1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Grays anatomy for students bản tiếng việt chương 8 giải phẫu đầu mặt cổ part 1/2

88 2K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 5,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xoang hàm là xoang lớn nhất và nằm dưới ổ mắt. khe hầu họng có thể đóng mở nhờ các mô mềm ở xung quanh. (hố dưới thái dương và hố chân bướm khẩu cái)Hố dưới thái dương là vùng giữa ngành xương hàm dưới và một vùng xương phẳng (mảnh chân ngoài chân bướm) ngay phía sau xương hàm trên. Hố này được bao quanh bởi xương và các mô mềm, là một đường dẫn cho dây thần kinh sọ lớn đi qua là thần kinh hàm dưới (nhánh hàm dưới của dây tam thoa[V3]) đi qua giữa khoang não và khoang miệng. Cấu trúc chính đi qua hố chân bướm - khẩu cái là thần kinh hàm trên (nhánh hàm trên của dây tam thoa [V2]). Khoang xương sống chứa các đốt sống cổ và các cơ kháng trọng lực liên quan. Hai khoang mạch, mỗi ngăn một bên chứa các mạch máu lớn và dây thần kinh phế vị. Phần hầu bên trên khoang mũi là mũi hầu. Phần sau khoang miệng và thanh quản tương ứng là miệng hầu và thanh hầu. Ở trẻ sơ sinh và bào thai, có các khe lớn dạng màng chưa hóa xương (các thóp) giữa các xương đầu, đặc biệt giữa các xương phẳng lớn che phủ đỉnh khoang sọ não (Hình 8.7C), cho phép: -Đầu thay đổi hình dạng khi sinh -Phát triển ở trẻ sơ sinh. Hầu hết các thóp đóng kín sau một năm đầu đời. Sự hóa xương hoàn toàn của các dây chằng là mô liên liên kết mỏng ở các đường khớp khâu phân chia xương bắt đầu ở khoảng những năm 20 tuổi và thường kết thúc sau 50 năm. Chỉ có 3 cặp khớp động ở mỗi bên đầu. Khớp lớn nhất là khớp thái dương hàm dưới giữa hàm dưới và xương thái dương. Có hai cặp khớp hoạt dịch nằm giữa 3 xương nhỏ trong tai: xương búa, xương đe, và xương bàn đạp. Các đốt sống cổ (hình 8.8A) có đặc điểm: -Thân nhỏ -Mỏm gai chẻ đôi -Mỏm ngang chứa lỗ (lỗ mỏm ngang). Các lỗ mỏm ngang tạo thành một đường đi dọc hai bên cột sống cổ cho các mạch máu (động mạch và tĩnh mạch đốt sống) đi từ nền cổ vào khoang sọ não. Hình 8.8 Các đốt sống cổ. A. Các chi tiết điển hình. B. Đốt đội – đốt sống cổ CI (Nhìn trên). C. Đốt trục – đốt CII (Nhìn dưới). D. Đốt đội và đốt trục (nhìn trước bên). E. Khớp đội – chẩm (nhìn sau). Hai đốt sống cổ phía trên (CI và CII) được thay đổi cấu trúc cho phù hợp với cử động của đầu (Hình 8.8B-E, xem chapter 2). -Thân xương móng ở trước tạo thành nền của chữ U. -Hai nhánh của chữ U (Sừng lớn) nhô ra sau từ đầu bên của thân. Xương móng không khớp trực tiếp với xương nào của đầu và cổ. Khẩu cái mềm là một cấu trúc mô mềm dạng vành nối với phần sau khẩu cái -Các cơ ngoài mắt (cử động nhãn cầu và mở mi mắt trên), -Các cơ của tai giữa (điều chỉnh cử động của các xương tai giữa), -Các cơ biểu hiện nét mặt (cử động mặt) -Các cơ nhai (di động hàm – khớp thái dương – hàm dưới), -Các cơ của khẩu cái mềm (nâng và kéo khẩu cái), và -Các cơ của lưỡi (di chuyển và thay đổi đường nét của lưỡi) -Các cơ của hầu (co khít và nâng hầu) -Các cơ của thanh quản (điều chỉnh kích thước của đường dẫn khí). -Các cơ giữ (giữ vị trí thanh quản và xương móng ở cổ). -Các cơ vòng bên ngoài cổ (di chuyển đầu và chi trên) -Các cơ tư thế trong ngăn cơ của cổ (giữ vị trí đầu và cổ). Các mức đốt sống CIII/IV và CV/VI -Giữa CIII và CIV, ở khoảng bờ trên sụn giáp của thanh quản (có thể sờ thấy) và các động mạch chính ở mỗi bên cổ (các động mạch cảnh chung) phân nhánh thành các động mạch cảnh trong và ngoài. -Giữa CV và CVI, đánh dấu giới hạn dưới của thanh quản và hầu, và giới hạn trên của khí quản và thực quản – vết lõm giữa sụn nhẫn của thanh quản và vòng sụn đầu tiên của khí quản có thể sờ thấy. khi các phần trên của hệ thống thông khí bị tắc nghẽn. Mở sụn nhẫn giáp dễ dàng nhất là tiếp cận qua dây chằng nhẫn giáp (màng nhẫn giáp) giữa sụn nhẫn và sụn giáp của thanh quản. Dây chằng có thể sờ thấy được ở đường giữa và thường có những mạch máu nhỏ, mô liên kết và da (mặc dù đôi khi, một thùy nhỏ của tuyến giáp – thùy tháp) che phủ bên ngoài. Ở mức thấp hơn, đường dẫn khí có thể được tiếp cận qua thành trước của khí quản bằng mở khí quản. Con đường Các sợi phó giao cảm ở đầu ra khỏi não từ 4 dây thần kinh sọ - dây vận động nhãn cầu [III], dây thần kinh mặt [VII], dây thần kinh lưỡi hầu [IX], và dây thần kinh phế vị [X] (H. 8.14). Các sợi phó giao cảm trong dây vận động nhãn cầu [III], dây thần kinh mặt [VII], dây thần kinh lưỡi hầu [IX] rời khỏi các dây này hướng tới các mô đích ở đầu cùng với các nhánh của dây tam thoa [V] Các rễ trước của C1 đến C4 tạo thành đám rối cổ. Các nhánh chính của đám rối này chi phối các cơ treo, cơ hoành (thần kinh hoành), da ở mặt trước và bên cổ, Khẩu cái mềm nâng lên mở khe khẩu hầu ra và cũng ngăn phần mũi của hầu với khoang miệng. Thượng thiệt của thanh quản đóng đường vào thanh quản và phần lớn khoang thanh quản bịt kín bởi sự đối lập của các nếp thanh âm và khẩu cái mềm bao phủ ở trên chúng. Thêm vào đó, thanh quản được kéo lên trên và ra trước tạo điều kiện thuận lợi cho thức ăn và dịch đi qua và quanh thanh quản đóng kín vào thực quản. Ở trẻ sơ sinh, thanh quản ở cao trên cổ và thượng thiệt ở trên khẩu cái mềm (Hình 8.16E). Do đó, trẻ có thể bú và thở cùng một lúc. Dịch chảy quanh thanh quản mà không có bất kỳ nguy cơ nào đi vào đường dẫn khí. Trong suốt 2 năm đầu đời, thanh quản di chuyển dần xuống vùng cổ dưới tới vị trí như ở người trưởng thành. Các tam giác cổ Cơ thang và cơ ức đòn chũm chia mỗi bên cổ thành các tam giác cổ trước vào sau. (Hình 8.17). Các giới hạn của tam giác cổ trước là: -Đường giữa trước của cổ. -Nền xương hàm dưới -Bờ trước cơ ức đòn chũm. Tam giác cổ sau được giới hạn bởi: -1/3 giữa xương đòn, -Bờ trước thang -Bờ sau cơ ức đòn chũm Các cấu trúc chính đi giữa đầu và ngực có thể tiếp cận được qua tam giác cổ. Tam giác cổ sau nằm phía trên lối vào nách và liên quan với các cấu trúc (thần kinh, mạch máu) đi vào và ra khỏi chi trên. Các xương tạo thành phần lớn nền sọ là xương bướm, xương thái xương và xương chẩm. Các xương tạo thành sọ tạng là các cặp xương mũi, xương khẩu cái, xương lệ, xương gò má, xương hàm trên và xương xoăn mũi dưới và xương không theo cặp: xương lá mía. Xương hàm dưới không thuộc hộp sọ hay xương mặt. Xương trán tạo thành trán và cũng tạo thành phần bờ trên mỗi ổ mắt (hình 8.18). Ngay phía trên của bờ ổ mắt mỗi bên nhô lên các cung mày. Giữa các cung này là một chỗ lõm nhỏ (điểm trên gốc mũi). Có thể thấy rõ ở phần giữa của các bờ trên ổ mắt là lỗ (hoặc khuyết) trên ổ mắt; Lỗ ổ mắt trênThần kinh và mạch máu trên ổ mắt Lỗ dưới ổ mắtThần kinh và mạch máu dưới ổ mắt Lỗ cằmThần kinh và mạch máu cằm Nhìn bên Lỗ gò má mặtThần kinh gò má mặt Nhìn trên Lỗ đỉnhCác tĩnh mạch xuyên (nối hệ tĩnh mạch ngoài sọ với các xoang nội sọ) Nhìn dưới Lỗ răng cửaThần kinh mũi – khẩu cái; các mạch máu bướm – khẩu cái Lỗ khẩu cái lớnThần kinh và mạch máu khẩu cái lớn đi qua Lỗ khẩu cái béThần kinh và mạch máu khẩu cái bé đi qua Ống chân bướmThần kinh và mạch máu chân bướm Lỗ bầu dụcThần kinh hàm dưới [V3]; thần kinh đá bé Lỗ gaiĐộng mạch màng não giữa Lỗ ráchChứa đầy sụn Ống động mạch cảnhĐộng mạch cảnh trong và đám rối thần kinh Lỗ lớn xương chẩmNão liên tiếp với tủy sống, động mạch đốt sống và các đám rối thần kinh; động mạch tủy sống trước; các động mạch tủy sống sau; các rễ của thần kinh phụ [XI], các màng não Ống lồi cầu chẩmCác tĩnh mạch xuyên Ống thần kinh hạ thiệtThần kinh hạ thiệt [XII] và các mạch máu Lỗ tĩnh mạch cảnhTĩnh mạch cảnh trong; xoang đá dưới; thần kinh thiệt hầu [IX]; thần kinh lang thang [X]; thần kinh phụ [XI] Lỗ châm chũmThần kinh mặt [VII] Bờ dưới bên của ổ mắt cũng như phần bên của bờ dưới ổ mắt được tạo thành bởi xương gò má. Mặt trước xương hàm dưới ngay dưới bờ dưới ổ mắt là lỗ ổ mắt dưới (Bảng 8.1). Ở dưới, các đầu xương hàm trên là các mỏm huyệt rẳng chứa răng và tạo thành hàm trên. Huyệt răng của hàm dưới chứa răng và được co lại khi răng nhổ đi. Nền của xương hàm dưới có đường giữa lồi ra (lồi cằm) trên mặt trước tại đó hai phía của hàm dưới gặp nhau. Ngay phía bên lồi cằm ở cả hai bên là các củ cằm. rất nghiêm trọng. Xương ở vùng này khá mỏng và che phủ nhánh trước của động mạch màng não giữa, các động mạch này có thể bị vỡ khi các vỡ xương sọ ở vùng này gây ra chảy máu ngoài màng cứng. Khớp cuối cùng đi ngang qua phần dưới của phần bên xương sọ nằm giữa xương thái dương và xương chẩm ở đường khớp chẩm – thái dương. Phần trai có dạng xương phẳng dẹt lớn, tạo thành phần trước và trên xương thái dương, góp phần tạo thành bên hộp sọ, phía trước khớp với cánh lớn xương bướm tại đường khớp bướm – trai, và phía trên khớp với xương đỉnh qua khớp trai. Mỏm chũm là phần xương nhô ra phía trước từ mặt dưới của phần trai và sau đó chạy ra trước để khớp với mỏm thái dương xương mặt tạo thành cung gò má. Ngay phía dưới cuống mỏm chũm từ phần trai xương thái dương là phần nhĩ xương thái xương, có thể nhìn thấy rõ trên mặt phần này là lỗ tai ngoài dẫn đến ống tai ngoài (khoang tai). xương chẩm ở phía sau tại đường khớp chẩm – chũm. Hai khớp này nối tiếp với nhau và với khớp đỉnh – chũm nối tiếp với khớp trai. Phía dưới, một phần xương lớn lồi lên (mỏm chũm) từ bờ dưới phần chũm. Đây là nơi bám của một số cơ. Nhìn sau Khi nhìn sau có thể quan sát được xương chẩm, xương đỉnh và xương thái dương. không đều tạo thành bởi sự đối nhau của khuyết tĩnh mạch cảnh của xương chẩm và khuyết tĩnh mạch cảnh của xương thái dương. Xương thái dương Phía bên của phần sau nền sọ là xương thái dương. Các phần của xương thái dương có thể quan sát được ở vùng này là phần chũm của phần trai chũm và Hai cánh nhỏ xủa xương bướm nhô sang hai bên từ thân xương bướm và tạo thành ranh giới rõ ràng giữa các phần bên của hố sọ trước và giữa. Các mỏm này là chỗ bám trước của lều tiểu não, một phiến của màng cứng ngăn cách phần sau của các bán cầu đại não với tiểu não. Ngay trước mỗi mỏm yên Khe cho thần kinh đá lớnThần kinh đá lớn Khe cho thần kinh đá nhỏThần kinh đá bé Hố sọ sau Lỗ chẩm lớnCuối cuống não/đầu tủy sống; động mạch đốt sống; rễ tủy sống của thần kinh phụ; các màng não. Lỗ ống tai trongThần kinh mặt [VII]; thần kinh tiền đình - ốc tai [VIII]; động mạch Lỗ tĩnh mạch cảnhThần kinh lưỡi hầu [IX]; thần kinh phế vị [X]; thần kinh phụ [XI]; xoang đá dưới, xoang sigma (tạo thành tĩnh mạch cảnh trong) Lỗ hạ thiệtThần kinh hạ thiệt [XII]; nhánh màng não của động mạch hầu lên Lỗ lồi