Ion kali là một cation chủ yếu của tế bào, có chức năng chính là duy trì p suất thẩm thấu của tế bo. Ion kali cần thiết cho dẫn truyền xung động thần kinh, duy trì hoạt động bình thường của cơ tim, no, cơ xương, chức năng thận và cân bằng kiềm toan của cơ thể. Sự thiếu hụt kali của cơ thể thường xảy ra chậm trong các trường hợp dùng lâu dài thuốc lợi tiểu thải kali, cường aldosteron, đái tháo đường nhiễm acid, tiêu chảy nặng, loạn nhịp tim điều trị bằng digitalis 82. Biểu hiện của tình trạng giảm kali l nhịp tim nhanh bất thường, yếu cơ và đôi khi làm liệt chi. Về mặt biến dưỡng, sự thiếu kali có thể làm cơ thể chậm phát triển, làm giảm lượng somatidin C trong tuần hoàn và ức chế tổng hợp protein. Sự thiếu ion kali cũng là một nguyên nhân dẫn đến bệnh cao huyết áp. Để cung cấp kali trong trị liệu thường dùng kali aspartat, kali acetat, kali gluconat, kali bicarbonat, kali clorid 66,…Thông thường, khi nồng độ kali huyết giảm thường kèm theo tình trạng giảm clo huyết, nn kali clorid thường được sử dụng nhiều hơn các dạng muối khác. Kali clorid là một dược chất thuộc danh mục thuốc thiết yếu do Bộ Y tế Việt Nam ban hành lần thứ 4 năm 1999 2. Ngoại trừ những trường hợp khẩn cấp cần cung cấp kali qua đường tiêm thì sử dụng thuốc bằng đường uống là cách dùng thuận lợi nhất cho bệnh nhân. Mặc dù kali clorid hấp thu nhanh và tốt hơn các muối kali khác qua đường tiêu hóa nhưng bệnh nhân cần phải uống thuốc lặp lại nhiều lần trong ngày vì khả năng giữ kali của thận kém ngay cả khi cơ thể thiếu kali trầm trọng. Khi sử dụng đường uống, thuốc viên dạng qui ước có kali clorid gây kích ứng hoặc tổn thương đường tiêu hoá do sự phóng thích tập trung tại một nơi với nồng độ cao. Để khắc phục các nhược điểm trên, dạng thuốc viên uống phóng thích kéo dài là dạng bào chế phù hợp nhất cho dược chất kali clorid. Dược điển Anh và dược điển Mỹ cũng đ cĩ cc chuyn luận về dạng thuốc ny 19,83. Cho đến nay, trên thị trường thuốc Việt Nam các chế phẩm thuốc viên kali clorid phóng thích kéo dài là các thuốc ngoại nhập như Kaleorid® LP 600 mg, Kaldyum. Đề tài “NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VIÊN KALI CLORID 600 MG PHÓNG THÍCH KÉO DÀI” được thực hiện nhằm nghiên cứu bào chế viên kali clorid 600 mg phóng thích kéo dài đạt độ hịa tan theo tiu chuẩn dược điển Anh 2005 và tương đương sinh học với sản phẩm Kaleorid® LP 600 mg (Leo Pharmaceutical Products, Đan Mạch) đang lưu hành tại thị trường Việt Nam. Để đạt được mục tiêu trên, các nội dung nghiên cứu được thực hiện gồm: 1. Nghin cứu bo chế vin Kali clorid 600 mg phĩng thích ko di ở qui mơ phịng thí nghiệm. 2. Nghin cứu nng cấp cỡ lơ. 3. Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở và nghiên cứu độ ổn định của sản phẩm. 4. Nghiên cứu tương đương sinh học viên bao phim Kali clorid 600 mg phóng thích kéo dài với viên Kaleorid® LP 600 mg.
