáp ứng nhu cầu thông tin cần thiết hiện nay của người sử dụng Ngày nay, những thay đổi trong môi trường kinh doanh quốc tế theo xu hướng hội nhập, yêu cầu cần xem xét lại về bản chất cũng như nội dung của các BCTC của doanh nghiệp

Trang 20

Thông tin BCTC không chỉ gắn liền thông tin tài chính, mà nó còn bao gồm những thông tin phi tài chính (Ferdy Van Beest, 2009) Theo tác giả, các nhà nghiên cứu trước đây khi đo lường chất lượng thông tin thường sử dụng định lượng và tập trung vào những khía cạnh cụ thể của thông tin BCTC như: chất lượng lợi nhuận,

mô hình giá trị phù hợp…thông tin BCTC được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm thông tin tài chính và phi tài chính cũng như các công bố bắt buộc và tự nguyện

2.2.4 Yêu c ầu Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính

Cả IASB và FASB đều thống nhất rằng phải phát triển một khuôn mẫu lý thuyết về chất lượng báo cáo tài chính dưới nền tảng là đặc tính chất lượng của thông tin kế toán

Theo IASB và FASB, các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích được phân ra thành các đặc điểm chất lượng cơ bản và các đặc điểm chất lượng bổ sung Các đặc điểm chất lượng cơ bản: thích hợp và trình bày trung thực Các đặc điểm chất lượng bổ sung: có thể so sánh; có thể kiểm chứng; kịp thời và có thể hiểu

• Thích hợp (Relevance)

Để thích hợp, thông tin kế toán phải có khả năng tạo ra sự khác biệt trong việc ra quyết định của đối tượng sử dụng thông tin Theo đó, “nó phải có giá trị dự đoán, giá trị xác nhận, hoặc cả hai” (IASB, 2010a, p.QC7) Thông tin tài chính có giá trị

dự đoán (predictive value) nếu nó có thể được sử dụng như một dữ liệu đầu vào cho người sử dụng dự đoán kết quả tương lai Thông tin tài chính có giá trị xác nhận (confirmatory value) nếu nó cung cấp thông tin phản hồi về các đánh giá trước đó

Trang 21

• Trình bày trung thực (Faithful representation)

Thông tin được trình bày trung thực khi nó được mô tả đầy đủ (complete),trung lập (neutral) và không mắc lỗi (free from error) (IASB, 2010a) Thông tin đầy đủ bao

gồm tất cả các thông tin cần thiết cho người sử dụng hiểu được các hiện tượng, bao

gồm tất cả các mô tả và giải thích cần thiết Thông tin trung lập khi không có sự thiên vị trong việc lựa chọn hoặc trình bày, không bị thiên lệch nhằm đạt đến một

kết quả định trước hay chịu ảnh hưởng của một thái độ cá biệt Không mắc lỗi có nghĩa là không có sai sót hoặc thiếu sót trong các mô tả và quy trình soạn thảo thông tin Chẳng hạn, một ước tính không thể được xác định là chính xác hoặc không chính xác, tuy nhiên, việc trình bày ước tính được xem là trung thực nếu số tiền được mô tả một cách rõ ràng, bản chất và hạn chế của quá trình ước tính được giải thích

• Có thể so sánh (Comparability)

Thông tin về một doanh nghiệp sẽ hữu ích hơn nếu nó có thể được so sánh với thông tin tương tự ở doanh nghiệp khác hoặc ở cùng một doanh nghiệp trong các kỳ khác nhau Có thể so sánh cho phép người sử dụng phân biệt và hiểu sự giống nhau hay có khác nhau về các khoản mục (IASB, 2010a) IASB và FASB cũng cho rằng, tính có thể so sánh có thể đạt được từ việc đạt được các đặc điểm chất lượng cơ

bản Một sự trình bày trung thực các thông tin kinh tế thích hợp tự nó đạt được, ở

một mức độ nào đó, sự có thể so sánh được với các thông tin thích hợp tương tự được trình bày trung thực bởi một doanh nghiệp khác

• Có thể kiểm chứng (Verifiability)

Có thể kiểm chứng giúp đảm bảo với người sử dụng rằng những thông tin trình bày trung thực đối với các hiện tượng kinh tế Có thể kiểm chứng có nghĩa là những người quan sát và đánh giá đủ năng lực và độc lập khác nhau có thể đạt được sự

Trang 22

đồng thuận, mặc dù không phải là hoàn toàn, về việc thông tin được trình bày trung

• Có thể hiểu (Understandability)