cầuTĩnh mạch xuyên Giới hạn giữa hố sọ giữa và trước là bờ trước của rãnh giao thoa thị giác. Giới hạn sau của hố sọ giữa được tạo thành bởi mặt trước cao ngang với bờ trên của phần đá xương thái dương. Phía sau giữa lỗ bầu dục là lỗ mở vào khoang nội sọ có hình tròn cho ống động mạch đi qua. Ngay dưới lỗ mở này là một lỗ không đều (lỗ rách) (Hình 8.26). Lỗ rách ở người sống được sụn bịt kín và không có cấu trúc nào đi qua nó. Hố sọ sau được tạo thành chủ yếu bởi xương thái dương và xương chẩm, và đóng góp nhỏ của xương bướm và xương đỉnh (Hình 8.27). Đây là phần lớn nhất và sâu nhất trong ba hố sọ và chứa cuống não (não giữa, cầu não và hành não) và tiểu não. Trai chẩm có một số yếu tố nhô ra (Hình 8.27): -Đi lên ở đường giữa từ lỗ chẩm lớn là mào chẩm trong. -Ở cả hai bên của mào chẩm trong, sàn hố sọ sau lõm xuống chứa các bán cầu đại não. -Mào chẩm trong tận cùng bằng một ụ xương nhô ra ở phía sau (ụ chẩm trong). -Kéo dài sang hai bên từ ụ chẩm trong là các rãnh tạo thành bởi xoang ngang, kéo dài sang phía bên và cuỗi cùng tham gia vào một rãnh cho xoang sigma – mỗi rãnh này sau đó đi xuống dưới về phía lỗ tĩnh mạch cảnh. Các xoang ngang và xoang sigma là các xoang tĩnh mạch trong màng cứng. Chẩn đoán hình ảnh đầu Chụp X quang Cho tới tận hai thập kỷ trước, phương pháp chuẩn chẩn đoán hình ảnh đầu vẫn là chụp X quang chuẩn. Các hình chụp X quang được lấy ở ba hình chiếu chuẩn – hướng sau trước, hướng bên và hướng Towne (hướng trục trước sau [AP] – đầu ở vị trí giải phẫu). Một số hướng nhìn phụ thông dụng để đánh giá các lỗ ở nền sọ và xương mặt. Hiện nay, chụp X quang đầu được sử dụng trong các trường hợp chấn thương, nhưng ngày càng ít. Có thể dễ dàng xác định nhữnh mảnh vỡ xương đầu (Hình 8.29). Bệnh nhân được đánh giá và chữa trị dựa trên cơ sở thần kinh học hoặc các biến chứng thần kinh tiềm tàng. Từ khi phát triển máy chụp cắt lớp vi tính đầu tiên, CT sọ não trở thành xét nghiệm cận lâm sàng thần kinh chính. Nó thường được sử dụng trong chấn thương đầu do não và các phần che phủ của nó có thể được đánh giá nhanh Chụp cộng hưởng từ (MRI) không vượt trội bằng những kỹ thuật ghi hình khác ở khả năng chụp hình cản quang. Não và các cấu trúc che phủ của nó, dịch não tủy (CSF) và cột sống được đánh giá dễ dàng và nhanh chóng. Các chuỗi hình ảnh mới cho phép triệt tiêu dịch não tủy để phát hiện các tổn thương chất trắng quanh não thất. Chụp mạch cộng hưởng từ cực kỳ hữu dụng để xác định đầy đủ các mạch máu trong sọ não (đa giác Willis), cần thiết trong một số điều kiện phẫu thuật. MRI cũng là công cụ đắc lực trong đánh giá hẹp động mạch cảnh. Siêu âm Hiện nay có thể những nghiên cứu Doppler nội sọ giúp các nhà phẫu thuật phát hiện bệnh nhân có bị thuyên tắc mạch não do các mảnh vữa động mạch hay không. Siêu âm ngoài sọ cực kỳ quan trọng ở những khối u đang phát triển và đánh giá các khối ở cổ và sự chia nhánh của động mạch cảnh (Hình 8.30). Siêu âm hữu dụng ở trẻ em do chúng có một lỗ truyền âm qua thóp. Vỡ vòm sọ \xương đầu có những trường hợp cụ thể đáng chú ý bao gồm vỡ lún sọ, vỡ xương hở, và vỡ thóp trước bên. Vỡ lún sọ \Gãy xương hở là gãy xương với lỗ thủng ở da, có thể tạo điều kiện cho nhiễm trùng xâm nhập. Những chỗ gãy đó thường liên quan với các vết rách da đầu và thường được điều trị bằng kháng sinh. Biến chứng quan trọng của gãy xương hở bao gồm viêm màng não, có thể nguy \Vỡ thóp trước bên ị trí chính xác của thóp trước bên, một đường tưởng tượng dài 2.5cm trên cung gò má, và 2.5 cm phía sau bờ ổ mắt bên sẽ tương đương với vùng này. Ở thóp Liềm đại não Liềm đại não (Hình 8.32) là phần màng cứng nhô xuống giữa hai bán cầu đại não. Phía trước gắn với mào gà của xương sàng và mào trán của xương trán. Phía sau gắn với lều tiểu não. Lều tiểu não Lều tiểu não (Hình 8.32) là phần nhô ra nằm ngang của màng não cứng che phủ và ngăn cách tiểu não ở hố sọ sau với các phần sau của các bán cầu đại não. Phía sau nó gắn với xương chẩm dọc theo các rãnh xoang ngang. Phía bên, nó gắn với bờ trên của phần đá xương thái dương, tận cùng phía trước ở mỏm yên trước vào sau. Bờ trước và giữa của lều tiểu não tự do tạo thành một lỗ mở hình bầu dục ở đường giữa (khuyết lều) cho não giữa đi qua. Liềm tiểu não Liềm tiểu não (Hình 8.32) là phần nhỏ nhô ra của màng cứng ở đường giữa trong hố sọ sau. Phía sau nó bám với mào chẩm trong của xương chẩm và phía trên với lều tiểu não. Bờ trước của nó tự do và nằm giữa hai bán cầu tiểu não. Hoành yên Phần nhô ra cuối cùng của màng cứng là hoành yên (Hình 8.32). Màng ngăn nhỏ nằm ngang này của màng cứng che phủ hố tuyến yên trong hố yên của xương bướm. Có một lỗ mở ở trung tâm hoành yên qua đó cuống tuyến yên đi qua, nối thông tuyến yên với nền não, và các mạch máu đi kèm. Các động mạch cấp máu cho màng cứng (Hình 8.33) đi trong lớp ngoại cốt mạc của màng cứng, bao gồm: -Các động mạch màng não trước ở hố sọ trước -Các động mạch màng não giữa và phụ ở hố sọ giữa, -Động mạch màng não sau và các nhánh màng não khác ở hố sọ sau. Khoang ngoài màng cứng Khoang ảo giữa màng cứng và xương là khoang ngoài màng cứng (H. 8.35). Thông thường, lớp ngoài hay lớp ngoại cốt mạc của màng cứng gắn chặt với xương bao quanh khoang sọ não. Khoang ảo này có thể trở thành khoang thực chứa đầy dịch khi chấn thương có xuất huyết. Chảy máu vào khoang ngoài màng cứng làm gián đoạn các động mạch màng não hoặc vỡ các xoang tĩnh mạch màng cứng trong xuất huyết ngoài màng cứng. Khoang dưới màng cứng Theo giải phẫu không tồn tại khoang dưới màng cứng thực sự. Chảy máu ngoài màng cứng do chấn thương ở lớp tế bào viền nằm phía trong cùng của màng não cứng. Các tế bào viền màng cứng là các tế bào dẹt bao quanh bởi khoang ngoại bào chứa đầy vật chất vô định hình. Rất hiếm thấy các tế bào kết nối với nhau và với màng nhện phía dưới. Rách tĩnh mạch não khi nó đi qua màng cứng vào xoang tĩnh mạch màng cứng gây chảy máu dưới màng cứng. Khoang dưới nhện Phía trong màng nhện một khoang thường chứa đầy dịch – khoang dưới nhện (H. 8.35). Khoang được hình thành do màng nhện dính sát vào mặt trong của màng cứng và không bám theo các góc cạnh của não, trong khi đó màng mềm lại dính vào não, bám sát theo các rãnh và khe trên bề mặt não. Khoang hẹp dưới nhện này do đó được tạo thành bởi hai màng đó (H. 8.35). Khoang dưới nhện bao quanh não vào tủy sống và khuyếch tán vào những vùng mở rộng (bể dưới nhện). Nó chứa dịch não tủy (CFS) và các mạch máu. Dịch não tủy được tạo ra nhờ đám rối màng mạch chủ yếu nằm trong các não thất. Dịch có trong, không màu, không tế bào lưu thông trong khoang dưới nhện quanh não và tủy sống. Dịch não tủy quay trở lại hệ tĩnh mạch qua các hạt màng nhện. Các hạt này nhô ra như những cục nhỏ (hạt màng nhện) vào xoang dọc trên, một xoang tĩnh mạch màng cứng, và phần mở rộng sang phía bên của nó – lỗ bên (H. 8.35). Trong lâm sàng Não úng thủy Não úng thủy là hiện tượng giãn hệ thống não thất do tắc nghẽn dòng chảy của CSF, sản xuất quá nhiều CSF, hoặc không thể hấp thu CSF. Dịch não tủy được bài tiết bởi đám rối màng mạch giữa các não thất bên, ba và bốn. Khi được bài tiết, nó đi từ các não thất bên qua lỗ giữa não thất (lỗ Monro) vào não thất ba. Từ não thất ba, nó đi qua cống não (cống Sylvius) vào não thất bốn và từ đây đi vào khoang dưới nhện qua lỗ ở đường giữa hoặc hai lỗ bên (lỗ Magendie và lỗ Luschka). CSF chảy quanh tủy sống ở dưới, bao bọc não ở phía trên, và được hấp thu qua các hạt màng nhện trên thành của xoang tĩnh mạch màng cứng. Ở người trưởng thành, mỗi ngày có khoảng nửa lít dịch não tủy được tạo ra. Nguyên nhân gây não úng thủy phổ biến nhất ở người trưởng thành là sự gián đoạn quá trình hấp thu dịch não tủy bình thường qua các hạt màng nhện. Điều này xảy ra khi máu đi vào khoang dưới nhện sau xuất huyết khoang dưới nhện, tràn vào não và gây trở ngại cho sự hấp thu CSF bình thường. Để ngăn não úng thủy cần đặt một catheter nhỏ qua não vào hệ thống não thất để làm giảm áp suất. Những nguyên nhân gây não úng thủy khác bao gồm tắc cống Sylvius và nhiều khối u (ví dụ một khối u ở não giữa), tại đó các khối này làm tắc các ống. Các nguyên nhân hiếm khác bao gồm các khối u ở đám rối màng mạch tiết CSF. Ở trẻ em, não úng thủy rất nghiêm trọng ở giai đoạn muộn hơn. Não úng thủy làm tăng kích thước của não thất khiến não cũng to lên. Do các đường khớp ở đầu chưa gắn chặt với nhau, đầu cũng to ra. Sự to lên của đầu trong thời kỳ mang thai khiến không thể sinh thường được mà phải sinh mổ. Cả CT và MRI đều giúp các nhà chẩn đoán hình ảnh xác định được vị trí của chỗ tắc và trong hầu hết các trường hợp tắc nghẽn. Cần làm rõ một sự khác biệt giữa sự giãn não thất do não úng thủy và do các nguyên nhân khác (ví dụ như teo não). Dò dịch não tủy từ khoang dưới nhện có thể xảy ra sau bất kỳ quá trình nào trong và xung quanh não, tủy sống, và các màng não. Các quá trình đó bao gồm phẫu thuật xương sống thắt lưng, tiêm ngoài màng cứng, và chọc dịch não tủy. Trong hội chứng dò dịch não tủy, CSF dò rỉ ra khỏi khoang dưới nhện và qua màng cứng mà không do nguyên nhân rõ ràng. Hậu quả lâm sàng của nó bao gồm chóng mặt, mệt mỏi, có vị kim loại trong miệng. Các ảnh hưởng khác cũng bao gồm yếu thần kinh mặt và nhìn đôi. Viêm màng não Viêm màng não là hiện tượng nhiễm trùng hiếm gặp ở các màng não mềm (màng não mềm bao gồm màng nhện và màng mềm). Nhiễm trùng của màng não thường xảy ra qua đường máu và sinh sản, mặc dù một số trường hợp nó có thể lây truyền trực tiếp (ví dụ như chấn thương) hoặc từ các khoang mũi qua mảnh sàng xương sàng. Hầu hết các loại nhiễm trùng vi khuẩn của màng não rất nguy hiểm, nhiễm trùng lan tỏa mạnh và nhiễm trùng máu với sự kích thích não có thể làm bệnh nhân nhanh chóng đi vào hôn mê và tử vong. Viêm màng não thường có thể chữa được bằng kháng sinh đơn giản. Hầu hết các loại vi khuẩn gây viêm màng não còn gây ra những triệu chứng khác; ví dụ, xuất huyết dưới da là một đặc điểm đặc trưng của viêm màng não mô cầu. Bệnh sử của viêm màng não ban đầu không có gì đặc trưng. Người bệnh có thể đau đầu vừa phải, sốt, buồn ngủ và buồn nôn. Trong quá trình nhiễm trùng, có thể xảy ra chứng sợ ánh sáng và xuất huyết dưới da. Giơ thẳng chân lên có thể gây đau cổ và khó chịu (dấu hiệu Kernig) và cần cấp cứu. U não Việc xác định cấu trúc giải phẫu khối u bắt nguồn từ đó là điều rất quan trọng, nhất là khi nó phát sinh trong vòm sọ. Sự hiểu sai vị trí của tổn thương và vị trí phát sinh của