Trang 1Tên đề tài luận án: NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VIÊN KALI CLORID 600 mg PHÓNG THÍCH KÉO DÀI
Chuyên ngành: Công nghệ Dược phẩm Mã số: 62.73.01.01
-Hình thức luận án: 129 trang
Đặt vấn đề 2 trang
Chương 1 Tổng quan tài liệu 27 trang
Chương 2 Đối tượng và PP nghiên cứu 13 trang
Chương 3 Kết quả 74 trang
Chương 4 Bàn luận 11 trang
Kết luận và kiến nghị 2 trang
Tài liệu tham khảo gồm 94 TLTK trong số đó có 9 tài liệu tiếng Việt, còn lại là tiếng Anh
40 phụ lục
Trang 2
-ĐẶT VẤN ĐỀ
Ion kali là một cation chủ yếu của tế bào, có chức năng chính là duy trì p suất thẩm thấu của tế bo Ion kali cần thiết cho dẫn truyền xung động thần kinh, duy trì hoạt động bình thường của cơ tim, no, cơ xương, chức năng thận và cân bằng kiềm toan của cơ thể Sự thiếu hụt kali của cơ thể thường xảy ra chậm trong các trường hợp dùng lâu dài thuốc lợi tiểu thải kali, cường aldosteron, đái tháo đường nhiễm acid, tiêu chảy nặng, loạn nhịp tim điều trị bằng digitalis [Error: Reference source not found]
Biểu hiện của tình trạng giảm kali l nhịp tim nhanh bất thường, yếu cơ và đôi khi làm liệt chi Về mặt biến dưỡng, sự thiếu kali có thể làm cơ thể chậm phát triển, làm giảm lượng somatidin C trong tuần hoàn và ức chế tổng hợp protein Sự thiếu ion kali cũng là một nguyên nhân dẫn đến bệnh cao huyết áp
Để cung cấp kali trong trị liệu thường dùng kali aspartat, kali acetat, kali gluconat, kali bicarbonat, kali clorid [Error: Reference source not found],…Thông thường, khi nồng độ kali huyết giảm thường kèm theo tình trạng giảm clo huyết, nn kali clorid thường được sử dụng nhiều hơn các dạng muối khác Kali clorid là một dược chất thuộc danh mục thuốc thiết yếu do Bộ Y tế Việt Nam ban hành lần thứ 4 năm 1999 [Error: Reference source not found]
Ngoại trừ những trường hợp khẩn cấp cần cung cấp kali qua đường tiêm thì sử dụng thuốc bằng đường uống là cách dùng thuận lợi nhất cho bệnh nhân Mặc dù kali clorid hấp thu nhanh và tốt hơn các muối kali khác qua đường tiêu hóa nhưng bệnh nhân cần phải uống thuốc lặp lại nhiều lần trong ngày vì khả năng giữ kali của thận kém ngay cả khi cơ thể thiếu kali trầm trọng Khi sử dụng đường uống, thuốc viên dạng qui ước có kali clorid gây kích ứng hoặc tổn thương đường tiêu hoá do sự phóng thích tập trung tại một nơi với nồng độ cao Để khắc phục các nhược điểm trên, dạng thuốc viên uống phóng thích kéo dài là dạng bào chế phù
Trang 3hợp nhất cho dược chất kali clorid Dược điển Anh và dược điển Mỹ cũng đ cĩ cc chuyn luận về dạng thuốc ny [Error: Reference source not found],[Error: Reference source not found]
Cho đến nay, trên thị trường thuốc Việt Nam các chế phẩm thuốc viên kali clorid phóng thích kéo dài là các thuốc ngoại nhập như Kaleorid® LP 600 mg, Kaldyum
Đề tài “NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VIÊN KALI CLORID 600 MG PHÓNG THÍCH KÉO DÀI” được thực hiện nhằm nghiên cứu bào chế viên kali clorid 600