Thông tin có thể hiểu nếu nó được phân loại, mô tả và trình bày rõ ràng, súc tích BCTC được trình bày cho người sử dụng là những người có những kiến thức nhất định về kinh doanh và hoạt động kinh tế

2.2.4 2 Theo quan điểm của VAS

Thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính phải phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Để đảm bảo sự trung thực, thông tin phải có 3 tính chất là đầy đủ, khách quan, không có sai sót

- Thông tin được coi là đầy đủ khi bao gồm tất cả các thông tin cần thiết để giúp người

sử dụng Báo cáo tài chính hiểu được bản chất, hình thức và rủi ro của các giao dịch và

sự kiện Đối với một sô khoản mục, việc trình bày đầy đủ còn phải mô tả thêm các thông tin về chất lượng, các yếu tố và tình huống có thê ảnh hưởng tới chất lượng và

bản chất của khoản mục

- Trình bày khách quan là không thiên vị khi lựa chọn hoặc mô tả các thông tin tài chính Trình bày khách quan phải đảm bảo tính trung lập, không chú trọng, nhấn mạnh

Trang 23

hoặc giảm nhẹ cũng như có các thao tác khác làm thay đối mức độ ảnh hưởng của thông tin tài chính là có lợi hoặc không có lợi cho người sử dụng Báo cáo tài chính

- Không sai sót có nghĩa là không có sự bỏ sót trong việc mô tả hiện tượng và không có sai sót trong quá trình cung cấp các thông tin báo cáo được lựa chọn và áp dụng Không sai sót không có nghĩa là hoàn toàn chính xác trong tất cả các khía cạnh, ví dụ,

việc ước tính các loại giá cả và giá trị không quan sát được khó xác định là chính xác hay không chính xác Việc trình bày một ước tính được coi là trung thực nếu giá trị ước tính được mô tả rõ ràng, bản chất và các hạn chế của quá trình ước tính được giải thích

và không có sai sót trong việc lựa chọn số liệu

2.3 Các phương pháp chủ yếu để đo lường chất lượng báo cáo tài chính

Do đặc trưng của báo cáo tài chính, nên chắc chắn việc đo lường chất lượng báo cáo tài chính là thông qua thành phần cấu tạo của nó (Dechow và Dichev, 2002; Schipper

và Vincent, 2003; Botosan, 2004) Tuy nhiên mỗi người sử dụng lại có mức độ quan tâm đến những vấn đề khác nhau trong một báo cáo nên sẽ có sự chênh lệch về chất lượng giữa các thành phần (khoản mục được trình bày trên báo cáo tài chính) và bản thân người nghiên cứu cũng có những cảm nhận khác nhau về mức độ hữu dụng của thông tin trong từng bối cảnh cụ thể Như vậy, dường như cách đo lường trực tiếp có vấn đề (Botosan, 2004)

Do vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã đo chất lượng báo cáo một cách gián tiếp tập trung vào các thuộc tính được cho là có ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính như quản trị lợi nhuận, công bố lại báo cáo tài chính và tính kịp thời (Schipper & Vincent, 2003; Cohen et al., 2004)

Mô hình dồn tích tập trung vào đo lường chất lượng lợi nhuận, mô hình này được sử dụng để đo lường mức độ quản trị lợi nhuận Mô hình giả định rằng nhà quản lý sử dụng phương pháp trích trước tùy ý, qua đó người quản lý có thể kiểm soát lợi nhuận

Trang 24

(Dechow et al., 1995) Tuy nhiên làm thế nào để phân biệt trích trước tùy ý và không tùy ý Hơn nữa, sử dụng mô hình này được sử dụng chỉ là mô phỏng một cách gián tiếp của chất lượng lợi nhuận, không bao gồm thông tin phi tài chính Vì vậy, kết luận liên quan đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính dựa trên mô hình dồn tích sẽ không cung cấp bằng chứng một cách trực tiếp và toàn diện (Healy & Wahlen, 1999)

Mô hình giá trị thích hợp đo lường chất lượng thông tin báo cáo tài chính thì tập trung vào mối quan hệ giữa số liệu kế toán và phản ứng của thị trường chứng khoán (ví dụ, Barth et al., 2001; 1997; Nichols & Wahlen, 2004) Giá chứng khoán được giả định rằng đại diên cho giá trị của doanh nghiệp, giá trị sổ sách của doanh nghiệp dựa trên

số liệu kế toán Khi mối quan hệ này mạnh thì sẽ làm thay đổi thông tin kế toán tương ứng với sự thay đổi của giá trị thị trường doanh nghiệp Điều này được giả định rằng, thông tin về lợi nhuận cung cấp thông tin thích hợp và đáng tin cậy (trình bày trung thực) (Nichols & Wahlen, 2004) Tuy nhiên, phương pháp này lại không phân biệt rõ giữa thông tin thích hợp và đáng tin cậy Mặt khác, thị trường chứng khoán có thể không hiệu quả Như một hệ quả, giá chứng khoán không đại diện cho giá trị của công

ty một cách hoàn toán chính xác (Nichols & Wahlen, 2004)