nó có thể gây nhiều hậu quả nghiêm trọng cho bệnh nhân. Khi xác định bất kỳ tổn thương nào trong não, điều quan trọng là cần xác định nó vị trí trong trục (trong não) hay ngoài trục (ngoài não). Các khối u ngoài trục điển hình bao gồm u màng não và u thần kinh thính giác. Các khối u màng não thường phát sinh từ các màng não, vị trí thường ở các vùng tại và xung quanh liềm đại não, cạnh tự do của lều tiểu não và bờ trên của hố sọ giữa. U thần kinh thính giác thường ở tại và xung quanh dây thần kinh tiền đình – ốc tai [VIII] và góc cầu tiểu não. Các tổn thương trong trục gồm cả tiên phát và thứ phát. Hiện nay, loại tổn thương phổ biến nhất là các tổn thương não thứ phát, hầu hết các trường hợp là các khối u di căn. Các tổn thương não nguyên phát hiếm và có phạm vi từ các khối u lành tính đến những tổn thương xâm lấn nghiêm trọng với tiên lượng rất xấu. Các khối u phát sinh từ các dòng tế bào khác nhau và bao gồm u thần kinh đệm, u tế bào thần kinh đệm, và u đám rối màng mạch. Các khối u nguyên phát có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào, mặc dù có một lượng nhỏ tỷ lệ mắc phải ở các năm đầu đời kéo theo một tỷ lệ sau ở sớm đến trung niên. -Đoan não trở thành hai bán cầu não. Bề mặt của các bán cầu đó bao gồm các phần nhô lên (hồi) và lún xuống (rãnh), và các bán cầu được ngăn cách một phần bởi khe não dọc. Đoan não choán hết vùng đầu phía trên lều tiểu não và được phân chia thành các thùy dựa trên vị trí. -Gian não bị che lấp khỏi hướng nhìn ở não trưởng thành bởi các bán cầu não, bao gồm vùng đồi thị, vùng dưới đồi, và các cấu trúc liên quan khác, và theo quan điểm cổ điển đây là phần trên cùng của cuống não. (Tuy nhiên hiện nay thuật ngữ cuống não thường được hiểu là trung não, cầu não và hành não. -Trung não, là phần nhìn thấy đầu tiên của cuống não khi thăm khám não người trưởng thành. Nằm ở đường nối giữa và cả ở hố sọ giữa và sau. -Cầu não nhô lên từ cột sống (bao gồm hai bán cầu và phần giữa ở hố sọ sau dưới liềm tiểu não) và cầu não (phía trước cột sống, và là phần lồi ra của cuống não trong phần trước của hố sọ sau tựa lên dốc và lưng yên). -Hành não, phần cuối cùng của cuống não, tận cùng ở lỗ chẩm lớn hoặc rễ trên cùng của thần kinh cổ đầu tiên và được thần kinh sọ VI và XII bám vào. Não nhận nguồn cấp máu động mạch từ hai cặp động mạch, động mạch đốt sống và động mạch cảnh trong (Hình 8.38), chúng nối với nhau trong khoang sọ não để tạo thành vòng động mạch não (vòng nối Willis). Hai động mạch sống đi vào khoang sọ não qua lỗ chẩm lớn và ngay sau cầu não và hợp nhất lại thành động mạch nền. Các động mạch cảnh trong đi vào khoang sọ não qua ống cảnh ở cả hai bên. Vòng động mạch não (Willis) được tạo thành ở nền sọ bởi sự nối liền của các động mạch cột sống - đáy não và động mạch cảnh trong (Hình 8.38). Mạng nối này được nối thông với nhau bởi: -Một động mạch thông trước nối động mạch não trước phải và trái với nhau. -Hai động mạch thông sau mỗi bên một mạch nối động mạch cảnh trong với động mạch não sau (Hình 8.38 và 8.39). Đột quỵ hay tai biến mạch não (CVA) được định nghĩa là sự gián đoạn dòng máu đến não và cuống não gây suy giảm chức năng thần kinh kéo dài hơn 24 giờ. Xử lý được sự suy giảm chức năng thần kinh trong vòng 24 giờ được xem là cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua (transient ischemic attack – TIA) hay cơn đột quỵ nhỏ. Dựa trên bệnh nguyên, các cơn đột quỵ được phân chia thành thiếu máu não và xuất huyết não. Thiếu máu não lại được phân chia thành loại gây ra do huyết khối hoặc nghẽn mạch. Nguyên nhân thứ hai phổ biến hơn trong đột quỵ, và thường do các dị vật tắc mạch bắt nguồn từ các mảnh xơ vữa trong động mạch cảnh di chuyển đến và cản trở các mạch máu trong não. Xuất huyết não xảy ra do tổn thương đứt vỡ các mạch máu. Các yếu tố nguy cơ gây đột quỵ bao gồm các bệnh tim mạch như tiểu đường, cao huyết áp, và hút thuốc. Ở những bệnh nhân trẻ có rối loạn đông máu, sử dụng thuốc tránh thai uống và lạm dụng các hợp chất trái phép (như cocain) cũng là những nguyên nhân làm tăng nguy cơ đột quỵ. Bên cạnh theo dõi bệnh sử và thăm, tất cả những bệnh nhân nghi ngờ có đột quỵ cần được chụp CT não cấp. CT não giúp nhận biết đột quỵ do xuất huyết mà chống chỉ định liệu pháp làm tan huyết khối và để loại trừ những chẩn đoán khác như u ác tính. Ở đột quỵ do thiếu máu, chụp CT có thể thấy bình thường hoặc những vùng mật độ thấp tương đối xám hơn tương ứng với vùng xâm lấn não bất \mô mềm tốt hơn so với CT. MRI cũng có ích cho xác định đột quỵ quá nhỏ để định trên CT. MRI được tạo ra nhờ sự dụng các thuật toán phức tạp tạo ra một chuỗi các hình ảnh. Nhiều chuỗi hình có thể thu được để đánh giá các đặc điểm giải phẫu và sinh lý khác nhau của não. Một đột quỵ, cấp hay mạn, sẽ xuất hiện như một vùng sáng ở chuỗi hình nhạy với dịch (thì T2) (Hình 8.40B). Để xác định đột quỵ có cấp tính hay không, có thể thực hiện thêm các chuỗi hình nữa, như chụp hình thì khuyếch tán (DWI) (Hình 8.40C) và hệ số khuyếch tán biểu kiến (ADC) (Hình 8.40). Các phương pháp đó đánh giá sự khuyếch tán của nước trong não. Nếu vùng bất thường xuất hiện sáng trên chuỗi hình DWI và tối trên ảnh ADC, đây là khuếch tán giới hạn, tương ứng với đột quỵ cấp tính. Những thay đổi đó có thể tồn tại hàng tuần sau chấn thương ban đầu. Chụp hình động mạch cảnh và đốt sống cũng có thể được thực hiện để xác đinh xơ vữa có thể điều trị được và hẹp mạch nhờ siêu âm, CT hoặc hiếm hơn là MRI. Xử trí một cơn đột quỵ có nhiều nguyên tắc. Các điều trị hỗ trợ để ổn định bệnh nhân là điều ưu tiên. Các chuyên gia đột quỵ, trị liệu ngôn ngữ và lời nói, trị liệu nghề nghiệp và vật lý trị liệu có vai trò quan trọng trong việc phụ hồi ở bệnh nhân. Sử dụng lâu dài các thuốc chống kết tập tiểu cầu như aspirin và giảm yếu tố nguy cơ của các bệnh tim mạch rất quan trọng trong ngăn ngừa đột quỵ thứ phát. Cắt bỏ nội mạc động mạch cảnh là kỹ thuật phẫu thuật để loại bỏ các mảng xơ vữa ra khỏi động mạch. Trong quá trình cắt bỏ nội mạc động mạch, mảnh xơ vữa sẽ được loại bỏ và mạch máu lưu thông trở lại. Trong nhiều trường hợp, một vật liệu vá được khâu trên lỗ hở của mạch máu có thể hỗ trợ dòng chảy và ngăn hẹp dòng máu do vết khâu mạch máu. Phình mạch máu não phát sinh từ các mạch máu trong và quanh vòng động mạch não (Willis). Chúng thường xảy ra ở trong và quanh các động mạch thông trước, thông sau và các nhánh của động mạch não giữa, đầu xa của động mạch nền (Hình 8.41) và động mạch tiểu não dưới sau. \không biết khi nào tình trạng xấu đi. Khi phình mạch vỡ, bệnh nhân thường kêu đau chói đầu, cứng gáy và có thể nôn vọt. Một số bệnh nhân sau đó sẽ tử vong, nhưng nhiều bệnh nhân có thể đến được bệnh viện và được chẩn đoán kịp thời. Một phim chụp CT ban đầu cho thấy máu trong khoang dưới nhện có thể liên quan tới một xuất huyết nội sọ. Thường chụp thêm mạch não để xác định vị trí, kích thước và khởi nguồn của phình mạch. Can thiệp chẩn đoán hình ảnh gần đây được thay thế trong xử trí một số phình mạch ở vị trí đặc biệt. Quá trình can thiệp được thực hiện bằng cách đưa một ống dò qua động mạch đùi, đặt một catheter dài qua động mạch cảnh vào cung động mạch cảnh và nhờ đó đi vào vòng động mạch não. Đầu của catheter được đặt trong phình mạch và được gói cùng 5 vòng xoắn siêu nhỏ (Hình 8.42) để bịt kín chỗ vỡ. Hình 8.41 Phình mạch đầu động mạch nền. A. CT scan 3D mặt trong sọ. B. phình mạch phóng to. Hình 8.42 Phình động mạch thông trước. A. chụp mạch động mạch cảnh trái. B. chụp mạch động mạch cảnh trái sau khi nút mạch. Dẫn lưu tĩnh mạch Các tĩnh mạch xuyên quan trọng trong lâm sàng do chúng có thể là đường lan truyền cho nhiễm trùng đi vào khoang sọ não do chúng không có van. Các xoang tĩnh mạch màng cứng bao gồm xang dọc trên, dọc dưới, thẳng, ngang, sigma, và xoang chẩm, hội lưu các xoang và xoang hang, bướm – đỉnh, \Hội lưu các xoangKhoang giãn ra trong ụ chẩm trongCác xoang dọc trên, thẳng và xoang chẩm. Xoang ngang (trái và phải)Phần kéo dài theo phía ngang từ hội lưu các xoang dọc theo đường bám sau và bên của lều tiểu nãoDẫn lưu từ hội lưu các xoang (phải – xoang ngang và thường cả xoang dọc trên; trái – xoang ngang và thường là xoang thẳng); xoang đá trên, và các tĩnh mạch não dưới, tiểu não, tĩnh mạch tủy xương và tĩnh mạch xuyên. Xoang sigma (trái và phải)Phần tiếp nối xoang ngang đến tĩnh mạch cảnh trong; rãnh xương đỉnh, xương thái dương và xương chẩmCác xoang ngang, và các tĩnh mạch não dưới, tiểu não, tĩnh mạch tủy xương và tĩnh mạch xuyên. Xoang thẳng thường nhận máu từ xoang dọc dưới, các tĩnh mạch não (từ phần sau của liềm đại não), tĩnh mạch não lớn (dẫn lưu những vùng sâu của các bán cầu đại não), các tĩnh mạch tiểu não trên và các tĩnh mạch từ liềm đại não. Hội lưu các xoang, xoang ngang và xoang sigma. Chấn thương kín có thể gây xuất huyết trong lớp này (máu có thể lan xuống dưới mặt tạo thành dấu hiệu kính râm (Raccoon’s eyes). Đứt vỡ động mạch màng não giữa (các nhánh) do gãy mảnh trong của xương gây ra xuất huyết ngoài màng cứng. Dưới áp lực, máu nhanh chóng tách màng cứng ra khỏi xương. Rách tĩnh mạch khi nó qua màng cứng vào các xoang tĩnh mạch não có thể gây ra xuất huyết dưới màng cứng. Rách tĩnh mạch tách màng não cứng mỏng khỏi chỗ gắn vào màng cốt mạc. Kết quả là khối xuất huyết được che phủ giới hạn phía trong từ một phần màng cứng. Vỡ phình mạch của các mạch của vòng động mạc não sẽ gây xuất huyết trực tiếp vào khoang dưới nhện và CSF. Các chấn thương thứ phát là di chứng của chấn thương ban đầu. Chúng bao gồm rách mạc, vỡ vòm sọ, vỡ các động mạch não và các tĩnh mạch, phù não và Xuất huyết nội sọ nguyên phát Các nguyên nhân xuất huyết nội sọ nguyên phát bao gồm vỡ phình mạch, tăng huyết áp (xuất huyết thứ phát do áp huyết cao) và chảy máu sau nhồi máu. Xuất huyết ngoài màng cứng Xuất huyết ngoài màng cứng (H. 8.47) xảy ra do chấn thương mạch máu và rách các nhánh của động mạch màng não giữa chủ yếu xảy ra ở vùng thái dương. Máu dồn tụ từ giữa lớp cốt mạc của màng cứng và vòm sọ và dưới áp lực động mạch mở rộng từ từ. Tiền sử điển hình là một chấn thương đầu gây giảm tri giác. Sau chấn thương bệnh nhân thường lấy lại được tri giác (có khoảng tỉnh) trong vài giờ. Sau đó nhanh chóng rơi vào lơ mơ và mất ý thức có thể dẫn tới tử vong. Xuất huyết dưới màng cứng (H.8.48) do chảy máu tĩnh mạch, tường do rách các tĩnh mạch não tại nơi chúng đi vào xoang dọc trên. Sự rách và rỉ máu ngăn cách