mg phóng thích kéo dài đạt độ hịa tan theo tiu chuẩn dược điển Anh 2005 và tương đương sinh học với sản phẩm Kaleorid® LP 600 mg (Leo Pharmaceutical Products, Đan Mạch) đang lưu hành tại thị trường Việt Nam
Để đạt được mục tiêu trên, các nội dung nghiên cứu được thực hiện gồm:
1 Nghin cứu bo chế vin Kali clorid 600 mg phĩng thích ko di ở qui mơ phịng thí nghiệm
2 Nghin cứu nng cấp cỡ lơ
3 Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở và nghiên cứu độ ổn định của sản phẩm
4 Nghiên cứu tương đương sinh học viên bao phim Kali clorid 600 mg phóng thích kéo dài với viên Kaleorid® LP 600 mg
Chương 4
BN LUẬN
4.1 VỀ NGHIN CỨU BO CHẾ VIN KALI CLORID 600 MG PTKD
4.1.1 VỀ NGHIN CỨU VIN NHN
Trong thiết kế một dạng thuốc PTKD dùng đường uống, các tính chất lý hĩa của dược chất là một trong các yếu tố cần lưu ý trước tiên Theo lý thuyết, cc dược chất có độ tan rất cao và tốc độ tan nhanh thì khơng ph hợp vì khĩ lm giảm tốc độ
Trang 4tan và làm chậm sự hấp thu của dược chất Thông thường, dạng PTKD được thiết
kế với dược chất có độ tan trung bình v hơi khó tan Các dược chất có độ tan trong nước từ 0,1 mg/ml trở lên tương đối phù hợp Cỡ liều cũng cần được xem xét vì lượng dược chất trong dạng thuốc PTKD thường lớn hơn dạng qui ước Đối với thuốc có cỡ liều lớn (hơn 200mg) thường không thuận lợi khi điều chế dạng PTKD vì thể tích thuốc qu lớn, gy khĩ khăn cho bệnh nhân khi uống [Error: Reference source not found],[Error: Reference source not found]
Kali clorid là dược chất có độ tan trong nước rất cao (1g tan trong 2,8 ml nước ở
20oC), đồng thời hàm lượng 600 mg trong viên là khá lớn Hai yếu tố này đưa đến những bất lợi khi điều chế viên PTKD, địi hỏi phải lựa chọn t dược tạo khung đáp ứng được hai tiêu chuẩn là làm giảm được tốc độ phóng thích dược chất, tỉ lệ sử dụng thấp so với khối lượng viên để sản phẩm có kích thước phù hợp trong trị liệu Tá dược tạo khung được sử dụng trong nghiên cứu có khả năng làm chậm tốc
độ phóng thích của kali clorid Với tỉ lệ tá dược tạo khung khoảng 8% so với khối lượng viên, tỉ lệ kali clorid phóng thích trong thử nghiệm hịa tan đạt theo tiêu chuẩn dược điển Anh ở giờ thứ nhất và giờ thứ hai và quá chậm ở giờ thứ 6 Với tỉ
lệ tá dược tạo khung 4-6 %, tốc độ phóng thích kali clorid từ viên nhân tại các thời điểm giờ 1, 2, 6 đều đạt theo tiêu chuẩn của dược điển Anh, tuy nhiên đạt ở giới hạn cao Viên nhân có khối lượng lý thuyết 633,5 mg, hm lượng kali clorid là 600
mg, tỉ lệ tá dược là 4,34% đáp ứng được hai tiêu chí là phóng thích chậm và khối lượng không vượt quá yêu cầu
Viên nhân kali clorid hầu như cịn nguyn vẹn sau thử nghiệm hồ tan, vin cĩ cấu trc khung khơng tan v khơng bo mịn trong mơi trường thử Động học phóng thích dược chất từ viên nhân thu được trong nghiên cứu phù hợp với lý thuyết về cơ chế phóng thích dược chất từ một khung trơ không tan và được xác định bởi phương trình Higuchi Dược chất ban đầu được hịa tan trực tiếp từ bề mặt của vin vo mơi trường và sau đó được phóng thích qua các kênh khuếch tán hình thnh do chính cc tiểu phần kali clorid đ hịa tan tạo thnh Tốc độ hịa tan từ vin nhn cịn bị tc động