Cả hai mô hình trên đều dựa vào thông tin tài chính được tiết lộ trên báo cáo tài chính hàng năm để đánh giá chất lượng báo cáo tài chính Tuy nhiên, để đo lường một cách toàn diện báo cáo tài chính phải bao gồm cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính Ngoài cách đo lường dựa trên hai mô hình nêu trên (mô hình dồn tích và mô hình giá trị thích hợp), cách đo lường phổ biến tiếp theo mà các nhà nghiên cứu tập trung đó là đo lường các yếu tố cụ thể trong báo cáo thường niên theo chiều sâu gồm

cả thông tin tài chính và thông tin phi tài chính Ví dụ, Hirst et al (2004) nhấn mạnh vào việc sử dụng giá trị hợp lý kế toán và chất lượng báo cáo tài chính Gearemynck

và Willekens (2003) xem xét mối quan hệ giữa kiểm toán viên báo cáo và tính hữu dụng của thông tin báo cáo tài chính Beretta và Bozzolan (2004) tập trung vào chất lượng của kiểm soát nội bộ và công bố thông tin rủi ro Tuy nhiên, nghiên cứu tập

Trang 25

trung vào một phần tử cụ thể trong các báo cáo hàng năm không cung cấp mộ cách tổng quan và toàn diện về chất lượng tổng báo cáo tài chính

F.v.Beest, G.Bram, S Boelens (2009) phát triển một công cụ đo lường một cách toàn diện nhằm đánh giá chất lượng báo cáo tài chính dựa trên báo cáo tài chính và báo cáo thường niên

Bảng tóm tắt sau đây chỉ ra các phương pháp đo lường chất lượng báo cáo tài chính mà các nhà nghiên cứu thường sử dụng, cũng như là từng ưu, nhược điểm của từng phương pháp:

B ảng 2.2: Tổng quan các công cụ đo lường chất lượng báo cáo tài chính được sử dụng

trong các nghiên cứu trước đây

Mô hình dồn

tích

Lý thuyết liên quan đến giá trị

Các yếu tố cụ thể trong báo

cổ phiếu và lợi nhuận đat được để đo lường mức độ phù hợp và độ tin cậy của thông tin báo cáo tài chính

Xem xét các yếu tố cụ thể trong báo cáo thường niên theo chiều sâu, bằng cách tiến hành một thử nghiệm

Kiểm tra mức độ hữu ích của thông tin trên báo cáo tài chính

Trang 26

- Cung cấp một cái nhìn sâu về giá trị kinh tế của các con số lợi nhuận

- Tập trung vào chất lượng báo cáo tài chính

- Đo lường trực tiếp chất lượng báo cáo tài chính

- Tập trung vào chất lượng báo cáo tài chính

- Đo lường trực tiếp chất lượng báo cáo tài chính

- Không cung cấp được một cái nhìn sâu trong sự cân bằng giữa tính phù hợp và độ tin cậy

Tập trung vào các nhân tố được lựa chọn

Thông thường, rất khó trong việc đo lường

Nichols &

Wahlen, 2004;

Nelson, 1996

Hirst et al., 2004;; Beretta

& Bozzolan, 2004; Cohen et al., 2004

Schipper & Vincent, 2003; Van der Meulen, et al., 2007; Barth et al., 2006

Trang 27

2.4 Tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính

Hambrick và Mason (1984) lập luận rằng đặc điểm nhân khẩu học như kinh nghiệm,

độ tuổi, giới tính và sở hữu ảnh hưởng đến giá trị và cơ sở nhận thức của top quản lý và làm cho họ có những sự chọn lựa khác nhau, đặc biệt là trong những tình huống phức

tạp, cuối cùng cho ra kết quả kinh doanh khác nhau ở mỗi tổ chức

Từng đặc điểm CEO sẽ được trình bày chi tiết như sau:

2.3.1 Tác động của độ tuổi đến chất lượng báo cáo tài chính

Sundaram và Yermack (2007) thì cho rằng cá nhân nhiều tuổi sẽ thận trọng hơn, họ đạo đức hơn nên họ sẽ có ít xu hướng bất chấp thủ đoạn ví dụ làm sai lệch báo cáo tài chính để đạt được mục đích Nghiên cứu thực nghiệm của Huang &Green (20112) cho

thấy mối quan hệ đồng biến giữa tuổi và chất lượng báo cáo tài chính

2.3.2 Tác động của nhiệm kỳ đến chất lượng báo cáo tài chính

Các nghiên cứu về kế toán cung cấp bằng chứng về mối quan hệ giữa nhiệm kỳ của top

quản lý và các thay đổi trong quyết định của kế toán Ali và Zhang (2012) cho thấy các CEO có động lực lớn hơn để phóng đại thu nhập trong những năm đầu trong nhiệm kỳ

của họ Hermalin và Weisbach 2012) cho rằng CEO trong những năm đầu nhiệm kỳ đang cố gắng để báo cáo hiệu suất tốt để gây ảnh hưởng tích cực đến nhận thức của thị trường về khả năng của họ Xung quanh đặc tính này vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều khi một nghiên cứu của Kim và Yang (2014) thì lại cho rằng CEO nắm giữ vị trí điều hành lâu sẽ tác động tích cực đến chất lượng báo cáo tài chính

2.3.3 Tác động của quyền kiêm nhiệm đến chất lượng báo cáo tài chính

Các tài liệu quản trị công ty đã nhấn mạnh sự cần thiết phải tách biệt các chức vụ của Giám đốc điều hành (CEO) và chủ tịch hội đồng quản trị để đảm bảo sự độc lập và cải thiện tính minh bạch công ty (Jensen, 1993)

Trang 28

Ở khía cạnh này, Dechow et al (1996) cho thấy nếu có sự kiêm nhiệm Giám đốc điều hành Chủ tịch sẽ làm tăng khả năng vi phạm các nguyên tắc kế toán trong các doanh nghiệp Mỹ Byard et al (2006) cho rằng sự hiện diện của một CEO cũng là chủ tịch

hội đồng quản trị có liên quan với chất lượng kém của các thông tin tài chính Tương tự như vậy, Beekes và các tác giả (2004); Firth và các tác giả (2007) báo cáo rằng các báo cáo tài chính là phù hợp hơn trong trường hợp tách các vị trí của Giám đốc điều hành và chủ tịch hội đồng quản trị cho các doanh nghiệp Anh và Trung Quốc

Tuy nhiên, các tác giả khác đã không phát hiện đáng kể mối liên hệ giữa chế độ nhị nguyên và chất lượng thông tin trong các bối cảnh khác nhau của nghiên cứu (Ahmed

et al., 2006;Bradbury et al., 2006; Petra 2007)

2.3.4 Tác động của giới tính đến chất lượng báo cáo tài chính

Sự khác biệt về đạo đức giữa các giới tính đã được kiểm tra rộng rãi trong lý thuyết đạo đức kinh doanh Các nghiên cứu cho rằng nam giới và nữ giới tồn tại sự khác biệt rõ rệt

về giá trị và lợi ích cũng như xu hướng ứng xử đối với các vấn đề phi đạo đức trong kinh doanh (Betz, O’Connell, & Shepard, 1989; Gilligan, 1982) Nam giới quan tâm nhiều đến lợi ích kinh tế và một sự nghiệp thành công và có nhiều khả năng sẽ phá vỡ

những quy tắc để đạt được sự thành công Ngược lại người phụ nữ, họ có xu hướng làm hài hòa các mối quan hệ và giúp đỡ những người khác và ít có khả năng thực hiện các hành vi phi đạo đức (Betz, O’Connell, & Shepard, 1989; Butz & Lewis, 1996; Ma-

son & Mudrack, 1996)

Theo lý thuyết các bên liên quan, mục đích của doanh nghiệp không chỉ là lợi nhuận

mà còn phải liên kết cộng đồng, mang hình ảnh của công ty đến với cộng động Và nữ

giới là lãnh đạo sẽ làm tốt vai trò này Adams và Ferreira (2004) cho rằng việc đa dạng

giới tính giúp doanh nghiệp có thể liên kết với bên ngoài, dễ dàng đưa hình ảnh của công ty ra cộng đồng

Trang 29

Singapore, 95 doanh nghiệp Hàn Quốc, 66 doanh nghiệp Đài Loan và , 133 doanh nghiệp Thái Lan Kết quả cho thấy tỷ lệ sở hữu cao đồng nghĩa với việc chất lượng thông tin kế toán thấp Điều này được giải thích là tỷ lệ sở hữu cao thì cơ hội để một cá nhân đó thao túng doanh nghiệp và can thiệp vào báo cáo tài chính theo hướng có lợi cho họ sẽ cao Đồng nghĩa với việc thông tin kế toán có thể bị bóp méo