lớp mỏng các tế bào lót màng cứng khỏi phần còn lại của màng cứng khi xuất huyết lan rộng. Bệnh nhân trẻ và cao tuổi có nguy cơ cao nhất phát triển xuất huyết dưới màng cứng. Sự tăng khoang não tủy ở những bệnh nhân teo não gây áp lực lớn hơn trên các tĩnh mạch não đi vào xoang dọc trên. Tiền sử thường bao gồm một chấn thương kèm theo sự mất tri giác âm thầm hoặc thay đổi tính cách. Xuất huyết dưới nhện (H. 8.49) có thể xảy ra ở những bệnh nhân có chấn thương não nghiêm trọng nhưng điển hình là do vỡ phình mạch từ các mạch máu cấp máu và xung quanh vòng nối Willis. Chấn thương não giữa (MTBI) là loại chấn thương não phổ biến nhất. Chấn thương điển hình tạo ra từ sự giảm tốc của đầu hoặc sự quay não trong khoang sọ não. Triệu chứng chung của MTBI có thể bao gồm mất trí nhớ sau chấn thương, lơ mơ, giảm ý thức, đau đầu, hoa mắt, mất phối hợp vận động và nhạy cảm ánh sáng. Chẩn đoán của chấn thương não giữa (MTBI) dựa trên sự kiện, tình trạng thần kinh và tình trạng ý thức hiện tại của bệnh nhân. Thang điểm hôn mê Glasgow Điều trị chấn thương sọ não nguyên phát cực kỳ giới hạn. Đứt sợi trục và chết tế bào thường không hồi phục. Mỗi khi não bị chấn thương, phần lớn là mô, thường bị phù. Do não được bao bọc trong một khoang cố định (sọ não), phù não làm suy yếu chức năng của não và có hai ảnh hưởng quan trọng khác. Đầu tiên, phù chèn ép lên nguồn cấp máu vào đầu, gây ra một chấn thương sinh lý tăng huyết áp. phù não có thể lan tỏa, cuối cùng chèn ép lên não và cuống não qua lỗ chẩm lớn (thoát vị). Chèn ép và đứt cuống não có thể gây mất chức năng hô hấp tuần hoàn sau đó tử vong. Phù não trung tâm có thể gây một bên não thoát vị qua liềm đại não (thoát vị liềm đại não). Các xử trí đơn giản để ngăn phù não bao gồm thở nhanh (làm biến đổi cân bằng acid-base nội sọ và làm giảm phù) và tiêm tĩnh mạch corticosteroid (mạch dù hoạt động của chúng thường bị chậm lại). Xuất huyết ngoài não có thể được loại bỏ nhờ phẫu thuật. 12 đôi dây thần kinh sọ thuộc hệ thần kinh ngoại biên (PNS) và đi qua các lỗ hoặc khe trong khoang sọ não. Tất cả các dây thần kinh trừ dây thần kinh phụ [XI], đều xuất phát từ não. Cùng với các thành phần thân thể và nội tạng như các dây thần kinh tủy sống, một số dây thần kinh sọ não cũng chứa các thành phần cảm giác và vận động đặc biệt (Bảng 8.4 và 8.5). Thần kinh hàm trên đi qua thành bên màng cứng của xoang hoang nga phía dưới thần kinh mắt [V1] (H. 8.45), rời khoang sọ não qua lỗ tròn (H. 8.50) và đi vào hố chân bướm – khẩu cái. bụng trước cơ hai bụng và cơ hàm móng. Thần kinh hàm dưới [V3] cũng nhận các nhánh cảm giác tù da phần dưới mặt, má, môi dưới, phần trước tai ngoài, phần ống tai ngoài và vùng thái dương, 2/3 trước lưỡi, răng hàm dưới, xoang chũm, màng nhầy của má, hàm dưới và màng cứng hố sọ giữa. Thần kinh vận nhãn ngoài [VI] Thần kinh vận nhãn ngoài [VI] mang các sợi GSE đến chi phối các cơ thẳng bên của ổ mắt. Nó xuất phát từ cuống não giữa cầu não và hành não và đi xuống xuyên qua dốc (H. 8.50 và 8.51). Tiếp tục đi lên ống màng cứng, dọc theo cạnh trên của phần đá xương thái dương, đi vào và qua xoang hang (H. 8.45) ngay dưới bên của động mạch cảnh trong, và đi vào ổ mắt qua khe ổ mắt trên. Thần kinh mặt [VII] Thần kinh mặt mang các sợi GSA, SA, GVE, và BE: -Các sợi GSA cung cấp các cảm giác đi vào từ phần ống tai ngoài và phần sâu hơn của tai ngoài. -Các sợi SA giúp cảm nhận vị giác từ 2/3 trước lưỡi. -Các sợi GVE là phần phó giao cảm của nhánh tự động thuộc PNS và kích thích hoạt động bài tiết của tuyến lệ, tuyến nước bọt dưới hàm, dưới lưỡi, và các tuyến trong màng nhầy của khoang mũi, khấu cái cứng và mềm. -Các sợi BE chi phối các cơ mặt (cơ biểu lộ nét mặt) và da đầu xuất phát từ cung hầu thứ hai, và cơ thang, bụng sau của cơ hai bụng và xương trâm móng. Thần kinh mặt [VII] bám vào mặt bên của thân não, giữa cầu não và hành não (H. 8.51). Nó bao gồm một rễ vận động lớn và một rễ cảm giác nhỏ hơn (thần kinh giữa): -Thần kinh giữa chứa các sợi SA cho vị giác, các sợi GVE phó giao cảm, và các sợi GSA. -Rễ thần kinh vận động lớn hơn chứa các sợi BE. Các rễ vận động và cảm giác đi qua hố sọ sau và rời khoang sọ qua ống tai trong (H. 8.50). Sau khi đi vào ống mặt ở phần đá xương thái dương, hai rễ hợp nhất lại và tạo nên thần kinh mặt [VII]. Gần điểm này, dây thần kinh to ra thành hạch gối tương tự như một hạch sống chứa các thân tế bào nơron cảm giác. Ở hạch gối, thần kinh mặt [VII] quay và phân ra thần kinh đá lớn, mang các sợi trước hạch phó giao cảm (GVE) (H. 8.6). Thần kinh mặt [VII] tiếp tục đi theo ống xương phân ra nhánh thần kinh cho cơ thang và thừng nhĩ trước khi đi ra khỏi đầu qua lỗ châm chũm. Thừng nhĩ mang các sợi vị giác (SA) từ 2/3 trước lưỡi và các sợi phó giao cảm trước hạch (GVE) hướng tới hạch dưới hàm (Bảng 8.6). Thần kinh tiền đình ốc tai [VIII] Thần kinh tiền đình ốc tai [VIII] mang các sợi SA cho thính giác và cân bằng và bao gồm 2 phần: -Phần tiền đình cho thăng bằng -Phần ốc tai cho thính giác. Thần kinh tiền đình ốc tai [VIII] bám và mặt bên cuống não giữa cầu não và hành não sau khi phát sinh từ ống tai trong và qua hố sọ sau (H. 8.50 và 8.51). Hai phần hợp thành một sợi thần kinh duy nhất ở hố sọ sau trong các thành phần của phần đá xương thái dương. Thần kinh thiệt hầu [IX] Thần kinh màng nhĩ phân nhánh từ thần kinh thiệt hầu [IX] ở trong hoặc ngay ngoài lỗ tĩnh mạch cảnh. Nhánh này quay lại vào xương thái dương, đi vào tai giữa, tham gia tạo thành đám rối màng nhĩ. Trong tai giữa, nó chi phối cảm giác của niêm mạc khoang này, vòi nhĩ và xoang chũm. Thần kinh màng nhĩ cũng đóng góp các sợi GVE rời đám rối màng nhĩ ở thần kinh đá bé – một dây thần kinh nhỏ rời khỏi xoang đá đi vào hố sọ giữa và đi xuống qua lỗ bầu dục ra khỏi khoang sọ não mang theo các sợi phó giao cảm trước hạch đến hạch tai (Bảng 8.6). Thần kinh phế vị [X] Thần kinh phế vị [X] mang các sợi GSA, GVA, SA, GVE, và các sợi BE: -Các sợi GSA cho các cảm giác từ thanh quản, thanh hầu, phần sâu của ống tai, phần ống tai ngoài, màng cứng ở hố sọ sau. -Các sợi GVA cho cảm giác từ các receptor hóa học ở tiểu thể cảnh, receptor áp suất ở cung động mạch chủ, thực quản, phế quản, phổi, tim và các tạng trong ổ bụng thuộc ruột trước và giữa. -Các sợi SA nhận cảm vị giác quanh nắp thanh quản và hầu. -Các sợi GVE là phần phó giao cảm của nhánh tự đồng thần kinh ngoại biên và kích thích cơ trơn, các tuyến ở hầu, thanh quản, tạng ngực, và tạng trong ổ bụng thuộc ruột giữa và trước. -Các sợi BE chi phối cho một cơ lưỡi (cơ lưỡi – khẩu cái), các cơ của khẩu cái mềm (trừ cơ nâng khẩu cái), hầu (trừ cơ trâm hầu) và thanh quản. Thần kinh phế vị phát sinh giống như một nhóm rễ con trên mặt trước bên của hành não, ngay phía dưới các rễ con tạo thành thần kinh thiệt hầu [IX] (H. 8.51). Các rễ con này đi qua hố sọ sau và đi vào lỗ tĩnh mạch cảnh (H. 8.50). Trước khi ra khỏi lỗ này, các rễ con đó hợp nhất tạo thành thần kinh phế vị [X]. Trong hoặc ngay ngoài lỗ tĩnh mạch cảnh là hai hạch, hạch trên (tĩnh mạch cảnh) và hạch dưới (hạch nút) chứa các thân tế bào nơron cảm giác trong thần kinh phế vị [X]. Thần kinh phụ [XI] Thần kinh phụ [XI] là một sợi thần kinh sọ mang các sợi GSE chi phối cơ ức đòn chũm và cơ thang. Nó là một sợi thần kinh sọ đặc biệt do rễ của nó phát sinh từ các nơron vận động ở năm khoanh trên của tủy sống cổ. Các sợi này rời mặt bên của tủy sống, cùng nhau đi lên vào khoang sọ não qua lỗ chẩm lớn (H. 8.51). Thần kinh phụ [XI] tiếp tục qua hố sọ sau và ra khỏi lỗ tĩnh mạch cảnh (H. 8.50). Sau đó nó đi xuống cổ và chi phối cơ ức đòn chũm và cơ thang từ mặt sâu của chúng. Rễ sọ của thần kinh phụ Một số mô tả thần kinh phụ [XI] nhắc đến một số rễ con phát sinh từ phần đuôi hành não ở mặt trước bên ngay dưới vị trí các rễ con của thần kinh phế vị [X] xuất phát là rễ sọ của thần kinh phụ (H. 8.51). Rời hành não, các rễ sọ cùng với rễ tủy sống của thần kinh phụ [XI] đi vào lỗ tĩnh mạch cảnh, tại đó các rễ sọ đi cùng với thần kinh phế vị [X]. Như phần thần kinh phế vị [X] chúng phân bố đến hệ cơ hầu được chi phối bởi thần kinh phế vị [X] và do đó được mô tả như một phần của thần kinh phế vị [X]. Thần kinh hạ thiệt [XII] Thần kinh hạ thiệt [XII] mang các sợi GSE để chi phối cho các cơ nội tại và ngoại lai của lưỡi. Nó phát sinh từ mặt trước của hành não (H. 8.51), đi sang phía bên hố sọ giữa và đi qua ống dưới lưỡi (H. 8.50). Thần kinh này chi phối cơ quai lưỡi, cơ trâm lưỡi, và cơ cằm quai và tất cả các cơ nội tại của lưỡi. Lâm sàng Các tổn thương dây thần kinh sọ Dây thần kinh sọDấu hiệu lâm sàngVí dụ tổn thương Thần kinh khứu giácMất nhận cảm mùi (mất khứu giác – anosmia)Chấn thương mảnh sàng; bẩm sinh Thần kinh thị giác [II]Mù/những bất thường thị trường, mất khả năng co đồng tửChấn thương trực tiếp vào ổ mắt; đứt đường đi của dây thần kinh Thần kinh vận nhãn [III]Giãn đồng tử, sụt mi, mất phản xạ đồng tử bình thường, mắt di chuyển xuống dưới và sang bênLực ép do phình mạch từ động mạch thông sau, động mạch não sau, hoặc động mạch tiểu não trên; áp lực từ thoát vị hồi hải mã (liệt nửa người); u hoặc huyết khối xoang hang Thần kinh ròng rọc [IV]Không thể nhìn xuống dưới khi mắt nhắmTheo hướng đi của dây thần kinh quanh cuống não; vỡ ổ mắt Thần kinh tam thoa [V]Mất cảm giác và đau ở vùng chi phối bởi ba nhánh của dây thần kinh trên mặt, mất chức năng vận động của cơ nhai bên phía tổn thươngĐiển hình là vùng hạch tam thoa mặc dù các khối u gần các lỗ mà các nhánh đó đi qua có thể gây ra các triệu chứng tương tự Thần kinh vận nhãn ngoài [VI]Mắt không thể di chuyển sang bênTổn thương não hoặc xoang hang lan rộng vào ổ mắt Thần kinh mặt [VII]Liệt các cơ mặt Bất thường cảm giác nhai từ 2/3 trước lưỡi và khô kết mạc Liệt các cơ mặt đối bên dưới mắtChấn thương xương thái dương; viêm virus dây thần kinh Chấn thương cuống não Thần kinh tiền đình - ốc tai [VIII]Mất thính giác một bên tăng dần và ù taiKhối u góc cầu tiểu não Thần kinh thiệt hầu [IX]Mất vị giác 1/3 sau lưỡi và cảm giác khẩu cái mềmTổn thương cuống não; vết thương thấu cổ Thần kinh phế vị [X]Lệch khẩu cái mềm cùng lệch lưỡi gà sang bên lành; liệt dây thanh âmTổn thương cuống não; vết thương thấu cổ Thần kinh phụ [XI]Liệt cơ ức đòn chũm và cơ thangViết thương thấu tam giác cổ sau Thần kinh thiệt hầu [XII]Liệt các cơ cùng một phía của lưỡi và lệch sang bên Vết thương thấu cổ và nền sọ Phản xạ giác mạc (chớp mắt)Phản xạ đồng tử (ánh sáng)

Trang 1

Hình 8.1 Các ngăn chính của đầu và cổ

Khoang sọ là ngăn lớn nhất chứa não và các màng não

Phần lớn bộ máy thính giác mỗi bên nằm giữa một trong các xương hình thành nên nền hộp

sọ Phần bên ngoài của tai kéo dài ra phía ngoài từ các vùng đó

Trang 2

Hai ổ mắt chứa mắt Chúng có hình chóp nằm ngay dưới mặt trước của hộp sọ và đỉnh của mỗi hình chóp hướng về phía sau giữa Thành của ổ mắt là xương, trong khi nền hình chóp mở ra bên ngoài và được che lấp bằng mi mắt

Khoang mũi thuộc đường dẫn khí trên và nằm giữa ổ mắt Chúng có các thành, sàn và trần được tạo thành chủ yếu bởi xương và sụn Phía trước khoang mũi là lỗ mũi, và phía sau mở vào lỗ mũi sau

Tiếp nối với xoang mũi là các phần mở rộng chứa đầy khí (xoang cạnh mũi) lồi sang phía bên, trên và sau vào các xương xung quanh Xoang hàm là xoang lớn nhất và nằm dưới ổ mắt Khoang miệng mở ra phía trước là khe miệng (miệng), và mở ra phía sau là khe hầu họng Không giống như mũi và lỗ mũi sau mở liên tục, cả miệng và khe hầu họng có thể đóng mở nhờ các mô mềm ở xung quanh

Các vùng giải phẫu học khác

Ngoài các thành phần chính của đầu, hai vùng giải phẫu khác (hố dưới thái dương và hố chân bướm khẩu cái) ở mỗi bên đầu là các vùng nối từ ngăn này của đầu sang ngăn khác (Hình 8.3) Mặt và mạc cũng là vùng giải phẫu của đầu và liên quan với bề mặt bên ngoài

Hố dưới thái dương là vùng giữa ngành xương hàm dưới và một vùng xương phẳng (mảnh chân ngoài chân bướm) ngay phía sau xương hàm trên Hố này được bao quanh bởi xương và các mô mềm, là một đường dẫn cho dây thần kinh sọ lớn đi qua là thần kinh hàm dưới (nhánh hàm dưới của dây tam thoa[V3]) đi qua giữa khoang não và khoang miệng

Hố chân bưới khẩu cái ở mỗi bên nằm ngay phía sau xương hàm trên Đây là một hố nhỏ nối giữa khoang não, hố dưới thái dương, ổ mắt, khoang mũi và khoang miệng Cấu trúc chính đi qua hố chân bướm - khẩu cái là thần kinh hàm trên (nhánh hàm trên của dây tam thoa [V2])

Trang 3

Hình 8.2 Các vùng chuyển tiếp từ ngăn này sang ngăn khác của đầu

Vùng mặt là mặt trước của đầu và chứa các nhóm cơ riêng biệt di chuyển da liên quan đến các xương nằm dưới và điều khiển đóng mở khe miệng ngoài và khoang miệng (hình 8.3)

Mạc phủ phần trên, sau, và bên của đầu

Trang 4

Hình 8.3 Các cơ vùng mặt

Cổ

Cổ kéo dài từ đầu phía trên xuống vai và ngực phía dưới (hình 8.4) Giới hạn trên của cổ dọc theo bờ dưới xương hàm dưới và các xương đặc biệt ở mặt sau xương sọ Phía sau cổ cao hơn phía trước để nối các tạng của cổ với các lỗ mở phía sau khoang mũi và khoang miệng

Trang 5

Hình 8.4 Giới hạn của cổ

Giới hạn dưới của cổ kéo dài từ đỉnh xương ức, dọc theo xương đòn và lên trên mỏm cùng vai Phía sau của giới hạn dưới khó xác định chính xác nhưng có thể được cho là gần với đường giữa mỏm cùng vai và mỏm gai đốt sống cổ CVII phần lồi lên và sờ thấy được dễ dàng Bờ dưới cổ bao quanh nền cổ

Các ngăn

Cổ có 4 khoang chính (hình 8.5), được bao quanh bởi các vòng cân cơ bên ngoài:

- Khoang xương sống chứa các đốt sống cổ và các cơ kháng trọng lực liên quan

- khoang tạng chứa các tuyến (giáp, cận giáp và tuyến ức), và các phần của đường hô hấp và tiêu hóa đi giữa đầu và cổ

- Hai khoang mạch, mỗi ngăn một bên chứa các mạch máu lớn và dây thần kinh phế vị

Hình 8.5 Các khoang chính của cổ

Thanh quản và hầu

Cổ chứa hai cấu trúc đặc biệt liên quan tới đường tiêu hóa và hô hấp là thanh quản và hầu Thanh quản (hình 8.6) là phần trên của đường dẫn khí dưới và phía dưới được gắn với đỉnh của khí quản và phía trên với xương móng qua một màng mềm dẻo, xương móng lại gắn vào nền khoang miệng Thanh quản có một số mảnh sụn tạo thành khung nâng đỡ có dạng ống

Trang 6

rỗng ở trung tâm Kích thước của ống có thể được điều chỉnh nhờ các cấu trúc mô mềm liên

quan với thành khí quản Phần quan trọng nhất là hai dây thanh âm nằm phía bên, chúng nhô

về phía nhau từ các mặt liền kề của khoang thanh quản Lỗ mở trên của thanh quản (lối vào

thanh quản) nghiêng về phía sau và liên tiếp với hầu

Hình 8.6 Các cấu trúc riêng của cổ A Nhìn tổng quan B Cấu trúc giải phẫu

Hầu (hình 8.6) là một buồng có dạng nửa khối trụ với các thành tạo bởi các cơ và mạc Phía

trên, các thành gắn với nền của xương sọ và phía dưới gắn với thành của thực quản Ở mỗi

bên, các thành gắn với mép bên của khoang mũi, khoang miệng và thanh quản Hai khoang

mũi, khoang miệng và thanh quản do đó mở vào mặt trên của hầu và thực quản mở ở phía

dưới

Phần hầu bên trên khoang mũi là mũi hầu Phần sau khoang miệng và thanh quản tương ứng

là miệng hầu và thanh hầu

CHỨC NĂNG

Bảo vệ

Đầu là nơi chứa và bảo vệ não và tất cả các hệ thống nhận cảm liên quan với những cảm giác

đặc biệt – khoang mũi liên quan đến khướu giác, ổ mắt liên quan đến thị giác, tai liên quan đến

thính giác và cân bằng và khoang miệng liên quan đến vị giác

Chứa phần trên của đường dẫn khí và tiêu hóa

Trang 7

Đầu chứa phần trên của đường dẫn khí và tiêu hóa – khoang mũi và miệng – các cấu trúc đặc biệt cho không khí và thức ăn đi vào mỗi hệ thống

Giao tiếp

Đầu và cổ liên quan đến giao tiếp Âm thanh do thanh quản tạo ra được sửa đổi trong hầu và khoang miệng để tạo ra lời nói Ngoài ra, các cơ biểu lộ nét mặt làm thay đổi đường nét trên mặt truyền tải tín hiệu phi ngôn ngữ

Giữ đầu

Cổ chống đỡ và giữ đầu Quan trọng là nó cho phép hệ thống cảm giác trong đầu mỗi người xác định vị trí liên quan với các yếu tố môi trường mà không cần di chuyển cả cơ thể

Nối phần trên và dưới của đường hô hấp và tiêu hóa trên và dưới

Cổ chứa các cấu trúc đặc biệt (thanh quản và hầu) nối phần trên của đường tiêu hóa và hô hấp (khoang mũi và miệng) ở đầu với thực quản và khí quản bắt đầu từ phần cổ tương đối thấp và

- Đầu thay đổi hình dạng khi sinh

- Phát triển ở trẻ sơ sinh

Hầu hết các thóp đóng kín sau một năm đầu đời Sự hóa xương hoàn toàn của các dây chằng

là mô liên liên kết mỏng ở các đường khớp khâu phân chia xương bắt đầu ở khoảng những năm 20 tuổi và thường kết thúc sau 50 năm

Chỉ có 3 cặp khớp động ở mỗi bên đầu Khớp lớn nhất là khớp thái dương hàm dưới giữa hàm dưới và xương thái dương Có hai cặp khớp hoạt dịch nằm giữa 3 xương nhỏ trong tai: xương búa, xương đe, và xương bàn đạp

Trang 8

Hình 8.7 Xương đầu A Các xương

Trang 9

Hình 8.7 (tiếp) Đầu B Các khớp khâu C Các thóp và đường khớp lamda

- Mỏm ngang chứa lỗ (lỗ mỏm ngang)

Các lỗ mỏm ngang tạo thành một đường đi dọc hai bên cột sống cổ cho các mạch máu (động mạch và tĩnh mạch đốt sống) đi từ nền cổ vào khoang sọ não

Trang 10

Hình 8.8 Các đốt sống cổ A Các chi tiết điển hình B Đốt đội – đốt sống cổ CI (Nhìn trên)

C Đốt trục – đốt CII (Nhìn dưới) D Đốt đội và đốt trục (nhìn trước bên) E Khớp đội – chẩm (nhìn sau)

Các mỏm ngang điển hình của một đốt sống cổ cũng có các củ trước và sau cho các cơ bám vào Củ trước được phát sinh từ các thành phần phôi thai giống như xương sườn ở ngực Đôi khi các xương sườn cổ phát triển từ các thành phần này, đặc biệt ở các đốt sống

cổ thấp hơn

Hai đốt sống cổ phía trên (CI và CII) được thay đổi cấu trúc cho phù hợp với cử động của đầu (Hình 8.8B-E, xem chapter 2)

Trang 11

Xương móng

Xương móng là một xương nhỏ hình chữ U (hình 8.9A) hướng về mặt phẳng ngang ngay trên thanh quản tại đó có thể sờ nắn được và di chuyển từ bên này sang bên kia

Hình 8.9 Xương móng A Xương B Các phần liên quan

- Thân xương móng ở trước tạo thành nền của chữ U

- Hai nhánh của chữ U (Sừng lớn) nhô ra sau từ đầu bên của thân

Xương móng không khớp trực tiếp với xương nào của đầu và cổ

Xương móng là một neo xương vững chắc và có tính di động cao cho một số cơ và cấu trúc

mô mềm ở đầu và cổ Đáng chú ý là nó nằm ở mặt phân cách giữa ba thành phần:

- Phía trên là sàn của khoang miệng

- Phía dưới là thanh quản

- Phía sau là hầu (Hình 8.9B)

Khẩu cái mềm

Khẩu cái mềm là một cấu trúc mô mềm dạng vành nối với phần sau khẩu cái cứng (hình 8.10A) với bờ phía dưới tự do Nó có thể được nâng lên và kéo xuống bới các cơ (hình 8.10B)

Trang 12

Khẩu cái mềm và các cấu trúc liên quan có thể được nhìn thấy rõ khi miệng mở

Hình 8.10 Khẩu cái mềm A Vị trí B Các cơ

Các cơ

Các cơ xương của đầu và cổ được phân chia thành nhóm trên cơ sở chức năng, chi phối thần kinh và nguồn gốc phôi thai

Trên đầu

Các nhóm cơ ở đầu bao gồm:

- Các cơ ngoài mắt (cử động nhãn cầu và mở mi mắt trên),

- Các cơ của tai giữa (điều chỉnh cử động của các xương tai giữa),

- Các cơ biểu hiện nét mặt (cử động mặt)

- Các cơ nhai (di động hàm – khớp thái dương – hàm dưới),

- Các cơ của khẩu cái mềm (nâng và kéo khẩu cái), và

- Các cơ của lưỡi (di chuyển và thay đổi đường nét của lưỡi)

Cổ

Các nhóm cơ chính ở cổ bao gồm:

- Các cơ của hầu (co khít và nâng hầu)

- Các cơ của thanh quản (điều chỉnh kích thước của đường dẫn khí)

- Các cơ giữ (giữ vị trí thanh quản và xương móng ở cổ)

- Các cơ vòng bên ngoài cổ (di chuyển đầu và chi trên)

Trang 13

- Các cơ tư thế trong ngăn cơ của cổ (giữ vị trí đầu và cổ)

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC VÙNG KHÁC

NGỰC

Lỗ ngực trên (lỗ vào ngực) mở trực tiếp vào nền cổ (hình 8.11) Các cấu trúc giữa đầu và ngực

đi lên và xuống qua lỗ ngực trên và khoang tạng của cổ Ở nền cổ, khí quản ở ngay trước thực quản, thực quản ở trước cột sống Các tĩnh mạch, động mạch và dây thần kinh ở trước và bên khí quản

Chi trên

Có nách (đường vào chi trên) ở mỗi bên lỗ ngực trên của nền cổ (hình 8.11):

- Các cấu trúc như mạch máu đi trên xương sườn I khi đi giữa lỗ vào nách và ngực

- Các bộ phận cấu thành cổ của đám rối cánh tay đi trực tiếp từ cổ qua nách vào chi trên

- Giữa CV và CVI, đánh dấu giới hạn dưới của thanh quản và hầu, và giới hạn trên của khí quản và thực quản – vết lõm giữa sụn nhẫn của thanh quản và vòng sụn đầu tiên của khí quản có thể sờ thấy

Động mạch cảnh trong không có nhánh ở cổ mà đi thẳng lên cấp máu cho não Nó cũng cấp máu cho mắt và ổ mắt Các vùng khác của đầu và cổ được cấp máu bởi các nhánh của động mạch cảnh ngoài

Trang 14

Hình 8.12 Các mức đốt sống quan trọng – CIII/CIV và CV/CVI

Đường dẫn khí ở phổi

Thanh quản (H 8.13) và khí quản ở phía trước thực quản có thể tiếp cận trực tiếp khi các phần trên của hệ thống thông khí bị tắc nghẽn Mở sụn nhẫn giáp dễ dàng nhất là tiếp cận qua dây chằng nhẫn giáp (màng nhẫn giáp) giữa sụn nhẫn và sụn giáp của thanh quản

Dây chằng có thể sờ thấy được ở đường giữa và thường có những mạch máu nhỏ, mô liên kết và da (mặc dù đôi khi, một thùy nhỏ của tuyến giáp – thùy tháp) che phủ bên ngoài Ở mức thấp hơn, đường dẫn khí có thể được tiếp cận qua thành trước của khí quản bằng mở khí quản Con đường tiếp cận này khá phức tạp do có các tĩnh mạch lớn và phần tuyến

giáp nằm bên trên vùng này

Trang 15

Hình 8.13 Thanh quản và các cấu trúc liên quan trong cổ

Các dây thần kinh sọ

12 đôi dây thần kinh sọ và các nhánh chính của chúng ra khỏi khoang sọ qua các lỗ hoặc khe

Tất cả các dây thần kinh sọ chi phối các cấu trúc ở đầu hoặc cổ Ngoài ra, dây phế vị [X]

kéo dài qua cổ và đi vào vùng ngực và bụng chi phối các tạng

Các sợi phó giao cảm ở đầu ra khỏi não từ 4 dây thần kinh sọ - dây vận động nhãn cầu [III], dây thần kinh mặt [VII], dây thần kinh lưỡi hầu [IX], và dây thần kinh phế vị [X] (H 8.14)

Các sợi phó giao cảm trong dây vận động nhãn cầu [III], dây thần kinh mặt [VII], dây thần kinh lưỡi hầu [IX] rời khỏi các dây này hướng tới các mô đích ở đầu cùng với các nhánh

của dây tam thoa [V]

Dây phế vị [X] rời đầu và cổ đưa các sợi phó giao cảm tới các tạng ở bụng và ngực

Trang 16

Hình 8.14 Sự chi phối các dây thần kinh sọ và phó giao cảm

Các dây thần kinh cổ

Có 8 dây thần kinh cổ (C1-C8):

- C1 đến C7 ra khỏi ống sống ở phía trên đốt sống tương ứng

- C8 đi ra giữa CVII và TI (Hình 8.15A)

Các rễ trước của C1 đến C4 tạo thành đám rối cổ Các nhánh chính của đám rối này chi

phối các cơ treo, cơ hoành (thần kinh hoành), da ở mặt trước và bên cổ, da phía trước

thành ngực và phần dưới đầu (Hình 8.15 B)

Các nhánh rễ của C5 đến C8 cùng với phần lớn rễ trước của T1 tạo thành đám rối cánh tay chi phối chi trên

Phân chia chức năng đường tiêu hóa và hô hấp

Hầu là buồng chung cho đường tiêu hóa và hô hấp Cho nên có thể thở bằng cả đường

miệng miệng hay mũi và các vật thể từ khoang miệng có khả năng đi vào cả thực quản

hoặc khí quản Chú ý:

- Đường hô hấp dưới có thể được mở thông với khoang miệng nhờ ống khí quản

- Đường tiêu hóa (thực quản) có thể được mở thông qua khoang mũi bởi ống nuôi

Trang 17

Hình 8.15 Các dây thần kinh cổ A Cấu trúc B Đốt da

Bình thường khẩu cái mềm, nắp thanh quản và các cấu trúc mô mềm trong thanh quản hoạt động như những van ngăn thức ăn và dịch đi vào đường hô hấp dưới (Hình 8.16A)

Trong suốt quá trình thở bình thường, đường dẫn khí thông thoáng và không khí đi tự do qua khoang mũi (hoặc khoang miệng), hầu, thanh quản và khí quản (Hình 8.16A) Lòng thực quản thường đóng do không giống như đường dẫn khí không có các cấu trúc xương

hỗ trợ giữ nó mở

Trang 18

Trong khi khoang miệng chứa đầy dịch và thức ăn, khẩu cái mềm bị kéo xuống để đóng eo khẩu hầu do đó cho phép thức ăn và dịch ở trong khoang miệng trong khi thở (Hình 8.16C) Khi đang nuốt, khẩu cái mềm và các phần của thanh quản hoạt động như những chiếc van đảm bảo thức ăn di chuyển chính xác từ ổ miệng vào thực quản (Hình 8.16D)

Khẩu cái mềm nâng lên mở khe khẩu hầu ra và cũng ngăn phần mũi của hầu với khoang miệng Nhờ đó ngăn thức ăn và dịch đi ngược lên tỵ hầu và khoang mũi

Hình 8.16 Thanh quản, màng mềm, nắp thanh quản và eo khẩu hầu A Cấu trúc tổng thể

Trang 19

Hình 8.16 tiếp B Thở bình thường C Thở khi có thức ăn hoặc dịch trong khoang miệng D Nuốt E Ở trẻ sơ sinh

Trang 20

Thượng thiệt của thanh quản đóng đường vào thanh quản và phần lớn khoang thanh quản bịt kín bởi sự đối lập của các nếp thanh âm và khẩu cái mềm bao phủ ở trên chúng Thêm vào đó, thanh quản được kéo lên trên và ra trước tạo điều kiện thuận lợi cho thức ăn và dịch đi qua và quanh thanh quản đóng kín vào thực quản

Ở trẻ sơ sinh, thanh quản ở cao trên cổ và thượng thiệt ở trên khẩu cái mềm (Hình 8.16E) Do

đó, trẻ có thể bú và thở cùng một lúc Dịch chảy quanh thanh quản mà không có bất kỳ nguy cơ nào đi vào đường dẫn khí Trong suốt 2 năm đầu đời, thanh quản di chuyển dần xuống vùng cổ dưới tới vị trí như ở người trưởng thành

Các tam giác cổ

Cơ thang và cơ ức đòn chũm chia mỗi bên cổ thành các tam giác cổ trước vào sau (Hình

8.17)

Hình 8.17 Các tam giác cổ trước vào sau

Các giới hạn của tam giác cổ trước là:

- Đường giữa trước của cổ

Trang 21

Tam giác cổ sau nằm phía trên lối vào nách và liên quan với các cấu trúc (thần kinh, mạch máu) đi vào và ra khỏi chi trên

Giải phẫu định khu

Xương sọ

Đầu có 22 xương, trừ các xương nhỏ của tai Trừ xương hàm dưới, các xương của đầu gắn với nhau bởi các khớp sợi là các khớp bất động để hình thành nên hộp sọ Hộp sọ có thể chia thành:

- Vòm sọ che phủ khoang sọ não chứa não,

- Nền chứa nền của khoang sọ

- Phần thấp hơn phía trước là các xương mặt (sọ tạng)

Các xương tạo thành sọ não chủ yếu là cặp xương thái dương và xương đỉnh, và các xương trán, xương bướm, và xương chẩm là các xương không thành cặp

Các xương tạo thành phần lớn nền sọ là xương bướm, xương thái xương và xương chẩm Các xương tạo thành sọ tạng là các cặp xương mũi, xương khẩu cái, xương lệ, xương gò má, xương hàm trên và xương xoăn mũi dưới và xương không theo cặp: xương lá mía

Xương hàm dưới không thuộc hộp sọ hay xương mặt

Nhìn trước

Đầu nhìn từ trước bao gồm: trán ở phía trên và phía dưới nó là ổ mắt, vùng mũi, phần mặt nằm giữa ổ mắt và hàm trên, hàm trên và hàm dưới (Hình 8.18)

Trang 22

Hình 8.18 Xương sọ: nhìn trước

Xương trán

Xương trán tạo thành trán và cũng tạo thành phần bờ trên mỗi ổ mắt (hình 8.18)

Ngay phía trên của bờ ổ mắt mỗi bên nhô lên các cung mày Giữa các cung này là một chỗ lõm nhỏ (điểm trên gốc mũi)

Có thể thấy rõ ở phần giữa của các bờ trên ổ mắt là lỗ (hoặc khuyết) trên ổ mắt; bảng 8.1)

Ở giữa, xương trán nhô vào trong thành bờ giữa của ổ mắt

Phía bên, mỏm gò má của xương trán nhô xuống dưới tạo thành bờ trên bên của ổ mắt Mỏm này khớp với mỏm trán của xương gò má

Bảng 8.1 Các lỗ bên ngoài xương sọ

Trang 23

Lỗ Cấu trúc đi qua lỗ

Nhìn trước

Lỗ ổ mắt trên Thần kinh và mạch máu trên ổ mắt

Lỗ dưới ổ mắt Thần kinh và mạch máu dưới ổ mắt

Lỗ răng cửa Thần kinh mũi – khẩu cái; các mạch máu bướm – khẩu cái

Lỗ khẩu cái lớn Thần kinh và mạch máu khẩu cái lớn đi qua

Lỗ khẩu cái bé Thần kinh và mạch máu khẩu cái bé đi qua

Ống chân bướm Thần kinh và mạch máu chân bướm

Lỗ bầu dục Thần kinh hàm dưới [V3]; thần kinh đá bé

Lỗ gai Động mạch màng não giữa

Ống lồi cầu chẩm Các tĩnh mạch xuyên

Ống thần kinh hạ

thiệt Thần kinh hạ thiệt [XII] và các mạch máu

Lỗ tĩnh mạch cảnh Tĩnh mạch cảnh trong; xoang đá dưới; thần kinh thiệt hầu [IX]; thần kinh

lang thang [X]; thần kinh phụ [XI]

Lỗ châm chũm Thần kinh mặt [VII]

Các xương gò má và mũi

Bờ dưới bên của ổ mắt cũng như phần bên của bờ dưới ổ mắt được tạo thành bởi xương gò

Trang 24

Phía trên, ở vùng mũi các xương mũi khớp với nhau ở đường giữa và với xương trán ở phía trên Trung tâm của khớp sợi trán mũi được tạo thành do các xương mũi và xương trán khớp với nhau là điểm gốc mũi

Phía bên, mỗi xương mũi lại khớp với mỏm trán của xương hàm dưới

Phía dưới, piriform aperture là lỗ mở lớn trong vùng mũi, phía trước mở vào khoang mũ Nó

được giới hạn bởi các xương mũi ở trên và xương hàm trên ở phía bên và dưới

Dễ dàng quan sát thấy qua piriform aperature các mào mũi cứng tạo bởi phần dưới của các vách xương mũi và đầu dưới là các gai mũi trước và các cặp xoăn mũi dưới

Xương hàm trên

Phần mặt nằm giữa ổ mắt và hàm răng trên và mỗi hàm trên được tạo thành bởi cặp xương hàm trên

Phía trên, mỗi xương hàm trên tham gia tạo thành bờ dưới và giữa của ổ mắt

Phía bên, mỏm gò má của mỗi xương hàm dưới khớp với xương gò má và ở giữa, mỏm trán của mỗi xương hàm trên khớp với xương trán

Phía dưới, phần xương hàm trên mà phía bên mở vào khoang mũi là thân xương hàm trên Mặt trước xương hàm dưới ngay dưới bờ dưới ổ mắt là lỗ ổ mắt dưới (Bảng 8.1)

Ở dưới, các đầu xương hàm trên là các mỏm huyệt rẳng chứa răng và tạo thành hàm trên

Xương hàm dưới

Hàm dưới là cấu trúc ở dưới cùng khi nhìn đầu từ trước Nó bao gồm thân hàn dưới ở trước và ngành hàm dưới ở sau Chúng gặp nhau ở phía sau tại góc hàm dưới Tất cả các phần đó của hàm dưới có thể nhìn thấy, một số giới hạn, ở mặt trước

Thân xương hàm dưới được chia thành hai phần rõ rệt:

- Phần dưới là nên của hàm dưới

- Phần trên là huyệt răng hàm dưới

Huyệt răng của hàm dưới chứa răng và được co lại khi răng nhổ đi Nền của xương hàm dưới

có đường giữa lồi ra (lồi cằm) trên mặt trước tại đó hai phía của hàm dưới gặp nhau Ngay phía bên lồi cằm ở cả hai bên là các củ cằm

Phía bên, có thể thấy một lỗ cằm (Bảng 8.1) nằm giữa bờ trên của huyệt răng hàm dưới và bờ dưới của nền hàm dưới Tiếp tục xa hơn lỗ này là một vết lằn (đường chéo) đi từ phía trước ngành xương hàm dưới tới thân xương hàm dưới Đường chéo là nơi bám cho các cơ kéo môi dưới

Nhìn bên

Đầu nhìn bên bao gồm thành bên của xương sọ, bao gồm các phần bên của xương sọ và xương mặt, và một nửa hàm dưới (Hình 8.19):

Trang 25

Hình 8.19 Đầu nhìn bên

- Các xương tạo thành phần bên xương sọ bao gồm xương trán, xương đỉnh, xương

chẩm, xương bướm và các xương thái dương

- Các xương tạo thành phần nhìn thấy được của xương mặt bao gồm xương mũi, xương

hàm trên và các xương gò má

- Xương hàm dưới tạo thành phần nhìn thấy được của hàm dưới

Phần bên của sọ não

Trang 26

Phần bên của sọ não bắt đầu ở phía trên với xương trán Ở vùng trên, xương trán khớp với xương đỉnh ở đường khớp vành Xương đỉnh sau đó khớp với xương chẩm ở đường khớp lamda

Ở phần dưới bên của sọ não, xương trán khớp với cánh lớn của xương bướm (Hình 8.19), rồi tiếp tục xương bướm khớp với xương đỉnh tại khớp bướm – đỉnh, và với cạnh trước của xương thái dương tại khớp bướm-thái dương

Các xương trán, xương đỉnh, xương bướm và xương thái dương gần như gặp nhau ở thóp trước-bên Vỡ xương sọ tại vùng này có thể để lại hậu quả lâm sàng rất nghiêm trọng Xương ở vùng này khá mỏng và che phủ nhánh trước của động mạch màng não giữa, các động mạch này có thể bị vỡ khi các vỡ xương sọ ở vùng này gây ra chảy máu ngoài màng cứng

Khớp cuối cùng đi ngang qua phần dưới của phần bên xương sọ nằm giữa xương thái dương và xương chẩm ở đường khớp chẩm – thái dương

Xương thái dương

Xương thái dương tạo thành phần lớn phần dưới của thành bên hộp sọ (Hình 8.19),nó bao gồm:

- Phần trai có dạng xương phẳng dẹt lớn, tạo thành phần trước và trên xương thái

dương, góp phần tạo thành bên hộp sọ, phía trước khớp với cánh lớn xương bướm tại đường khớp bướm – trai, và phía trên khớp với xương đỉnh qua khớp trai

- Mỏm chũm là phần xương nhô ra phía trước từ mặt dưới của phần trai và sau đó chạy

ra trước để khớp với mỏm thái dương xương mặt tạo thành cung gò má

- Ngay phía dưới cuống mỏm chũm từ phần trai xương thái dương là phần nhĩ xương thái xương, có thể nhìn thấy rõ trên mặt phần này là lỗ tai ngoài dẫn đến ống tai ngoài

(khoang tai)

- Phần đá thường chia thành phần chũm và phần đá để tiện mô tả

Phần chũm là chiếm hầu hết phần sau xương thái dương, và chỉ có một phần nhỏ của phần

đá có thể nhìn thấy từ phía bên của đầu Nó tiếp nối với phần trai xương thái dương và khớp với xương đỉnh phía trên ở khớp đỉnh – chũm, và với xương chẩm ở phía sau tại đường khớp chẩm – chũm Hai khớp này nối tiếp với nhau và với khớp đỉnh – chũm nối tiếp với khớp trai

Phía dưới, một phần xương lớn lồi lên (mỏm chũm) từ bờ dưới phần chũm Đây là nơi bám của một số cơ

Phía giữa mỏm chũm, mỏm gai nhô ra từ bờ dưới xương thái dương

Phần quan sát được của xương mặt

Các xương của sọ tạng có thể quan sát được khi nhìn bên bao gồm các xương mũi, hàm trên

và xương mặt (Hình 8.19):

- Một xương mũi ở phía trước

- Xương hàm dưới với các huyệt răng chứa răng tạo thành hàm trên; phía trước khớp với xương mũi, phía trên tham gia hình thành nên bờ dưới và giữa ổ mắt; ở giữa, mỏm phía trước khớp với xương trán; phía bên, mỏm gò má khớp với xương gò má

Trang 27

- Xương gò má, một xương không đều với một mặt tròn ở phía bên tạo thành phần gồ lên của má, từ hướng nhìn này có dạng hình cầu ở trung tâm - ở giữa, nó tham gia tạo thành bờ dưới ổ mắt nhờ khớp với mỏm gò má của hàm dưới; phía trên, mỏm trán của

nó khớp với mỏm gò má của xương trán giúp tạo thành bờ bên của ổ mắt, phía bên, mỏm thái dương nằm ngang của xương gò má nhô ra phía sau khớp với mỏm gò má của xương thái dương và tạo thành cung gò má

Thường có một lỗ nhỏ (lỗ gò má – mặt; Bảng 8.1) có thể nhìn thấy ở mặt bên của xương gò

má Một lỗ gò má thái dương có ở giữa mặt sâu của xương này

Xương hàm dưới

Cấu trúc xương cuối cùng có thể nhìn thấy theo hướng bên của đầu là xương hàm dưới phía dưới của phần trước của hướng nhìn này, nó bao gồm thân trước của hàm dưới, một ngành sau của xương hàm dưới và góc hàm tại đó bờ dưới của xương hàm dưới gặp bờ sau của ngành (Hình 8.19)

Răng nằm trong huyệt răng của thân xương hàm dưới và lồi cằm có thể nhìn thấy ở hướng nhìn này

Lỗ cằm ở mặt bên của thân, và phần trước của lồi vầu và mỏm vẹt của ngành kéo dài lên phía trên

Mỏm lồi cầu liên quan đến việc khớp của xương hàm dưới với xương thái dương, vào mỏm vẹt là nơi bám của cơ thái dương

Nhìn sau

Khi nhìn sau có thể quan sát được xương chẩm, xương đỉnh và xương thái dương

Xương chẩm

Trai chẩm (chủ yếu là phẳng) là cấu trúc chính khi quan sát đầu từ hướng này (Hình 8.20)

Nó khớp phía trên với đôi xương đỉnh ở đường khớp lamda và phía bên với mỗi xương thái dương ở đường khớp chẩm – thái dương Có thể quan sát được những mảnh xương nhỏ (xương khớp sợi)

Một số mốc xương có thể quan sát được trên xương chẩm Ụ chẩm ngoài nhô ra ở đường giữa với các đường cong kéo dài ra phía bên từ đó (các đường gáy trên) Điểm nhô lên rõ nhất của ụ chẩm ngoài là đường gáy giữa Khoảng 2.5cm dưới các đường gáy trên có thể hai đường nữa (đường gáy dưới) chạy chếch sang phía bên Kéo dài xuống phía dưới từ ụ chẩm ngoài là mào chẩm ngoài

Xương thái dương

Nhìn sau có thể quan sát thấy các xương thái dương ở phía bên đầu, với mỏm chũm là yếu

tố nhô ra rõ rệt (Hình 8.20) iwr bờ dưới giữa của mỗi mỏm chũm có một khuyết (khuyết

chũm), là điểm bám của bụng sau cơ hai bụng

Trang 28

Hình 8.20 Đầu nhìn sau

Nhìn trên

Khi nhìn trên có thể quan sát thấy xương trán, xương đỉnh, và xương chẩm (Hình 8.21) các xương này tạo thành phần trên của hộp sọ hay vòm sọ

Theo hướng từ trước ra sau:

- Xương trán khớp với đôi xương chẩm ở khớp đường khớp vành

- Hai xương đỉnh khớp với nhau ở đường giữa tại đường khớp dọc giữa

- Các xương đỉnh khớp với xương chẩm ở khớp lamda

Chỗ gặp nhau giữa khớp dọc giữa và các đường khớp vành là thóp trước, và chỗ gặp nhau của đường khớp dọc giữa và khớp lamda là thóp sau

Ở hướng nhìn này chỉ có thể nhìn thấy các lỗ của xương đỉnh ở phía sau, mỗi lỗ ở một

xương đỉnh ở ngay phía bên của đường khớp dọc giữa (Hình 8.21)

Trang 29

Hình 8.21 Đầu nhìn trên

Các xương tạo thành vòm sọ (Hình 8.22) có cấu trúc đặc biệt, bao gồm 2 mảnh xương đặc phía trong và ngoài phân cách bởi một mảnh xương xốp

Trang 30

Hình 8.22 Vòm sọ

Nhìn dưới

Nhìn dưới có thể thấy nền sọ và kéo dài từ các răng sữa giữa phía trước đến các đường gáy trên ở phía sau và phía bên tới các mỏm chũm và cung gò má (Hình 8.23)

Để tiện mô tả, nền sọ thường được chia thành:

- Phần trước, bao gồm răng và khẩu cái cứng

- Phần giữa, kéo dài từ phía sau khẩu cái cứng đến bờ trước của lỗ chẩm lớn

- Phần sau, kéo dài từ bờ trước lỗ chẩm lớn đến đường gáy trên

Phần trước

Các yếu tố chính của phần trước nền sọ là răng và khẩu cái cứng

Các răng nhô ra từ mỏm huyệt răng của hai xương hàm trên Các mỏm đó xếp thành cung huyệt răng hình chữ U bao quanh khẩu cái cứng ở cả 3 phía (Hình 8.23)

Khẩu cái cứng được tạo thành từ mỏm khẩu cái của xương hàm trên ở phía trước và mảnh ngang xương khẩu cái ở phía sau

Cặp mỏm khẩu cái của xương hàm trên gặp nhau ở đường giữa tại đường khớp giữa hàm trên, cặp xương hàm trên và cặp xương khẩu cái gặp nhau ở đường khớp khẩu cái – hàm trên, và cặp mảnh ngang của mỗi xương khẩu cái gặp nhau ở đường giữa tại đường khớp giữa khẩu cái

Khi quan sát khẩu cái cứng có thể thấy một số yếu tố khác:

- Lỗ răng cửa ở đường giữa ngay sau răng, các thành của nó bao gồm các lỗ răng của (mở vào ống răng cửa là cửa ngõ giữa khẩu cái cứng và khoang mũi);

- Lỗ khẩu cái lớn gần bờ sau bên của khẩu cái cứng ở mỗi bên dẫn đến ống khẩu cái lớn;

- Ngay sau lỗ khẩu cái lớn là lỗ khẩu cái bé ở mỏm chóp của mỗi xương khẩu cái dẫn đến ống khẩu cái bé;

- Gai mũi sau nhô ra ở đường giữa của bờ sau tự do của khẩu cái cứng

Trang 31

Hình 8.23 Đầu nhìn dưới

Phần giữa

Phần giữa của nền sọ khá phức tạp:

- Xương lá mía và xương bướm tạo thành nửa trước

- Xương chẩm và cặp xương thái dương tạo thành nửa sau

Nửa trước

Xương lá mía

Ở phía trước, xương lá mỉa nhỏ ở đường giữa, tựa lên xương bướm (Hình 8.23) Nó tham gia vào tạo thành xương vách mũi ngăn cách hai lỗ mũi sau

Trang 32

Xương bướm

Hầu hết phần trước của phần giữa nền sọ là xương bướm

Xương bước được tạo thành bởi một thân ở giữa, cặp cánh lớn và nhỏ nhô sang hai bên từ thân, và hai mỏm chân bướm nhô xuống dưới ngay bên mỗi lỗ mũi sau

3 phần của xương bướm: thân, cánh lớn và mỏm chân bướm có thể quan sát được theo hướng nhìn dưới (Hình 8.23) Còn cánh nhỏ thì không quan sát thấy

Mỗi mảnh trong của chân bướm có đầu tận ở phía nhau nhô ra như một mỏm móc, là móc chân bước, và phía trước phần chia thành hố thuyền nông và nhỏ

Ngay trên hố thuyền, tại rễ mảnh trong của mỏm chân bướm là lỗ mở của ống chân bướm,

nó đi ra trước từ gần bờ trước của lỗ chẩm lớn

Cánh lớn

Phía bên mảnh bên chân bướm là cánh lớn của xương bướm (Hình 8.23), nó không chỉ tạo thành nền sọ mà còn nối tiếp sang phía bên để tạo thành thành bên hộp sọ Ở phía bên và phía sau nó khớp với các phần của xương thái dương

Các yếu tố quan trọng trên mặt xương cánh lớn có thể quan sát được khi nhìn dưới là lỗ bầu dục và lỗ gai ở bờ sau bên kéo dài ra ngoài từ đầu trên của mảnh bên mỏm chân bướm

Trang 33

Ngay phía bên nền chẩm là phần đá của phần đá chũm xương thái dương

Phần đá xương thái dương có dạng hình chêm với đỉnh ở phía trước giữa, nămg giữa xương lớn xương bướm ở trước và nền xương chẩm ở phía sau Đỉnh tạo thành một viền bao quanh lỗ chẩm lớn, một lỗ mở không đều đường lấp đầy bởi sụn (Hình 8.23)

Lỗ chẩm lớn còn được bao quanh bởi nền chẩm ở giữa và thân xương bướm ở phía trước Phía sau bên từ lỗ rách dọc theo phần đá xương thái dương là một lỗ mở lớn hình tròn cho ống động mạch cảnh

Giữa phần đá xương thái dương và cánh lớn xương bướm có một rãnh cho phần sụn của ống thính giác Rãnh này nối ra phía sau bên vào một ống xương ở phần đá xương thái dương cho ống hầu tai giữa đi qua

Ngay phía bên cánh lớn xương bướm là phần trai xương thái xương, tham gia vào khớp thái dương – hàm dưới nó bao gồm hố hàm dưới lõm vào cho đầu của xương hàm dưới khớp nền sọ Một yếu tố quan trọng của khớp này là củ khớp nhô xuống dưới của bờ trước

hố hàm dưới (Hình 8.23)

Phần sau

Phần sau của nền đầu kéo dài từ cạnh trước lỗ chẩm lớn ở phía sau đến đường gáy trên (Hình 8.23) Nó bao gồm các phần của xương chẩm ở giữa và xương thái dương ở phía bên

Xương chẩm

Xương chẩm là yếu tố xương chính của phần này (Hình 8.23) Có 4 phần sắp xếp quanh lỗ chẩm lớn là một yếu tố nhô ra của phần này qua đó não và tủy sống nối tiếp với nhau Các phần này của xương chẩm bao gồm trai chẩm ở phía sau lỗ chẩm lớn, và phần bên ở phía bên lỗ chẩm lớn và phần nền ở phía trước (Hình 8.23)

Các phần bên và phần trai nhô là thành phần của phần sau nền sọ

Yếu tố quan sát được nhiều nhất của phần trai chẩm khi quan sát từ dưới là mào chẩm ngoài, nó kéo dài xuống từ ụ chẩm ngoài đến lỗ chẩm lớn Đường gáy dưới kéo dài sang phía bên theo đường vòng cung từ điểm giữa của mào

Ngay phía bên lỗ chẩm lớn là phần bên của xương chẩm chứa nhiều cấu trúc quan trọng Mỗi bờ trước bên của lỗ chẩm lớn là các lồi cầu chẩm tròn (Hình 8.23) Cặp cấu trúc đó khớp với đối đội (đốt sống CI) Phía sau lồi cầu là một ấn (hố lồi cầu) chứa một ống lồi cầu,

và phía trước và phía trên mỗi lồi cầu là một ống thần kinh hạ thiệt Phía bên mỗi ống thần kinh hạ thiệt này là ống tĩnh mạch cảnh lớn, không đều tạo thành bởi sự đối nhau của khuyết tĩnh mạch cảnh của xương chẩm và khuyết tĩnh mạch cảnh của xương thái dương