Trang 5bởi yếu tố bề mặt của viên và cấu trúc xốp của viên Để giảm thiểu sự thay đổi hai yếu tố này, trong quá trình dập vin, cần phải xc định giới hạn về chỉ tiêu độ cứng của viên Trong nghiên cứu này, độ cứng của viên nhân trong khoảng 170 -230 N không ảnh hưởng đến tốc độ hịa tan của viên Mặt khác, do thuốc được thiết kế thêm màng bao nên tiêu chuẩn về độ mài mịn của vin nhn cũng cần kiểm sốt vì vin
nn trong qu trình bao phim phải chịu tc động của lực cơ học và nhiệt độ Viên nén trong nghiên cứu này có độ mài mịn nhỏ hơn 0,2% so với đề nghị độ mài mịn nn nhỏ hơn 0,3%
4.1.2 VỀ MNG BAO PHĨNG THÍCH KO DI
Ở dạng viên nén, khi vào cơ thể, dược chất kali clorid có thể tiếp xúc trực tiếp với niêm mạc đường tiêu hóa ở dạng tinh thể và gây tổn thương đường tiêu hóa Để hạn chế tác dụng phụ này, kali clorid phải được phóng thích ra khỏi dạng bào chế
ở dạng dung dịch, nghĩa là quá trình hịa tan tinh thể kali clorid xảy ra trong vin v dung dịch được khuếch tán ra ngoài Màng bao được thiết kế cho dạng thuốc này nhằm hai mục đích là làm chậm sự phóng thích của thuốc, đồng thời giúp cho thuốc phóng thích ra ở dạng dung dịch theo suốt chiều dài của đường tiêu hóa
Để đạt được mục đích trên, màng bao PTKD đ được nghiên cứu để kiểm soát tốc
độ phóng thích dược chất, đặc biệt là làm giảm tốc độ phóng thích ở giai đoạn đầu khi viên tiếp xúc với môi trường thử Các nghiên cứu đ thực hiện cho thấy cả 2 loại polyme được chọn là Eudragit RL 100 và ethyl cellulose đều có khả năng tạo màng bao điều chỉnh tốc độ phóng thích kali clorid Các công thức dịch bao được thiết kế đơn giản, hạn chế sử dụng các dung môi hữu cơ được nhà sản xuất khuyên dùng cho hai chất bao trong nghiên cứu như isopropanol, aceton So sánh với hệ chất bao phân tán trong nước thì cc cơng thức dịch bao trong nghiên cứu thể hiện tính ưu việt là cho phép lựa chọn loại và tỉ lệ chất hóa dẻo thích hợp, cho phép phối hợp vào dịch bao các polyme thứ cấp để điều chỉnh tốc độ phóng thích của dược chất ra khỏi màng bao như trường hợp phối hợp HPMC vào dịch bao EC với các tỉ lệ khc nhau
Trang 6Trong hệ thống PTKD cấu trúc màng bao, dược chất có thể phóng thích theo cơ chế áp suất thẩm thấu hay khuếch tán, đặc biệt đối với dược chất kali clorid là một dược chất có độ tan cao và dung dịch có thể tạo ra một áp suất thẩm thấu để đẩy thuốc qua mng bao
Đối với màng bao EC, cơ chế phóng thích dược chất phụ thuộc vào tỉ lệ phối hợp giữa EC và HPMC Tỉ lệ EC trong hỗn hợp EC:HPMC từ 76% trở lên sẽ tạo ra hệ thống PTKD theo cơ chế thẩm thấu [Error: Reference source not found] Tỉ lệ EC trong hỗn hợp polyme đ khảo st từ 35-50 % cho dược chất phóng thích qua màng bao theo cơ chế khuếch tán Bằng phương pháp khảo sát hình ảnh mng bao sau thử nghiệm hịa tan đ quan st được sự hình thnh của cc lỗ v knh khuếch tn trn mng bao
do cc phn tử HPMC hịa tan trong nước tạo thành
Công thức dịch bao và tỉ lệ lớp bao được xác định ở qui mô phịng thí nghiệm thực hiện trong nồi bao 40 cm khơng cĩ cnh đảo và chuyển sang thiết bị bao phim chuyên dụng cho kết quả không có sự thay đổi lớn Quy trình bao phim ở giai đoạn nâng cấp thực hiện trên 3 lô với cỡ lô 15 kg thể hiện sự đồng nhất giữa các viên trong cùng một lô và lô-lô, cho phép khẳng định tính khả thi của việc triển khai sản xuất viên kali clorid PTKD tại xí nghiệp dược phẩm ở Việt Nam
Các màng phim PTKD thường được áp dụng để bao vi hạt, tinh thể dược chất, phức hợp dược chất-chất trao đổi ion vì cĩ ưu điểm là tránh được nguy cơ phóng thích dược chất ồ ạt Kỹ thuật bao viên nén dễ dàng hơn bao các tiểu phần, tuy nhiên ít được sử dụng vì nếu mng bao trn vin nn khơng hồn chỉnh sẽ gy hiện tượng toàn bộ liều sẽ được phóng thích trong một thời điểm Để giải quyết vấn đề này, sản phẩm trong nghiên cứu này đ ứng dụng phối hợp linh hoạt mng bao PTKD trn vin nn cĩ cấu trúc khung tạo sự phóng thích dược chất được kiểm soát không chỉ bằng một cơ chế mà bằng nhiều cơ chế khác nhau để tránh nguy cơ phóng thích ồ
ạt (dose dumping) [Error: Reference source not found]
4.2 VỀ XY DỰNG TIU CHUẨN
4.2.1 VỀ CHỌN PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG
Trang 7Đối với nguyên liệu kali clorid, các dược điển Mỹ, dược điển Anh và dược điển Việt Nam sử dụng phương pháp định lượng gián tiếp ion clorid bằng phương pháp hóa học, dùng chỉ thị màu để xác định điểm kết thúc Phương pháp cần lượng mẫu thử khoảng 130-200 mg kali clorid
Để định lượng kali clorid trong các chế phẩm, các dược điển Anh và dược điển
Mỹ sử dụng phương pháp định lượng trực tiếp ion kali bằng phương pháp AAS hoặc AES Đây là các phương pháp có giới hạn phát hiện thấp và độ nhạy cao Hai phương pháp này có ưu điểm là chỉ cần một lượng mẫu rất nhỏ cũng có thể định lượng được kali và đặc biệt hữu hiệu trong trường hợp thuốc có nhiều thành phần Tuy nhiên, đối với các mẫu thử có nồng độ cao cần phải thực hiện pha long mẫu, đặc biệt là phương pháp AAS trong dược điển Mỹ phải pha long mẫu thử đến
4000 lần mới đo được Để thực hiện các phương pháp này phải có trang thiết bị tương ứng và thời gian xử lý mẫu
Trong nghiên cứu này, phương pháp chuẩn độ điện thế được áp dụng để định lượng kali clorid trong chế phẩm Đây là một phương pháp định lượng hóa học được sử dụng nhằm xác định điểm tương đương chính xác hơn so với phương php dng chỉ thị màu Phương pháp chuẩn độ điện thế xác định lượng ion clorid trong dung dịch thử, từ đó suy ra lượng kali clorid có trong môi trường thử Tuy không phải là một phương pháp định lượng trực tiếp, nhưng phương pháp này cũng cho những kết quả chính xác và đ được Dược Điển Anh sử dụng để định lượng kali clorid phóng thích từ viên tác dụng kéo dài trong thử nghiệm độ hoà tan Mặt khác, viên kali clorid có hàm lượng 600 mg nên việc áp dụng phương pháp hóa học hoặc chuẩn độ điện thế không gặp khó khăn về lượng mẫu thử Phương pháp đ được thẩm tra bởi Viện Kiểm Nghiệm Thuốc TP HCM
Ưu điểm của phương pháp chuẩn độ điện thế trong nghiên cứu là định lượng nhanh hơn phương pháp dùng chỉ thị màu, cho phép định lượng chính xác với trang thiết bị đơn giản, phổ biến tại các phịng kiểm nghiệm v khơng mất nhiều thời gian
Trang 84.2.2 VỀ TIÊU CHUẨN TỐC ĐỘ PHÓNG THÍCH DƯỢC CHẤT
Lượng dược chất phóng thích ở nhiều thời điểm khác nhau là tiêu chí quan trọng trong kiểm tra chất lượng thuốc phóng thích kéo dài Đối với các thuốc phóng thích kéo dài, tiêu chuẩn về độ phóng thích dược chất thường được xây dựng trên
ít nhất 3 hoặc 4 thời điểm, mỗi thời điểm tương ứng với một khoảng giới hạn phần trăm cho lượng dược chất phóng thích so với hàm lượng hoạt chất trong viên Thời điểm đầu tiên phải qui định thường là giờ thứ nhất, nhằm kiểm soát và phát hiện trường hợp thuốc phóng thích quá nhanh do thiết kế chưa phù hợp hoặc qui trình sản xuất khơng ổn định Thời điểm cuối cùng thường qui định ở mức tối thiểu là 75% hoặc 80% để đảm bảo dược chất được phóng thích một lượng đủ cho tác dụng trị liệu Các thời điểm giữa (1 hoặc 2 thời điểm) xác định hình dạng của đường biểu diễn phóng thích hoạt chất [Error: Reference source not found]
Đối với thuốc PTKD chứa kali clorid, hiện có 2 tiêu chuẩn về độ hịa tan tương đối khác nhau: USP chỉ qui định 1 thời điểm là sau 2 giờ lượng dược chất phóng thích không quá 35%; dược điển Anh qui định tại 3 thời điểm là 1 giờ không quá 50%; sau 2 giờ trong khoảng 25 – 75 % và sau 6 giờ không ít hơn 75% Do đó, tiêu chuẩn về độ hịa tan đ được đề xuất và thực hiện theo tiêu chuẩn của dược điển Anh vì vừa đảm bảo đủ 3 điểm kiểm soát đối với 1 thuốc PTKD vừa phù hợp với tốc độ phóng thích dược chất của thuốc đối chiếu
4.3 VỀ ĐỘ ỔN ĐỊNH CỦA VIÊN BAO PHIM KALI CLORID 600 MG PTKD
Trang 9Thử nghiệm độ ổn định theo phương pháp lo hố cấp tốc là phương pháp kinh điển
đ được ứng dụng để xác định tuổi thọ và ước tính tuổi thọ của sản phẩm phục vụ cho hồ sơ đăng ký sản xuất v lưu hành thuốc Ưu điểm của phương pháp là cho phép ước tính được tuổi thọ của thuốc trong thời gian nghiên cứu ngắn Tuy nhiên, nhược điểm chính của phương pháp là kết quả tính toán chỉ là số liệu tham khảo vì thuốc được bảo quản trong điều kiện không đúng so với điều kiện thực tế Do đó, kết quả thử độ ổn định dài hạn ở điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bình thường vẫn phải được thực hiện để xác định chính xác tuổi thọ của chế phẩm Một nhược điểm khác là phương pháp lo hố cấp tốc chỉ xc định tuổi thọ căn cứ vào hàm lượng dược chất qua ngoại suy bằng các phương trình tốn học đ được thiết lập Đối với thuốc phóng thích kéo dài, ngoài hàm lượng thì cịn một tiu chuẩn quan trọng l độ hoà tan của dược chất Độ hoà tan của dược chất phải không thay đổi hoặc chỉ thay đổi ở một mức chấp nhận được theo giới hạn của dược điển hoặc tiêu chuẩn cơ sở Cho đến nay chưa có một phương pháp ngoại suy nào được ứng dụng để ước tính độ hoà tan của dược chất căn cứ vào số liệu thu được từ thử nghiệm lo hố cấp tốc Kali clorid là một dược chất vô cơ nên rất khó bị phân huỷ ngay cả khi bảo quản ở nhiệt độ cao, nên sau 6 tháng lưu mẫu ở điều kiện nhiệt độ 40 ± 2oC và độ ẩm tương đối 75 ± 5% hàm lượng kali trong viên thay đổi trong khoảng 99,02-100,71% so với hàm lượng ban đầu và không theo qui luật nhất định Các giá trị này vẫn trong phạm vi sai số của phép định lượng Do hàm lượng kali clorid của thuốc hầu như không thay đổi nên các phương trình Van’t Hoff v Arrhenius khơng p dụng để ước tính tuổi thọ Tương tự, trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bình thường, hàm lượng kali clorid trong thuốc chênh lệch khoảng ± 1% so với hàm lượng ban đầu
Trang 10Tốc độ phóng thích dược chất của thuốc trong cả 2 điều kiện bảo quản bình thường và lo hĩa cấp tốc được so sánh với tốc độ phóng thích dược chất ban đầu
cho các giá trị f 2 đều đạt trong khoảng 50-100, do đó, kết luận tốc độ phóng thích dược chất không thay đổi theo thời gian bảo quản Căn cứ kết quả thu được trong thời gian bảo quản ở điều kiện thực, kết luận thuốc thử nghiệm có tuổi thọ ít nhất
36 tháng
4.4 VỀ ĐÁNH GIÁ TƯƠNG ĐƯƠNG SINH HỌC VIÊN BAO PHIM KALI CLORID 600 MG PTKD
4.4.1 VỀ SO SÁNH ĐỘ HỊA TAN CỦA THUỐC ĐỐI CHIẾU VÀ THUỐC NGHIÊN CỨU
Độ hịa tan của thuốc PTKD l một tiu chí quan trọng trong đánh giá chất lượng dạng thuốc Tuy nhiên, các Dược điển chỉ qui định phải thử dạng thuốc trong 1 hoặc tối đa là 2 môi trường thử, đôi khi môi trường thử chỉ đơn giản là nước cất Các qui định này đủ để xác định chất lượng của thuốc và đánh giá được độ ổn định của qui trình trong sản xuất thuốc phĩng thích ko di Sự phĩng thích thuốc trong cơ
thể thường phức tạp hơn so với thử nghiệm hịa tan in vitro, vì thuốc phải di
chuyển trong đường tiêu hóa qua nhiều vùng khác nhau và tốc độ di chuyển biến đổi rất nhiều tùy thuộc vào kích cỡ viên thuốc, cấu trúc viên, thể trạng của người
sử dụng thuốc (đói, no, ảnh hưởng của lượng thức ăn có trong đường tiêu hóa, các bệnh có liên quan đến đường tiêu hóa…), các hoạt động hoặc tư thế của người bệnh sau khi uống thuốc [Error: Reference source not found] Kết quả thử độ phóng thích hoạt chất của thuốc thử nghiệm và thuốc đối chiếu trong 4 môi
trường khác nhau đều cho kết quả tương tự như nhau xét trên giá trị của hệ số f 2 Mặt khác, khi xét riêng từng sản phẩm, cả 2 thuốc đều phóng thích với một tốc
độ gần như nhau trong các môi trường khác nhau, chứng tỏ sự phóng thích kali clorid từ cả 2 thuốc đều không bị ảnh hưởng bởi pH của môi trường thử nghiệm Kết quả này là một điều kiện để đảm bảo cho thuốc phóng thích với một tốc độ ổn định khi di chuyển qua nhiều vùng pH khác nhau của đường tiêu hóa