2.3.6 Tác động của trình độ học vấn đến chất lượng báo cáo tài chính

Mặc dù không có nhiều nghiên cứu thực nghiệm tập trung vào trình độ học vấn của các CEO Nhưng đây là một trong những đặc điểm quan trọng, góp phần nâng cao năng lực

quản lý của nhà quản trị

Cá nhà nghiên cứu tài chính đã tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa năng lực quản lý và

hiệu quả hoạt động công ty (Dunphy, Turner và Crawford, 1997; Ljungquist, 2007) Darmadi (2011) phát hiện ra rằng các thành viên Ban giám đốc tốt nghiệp sau đại học

có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động công ty

Tuy nhiên, trái ngược với quan điểm đó, một nghiên cứu của Bathula (2008) trên 61 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoáng New Zealand giai đoạn 2004-2007 cho rằng có mối quan hệ ngược chiều giữa thành viên có bằng tiến sỹ với hiệu quả hoạt động công ty Bathula (2008) nhận định, kỹ năng nghiên cứu và phân tích thật sự là cần thiết cho công ty nhưng không nhất thiết là phải có một chất lượng học thuật cao như

vậy, điều này không mang lại bất kỳ giá trị nào cho hiệu quả hoạt động công ty

2.3.7 Tác động của thu nhập CEO và chất lượng báo cáo tài chính

Theo lý thuyết người đại diện, nhà quản lý được ví như là người đại diện, người thừa hành của các cổ đông (các chủ sở hữu) Và nhiệm vụ của họ là phải làm tăng giá trị cho các cổ đông Nhưng không phải người thừa hành nào cũng làm như vậy Thu nhập là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu (các cổ đông) và người thừa hành (CEO) Thu nhập là một sự kết nối tốt hơn giữa doanh nghiệp và CEO dựa trên

Trang 30

Các nhà nghiên cứu kế toán tìm ra được mối quan hệ quản trị lợi nhuận và vấn đề đạo đức (Bruns & Merchant, 1990)

Barua và các tác giả (2010) báo cáo về mối quan hệ giữa giới tính của các CFO và chất lượng dồn tích (accurals quality) Họ tìm thấy bằng chứng cho thấy rằng những công ty

có CFO là nữ sẽ có chất lượng dồn tích cao hơn và rủi ro có sai sót khi đánh giá, ước tính các khoản trích trước là thấp hơn so với những công ty có CFO là nam giới Tương

tự, Krishnan và Parson (2008) chỉ ra rằng sự đa dạng giới tính có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng lợi nhuận

2.3.5 Tác động của tỷ lệ sở hữu cổ phẩn của CEO đến chất lượng báo cáo tài chính

Các nhà nghiên cứu theo quan điểm người đại diện như Jensen và Meckling (1976) cho

rằng một doanh nghiệp có cơ cấu tỷ lệ sở hữu ở cấp quản lý sẽ làm giảm mâu thuẫn

giữa người chủ sở hữu và người thừa hành, làm giảm chi phí đại diện Điều này sẽ khích lệ người thừa hành chính là các CEO đầu tư vào những dự án khả thi và giảm tính tư lợi của họ

Soongsoo (Sam) Han (2004) thu thập dữ liệu là tỷ lệ sở hữu vốn được lấy từ cơ sở dữ

liệu Compact Disclosure trong giai đoạn từ năm 1997-2001 Nghiên cứu này điều tra các mối quan hệ giữa các hình thức sở hữu chứng khoán và chất lượng các báo cáo tài chính của một công ty, được đo bằng độ lớn của khoản trích trước tùy ý và các bản đồ

của các khoản trích trước của dòng tiền và mức độ công bố thông tin Tác giả cho thấy

thấy quyền sở hữu chứng khoán của nhà quản lý có liên quan đến tiêu cực với chất lượng báo cáo và mức độ công bố thông tin

Fan, J & Wong, J (2002) nghiên cứu mối quan hệ về cấu trúc sở hữu với chất lượng thông tin kế toán ở bảy nền kinh tế Đông Á trừ Nhật Bản gồm 282 doanh nghiệp Hong Kong, 91 doanh nghiệp Indonesia, 177 doanh nghiệp Malaysia, 133 doanh nghiệp

