Sức khỏe là một tài sản vô cùng quý giá của con người. Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe là mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng. Nhất là trong thời kỳ kinh tế ngày càng phát triển, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ngày càng được quan tâm. Nước ta có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm nên tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp tương đối cao. Viêm họng là một bệnh gặp khá phổ biến, mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh nhưng tỷ lệ viêm họng cấp tính thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên, viêm họng mạn tính gặp ở lứa tuổi lớn hơn. Có nhiều nguyên nhân gây viêm họng như thời tiết, hơi hóa chất, khói thuốc lá, bụi (trong bụi có rất nhiều loại vi sinh vật khác nhau), không khí bị ô nhiễm và vi sinh vật (vi khuẩn, virus và vi nấm). Căn nguyên vi sinh vật là một trong những căn nguyên hay gặp nhất gây nên viêm họng. Đối với vi sinh vật, đặc biệt là vi khuẩn, có những loài gây viêm họng và để lại những hậu quả rất nặng nề, ví dụ như bệnh thấp tim do viêm họng bởi vi khuẩn Streptococcus pyogenes (liên cầu nhóm A : LCA). Khi bị viêm họng bác sỹ thường kê đơn kháng sinh để điều trị, nhưng kháng sinh cũng gây hại cho sức khoẻ và nếu dùng lâu, dùng nhiều gây lờn thuốc khiến thuốc không còn tác dụng. Việc sử dụng các thuốc ngậm tại chỗ là một trong những cách điều trị ho mang lại hiệu quả khá cao trước khi sử dụng kháng sinh. Hiện nay trên thị trường có nhiều loại viện ngậm trị ho và được chia làm ba loại chính là: loại có chứa kháng sinh, loại chứa hoạt chất giảm ho và loại thuốc phối hợp nhiều hoạt chất như tinh dầu bạc hà, khuynh diệp, gừng, cam thảo, ma hoàng, quế ... Hiện nay với xu hướng quay về nguồn cội, việc sử dụng các sản phẩm thiên nhiên từ cây cỏ để làm thuốc trong phòng và trị bệnh đang được nhiều nước quan tâm, trong đó có Việt Nam là một trong những nước có truyền thống sử dụng dược liệu từ lâu đời. Lý do là vì các loại Dược phẩm có chứa các loại hóa chất thường gây các tác dụng phụ nguy hiểm, có hại cho sức khỏe của con người nếu sử dụng lâu dài. Chúng ta đã biết đến nhiều loại thảo dược dùng làm thuốc qua những kinh nghiêm dân gian từ ngày xưa, và hiện nay các kinh nghiệm này đang dần dần được kế thừa và phát huy thông qua các công trình nghiên cứu về công thức, dạng sử dụng, cách bào chế, đường sử dụng ... nhằm làm cho việc sử dụng được dễ dàng hơn và hiệu quả điều trị ngày càng được nâng cao.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
KHOA DƯỢC
Lâm Hoàng Yến
NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VIÊN NGẬM SÁT TRÙNG SỬ DỤNG ĐƯỢC CHO BỆNH NHÂN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
KHOA DƯỢC
Lâm Hoàng Yến
NGHIÊN CỨU BÀO CHẾ VIÊN NGẬM SÁT TRÙNG SỬ DỤNG ĐƯỢC CHO BỆNH NHÂN
Trang 3MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
Trang 4Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe là một tài sản vô cùng quý giá của con người Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe
là mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng Nhất là trong thời kỳ kinh tế ngày càng pháttriển, đời sống con người ngày càng được nâng cao thì việc chăm sóc và bảo vệ sứckhỏe ngày càng được quan tâm
Nước ta có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm nên tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp tương đối cao.Viêm họng là một bệnh gặp khá phổ biến, mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh nhưng tỷ
lệ viêm họng cấp tính thường gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên, viêm họng mạn tính gặp ở lứa tuổi lớn hơn
Có nhiều nguyên nhân gây viêm họng như thời tiết, hơi hóa chất, khói thuốc lá, bụi (trong bụi có rất nhiều loại vi sinh vật khác nhau), không khí bị ô nhiễm và vi sinh vật (vi khuẩn, virus và vi nấm) Căn nguyên vi sinh vật là một trong những căn nguyên haygặp nhất gây nên viêm họng Đối với vi sinh vật, đặc biệt là vi khuẩn, có những loài gây viêm họng và để lại những hậu quả rất nặng nề, ví dụ như bệnh thấp tim do viêm
họng bởi vi khuẩn Streptococcus pyogenes (liên cầu nhóm A : LCA).