Xương thái dương

Phía bên của phần sau nền sọ là xương thái dương Các phần của xương thái dương có thể quan sát được ở vùng này là phần chũm của phần trai chũm và mỏm gai (Hình 8.23)

Trang 34

Cạnh bên của phần chũm được xác định bởi mỏm chũm dạng hình nón lớn nhô từ mặt dưới của nó Cấu trúc xương nhô ra này là chỗ bám của một số cơ Ở cạnh bên của mỏm chũm là một khuyết chũm sâu, cũng là chỗ bám của một cơ

Phía bên trước giữa của mỏm chũm là mỏm gái dạng mũi tiêm nhô ra từ bờ dưới của xương thái dương Mỏm gai cũng là chỗ bám của nhiều cơ và dây chằng

Cuối cùng, giữa mỏm gay và mỏm chũm là lỗ gai chũm

- Khớp vành, giữa các xương trán và xương đỉnh

- Khớp dọc giữa hai xương đỉnh

- Khớp lamda giữa xương đỉnh và xương chẩm

Chỗ gặp nhau giữa các đường khớp đó là thóp trước (khớp vành và khớp dọc ư gặp nhau)

và thóp sau (khớp lamda và khớp dọc gặp nhau)

Các dấu ấn khác trên mặt trong của vòm sọ bao gồm các lằn xương, rãnh và hố

Trang 35

Hình 8.24 Vòm sọ

Từ trước ra sau, các yếu tố có thể quan sát thấy trên vòm sọ là:

- Lằn xương ở đường giữa kéo dài từ xương trán (mào trán) một chỗ bám cho liềm đại não (một cấu trúc đặc biệt của màng cứng ngăn cách một phần hai bán cầu đại não)

- Ở trên đuôi mào trán là điểm bắt đầu của rãnh xoang dọc trước, rãnh này rộng và sâu ở phía sau, đánh dấu vị trí của xoang dọc trước (một cấu trúc tĩnh mạch trong màng

Trang 36

- Xương trán ở phía trước và bên,

- Xương sàng ở đường giữa,

- Hai phần của xương bướm ở phía sau: thân (giữa) và các cánh nhỏ (bên)

Hình 8.25 Hố sọ trước

Hố sọ trước nằm trên khoang mũi và ổ mắt, chứa thùy trán

Phía trước, một mào xương ở đường giữa hình chêm (mào trán) nhô ra từ xương trán Đây

là chỗ bám của liềm đại não Ngay trước mào trán là lỗ tịt (Bảng 8.2) Lỗ này giữa xương trán và xương sàng có thể là đường đi cho các tĩnh mạch xuyên nối khoang mũi với xoang dọc trước

Phía sau mào trán là một xương hình chêm nhô lên từ xương sàng (mào gà) Đây là chỗ bám khác của liềm đại não

Phía bên của mào gà là mảnh sàng của xương sàng (Hình 8.25) Đây là cấu trúc giống cái sàng cho phép các sợi thần kinh khứu giác nhỏ đi qua các lỗ của nó từ niêm mạc mũi đến hành khứu giác Các dây thần kinh khứu giác đi theo dây thần kinh khứu giác [I]

Ở mỗi bên xương sàng, nền trước hố sọ phần tạo thành bởi các mảnh mỏng của xương

trán (phần ổ mắt của xương trán) cũng tạo thành nền ổ mắt ở dưới Phía sau xương trán và xương sàng, phần còn lại của nền sọ trước được tạo thành bởi thân và cánh nhỏ xương

bướm Ở đường giữa, thân kéo dài ra trước giữa ở ổ mắt của xương trán chạm tới xương sàng và phía sau kéo dài vào hố sọ giữa

Giới hạn giữa hố sọ giữa và trước ở đường giữa là bờ trước của rãnh giao thoa thị giác,

một rãnh trơn kéo dài giữa các ống thị giác dọc theo thân xương bướm

Các cánh nhỏ xương bướm

Hai cánh nhỏ xủa xương bướm nhô sang hai bên từ thân xương bướm và tạo thành ranh giới rõ ràng giữa các phần bên của hố sọ trước và giữa

Phần nhô ra trước của hố sọ giữa, đầu tận của mỗi cánh nhỏ xương bướm ở phía bên,

nhọn ở chỗ gặp nhau của xương trán với cánh lớn xương bướm gần cạnh trên bên của khe thị giác trên được tạo thành giữa cánh lớn và cánh nhỏ

Trang 37

Phía giữa mỗi cánh nhỏ rộng, cong ra sau, và tận cùng ở mỏm yên trước có hình tròn (Hình 8.25) Các mỏm này là chỗ bám trước của lều tiểu não, một phiến của màng cứng ngăn cách phần sau của các bán cầu đại não với tiểu não Ngay trước mỗi mỏm yên trước là một

lỗ mở hình tròn trong cánh nhỏ xương bướm (ống thị giác), qua đó động mạch thị giác và thần kinh thị giác [II] ra khỏi khoang sọ não đi vào ổ mắt Các ống thị giác thường được coi như ở trong hố sọ giữa

Bảng 8.2 Các lỗ bên trong xương đầu

Hố sọ trước

Lỗ tịt Các tĩnh mạch xuyên đi vào khoang mũi

Lỗ khứu giác của mảnh

sàng

Thần kinh khứu giác [I]

Hố sọ giữa

Ống thị giác Thần kinh thị giác [II], động mạch mắt

Khe ổ mắt trên Thần kinh vận nhãn [III]; thần kinh ròng rọc [IV]; nhánh mắt

của thần kinh tam thoa [V1]; thần kinh vận nhãn ngoài [VI]; các tĩnh mạch mắt

Lỗ tròn Nhánh hàm trên của thần kinh sinh ba [V2]

Lỗ bầu dục Nhánh hàm dưới của thần kinh sinh ba [V3]; thầnh kinh đá bé

Khe cho thần kinh đá lớn Thần kinh đá lớn

Khe cho thần kinh đá nhỏ Thần kinh đá bé

Hố sọ sau

Lỗ chẩm lớn Cuối cuống não/đầu tủy sống; động mạch đốt sống; rễ tủy

sống của thần kinh phụ; các màng não

Lỗ ống tai trong Thần kinh mặt [VII]; thần kinh tiền đình - ốc tai [VIII]; động

mạch

Lỗ tĩnh mạch cảnh Thần kinh lưỡi hầu [IX]; thần kinh phế vị [X]; thần kinh phụ

[XI]; xoang đá dưới, xoang sigma (tạo thành tĩnh mạch cảnh trong)

Lỗ hạ thiệt Thần kinh hạ thiệt [XII]; nhánh màng não của động mạch hầu

lên

Hố sọ giữa

Hố sọ giữa bao gồm các phần của xương bướm và xương thái dương (Hình 8.26)

Giới hạn giữa hố sọ giữa và trước là bờ trước của rãnh giao thoa thị giác

Giới hạn sau của hố sọ giữa được tạo thành bởi mặt trước cao ngang với bờ trên của phần

đá xương thái dương

Xương bướm

Ở đường giữa của nền hố sọ giữa được nâng lên bởi thân xương bướm Phía bên là các

ấn lớn do cánh lớn xương bướm và phần trai xương thái dương tạo thành Các ấn này chứa thùy trán của não

Trang 38

Hình 8.26 Hố sọ giữa

Củ yên

Ngay sau rãnh giao thoa là phần nhô ra của thân xương bướm (củ yên), vùng sâu ở trung tâm (hố yên) chứa tuyến yên với thành xương thẳng đứng ở trước và sau

Thành trước của củ yên thẳng đứng, bờ sau rãnh giao thoa nâng nhẹ

Mỏm yên giữa đôi khi nhô ra rõ ở phía bên các góc củ yên

Thành sau của củ yên là lưng yên, một lằn xương nhô lên trên và ra trước Ở đỉnh của lằn xương này, các cạnh bên chứa những mỏm tròn (mỏm yên sau) Là nơi bám của lều tiểu não giống như ở mỏm yên trước

Các khe và lỗ

Phía bên của mỗi thân xương bướm, sàn hố sọ giữa được tạo thành bởi cánh lớn xương bướm (Hình 8.26)

Một khe chéo, khe ổ mắt trên, ngăn cánh lớn xương bướm với cánh nhỏ và là lối thông

chính giữa hố sọ giữa và ổ mắt Đi qua khe này là thần kinh vận nhãn [III], thần kinh ròng rọc [IV], thần kinh mắt [V1], thần kinh vận nhãn ngoài [VI], và các tĩnh mạch mắt

Phía sau giữa của khe ổ mắt trên là một lỗ tròn nhô ra phía trước (lỗ tròn), qua đó, thần kinh hàm dưới [V2] đi từ hố sọ giữa và hố chân bướm khẩu cái

Phía sau bên lỗ tròn là một lỗ mở lớn hình bầu dục (lỗ bầu dục); cho các cấu trúc đi giữa hố dưới thái dương ngoài sọ và hố sọ giữa Thần kinh hàm dưới [V3], thần kinh đá bé (mang các sợi từ đám rối màng nhĩ bắt đầu từ thần kinh lưỡi hầu [IX] và đôi khi có một mạch máu nhỏ (động mạch phụ màng não giữa) đi qua lỗ này

Phía sau bên của lỗ bầu dục là lỗ gai nhỏ (Hình 8.26) Lỗ mở này cũng nối hố dưới thái

dương với hố sọ giữa Động mạch màng não giữa và các tĩnh mạch liên quan của nó đi qua

Trang 39

lỗ này và bên trong, rãnh cho động mạch màng não giữa đi qua nền và thành bên của hố sọ giữa để lại dấu ấn rõ ràng trên đường đi của chúng

Phía sau giữa lỗ bầu dục là lỗ mở vào khoang nội sọ có hình tròn cho ống động mạch đi qua Ngay dưới lỗ mở này là một lỗ không đều (lỗ rách) (Hình 8.26) Lỗ rách ở người sống được sụn bịt kín và không có cấu trúc nào đi qua nó

Xương thái dương

Bờ sau hố sọ giữa được tạo thành bởi mặt trước của phần đá xương thái dương

Ở giữa, có một ấn nhẹ (ấn thần kinh sinh ba) ở mặt trước của phần đá xương thái dương (Hình 8.26), đánh dấu vị trí của hạch cảm giác của thần kinh sinh ba [V]

Phía bên ấn thần kinh sinh ba và trên mặt trước của phần đá xương thái dương là một rãnh nhỏ hẹp đi theo hướng trên bên và kết thúc ở một lỗ (rãnh và khe cho thần kinh đá lớn) Thần kinh đá lớn là một nhánh của thần kinh mặt [VII]

Phía trước bên của rãnh thần kinh đá lớn là rãnh và khe của thần kinh đá nhỏ chứa nhánh thứ hai từ đám rối màng nhĩ mang các sợi bắt đầu từ thần kinh lưỡi hầu [IX] (Hình 8.26) Phía trên và bên của các lỗ mở nhỏ cho thần kinh đá lớn và bé, gần lằn trên phần đá xương thái dương, là một đầu xương nhô ra hình tròn (lồi cung) tạo thành do ống bán nguyệt trước của tai trong

Ngay phía trước và bên của lồi cung, mặt trước của phần đá xương thái dương được ấn nhẹ xuống Vùng này là trần hòm nhĩ và đánh dấu một trần xương mỏng của khoang tai giữa

Phía bên của giới hạn trước của hố sọ sau là bờ trên của phần trai xương thái dương Phía sau của trai chẩm đến mức rãnh ngang là giới hạn chính trong khi phía bên phần trai chũm xương thái dương và các phần nhỏ của xương chẩm và xương đỉnh tiếp giáp với hố này

Lỗ chẩm lớn

Ở trung tâm, phần sâu nhất của hố sọ sau là lỗ lớn nhất của đầu – lỗ chẩm lớn Nó được bao quanh bởi phần nền xương chẩm ở trước, phần bên xương chẩm ở hai bên và trai chẩm ở phía sau

Tủy sống đi lên trên qua lỗ này và nối tiếp với cuống não

Trang 40

Qua lỗ này còn có các động mạch tủy sống, màng não và rễ tủy sống của thần kinh phụ

[XI]

Các rãnh và lỗ

Dốc nghiêng lên trên từ lỗ chẩm lớn Phía bên dốc là một rãnh cho xoang đá giữa nền chẩm

và phần đá xương thái dương (Hình 8.27)

Hình 8.27 Hố sọ sau

Phía bên, ngang qua nửa trên của mặt sau của phần đá xương thái dương, là một lỗ hình bầu dục (ngách ống tai trong) Thần kinh mặt [VII] và thần kinh tiền đình - ốc tai và động

mạch labyrinthine đi qua nó

Phía dưới của ngách ống tai trong xương thái dương được ngăn cách bởi xương chẩm

bằng một lỗ tĩnh mạch lớn (Hình 8.27) Dẫn đến lỗ này từ phía giữa là rãnh cho xoang đá dưới và từ phía bên lỗ cho xoang sigma

Xoang sigma đi vào lỗ tĩnh mạch cảnh và liên tiếp với tĩnh mạch cảnh trong, trong khi xoang

đá dưới đổ vào tĩnh mạch cảnh trong ở lỗ tĩnh mạch cảnh

Cũng đi qua lỗ tĩnh mạch cảnh trong là thần kinh lưỡi hầu [IX], thần kinh phế vị [X], và thần kinh phụ [XI]

Phía giữa lỗ tĩnh mạch cảnh là một ụ tròn lớn của xương chẩm (củ tĩnh mạch cảnh) Ngay dưới lỗ này, phía trên lỗ chẩm lớn, là ống dưới lưỡi qua đó thần kinh dưới lưỡi [XII] rời hố

sọ sau và một nhánh màng não của động mạch hầu lên đi vào hố sọ sau

Ngay phía dưới bên của ống dưới lưỡi là một ống lồi cầu khi có mặt sẽ cho các tĩnh mạch xuyên đi qua

Trai chẩm

Trai chẩm có một số yếu tố nhô ra (Hình 8.27):

Ngày đăng: 22/10/2017, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w