Trang 31

những đặc tính chính như phẩm chất lãnh đạo của giám đốc điều hành, sự ưa thích rủi

ro và chuyên môn Buck (2008) cho rằng thu nhập của CEO và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Một cách tổng quát thu nhập của CEO bao gồm lương, thưởng, quyền chọn cổ phiếu, các lợi ích dài hạn khác (Cheng và Farber ,2008) Dựa trên việc phân tích dữ liệu của

289 công ty phải công bố lại báo cáo tài chính giai đoạn 1997-2001, tác giả đã cho thấy

việc giảm thu nhập của CEO sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Laux và Laux (2009) cho rằng việc tăng thu nhập của CEO thông qua cổ phiếu tức là khuyến khích CEO sở hữu cổ phần tại doanh nghiệp xem ra không cần thiết để nâng cao vấn đề

2.4 Lý thuy ết quản trị công ty

2.4.1 Lý thuy ết người đại diện

2.4.1.1 Lý thuy ết người đại diện

Jensen và Meckling (1976) định nghĩa: “ Lý thuyết người đại diên tập trung vào mối quan hệ tương tự như một hợp đồng theo đó người chủ thuê người thừa hành Người

thừa hành sẽ đại diện người chủ thực hiện một số nhiệm vụ và được phép đưa ra những quyết định liên quan”

Tuy nhiên, không phải lúc nào người thừa hành cũng hành động vì lợi ích của chủ sở

hữu Thậm chí họ còn làm phương hại đến lợi ích của chủ sở hữu Chính vì thế mà người chủ sở hữu phải tốn chi phí giám sát người thừa hành, và người thừa hành cũng

Trang 32

chịu những chi phí ràng buộc Tổng chi phí giám sát, chi phí ràng buộc được gọi là chi phí đại diện Chi phí này xuất phát từ xung đột lợi ích giữa người chủ và người thừa hành Một dạng chi phí đại diện khác là chi phí vốn cổ phần Xảy ra khi các cổ đông không đủ thời gian, chuyên môn, kinh nghiệm để giám sát (bị mất quyền kiểm soát) đối

với các nhà quản lý; và nhà quản lý này sẽ tự do sử dụng đồng vốn của các cổ đông vì

mục đích tư lợi cho bản thân và cũng có thể gây phương hại cho cổ đông

2.4.1.2 V ận dụng lý thuyết người đại diện

Lý thuyết người đại diện cho rằng có sự tư lợi từ những người thừa hành hay nói cách khác là các CEO Họ có cơ hội để thao túng vào tình hình sản xuất kinh doanh của đơn

vị, dễ dàng làm sai lệch kết quả kinh doanh nhằm thực hiện những mục đích cá nhân

của mình

Có nhiều cơ chế để kiểm soát chi phí đại diện Jensen và Meckling (1976) đề nghị sử

dụng đòn bẩy tài chính, hạn chế dòng tiền tự do (Jensen, 1986) và đồng thời khuyến khích hợp đồng dưới dạng sở hữu cổ phần và quyền chọn cổ phiếu để tập trung nỗ lực

của người quản lý vào lợi ích của cổ đông (Fama, 1980) Điều này có nghĩa rằng, tỷ lệ

sở hữu càng cao thì khả năng tận tụy vì công việc của các CEO càng cao Giờ đây, không chỉ nắm giữ chức vụ là một CEO – người thừa hành nữa, mà họ cũng là một trong những ông chủ của doanh nghiệp, sẽ tận tâm tận lực vì doanh nghiệp và báo cáo tài chính sẽ chất lượng hơn Hoặc giả là sẽ cho họ thêm nhiều đặc ân hơn nữa như tiền lương, thưởng xứng đáng, có nhiều chính sách đãi ngộ khác để thấy thu phục nhân tài

và nhân tâm, từ đó cũng làm báo cáo tài chính chất lượng hơn Đó cũng là những cơ sở

nền tảng để tác giả xây dựng giả thuyết ở chương 3

Trang 33

2.4.2 Lý thuy ết các bên liên quan

2.4.2.1 Lý thuy ết các bên liên quan

Các bên liên quan là một nhóm cá nhân hoặc cá nhân có thể ảnh hưởng hoặc chịu ảnh hưởng từ những thành tựu đạt được khi thực hiện mục tiêu doanh nghiệp đề ra (Freeman (1984), một trong những tác giả đầu tiên đề xuất lý thuyết các bên liên quan)