Khi bị viêm họng bác sỹ thường kê đơn kháng sinh để điều trị, nhưng kháng sinh cũnggây hại cho sức khoẻ và nếu dùng lâu, dùng nhiều gây lờn thuốc khiến thuốc khôngcòn tác dụng Việc sử dụng các thuốc ngậm tại chỗ là một trong những cách điều trị homang lại hiệu quả khá cao trước khi sử dụng kháng sinh Hiện nay trên thị trường cónhiều loại viện ngậm trị ho và được chia làm ba loại chính là: loại có chứa kháng sinh,loại chứa hoạt chất giảm ho và loại thuốc phối hợp nhiều hoạt chất như tinh dầu bạc hà,khuynh diệp, gừng, cam thảo, ma hoàng, quế
Hiện nay với xu hướng quay về nguồn cội, việc sử dụng các sản phẩm thiên nhiên từcây cỏ để làm thuốc trong phòng và trị bệnh đang được nhiều nước quan tâm, trong đó
có Việt Nam - là một trong những nước có truyền thống sử dụng dược liệu từ lâu đời
Trang 5Lý do là vì các loại Dược phẩm có chứa các loại hóa chất thường gây các tác dụng phụnguy hiểm, có hại cho sức khỏe của con người nếu sử dụng lâu dài.
Chúng ta đã biết đến nhiều loại thảo dược dùng làm thuốc qua những kinh nghiêm dângian từ ngày xưa, và hiện nay các kinh nghiệm này đang dần dần được kế thừa và pháthuy thông qua các công trình nghiên cứu về công thức, dạng sử dụng, cách bào chế,đường sử dụng nhằm làm cho việc sử dụng được dễ dàng hơn và hiệu quả điều trịngày càng được nâng cao
Bệnh tiểu đường cũng là một trong những bệnh phổ biến hiện nay, vì tỷ lệ người mắcbệnh ngày càng cao và bệnh thường để lại những biến chứng nghiêm trọng như caohuyết áp, suy thận, thiếu máu cơ tim, bệnh nhiễm trùng Vì vậy việc kiêng đường đốivới người bị tiểu đường là hết sức cần thiết Nhưng hầu hết các chế phẩm viên ngậmtrên thị trường đều có đường nên không thể sử dụng được cho bệnh nhân tiểu đường Nhằm làm phong phú thêm các chế phẩm viên ngậm trị viêm họng trên thị trường vàđặc biệt là chế phẩm có thể sử dụng được cho bệnh nhân bị tiểu đường, mục tiêu tổngquát của đề tài là: “Nghiên cứu bào chế viên ngậm sát trùng sử dụng được cho
bệnh nhân tiểu đường” với những nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu xây dựng công thức và phương pháp bào chế viên ngậm
- Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng cho chế phẩm
- Kiểm nghiệm chế phẩm theo chỉ tiêu chất lượng
Trang 6Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan về viên ngậm.
Viên ngậm là dạng viên gần gũi với viên đặt ở khoang miệng, vì dùng tại chỗ nơimiệng, nhưng thường là những viên lớn, nhiều khi hàng gam Thường phân biệt haidạng:
Viêm kẹo ngậm (lozenges): viên chứa hoạt chất và tá dược chủ yếu là đươngsaccharose và gôm arabic Dạng này cứng, dòn để phân biệt với dạng kẹo dẻo(pastilles) chứa gelatin, đường, thường sản xuất bằng cách nấu nóng chảy và đổ khuôn,hoặc vuốt kéo dài thành sợi và dập, ép bằng máy chuyên dùng
Viên nén để ngậm (troches): Dạng viên nén mỏng, tròn hoặc hình dạng khác nhau, đểngậm trong miệng, sản xuất như viên nén thông thường hoặc ép khuôn
Viên ngậm phải chắc, không rã nhưng bị bào mòn, hòa tan chậm trong miệng trong
khoảng 30 phút hay 4 giờ trong thử nghiệm in vitro Đặc biệt phải có mùi vị ngon và
không để lại dư vị khó chịu
Viên ngậm thường áp dụng cho những trị liệu tại chỗ như sát trùng, giảm đau ở miệng,
ở cuống họng, giảm ho, chống xuất tiết quá mức niêm dịch
Các hoạt chất hay gặp ở dạng thuốc này như: dẫn xuất alcolbenzylic, cresol, menthol,nystatin, tyrothricin, dextromethorphan, bacitracin, pantoprazol, chlorpheniramin, Thuốc dùng bằng cách ngậm còn có thuốc phiến (tablette), hay thuốc thẻ làm theo kiểu
ép khuôn hay cán thành lá, vảy mỏng (flakes, feuillettes) chứa menthol, eucalyptol đểngậm làm thơm miệng [5]
Trang 72.1.1 Những yêu cầu đặc trưng về bào chế
Ngoài những yêu cầu chung của viên nén, viên ngậm cần đáp ứng 2 yêu cầu đặc trưngsau [6]:
- Giải phóng dược chất từ từ, kéo dài: viên ngậm khi dùng thường được giữ lâu trongmiệng từ 30 - 60 phút, giải phóng dược chất từ từ bằng cách “mài mòn dần” (hòa tandần từ ngoài vào trong) Một số Dược điển quy định thời gian rã của viên ngậm là 4giờ
- Có mùi vị dễ chịu: do thời gian lưu ở trong khoang miệng khá lâu, lại cải trở sinhhoạt tự nhiên của người dùng, nên viên ngậm phải có mùi vị dễ chịu để được ngườidùng chấp nhận
Mặt khác, với viên ngậm, người ta cũng hạn chế dùng các tá dược không tan để tránhtạo cảm giác “sạn” khi ngậm, gây khó chịu cho người dùng Các tá dược không tancũng gây tăng tiết nước bọt và tạo phản xạ nuốt làm giảm tác dụng của thuốc Việc lựachọn tá dược xây dựng công thức dập viên phải dựa trên đặc trưng của viên ngậm Banhóm tá dược quan trọng nhất cho viên ngậm là: tá dược độn, tá dược dính và chất điềuhương vị [6]
- Với tá dược độn: trong viên ngậm, lượng tá dược độn thường chiếm 60 - 90% khốilượng của viên để che dấu mùi vị riêng của dược chất Do đó, tá dược độn phải lànhững chất tạo được mùi vị tốt cho viên, thường dùng nhất là bột đường như Dipac,Emdex, mannitol, sorbitol
- Với tá dược dính, thường dùng những tá dược dính mạnh để kéo dài thời gian rã củaviên như gôm arabic, gelatin, siro…
- Chất thơm được lựa chọn ùy theo từng công thức cho phù hợp với tính chất và mùi vịcủa dược chất, với thói quen của người dùng Trên thị trường, nhóm tá dược này đượcbán dưới 2 dạng: dạng lỏng hoặc bột phun sấy
Trang 82.1.2 Các phương pháp bào chế viên ngậm
Viên ngậm thường được bào chế bằng các phương pháp phổ biến sau [6]:
Phương pháp dập viên: Tiến hành dập thẳng hay tạo hạt như với viên nén thông
thường Viên ngậm thường có khối lượng lớn (1 - 4g) nên theo kinh nghiệm, thườngphải khống chế tỉ lệ bột mịn (< 15%) để dễ đảm bảo biến thiên khối lượng của viên Đểkéo dài thời gian rã viên ngậm được dập ở lực nén cao hơn viên nén thông thường (15 -20kg), đồng thời hay được dập với các bộ cối chày đặc biệt tạo ra các hình dạng khácnhau (bán nguyệt, bát giác…) đặc trưng cho viên ngậm và hấp dẫn người dùng
Phương pháp đổ khuôn: áp dụng để bào chế dạng kẹo ngậm Việc đổ khuôn, đầu tiên
được tiến hành thủ công theo các bước: tạo khối dẻo, đổ khuôn, để nguội rồi tháo viên.Hiện nay có những máy chế viên tự động công suất hàng trăm nghìn viên trong 1 giờ,hoạt động theo nguyên tắc: tạo khối dẻo, đùn sợi viên, tạo hình viên Trên các thiết bịnày có thể tạo ra viên 2 lớp: nhân và vỏ có thành phần, mùi vị khác nhau để tăng hiệuquả điều trị và hấp dẫn người dùng Phương pháp đổ khuôn tạo ra được loại kẹo thuốc
có mùi vị thơm ngon, thích hợp với người bệnh, đặc biệt là trẻ em Tuy nhiên chỉ ápdụng được với các dược chất có mùi vị dễ chịu, khối lượng nhỏ và chịu được nhiệt
2 2 Tổng quan về dược liệu.
2.2.1 Cây Tràm.
Trang 9Tên Việt Nam: Tràm
Tên khoa học: Melaleuca leucadendra (L.) L.
Họ: Sim (Myrtaceae)
Hình thái học
Cây bụi thấp, cao khoảng 0,5m hoặc cây gỗ to, cao 10 - 12m Thân thẳng có vỏ ngoàimềm, xốp, màu trắng xám, dễ bong thành từng mảng mỏng Cành hình trụ, ngọn non
có lông dày màu trắng bạc Lá mọc so le, dày và cứng, hình mác thuôn, gốc tròn, đầu
tù hoặc hơi nhọn, dài 4 - 8cm, rộng 1 - 2cm, lúc đầu có lông mềm màu trắng, sau nhẵn,hai mặt cùng màu, có 5 gân chính hình cung; cuống lá ngắn, có lông
Cụm hoa mọc ở đầu cành thành bông tận cùng bằng một túm lá non; lá bắc hình mác,sớm rụng; hoa màu vàng ngà, tụ tập 2 - 3 cái trên cụm; đài hình trụ, có lông mềm, 5răng, sớm rụng; tràng 5 cánh có móng rất ngắn; nhị rất nhiều, hàm liền ở gốc thành 5
bó đối diện với lá đài; bầu ẩn trong ống đài, bầu 3 ô
Quả nang, gần hình cầu, cụt ở đầu, đường kính khoảng 4mm, khi chín nứt thành 3mảnh; hạt hình nêm hoặc gần hình trứng Mùa hoa quả vào khoảng tháng 3 - 5
Bộ phận dùng: Lá và phần ngọn, thu hái vào đầu mùa hạ, phơi hay sấy khô Tinh dầu.Ngoài ra còn dùng phần vỏ thân [1]
Thành phần hóa học
Tràm Cừ có hàm lượng tinh dầu thấp (0,1%) và hàm lượng eucalyptol trong tinh dầucũng thấp (15%), được khai thác để lấy gỗ
Trang 10Tràm gió có nhiều chủng loại như Tràm lá thường, Tràm lá tre, Tràm lá tròn, Tràmhuyết.
Lá Tràm chứa tinh dầu, flavonoid
Theo qui định của Dược điển Việt Nam II, tập 3, dược liệu phải chứa ít nhất 1,25% tinhdầu (tính theo dược liệu khô kiệt)
Tinh dầu được lấy từ lá tươi bằng cách cất kéo hơi nước, là một chất lỏng trong, khôngmàu hay màu lục nhạt đến vàng nhạt, mùi đặc biệt Một thể tích tinh dầu tan trong 1 - 2thể tích ethanol 800 Năng suất quay cực ở 20oC là -30 đến -10
Tinh dầu lá cây Tràm chứa 14 - 65%, 1,8 - cineol tùy theo tuổi cây, thổ nhưỡng và cácđiều kiên khác Các thành phần khác là 3,5 - dimethyl - 4,6 - di - O -methylphloroacetophenon, pinen, terpineol, nerolidol, benzaldehyd (vết), valeraldehyd(vết)
Ngoài ra tinh dầu Tràm còn có flavonoid, tanin Các flavonoid trong lá Tràm làkaempferol, quercetin, myricetin, myricitrin, quercitrin, miquelianin và quercetin 3 - O
- xyloglucosid (CA 118 : 109.477 s) [1]
Công dụng
Tràm được dùng trị cảm mạo, phong hàn, phổi lạnh, ho đờm, hen suyễn, tức ngực, tiêuhóa kém, làm tăng lưu thông huyết mạch sau khi sanh, trị phong thấp và đau dây thầnkinh
Lá Tràm tươi nấu nước rửa vết thương chống nhiễm khuẩn, bôi lên vết bỏng tránh hiệntượng phồng nước, tắm chữa mẩn ngứa Lá Tràm phơi khô thường được nhân dân nấunước uống thay chè (2g trong 1 lít) có tác dụng kích thích tiêu hóa
Tinh dầu Tràm được dùng xoa bóp ngoài làm nống chữa đau khớp, chân tay nhức mỏi.Tinh dầu Tràm pha trong dầu Thầu Dầu với tỷ lệ 5 - 10% dùng nhỏ mũi để sát khuẩn,
Trang 11chống cúm, ngạt mũi Còn dùng tinh dầu Tràm pha vào nước với nồng độ 0,2% để rửavết thương.
Trong y học cổ truyền Ấn Độ, tinh dầu Tràm pha loãng được dùng uống làm thuốclong đờm trong viêm thanh quản và viêm phế quản mạn tính, làm thuốc gây trung tiệngiảm trướng bụng Nếu dùng liều quá cao có thể gây kích ứng đường tiêu hóa Có tácdụng trị giun, đặc biệt là giun đũa Chấm tinh dầu Tràm vào lỗ răng sâu làm giảm đau.Tinh dầu Tràm là một thành phần trong thuốc bôi dẻo và thuốc sức để phản kích thíchtrong điều trị thấp khớp mạn tính [1]
Eucalyptol
Eucalyptol là ether – oxyd nội tương ứng của terpin
Eucalyptol có trong tinh dầu Tràm, Chổi, Khuynh Diệp, Bạch Đàn và một số tinh dầukhác [2]
Trang 12được dùng để tạo ra eucalyptol để định lượng eucalyptol trong tinh dầu Eucalyptol resorcinol ổn định hơn hợp chất eucalyptol và acid phosphoric.
-Còn có thể tạo ra eucalyptol với O - cresol một hợp chất cộng, từ đó có thể phục hồieucalyptol Phản ứng này còn dùng để định lượng eucalyptol trong tinh dầu (E.Guenther II, 1949) [1]
Eucalyptol có tỷ trọng từ 0,922 - 0,927 Chỉ số khúc xạ 1,456 - 1,460 Góc quay cực từ-0,2o đến +0,2o
Công dụng
Công dụng chủ yếu của eucalyptol là dùng làm thuốc chữa ho, viêm đau họng vì cótính chất sát trùng đường hô hấp, long đờm Dùng ngoài xoa bóp chữa đau nhức, sáttrùng, chữa bỏng Người ta thường dùng những tinh dầu có hàm lượng eucalyptol caohoặc chiết riêng eucalyptol [2]
2.1.2 Cây Bạc Hà.
Tên Việt Nam: Bạc Hà
Tên khoa học: Mentha arvensis L.
Họ: Hoa Môi (Lamiaceae)
Hình thái học
Cây thảo, sống lâu năm Thân mềm, hình vuông Loại thân ngầm mang rễ mọc bò lan,loại thân đứng mang lá, cao 30 - 40cm, có khi hơn, màu xanh lục hoặc tím tía, đôi khi
Trang 13phân nhánh Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc hình trứng, cuống ngắn, mép lá khía răngđều.
Hoa nhỏ màu trắng, hồng hoặc tím hồng, mọc tụ tập ở kẽ lá thành những vòng nhiềuhoa; lá bắc nhỏ, hình dùi; đài hình chuông có 5 răng đều; tràng có ống ngắn, phiếntràng chia làm bốn phần gần bằng nhau, có một vòng lông ở phía trong; 4 nhị bằngnhau, chỉ nhị nhẵn
Quả bế, có 4 hạt (ít gặp) Các bộ phận trên mặt đất có lông gồm lông che chở và lôngbài tiết có tinh dầu
Mùa hoa quả vào tháng 7 - 10
Bộ phận dùng là lá (thu hái vào thời kỳ ra hoa) và các bộ phận trên mặt đất
Tinh dầu cất từ lá và các bộ phận trên mặt đất đã được tinh chế [1]
p cymol 0,09% piperiton oxyd 16%
octanol 3 - 3,2% piperitenon oxyd 21,5%
menthol 5,8%
Tinh dầu Mentha arvensis di thực vào Việt Nam (NV 74) chứa sabinen, myrcen, α
-pinen, limonen, cineol, methylheptenon, menthon, isomenthol, menthyl acetat,neomenthol, menthol, isomenthon, pulegon
Trang 14Tinh dầu là hoạt chất chính với hàm lượng 0,5% (Dược điển Việt Nam II, tập 3), 0,8%(Dược điển Nhật Bản X), 1% (Dược điển Liên Xô X, Dược điển Pháp IX).
Tinh dầu là chất lỏng không màu hay màu vàng nhạt, có mùi Bạc Hà đặc biệt, vị cay,sau mát
Với tinh dầu Bạc Hà giàu menthol (trên 70%), có thể chiết xuất một phần menthol, tinhdầu còn lại vẫn đạt tiêu chuẩn Dược điển [1]
Công dụng
Bạc Hà trị ngoại cảm phong nhiệt, phát sốt không ra mồ hôi, nhức đầu, ngạt mũi, ho,viêm họng sưng đau, mắt đỏ, ngứa nổi mề đay, bụng đau, đầy trướng, tiêu hóa kém,nôn mửa Thường dùng phối hợp với nhiều thuốc khác
Bạc Hà dùng làm cho thuốc thơm dễ uống và chữa đau bụng đi ngoài
Tinh dầu Bạc Hà và menthol có tác dụng sát khuẩn, xoa bóp nơi sưng đau, như khớpxương, thái dương khi nhức đầu
Cây khô Bạc Hà dùng làm thuốc chống co thắt, gây trung tiện, tống hơi trong ruột ra,làm dễ tiêu, làm lạnh, gây tác dụng kích thích, điều kinh, lợi tiểu
Nước hãm lá Bạc Hà dùng điều tri thấp khớp và chứng ăn không tiêu Tinh dầu Bạc Hà
đã loại menthol được dùng làm thơm nước súc miệng, kem đánh răng và các Dượcphẩm
Liều dùng:
- Lá và toàn cây Bạc Hà: ngày uống từ 4 - 8g dưới dạng thuốc hãm
- Tinh dầu và menthol: một lần 0,02 - 0,2ml, một ngày 0,06 - 0,6ml [1]
Menthol
Trang 15Menthol thiên nhiên là L-menthol được chiết từ tinh dầu bạc hà châu Âu hay tinh dầubạc hà châu Á, nhưng chủ yếu là tinh dầu bạc hà châu Á Cho tới chiến tranh thế giớithứ hai (1939 - 1945) nguồn menthol chủ yếu vẫn là menthol thiên nhiên Nhưng trongchiến tranh thế giới thứ hai, tại những nước châu Âu, châu Mỹ người ta không muađược menthol thiên nhiên hoặc chỉ mua được với giá rất đắt nên người ta đã đặt vấn đềđiều chế menthol bằng con đường tổng hợp Nhưng những nguyên liệu để điều chếmenthol vẫn phải chiết từ cây cỏ, cụ thể là những chất như thymol, menthon, các
menthenon như pulegon trong loài bạc hà Mentha pulegium Lin và piperiton trong một
Menthol thiên nhiên
Menthol là alcol bậc 2, terpenic
Menthol thiên nhiên là những tinh thể không màu, bóng, hình sáu cạnh dài, mỏng, mùi
vị đặc biệt giống mùi tinh dầu bạc hà [2]
Tỷ trọng 0,890; độ chảy 41 – 430; độ sôi 212 0C; chỉ số khúc xạ nD25 = 1,458; năng suấtquay cực trong ethanol 10% [α]D18 = -500
Trang 16Menthol hầu như không tan trong nước, rất tan trong cồn, ete, acid acetic, ete dầu hỏacũng tan nhưng ít hơn trong dầu mỡ, trong dầu parafin (1 trong 4 phần), rất khó tantrong glycerin.
Menthol tương kỵ với butylchloral hydrat, camphor, phenol, chloralhydrat, exalgine, β
- naphtol, resorcinol, thymol khi nghiền lẫn Menthol cũng tương kỵ với KMnO4, cromtrioxyd, pyrogallol [3]
Menthol có thể cho este dễ dàng với acid phosphoric (D: 1,75), cho các este với côngthức 3(C10H23O)PO4H3 kết tinh trong ete dầu hỏa Phosphat L-menthol chảy ở 74 0C,vững bền ở nhiệt độ thường Có thể dùng các este phosphoric để tách và tinh chếnhững menthol đồng phân; cũng có thể chuyển thành campho sulphonat menthol.Những este menthol và acid hữu cơ rất dễ xà phòng hóa
Dưới tác dụng của những chất khử nước như acid phosphoric, clorua kẽm mentholchuyển thành menthen
Dùng acid cromic để oxi hóa sẽ chuyển thành ceton: menthon
Menthol không cho màu với những phản ứng màu của phenol, đặc biệt không cho màuvới clorua feric [2]
Menthol tổng hợp
Menthol tổng hợp khác menthol thiên nhiên mặc dù cùng thành phần hóa học Về mặtđộc tính, chúng ta thấy menthol tổng hợp hoặc không khác hoặc hơi độc hơn mentholthiên nhiên: đối với chuột bạch menthol thiên nhiên và menthol racemic không khácnhau những đối với chuột nhắt thì racemic độc hơn rõ rệt Do đó người ta cho có thểdùng menthol tổng hợp thay cho menthol thiên nhiên trong chữa bệnh [2]
Công dụng
Trang 17Menthol có tác dụng kích thích dạ dày, giảm đau cục bộ, sát trùng, chống ngứa.
Menthol được dùng rộng rãi trong công nghiệp kẹo, nước uống, công nghiệp thuốcđánh răng và trong Dược phẩm
Tiếp xúc với da menthol gây một cảm giác mát và tê tại chỗ do hiện tượng bay hơi Vìvậy thường được dùng xoa vào nơi đau nhức hay ngứa
Trên niêm mạc menthol cũng cho hiện tượng như vậy và đôi khi có tác dụng kíchthích Trên niêm mạc họng, do phản xạ menthol có thể gây hiện tượng ức chế làmngừng thở và ngừng tim Do đó nhiều tai biến đã xảy ra đối với trẻ em do nhỏ dungdịch 1% menthol trong dầu vào mũi
Menthol còn là một chất sát trùng, dùng ngoài, dùng xông, đắp (dung dịch 1 - 5%), bôitrong một số bệnh mũi, họng Nhưng dùng liều quá cao có thể gây kích ứng và khôngđược dùng cho trẻ sơ sinh và trẻ con
Người ta còn cho uống với liều 0,1 - 0,3g một ngày để làm dịu đau bụng, chống nôn.Menthol được dùng cho cả người và thú y [2]
2.1.3 Cây Húng Chanh
Tên Việt Nam: Húng Chanh
Tên khoa học: Coleus amboinicus Lour.
Họ: Hoa Môi (Lamiaceae)
Hình thái học
Cây thảo, sống lâu năm, cao 20 - 50cm Thân mọc đứng hay ngả, phần sát gốc hóa gỗ
Lá mọc đối, dày, mọng nước, hình trứng rộng, gốc hình nêm, đầu hơi nhọn hoặc tù, dài
3 - 6cm, rộng 2 - 5cm, mép khía răng tròn
Trang 18Cụm hoa mọc ở ngọn thân và đầu cành thành bông dày, các vòng mang hoa rất sítnhau; hoa nhỏ màu tím hồng; đài hình chuông ngắn, có lông, chia 5 răng, răng trênhình trứng rộng, răng dưới và răng bên gần bằng nhau; tràng cong, có ống hình phễu,mặt ngoài có lông, mặt trong nhẵn, môi dưới dài bằng ống tràng, môi trên ngắn, có 3thùy, thùy trên rộng, thùy 2 bên hình mũi mác; nhị 4 và thò ra ngoài tràng hoa.
Quả bế tư, nhỏ, hình cầu, màu nâu
Toàn cây có lông rất nhỏ và mùi thơm như chanh
Mùa hoa quả vào tháng 3 - 5 [1]
Trang 19lá Húng Chanh thường được dùng phối hợp với nhiều loại lá khác có tinh dầu như Sả,Hương Nhu, Hoắc Hương, v.v…Cũng có thể dùng lá phơi âm can với liều 4 - 8g mỗingày.
Dùng ngoài, lá tươi Húng Chanh giã nát, đắp lên vết thương để chữa rết và bọ cạp cắn
Ở Ấn Độ, lá Húng Chanh được dùng chữa các bệnh về tiết niệu Nước ép lá trộn vớiđường là một thuốc gây trung tiện mạnh Húng Chanh được dùng trong chứng khó tiêu,tuy có ý kiến cho rằng thuốc có độc Nước sắc lá được dùng chữa ho và hen mạn tính[1]
Tinh dầu Húng Chanh
Tinh dầu cất từ toàn cây Húng Chanh tươi Mỗi tấn cây tươi cho từ 0,2 – 0,3L tinh dầu.Tinh dầu không màu, mùi thơm, có thể có những tinh thể carvacrol kết tinh [2]
Trang 20Tác dụng dược lý
Tinh dầu Húng Chanh có tác dụng kháng khuẩn rất mạnh đối với nhiều loại vi khuẩn
Staphyllococcus 209P, Salmonella typhi, Shigella flexneri, Shigella sonnei, Shigella dysenteria (Shiga), Subtilis, Coli pathogene, Coli bothesda, streptococcus, Pneumococcus, Diphteri và Bordet Gengou [2].
Tên Việt Nam: Gừng
Tên khoa học: Zingiber officinale Roscoe
Họ: Gừng (Zingiberaceae)
Hình thái học
Trang 21Cây thảo, sống lâu năm, cao 40 - 80cm Thân rễ nạc, mọc bò ngang, phân nhiều nhánh.
Lá mọc so le thành hai dãy, hình mác thuôn, thắt lại ở gốc, đầu nhọn, dài 15 - 20cm,rộng 2cm, không cuống, có bẹ nhẵn, lưỡi bẹ nhỏ dạng màng, hai mặt nhẵn, mặt trênmàu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt
Cụm hoa dài 5cm, mọc từ gốc trên một cán dài khoảng 20cm do nhiều vảy lợp hìnhthành, những vảy phía dưới ngắn, càng lên trên càng dài và rộng hơn; lá bắc hình tráixoan, màu lục nhạt, mép viền vàng; đài có 3 răng ngắn; tràng có ống dài gấp đôi đài, 3thùy bằng nhau, hẹp và nhọn; 1 nhị, nhị lép không có hoặc tạo thành thùy bên của cánhmôi, cánh môi màu vàng, có viền tía ở mép, dài 2cm, rộng 1,5cm, chia thành 3 thùytròn, các thùy bên ngắn và hẹp hơn; bầu chẵn
Quả nang (rất ít gặp)
Toàn cây, nhất là thân rễ, có mùi thơm, vị cay nóng
Mùa hoa quả vào khoảng tháng 5 - 8
Bộ phận dùng: Thân rễ, thu hái và mùa đông
Có thể cất tinh dầu từ Gừng với hiệu suất 1 - 2,7% hoặc điều chế nhựa dầu Gừng từ bộtGừng khô với các dung môi hữu cơ, hiệu suất 4,2 - 6,5% [1]
Thành phần hóa học
Gừng chứa 2 - 3% tinh dầu với thành phần chủ yếu là các hợp chất hydrocarbonsesquiterpenic: β - zingiberen (35%), ar-curcumenen (17%), β - farnesen (10%) và mộtlượng nhỏ các hợp chất alcol monoterpenic như geraniol, linalol, borneol
Nhựa dầu Gừng chứa 20 - 25% tinh dầu và 20 - 30% các chất cay Thành phần chủ yếucủa nhóm chất cay là gingeron, shogaol và gingerol, trong đó gingerol chiếm tỷ lệ caonhất Đó là một chất lỏng, màu vàng, tan trong cồn 50o, ether, chloroform, benzen, tanvừa trong ether dầu hỏa nóng
Trang 22Ngoài ra, trong tinh dầu Gừng còn chứa α - camphen, β - phelandren, eucalyptol và cácgingerol [1].
Công dụng
Gừng tươi chữa cảm mạo, phong hàn, nhức đầu, ngạt mũi, ho có đờm, nôn mửa, bụngđầy trướng Dùng làm thuốc kích thích tiêu hóa, tăng bài tiết, sát trùng, hành thủy, giảiđộc ngứa do Bán Hạ, cua cá, chim, thú độc
Còn dùng làm thuốc xoa bóp và đắp ngoài chữa sưng phù và vết thương
Vỏ Gừng có vị cay mát chữa phù thũng
Theo kinh nghiệm cổ truyền ở Trung Quốc Gừng được dùng làm thuốc chống độc, anthần, chống viêm, kích thích ăn ngon miệng và làm dễ tiêu Được chỉ định trong bệnhthấp khớp mạn tính, nhức đầu kiểu đau dây thần kinh và co cứng, hen phế quản, viêmphế quản, buồn nôn, nôn Thân rễ được dùng làm thuốc chống cảm lạnh và chốngnhiễm khuẩn trong các chứng ho và sổ mũi [1]
2.1.5 Cây Cam Thảo
Tên Việt Nam: Cam Thảo Bắc
Tên khoa học: Glycyrrhiza uralensis Fisch
Họ: Đậu (Fabaceae)
Hình thái học
Trang 23Cây thảo, sống lâu năm, cao 0,3 - 1m Rễ dài, có màu vàng nhạt Thân có lông mềm,ngắn Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, gồm 9 - 17 lá chét hình trứng, mép lá nguyên.Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành bông, hoa màu tím nhạt; tràng hoa hình cánh bướm.
Quả đậu, cong hình lưỡi liềm, dài 3 - 4cm, rộng 6 - 8mm, màu nâu đen, có lông dày,chứa 2 - 8 hạt nhỏ, dẹt, màu nâu bóng
Mùa hoa vào khoảng tháng 6 - 7 và mùa quả vào khoảng tháng 8 - 9
Loài Cam Thảo Âu (Glycyrrhiza glabra L.) cũng được dùng với công dụng tương tự.
Khác với Cam Thảo Bắc ở chỗ lá chét thuôn dài, hoa màu lơ nhạt, quả rất dẹt, thẳnghoặc hơi cong, dài 2 - 3cm, rộng 3 - 4mm, nhẵn bóng hoặc có lông ngắn, số hạt ít hơn
Bộ phận dùng: Rễ phơi khô hoặc sấy khô Dược Điển Việt Nam I, tập 2 công nhận 2
loài Glycyrrhiza uralensis và G glabra Dược Điển Trung Quốc 1997 (bản tiếng Anh) công nhận 3 loài G uralensis, G inflata và G glabra.