Có thể nói Lý thuyết các bên liên quan là lý thuyết mở rộng quan điểm của lý thuyết người đại diện Nếu lý thuyết người đại diện cho rằng hội đồng quản trị phải đảm bảo

lợi ích của các cổ đông thì Lý thuyết các bên liên quan cho rằng ngoài cổ đông ra còn

phải quan tâm đến các bên liên quan khác nữa như khách hàng, nhà cung cấp, người lao động, cộng đồng xã hội, chính phủ, các nhóm lợi ích đặc biệt,… (Freeman, 1984)

2.4.2.2 V ận dụng Lý thuyết các bên liên quan

Rõ ràng có thể thấy, theo lý thuyết này thì nên chăng đề bạt, bổ nhiệm nữ giới vào các

vị trí lãnh đạo bởi nữ giới sẽ làm tốt vai trò đối với các bên liên quan hơn, tích hợp được mối quan hệ và lợi ích của cổ đông, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng bởi chính sự đặc trưng trong tính cách, mềm dẻo trong giao tiếp Mục tiêu hoạt động của các doanh nghiệp không chỉ là năng suất, hiệu quả mà còn phải quan tâm đến phúc lợi xã hội và trách nhiệm giải trình Doanh nghiệp muốn tối đa hóa giá trị doanh nghiệp thì không thể không quan tâm đến các bên liên quan và lý thuyết các bên liên quan (Jensen, 2001)

2.4.3 Lý thuy ết quản trị

2.4.3.1 Lý thuy ết quản trị

Trái ngược với lý thuyết người đại diện là lý thuyết về quản trị Lý thuyết người đại

diện giả định con người có khuynh hướng tư lợi, còn lý thuyết về quản trị có một cách nhìn khác rằng, người quản lý là những cá nhân có động cơ, nhu cầu thúc đẩy làm việc

Trang 34

Đồng thời, người quản lý thực thi quyền hạn và trách nhiệm của mình để ngày càng gia tăng sự công nhận từ đồng nghiệp và ban quản lý cấp cao (Donaldson,1990; Donaldson

và Davis,1991)

2.4.3.2 V ận dụng Lý thuyết quản trị

Lý thuyết này làm cơ sở cho những nhận định rằng dù CEO là ai, già hay trẻ, nam hay

nữ, mặc cho họ có sở hữu cổ phiếu của công ty mà họ đang làm CEO hay không… Tất

cả đều không quan trọng Quan trọng là họ có sự tự tôn, họ làm việc vì danh dự, vì uy tín nghề nghiệp Và đương nhiên, họ không chỉ là CEO có tầm mà có tâm, họ sẽ không bao giờ có ý định tư lợi cá nhân, sẽ không có những sai lệch nào, và đương nhiên báo cáo tài chính họ cung cấp sẽ đáng tin cậy Đây sẽ là một trong những cơ sở để tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu cũng như là bàn luận kết quả nghiên cứu

K ết luận chương 2

Tóm lại, trong chương này luận văn đã trình bày 3 lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu:

Thứ nhất, lý thuyết liên quan đến vai trò của nhà quản trị để thấy rằng CEO họ là người

trực tiếp điều hành doanh nghiệp và có khả năng thao túng mọi hoạt động của doanh nghiệp cũng như khả năng thao túng đến việc lập và trình bày BCTC

Thứ hai, việc trình bày khuôn mẫu lý thuyết về chất lượng báo cáo tài chính là cơ sở để

Luận văn hình thành thang đo chất lượng báo cáo tài chính phù hợp với đặc tính chất lượng thông tin mà IASB và FASB yêu cầu

Thứ ba, các phương pháp thường được sử dụng trong đo lường chất lượng báo cáo tài chính cũng được nói rõ từng ưu, nhược điểm Từ đó, làm cơ sở cho tác giả lựa chọn

một phương pháp đo lường phù hợp nhất

Trang 35

Cuối cùng, việc tổng kết các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến sự tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính cũng như các lý thuyết nền có liên quan đến quản trị công ty, lý thuyết về đạo đức hành vi cũng được lồng ghép vào Các

lý thuyết góp phần giải thích sự tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính Tổng quan cho thấy, đặc điểm của CEO có tác động tích cực tới chất lượng báo cáo tài chính

Căn cứ vào lý thuyết nền tảng và các lý thuyết thực nghiệm đã được trình bày ở trên, chương tiếp theo sẽ trình bày cách xây dựng các biến đo lường, xây dựng giả thuyết

và mô hình nghiên cứu để đo lường sự tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính

Trang 36

CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Khung ti ếp cận nghiên cứu

Hình 3.1: Khung tiếp cận nghiên cứu

V ấn đề nghiên cứu

(Tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng BCTC)

M ục tiêu nghiên cứu

- Đo lương tác động của đặc điểm CEO đến CL BCTC

- Xác định mức độ ảnh hưởng của từng đặc điểm CEO đến chất lượng BCTC

Mô hình nghiên c ứu

Phương pháp nghiên cứu

PP định tính: Lược khảo các lý thuyết có liên

quan đến đề tài nghiên cứu

- Tổng quan nghiên cứu về tác động của đặc

điểm CEO đến chất lượng BCTC

- Cơ sở lý thuyết về chất lượng BCTC và CEO

PP định lượng

- Xác định cỡ mẫu

- Mô tả các biến đo lường, cách thức

đo lường của các biến có trong mô hình

- Tổng quan nghiên cứu về tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng BCTC

- Cơ sở lý thuyết về chất lượng BCTC và CEO

K ết quả

K ết luận và kiến nghị

Trang 37

3.2 Phương pháp nghiên cứu

Chuyên đề nghiên cứu sử dụng hỗn hợp hai phương pháp định tính và định lượng Đầu tiên, bằng phương pháp định tính: Thông qua việc lược khảo các lý thuyết nền như

lý thuyết người đại diện, lý thuyết các bên liên quan, cũng như các nghiên cứu của các

học giả về đặc điểm nhân khẩu học và mối tương quan giữa đạo đức học và giới tính

mà tác giả hình thành được ý tưởng để đưa các đặc điểm của một con người nói chung

và đặc điểm của một CEO nói riêng đặt trong mối quan hệ tương quan với chất lượng báo cáo tài chính

Thứ hai, luận văn sử dụng phương pháp định lượng thông qua việc xây dựng mô hình

hồi quy tuyến tính và kiểm định giả thuyết thống kê với sự trợ giúp của phần mềm R

nhằm đo lường tác động của đặc điểm CEO đến chất lượng báo cáo tài chính

3.3 M ẫu nghiên cứu

Như đề xuất của Green (1991), tác giả khuyến nghị sử dụng công thức xác định cỡ

mẫu nghiên cứu như sau: n ≥ 50 + 8m Trong đó, n là kích thước mẫu tối thiểu cần thiết và m là số lượng biến độc lập trong mô hình Giả sử áp dụng kinh nghiệm chọn

mẫu của Green (1991), với số biến độc lập là 7, vậy kích thước mẫu tối thiểu của Luận văn theo Green (1991) là 106 số quan sát

Ngoài ra, Tabachnick và Fidell cũng cho rằng kích thước mẫu cần đủ lớn để kết quả

hồi quy được thuyết phục hơn Các tác giả cũng đề xuất một công thức xác định cỡ

mẫu dựa trên kinh nghiệm như sau: n ≥ 104 + m Trong đó, n là kích thước mẫu tối thiểu cần thiết và m là số lượng biến độc lập trong mô hình Áp dụng theo công thức trên của Tabachnick và Fidell (2007), với số biến độc lập là 7, vậy kích thước mẫu tối thiểu trong luận văn là 111 quan sát

Trang 38

Sau khi xác định được cỡ mẫu nghiên cứu theo công thức của Tabchnick và Fidell (2007), luận văn sẽ tiến hành chọn mẫu thuận tiện và sử dụng mẫu gồm các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) trong hai năm 2014 và 2015 Đồng thời số quan sát trong mẫu đảm bảo tối thiểu là 111, để đảm bảo kích thước mẫu tương đối lớn, đại diện tốt cho tổng thể

Sở dĩ tác giả chọn 2 năm 2014 và 2015 bởi trong năm 2014 có sự thay đổi lớn về

chế độ kế toán, với việc Thông tư 200 thay thế cho Quyết định 15 đã phần nào nâng cao hơn việc lập và trình bày báo cáo tài chính nói riêng (Bộ tài chính , 2014)

Ngoài ra, việc tác giả chọn các công ty niêm yết trên HOSE là vì các công ty niêm

yết này phải chịu những quy định khắt khe hơn so với các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX)

Ngoài ra, mẫu nghiên cứu cũng không bao gồm các định chế tài chính như: ngân hàng, các quỹ bảo hiểm, quỹ đầu tư, các công ty chứng khoán Vì ngoài việc tuân thủ

luật chứng khoan, quy định quản trị công ty, các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính phải hoạt động theo luật tổ chức tín dụng và những luật liên quan khác Hơn nữa,

tỷ số tài chính là rất lớn ở các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính trên Do đó,

nếu mẫu nghiên cứu bao gồm các công ty này có thê làm sai lệch kết quả nghiên cứu

Ngày đăng: 22/10/2017, 22:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm