Luận văn này của chúng tôi góp thêm một thử nghiệm vận dụng ngôn ngữ học tri nhận để khảo sát, miêu tả hiện tượng ẩn dụ trong tiếng Việt.. Công việc nghiên cứu ẩn dụ tiếng Việt sẽ đóng g
Trang 4L ỜI MỞ ĐẦU
Ngôn ngữ học tri nhận với một hệ thống tiếp cận mới các hiện tượng ngôn ngữ phù hợp đang được các nhà Việt ngữ học quan tâm Hệ phương pháp mới này đã và đang tạo ra một cách nhìn nhận mới trong việc nghiên cứu, mô tả, đi sâu hơn về bản
chất tiếng Việt Là một phương thức chuyển nghĩa quan trọng của ngôn ngữ, ẩn dụ là
một trong những trọng tâm chú ý của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học nói chung cũng như ngôn ngữ học tri nhận nói riêng
Luận văn này của chúng tôi góp thêm một thử nghiệm vận dụng ngôn ngữ học tri
nhận để khảo sát, miêu tả hiện tượng ẩn dụ trong tiếng Việt
Do vấn đề còn mới mẻ, tài liệu nghiên cứu ít ỏi, năng lực và thời gian của người
thực hiện đề tài có hạn, luận văn chỉ thực hiện ở mức độ nhất định Công trình của chúng tôi chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót về nhiều phương diện mặc dầu chúng tôi đã hết sức cố gắng
Chúng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Phó Giáo sư - Tiến sĩ Hoàng Dũng, người thầy đã dành nhiều thời gian và công sức để hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn Chúng tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm, khoa Ngữ văn và Báo chí trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ cho chúng tôi những tri thức
cần thiết trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn này Chúng tôi cũng xin cảm ơn thầy cô Phòng Sau đại học, các đồng nghiệp và bạn bè thân hữu đã quan tâm, động viên, giúp đỡ chúng tôi thực hiện đề tài này
TP.HCM, ngày 9 tháng 9 năm 2003
Trang 5D ẪN NHẬP
1.Lý do ch ọn đề tài
Ẩn dụ là một phương thức chuyển nghĩa phổ biến của tất cả các ngôn ngữ, là
một hiện tượng ngôn ngữ vừa thuộc Từ vựng học, vừa thuộc Phong cách học Công
việc nghiên cứu ẩn dụ tiếng Việt sẽ đóng góp một phần không nhỏ cho lý luận về từ
vựng và phong cách, làm cơ sở giải thích những hiện tượng ngôn ngữ tưởng như không thể giải thích được
Chọn đề tài Tìm hiểu ẩn dụ tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, một
vấn đề đã được khảo sát nhiều, chúng tôi muôn khẳng định lại những thành tựu của nhiều công trình đi trước và mở rộng, đi sâu hơn về tiềm năng của phép ẩn dụ theo quan điểm ngôn ngữ học tri nhận
2.L ịch sử nghiên cứu
Ẩn dụ tiếng Việt từ lâu đã là đề tài quen thuộc của các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đây về ẩn dụ tiếng Việt chủ yếu theo quan
niệm có tính chất truyền thống
Trước Cách mạng Tháng Tám, Trần Trọng Kim - Bùi Kỷ - Phạm Duy Khiêm
với Việt Nam văn phạm (1940) bước đầu đề cập tới ẩn dụ, chủ yếu là giới thiệu một
cách sơ lược về phép ẩn dụ trong văn chương
Từ sau Cách mạng Tháng Tám, các công trình nghiên cứu có bàn đến ẩn dụ xuất
hiện ngày càng nhiều
Tiếp cận ẩn dụ ở góc độ ngôn ngữ là các công trình về Từ vựng học, với những tác giả như Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Thiện Giáp (1985), Vũ Đức Nghiêu (1990) trong đó ẩn dụ được khảo sát như là một phương thức chuyển biến ý nghĩa
của từ, một phương thức chuyển nghĩa phổ biến của tất cả các ngôn ngữ
Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu về Phong cách học Các tác giả Đinh
Trọng Lạc (1964, 1999, 2000), Cù Đình Tú (1983), Nguyễn Nguyên Trứ (1976, 1988), Nguyễn Thái Hòa (1997), Võ Bình (1985b), Hữu Đạt (2000) đều xác định ẩn
Trang 6dụ là một phương thức tu từ, có tính chất trang trí, làm cho tiếng Việt giàu hình tượng
và tràn đầy cảm xúc Tuy nhiên, trong từng thời điểm khác nhau, ở mỗi tác giả có cách gọi và đi sâu phân loại khác nhau
Đinh Trọng Lạc trong Giáo trình Việt ngữ - tập III - Tu từ học (1964) gọi ẩn dụ
là một phương thức chuyển nghĩa, có tác dụng gợi hình, gợi cảm Tác giả chia ẩn dụ
ra thành ba loại: từ trừu tượng đến cụ thể, từ cụ thể đến cụ thể, từ cụ thể đến trừu tượng (1964:103-111) Cách phân loại này dựa vào đặc điểm trừu tượng hay cụ thể
của hai đối tượng trong ẩn dụ Với cách làm này, chúng ta không thấy rõ được mối quan hệ tương đồng giữa hai đối tượng, không làm thấy rõ tính chất mở cũng như khả năng sinh sản vô vàn của ẩn dụ tu từ
Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (1983) nhận
định ẩn dụ là "cách cá nhân lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này dùng để biểu
tượng" (1983: 279) Tác giả nêu ra ba nhân tố dùng để liên tưởng: nhân tố văn cảnh,
nhân tố hợp logic và nhân tố thói quen thẩm mỹ Ở đây, tác giả dựa trên cơ sở tương đồng phân loại ẩn dụ tiếng Việt ra làm năm loại: tương đồng về màu sắc, tương đồng
về tính chất, tương đồng về trạng thái, tương đồng về hành động, tương đồng về cơ
cấu Nhìn chung, cách phân loại này tương đối phù hợp, cho thấy khả năng sản sinh
lớn lao của ẩn dụ tu từ Tuy thế, cách gọi về ẩn dụ tu từ của Cù Đình Tú vẫn mang
nặng một cách nhìn truyền thống, chưa làm rõ các phương tiện và biện pháp tu từ Đinh Trọng Lạc trên cơ sở khảo sát các giáo trình và tài liệu về Phong cách học
tiếng Việt trước đây của mình, cho ra đời 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng
Vi ệt (2000) Theo Đinh Trọng Lạc, ẩn dụ là "sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình
tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau giữa khách thể A được định danh với
từ loại và chức năng định danh của từ ẩn dụ, chia ẩn dụ ra ba loại: ẩn dụ định danh, ẩn
dụ nhận thức và ẩn dụ hình tượng Trong đó tác giả cho rằng ẩn dụ định danh và ẩn dụ
nhận thức là loại ẩn dụ từ vựng, có hiệu quả tu từ rất nhỏ bé, còn ẩn dụ hình tượng
mới thật sự mang lại hiệu quả tu từ lớn lao, nó tác động vào trực giác người nhận và đem lại khả năng cảm thụ sáng tạo
Trang 7Ngoài ra, từ năm 1969 trên tạp chí Ngôn ngữ, xuất hiện nhiều bài viết ít nhiều
có đi sâu nghiên cứu về hiện tượng chuyển nghĩa ẩn dụ như:
1972)
Thế Lịch, 1987)
Mặt khác, trong các sách xuất bản vào những năm 80 như Giữ gìn sự trong sáng
c ủa tiếng Việt về mặt từ ngữ (1981), Những vấn đề ngôn ngữ học về các ngôn ngữ phương Đông (1986), Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam Á (1988) đều có
những bài nghiên cứu về sự chuyển nghĩa trong tiếng Việt Như là:
Hành, 1979)
Vi ệt (Hoàng Lai, 1981)
(Hà Quang Năng, 1988)
Vào những năm 90, khi mà ngôn ngữ học tri nhận trên thế giới, đặc biệt là Châu
Âu đang phát triển, cách tiếp cận tri nhận bây giờ đang là "mốt", thì ở Việt Nam đã rải rác xuất hiện nhiều bài viết nghiên cứu về tiếng Việt theo phương pháp tiếp cận mới
Lý Toàn Thắng (1994) với bài Ngôn ngữ và sự tri nhận không gian đăng trên tạp
chí Ngôn ng ữ, số 4, mở ra một cái nhìn mới theo quan điểm hiện đại Tác giả trình
bày mặc dầu rất sơ lược về một số vấn đề ngữ nghĩa của các từ chỉ không gian, nhưng
đã phác ra một phương hướng nghiên cứu phạm trù không gian trong tiếng Việt như: định hướng không gian, các bản đồ tri nhận không gian Qua đó, tác giả đã khái quát
Trang 8về mô hình không gian và cách tri nhận không gian của người Việt Nam
Gần đây, trên tạp chí Ngôn ngữ, số 3 năm 2001, Lý Toàn Thắng lại cho đăng bài
bài viết nêu lên cách thức mà người Việt dùng các loại từ để mô tả các thuộc tính không gian của vật thể và từ đó xếp loại chúng Trên cơ sở đó có thể suy đoán về một cách thức riêng của tiếng Việt trong việc ý niệm hóa, phân loại và mô tả thế giới khách quan, một vấn đề đang được chú ý dưới ảnh hưởng của trào lưu ngôn ngữ học tri nhận
Nguyễn Ngọc Thanh trong Kỷ yếu khoa học trường ĐHSP thành phố Hồ Chí
Minh với bài Ẩn dụ thời gian trong tiếng Việt (1998) khẳng định ẩn dụ là một cơ chế
tri nhận đi từ cụ thể đến trừu tượng Cơ chế tri nhận này cho phép ta hiểu được khái
niệm trừu tượng "thời gian" bằng các hình ảnh cụ thể trong thế giới khách quan
Đặc biệt là các bài viết đăng trong tạp chí Ngôn ngữ và công trình nghiên cứu
của Nguyễn Đức Tồn:
- Ng ữ nghĩa các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt và tiếng Nga
(1989)
- Tìm hi ểu đặc trưng văn hoá-dân tộc của ngôn ngữ và tư duy của người Việt
Công trình Tìm hi ểu đặc trưng văn hoá-dân tộc của ngôn ngữ và tư duy của người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác) là kết quả của quá trình
nghiên cứu, giảng dạy và hướng dẫn khoa học trong nhiều năm của tác giả Đây là công trình khoa học được tiến hành nghiên cứu theo hướng lý thuyết tâm lý - ngôn
ngữ học tộc người Những vấn đề được thể hiện trong nội dung cuốn sách mang tính
thời sự và có giá trị thực tiễn Các nội dung tìm hiểu về đặc điểm dân tộc của định danh động vật, định danh thực vật, định danh bộ phận cơ thể người của người Việt có
so sánh với người Nga, Anh bước đầu khẳng định đặc điểm văn hóa - dân tộc của người Việt Nam, khẳng định mỗi dân tộc có cách tri giác, định danh riêng của mình về
bức tranh ngôn ngữ thế giới khách quan Đặc biệt là những nội dung về đặc điểm ngữ
Trang 9nghĩa của trường tên gọi động vật, trường tên gọi thực vật, ngữ nghĩa của các từ chỉ bộ
phận cơ thể người đề cập đến vấn đề chuyển nghĩa của từ cũng như cách dùng biểu trưng của một số từ Qua đó, ta thấy được đặc điểm tư duy liên tưởng của người Việt Nam
Nhìn chung, đến nay vẫn chưa có một công trình nào mang tính toàn diện, sâu
sắc và có hệ thống về ẩn dụ tiếng Việt Tuy vậy, những ý kiến, nhận định ấy đều xác đáng, và do đó, có thể làm cơ sở để nghiên cứu, triển khai vấn đề sâu sắc hơn Trên tinh thần kế thừa, học tập những người đi trước, chúng tôi đã tổng hợp những tài liệu phong phú có liên quan, từ những tài liệu về ẩn dụ theo quan niệm truyền thống đến
những tài liệu viết theo quan điểm hiện đại, đi vào tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, có hệ
thống về ẩn dụ tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận
3.Ngu ồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Để khảo sát đề tài, chúng tôi sử dụng trực tiếp một số tư liệu chủ yếu sau:
- An Introduction to Cognitive Linguistics (F Ungerer & H.-J Schmid, 1996)
- 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Đinh Trọng Lạc, 2000)
- Phong cách h ọc và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Cù Đình Tú, 1983)
- T ừ vựng học tiếng Việt (Nguyễn Thiện Giáp, 1985)
- T ừ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (Đỗ Hữu Châu, 1981)
- T ừ điển thơ tình yêu (Vĩnh Quang Lê chủ biên, 1994)
- T ập thơ tình Xuân Diệu (Kiều Văn tuyển chọn, giới thiệu, 2000)
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
1- Phương pháp nghiên cứu liên ngành
Theo quan điểm hiện đại, ẩn dụ không chỉ là phương thức chuyển nghĩa của ngôn ngữ mà còn là một phương pháp tri nhận Do vậy, ẩn dụ có liên quan với nhiều
yếu tố về văn hóa, xã hội, lịch sử, tâm lý Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chủ
yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành, tổng hợp và vận dụng những thành
tựu của các khoa học liên ngành: văn học, văn hóa - xã hội học, tâm lý học vào thực
Trang 10tiễn nghiên cứu, để có thể tìm hiểu ẩn dụ một cách toàn diện, sâu sắc hơn
Bên cạnh đó, để phục vụ cho việc khảo sát cụ thể, chính xác và toàn diện, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác như:
2- Phương pháp phân tích - tổng hợp
Để đi đến một nhận xét có tính chất tổng hợp, chúng tôi phải đi vào các yếu tố
của ngôn ngữ, phân tích từng yếu tố một để minh xác vấn đề Phương pháp này có tác
dụng lớn trong việc đem lại những nhận thức mới từ vấn đề nghiên cứu
3- Phương pháp so sánh
Vận dụng phương pháp này, người viết muốn làm rõ hơn, thuyết phục hơn về
những vấn đề được đặt ra trong đề tài Ở một chừng mực nhất định, chúng tôi có đối chiếu, so sánh với tiếng Anh để làm rõ hơn về ẩn dụ trong tiếng Việt, đặc biệt thấy được đặc điểm văn hóa trong tư duy ẩn dụ của người Việt
4- Phương pháp thống kê - phân loại
Luận văn đặt vấn đề là tìm hiểu ẩn dụ tiếng Việt theo quan điểm hiện đại cho nên phương pháp thống kê - phân loại được dùng để có thể có được những chứng cứ
cụ thể, chính xác khi nghiên cứu, giúp cho việc trình bày vấn đề trong luận văn thêm tính thuyết phục (như thống kê phân loại ẩn dụ quy ước, các phạm trù cảm xúc, các ẩn
dụ tình yêu )
Tất nhiên, các phương pháp trên đây không phải thực hiện riêng lẻ, biệt lập mà
phối hợp với nhau trong suốt quá trình nghiên cứu, giải quyết những vấn đề mà luận văn đề ra
4.Nh ững đóng góp của luận văn
Thực hiện đề tài Tìm hiểu ẩn dụ tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận,
chúng tôi không có tham vọng khảo sát và lý giải đầy đủ mọi vấn đề về ẩn dụ tiếng
Việt theo quan điểm hiện đại, mà chỉ hy vọng tìm hiểu thấu đáo một số vấn đề về ẩn
dụ tiếng Việt, giúp khẳng định tiềm năng của phép ẩn dụ, góp một cái nhìn mới về ẩn
dụ tiếng Việt Bao gồm:
1- Hệ thống hóa phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ của tiếng Việt (ẩn dụ từ vựng
Trang 11và ẩn dụ tu từ) từ các công trình đi trước (có chú ý so sánh - đối chiếu với tiếng Anh) 2-Xác định ẩn dụ là một cơ chế tri nhận đi từ cụ thể đến trừu tượng, cho phép ta
hiểu được logic của các khái niệm trừu tượng bằng logic của các khái niệm cụ thể (trên cứ liệu tiếng Việt, có đối chiếu với tiếng Anh)
3-Vận dụng cơ chế tri nhận và sự quy ước hóa của ẩn dụ để khảo sát phạm trù
cảm xúc, đặc biệt đi sâu tìm hiểu ẩn dụ tình yêu trong tiếng Việt và trong thơ tình Xuân Diệu
5.K ết cấu của luận văn
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương, tập trung vào các vấn đề sau:
Trong chương một, luận văn chủ yếu tập trung vào hai vấn đề cơ bản: ẩn dụ là
một phương thức chuyển nghĩa quan trọng của tất cả các ngôn ngữ, đồng thời ẩn dụ còn là một cơ chế tri nhận
Trước hết, luận văn khảo sát ẩn dụ từ vựng và ẩn dụ tu từ tiếng Việt trên cơ sở
hệ thống hóa từ kết quả của những công trình đi trước theo quan điểm truyền thống; đồng thời mở rộng, đi sâu về ẩn dụ ngôn ngữ theo quan điểm hiện đại, làm rõ sự quy ước hóa ẩn dụ Trên cơ sở đó, luận văn khẳng định ẩn dụ là một phương thức chuyển nghĩa quan trọng của tiếng Việt và của các ngôn ngữ
Để làm rõ cơ chế tri nhận của ẩn dụ, luận văn tập trung khảo sát đi từ ẩn dụ khái
niệm đến mô hình tri nhận Trước hết, ẩn dụ là một hiện tượng thuộc khái niệm Các khái niệm phản ánh kết quả tri nhận của chúng ta về thế giới, về các mối quan hệ trong xã hội Nó chi phối suy nghĩ của chúng ta không chỉ là các vấn đề thuộc về khả năng hiểu biết (tư duy) mà còn tác động đến hoạt động hàng ngày của chúng ta Do
vậy, trong suy nghĩ và hành động, hệ thống khái niệm thông thường về cơ bản đã mang tính ẩn dụ; có nghĩa là, cách chúng ta nghĩ, cách chúng ta hiểu về thế giới và
những gì chúng ta làm hàng ngày đều có liên quan đến ẩn dụ, trong đó, ngôn ngữ là phương tiện sử dụng, là nguồn minh họa quan trọng cho bản chất của hệ thống ẩn dụ khái niệm
Còn cấu trúc của mô hình tri nhận ẩn dụ là gì? Đó là chuyển một sự sắp xếp cấu
Trang 12trúc từ mô hình nguồn vào mô hình đích Trong đó, mô hình đích được thể hiện qua
các khái niệm trừu tượng, còn mô hình nguồn thể hiện qua các khái niệm cụ thể Đây
là cơ chế hoạt động của tư duy, một cơ chế tri nhận đi từ cụ thể đến trừu tượng, dùng chính cái cụ thể để giải thích, nắm bắt cái trừu tượng Luận văn đã đi vào mô hình tri
nhận lý lẽ và mô hình tri nhận ý tưởng để chứng minh cho cơ chế tri nhận này
Trên cơ sở phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và cơ chế tri nhận của ẩn dụ, trong
chương hai, luận văn đi vào Phạm trù cảm xúc Luận văn xác định hiệu quả sinh lý
của cảm xúc thay thế cho cảm xúc và làm rõ mối quan hệ tác động giữa hoán dụ và ẩn
dụ, xác định các phạm trù cảm xúc cơ bản Trong đó, luận văn tập trung vào phạm trù
dụ và qua đó thấy được tư duy ngôn ngữ ẩn dụ của người Việt Nam
Cuối cùng, tìm hiểu ẩn dụ trong thơ tình Xuân Diệu, luận văn chủ yếu khảo sát
chất liệu, nguồn cảm hứng để tạo ra những hình ảnh ẩn dụ Qua tìm hiểu các hình ảnh
ẩn dụ là thế giới nội tâm con người, là các hiện tượng tự nhiên, là thế giới thực vật, thế
giới động vật, đồ vật, luận văn muốn chứng minh một cách tương đối đầy đủ và cụ thể
cơ chế tri nhận của ẩn dụ, cho phép ta hiểu được logic của những khái niệm trừu tượng thông qua logic của những khái niệm có tính chất cụ thể tìm thấy trong thơ Xuân Diệu, nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới Việt Nam
Trang 13Chương 1: ẨN DỤ - TỪ PHƯƠNG THỨC CHUYỂN NGHĨA
1.1.Ẩn dụ - phương thức chuyển nghĩa của ngôn ngữ
Như chúng ta đều biết ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa phổ biến trong tất cả các ngôn ngữ Đó là phép sử dụng từ ngữ ở nghĩa chuyển dựa trên cơ sở tương đồng
giữa một thuộc tính nào đó của cái dùng để nói và cái muốn nói Nói cách khác, ẩn dụ
là sự chuyển đổi tên gọi giữa hai sự vật có mối quan hệ tương đồng
Ẩn dụ không chỉ là biện pháp làm giàu từ vựng mà còn làm cho nghĩa từ ngày càng đa dạng, tinh tế không chỉ trong hệ thống ngôn ngữ, trong văn chương mà cả trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của chúng ta
1.1.1.1.Khái ni ệm và phân loại ẩn dụ từ vựng
Ẩn dụ từ vựng mang tính xã hội - cố định, được mọi người hiểu và sử dụng, nằm trong hệ thống ngôn ngữ
Dựa trên cơ chế chuyển nghĩa chung của ẩn dụ, Đỗ Hữu Châu trong Từ vựng -
ng ữ nghĩa tiếng Việt (1981: 134, 135), đã quy các ẩn dụ về những phạm trù nhất
định Có các loại:
sự vật như: mũi dao, mũi thuyền, mũi đất, cảnh đồng, chân bàn, chân núi
như: ruột bút, lòng sông, đầu làng, ngọn núi
hiện giữa hai hoạt động, hiện tượng như: cắt hộ khẩu, nắm tư tưởng
sự vật như: bến xe, bến tàu, bến sông, bến đò (giống ở chức năng đầu mối giao
thông)
Trang 14- Ẩn dụ kết quả: là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về tác động của các sự
vật đối với con người như: ấn tượng nặng nề, lời nói ngọt ngào, giọng chua chát, màu
xanh r ất nhẹ, hát rất êm
Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt (1998: 163, 164) đưa ra 8 kiểu
ẩn dụ:
l ời nói khô, ý nghĩ chua chát, ý nghĩ đắng cay
căm thù sôi sục
- Chuyển tên các con vật thành con người: con chó con của mẹ, ấy là con rắn
độc, con họa mi của anh, con mèo của em…
- Chuy ển tính chất của sinh vật sang sự vật hoặc hiện tượng khác (loại ẩn
gió gào thét,
Đinh Trọng Lạc (2000: 53, 54), căn cứ vào từ loại và vào chức năng của từ ẩn
dụ, chia ẩn dụ từ vựng ra làm hai loại: ẩn dụ định danh và ẩn dụ tri nhận Theo ông:
cấp những tên gọi mới bằng cách dùng vốn từ vựng cũ Ví dụ: đầu làng, chân trời, tay
một tên gọi này bằng một tên gọi khác có hình thức đồng âm Loại ẩn dụ từ vựng này
là nguồn tạo nên những tên gọi chứ không phải là loại ẩn dụ nhằm phát hiện những
Trang 15sắc thái nghĩa Nó không tác động vào trực giác để gợi mở mà tác động vào cách nhìn
để chỉ xuất
- Trái lại, ẩn dụ tri nhận nảy sinh do kết quả của việc làm biến chuyển khả năng
kết hợp của những từ chỉ dấu hiệu khi làm thay đổi ý nghĩa của chúng từ cụ thể đến
trừu tượng Ví dụ: Những tính từ như: giá lạnh, mơn mởn, hiền hòa vốn có những ý nghĩa cụ thể và thường kết hợp với những danh từ như: băng tuyết giá lạnh, cây lá
mơn mởn, con người hiền hòa nay được ẩn dụ hóa được dùng với nghĩa trừu tượng
và có khả năng kết hợp với cả những từ trừu tượng như: tâm hồn giá lạnh, tuổi xuân
mơn mởn, dòng sông hiền hòa Cả những động từ cũng có thể được ẩn dụ hóa theo
cách này: tâm h ồn bay bổng, cuộc sống lênh đênh, lịch sử sang trang, thời gian trả
l ời loại ẩn dụ này là nguồn tạo nên hiện tượng đa nghĩa
Theo chúng tôi, cách phân loại của Đinh Trọng Lạc là một sự tiếp cận quan điểm
dựa theo kinh nghiệm sống, mở rộng tiềm năng về phép ẩn dụ (hay còn gọi là ẩn dụ hóa) Điều quan tâm của chúng tôi ở đây về ẩn dụ từ vựng không phải ở khái niệm, sự phân loại mà là ở cơ cấu, sự quy ước hóa về phép ẩn dụ
1.1.1.2 Ẩn dụ từ vựng - một cái nhìn đối chiếu với tiếng Anh
Trong ngôn ngữ, sự chuyển nghĩa từ vựng thường là sự chuyển nghĩa trên cơ cấu quy ước xã hội Tìm hiểu cơ cấu quy ước hóa về phép ẩn dụ là đi sâu, mở rộng tiềm năng của phép ẩn dụ Khảo sát các hiện tượng ẩn dụ từ vựng trong tiếng Việt có đối chiếu với tiếng Anh, bước đầu thấy được cách tri nhận của người Việt khi quy ước hóa sự vật, hiện tượng, thấy được lối tư duy ngôn ngữ riêng của người Việt Nam
Tất nhiên không thể đối chiếu Ut ất cảU những hiện tượng ẩn dụ từ vựng trong tiếng
Việt và trong tiếng Anh Một nhiệm vụ như thế là quá sức của người viết Luận văn
chỉ có thể tiến hành đối chiếu một số hiện tượng ẩn dụ nào đó mà thôi
Trước hết xin khảo sát về những ẩn dụ liên quan đến từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể
con người Trong ngôn ngữ, các từ như đầu, mắt, mũi, miệng, mặt, răng, môi, tay,
b ụng… xuất hiện sớm, dùng để gọi tên các bộ phận cơ thể người, giúp con người
phân biệt được từng bộ phận của cơ thể và qua nội dung, ý nghĩa riêng của từng từ,
xác định được hình dáng, vị trí, chức năng của từng bộ phận cơ thể Ví như từ đầu:
Trang 16phần trên cùng, trước hết của cơ thể người, nơi chứa bộ óc và giác quan Từ mũi: bộ
phận nhô lên ở giữa mặt, có hình dáng nhọn, là cơ quan dùng để thở và ngửi Từ
chân: bộ phận cuối cùng của cơ thể dùng để đi đứng
Người ta dựa vào những nét nghĩa cơ bản này để phát triển hàng loạt các từ, gọi tên hàng loạt sự vật khi chúng có cùng một nét nghĩa nào đó Các từ đầu, chân, mũi,
chẳng hạn Dựa trên nét nghĩa vị trí phần trên cùng của từ đầu để chỉ vật: đầu tủ, đầu
giường, đầu hàng, đầu máy bay, đầu sông ; dựa trên nét nghĩa vị trí cuối cùng của từ
chân để chỉ bộ phận dưới cùng của vật: chân đèn, chân giường, chân tường, chân núi,
chân đồi, chân bàn ; dựa trên nét nghĩa về hình dáng và vị trí của bộ phận nhô lên
giữa mặt, nhọn của từ mũi để chỉ bộ phận có đầu nhọn, nhô ra phía trước của vật: mũi
tên, mũi kéo, mũi dùi, mũi khoan
Nếu đi sâu hơn, ta sẽ thấy từ nghĩa cơ bản sẽ tạo ra nhiều nghĩa phái sinh khác
nữa.Ví dụ: nghĩa "vị trí trên hết, trước hết" của từ đầu thường kèm theo sắc thái "vị trí
danh dự", "vị trí điều khiển, lãnh đạo": đứng đầu, đầu đảng, đầu đàn , "vị trí tận cùng": đầu làng, đầu dây, đầu sông Nếu dựa vào thuộc tính về chức năng điều
khiển của bộ óc có thể phát sinh nghĩa "trí tuệ, ý chí": đầu óc, cứng đầu , Các nghĩa phái sinh của từ đầu có được là kết quả của một quá trình chuyển nghĩa ẩn dụ
Thống kê các ẩn dụ liên quan đến các bộ phận cơ thể người và phân loại căn cứ vào tính chất của sự giống nhau giữa bộ phận cơ thể người và sự vật, ta có:
răng bừa, răng cưa, răng lược, mắt khóm, mắt na, miệng hố, miệng hang, miệng hầm, tai ấm, tai cối xay, cổ chai, cổ lọ Loại ẩn dụ này rất nhiều
đít tủ, đít bàn, lòng suối, lòng sông, lòng chậu, lòng chảo Loại ẩn dụ này có số
lượng tương đối lớn
đau đầu, mặt nội dung, mặt tiêu cực, thưa mắt, mắt cáo, mũi quân, mũi tiến công…,
Trang 17loại ẩn dụ này ít hơn
Sau đây là bảng danh sách ví dụ của những ẩn dụ liên quan đến những phần trên
của cơ thể người trong tiếng Việt:
Trang 18Ẩn dụ trong các ngôn ngữ khác liên quan đến các bộ phận cơ thể người cũng rất nhiều và rất phổ biến Trong tiếng Anh, người ta đã thống kê được rất nhiều ẩn dụ như
Trang 19thế Sau đây là bảng danh sách ví dụ thu thập từ Wilkinson (1993) (dẫn theo Ungerer
& Schmid, 1996: 117)
Trang 20So sánh hai danh sách ẩn dụ của tiếng Việt và tiếng Anh liên quan đến các bộ
phận cơ thể người, ta thấy rất rõ một điều là khi quy ước hóa sự vật, hiện tượng cách tri nhận của người Anh và người Việt Nam không hoàn toàn giống nhau trong sự biểu đạt ngôn ngữ
Thực chất của phép ẩn dụ chính là việc dùng tên gọi của sự vật này để biểu hiện
sự vật khác dựa trên cơ chế tư duy và ngôn ngữ dân tộc Cơ chế tư duy này gắn bó
chặt chẽ với truyền thống văn hóa của người bản ngữ Vì vậy, nói tới ẩn dụ không thể không nói tới mối quan hệ giữa đặc trưng văn hóa và ngôn ngữ Chẳng hạn, nếu ta đem so sánh cách ẩn dụ trong tiếng Việt và tiếng Anh, ta sẽ thấy có sự khác nhau rất
Trang 21rõ, đặc biệt là trong thành ngữ
Trang 221.1.2 Ẩn dụ tu từ
1.1.2.1.Khái ni ệm
Khác với ẩn dụ từ vựng, là loại ẩn dụ chết, trong đó tính chất biểu cảm không còn đầy đủ sức mạnh, mà đã mòn đi, và nhập vào vốn biểu đạt chung của cộng đồng,
ẩn dụ tu từ có tính chất cá nhân, độc đáo, thuộc về cái mà F de Saussure gọi là lời nói
(parole), trong sự đối lập với ngôn ngữ (langue) Chính vì vậy, ẩn dụ tu từ có tính chất
lâm thời trong khi ẩn dụ từ vựng có tính cố định Và cũng chính vì vậy mà ẩn dụ tu từ tương đối lệ thuộc vào tình huống nhiều hơn ẩn dụ từ vựng Do đó, từ lâu người ta đã xác định ẩn dụ từ vựng là đối tượng của từ vựng học, trong khi ẩn dụ tu từ là đối tượng của phong cách học
1.1.2.2.Cơ sở tương đồng của ẩn dụ tu từ
Theo Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (1983:
280, 281), ẩn dụ tu từ được xây dựng dựa trên các cơ sở tương đồng sau: tương đồng
về cơ cấu, tính chất, hành động, trạng thái, màu sắc
Ví dụ: Bầu ơi thương lấy bí cùng
(Ca dao)
Câu ca dao được cấu tạo trên cơ sở tương đồng về mặt cơ cấu Một giàn, người
ta thường làm giàn để cho các loại cây bầu, bí leo chung Nó có cơ cấu như một xã
hội (dân tộc) trong đó có nhiều con người (khác nhau về nguồn gốc, tính chất ) cùng chung sống Một giàn biểu thị xã hội (dân tộc) và bầu, bí biểu thị con người sống
trong xã hội đó phải biết yêu thương, đùm bọc nhau
Ví dụ: Ch ỉ có thuyền mới hiểu
Bi ển mênh mông dường nào
Ch ỉ có biển mới biết
Trang 23Thuy ền đi đâu về đâu
(Xuân Quỳnh)
Thuy ền và biển trong đoạn thơ này không còn được hiểu với nghĩa vốn có của
nó nữa mà với sự gắn bó, quan hệ khăng khít giữa hai sự vật thuyền, biển: thuyền di
động khắp nơi trên biển cả mênh mông sóng vỗ, đó chính là hình ảnh, tâm trạng của đôi trai gái yêu nhau tha thiết, sâu đậm (yêu thương, thông cảm ) Đoạn thơ được cấu
tạo trên cơ sở tương đồng về tính chất: thuyền biểu thị người con trai, bến biểu thị
người con gái Nói về thuyền mà không phải là thuyền, về biển mà không phải là biển
là như vậy
Ví dụ: Tò vò mày nuôi con nh ện
thị Bác Hồ từ trần Bác ra đi nhưng để lại cho chúng ta một thời đại mới, một thế hệ
mới
Ví dụ: Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông
(Nguyễn Du)
L ửa và hoa lựu có màu sắc như nhau là màu đỏ Lửa biểu thị hoa, nói lửa lựu là
Trang 24nói đến hoa lựu
Các ví dụ trên cho thấy, cơ sở của ẩn dụ tu từ là mối liên tưởng tương đồng giữa hai đối tượng (giống nhau ở một nét nghĩa nào đó) và ẩn dụ tu từ chính là sự sáng tạo nghệ thuật của cá nhân, có giá trị lâm thời, buông các văn cảnh trên thì thuyền, biển,
b ầu, bí, tò vò, con nhện trở về với nghĩa thực vốn có của nó
Nói đến ẩn dụ tu từ người ta thường minh họa bằng những câu thơ trữ tình, bóng
bẩy, sinh động Đúng là thơ trữ tình thật sự là "vương quốc của các ẩn dụ" Nhưng
đừng nghĩ rằng chỉ có trong thơ ca mới có ẩn dụ Ẩn dụ có thể dùng trong ngôn ngữ chính luận: "Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong biển máu" (Hồ Chí Minh)
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta cũng gặp nhiều cách nói ẩn dụ Chẳng hạn,
người mẹ nựng con: cún con, thỏ con, gà con, chó bông của mẹ; và cũng người mẹ
đó, khi giận dữ quát mắng con: đồ quỷ sứ, tên trời đánh Chồng âu yếm gọi vợ: nàng
ấm áp, câu chuyện nhạt nhẽo, thời gian trả lời, dòng sông hát
Rõ ràng, trong cuộc sống hàng ngày đầy dẫy sự diễn đạt ẩn dụ Như vậy, ẩn dụ không bị giới hạn trong ngôn ngữ văn chương Nó đóng một vai trò quan trọng trong ngôn ngữ hàng ngày của chúng ta
Luận văn này không có ý định khảo sát chi tiết về khái niệm, cấu tạo, phân loại
ẩn dụ tu từ, mà chỉ dừng lại ở dạng khái quát chung Điều quan tâm ở đây là quan điểm tri nhận về ẩn dụ - phương thức tu từ của ngôn ngữ
1.1.2.3.Quan điểm tri nhận về ẩn dụ - phương thức tu từ của ngôn ngữ
Qua thơ văn và qua những lời nói sinh động hàng ngày, chúng ta thấy rằng từ
ngữ thường được dùng với nghĩa hình tượng Ngay cả các em bé cũng có khuynh hướng sử dụng ngôn ngữ hình tượng (bóng bẩy, giàu hình ảnh) Khi được yêu cầu mô
tả một kiểu tóc của người Mỹ gốc Phi, em bé viết: "Có nhiều con rắn bò ra ngoài
đầu" Hay là những cách nói giàu hình ảnh ở các em: Mắt cá lại mọc ở cổ chân người,
chân chúng mình được, Quyển sách ta xem lại mọc ra cái gáy
Việc nghiên cứu ngôn ngữ hình tượng đã diễn ra trong một thời gian dài và
Trang 25thuộc phạm vi riêng của các nhà nghiên cứu văn chương hay ngôn ngữ có quan tâm đến phép tu từ hoặc phong cách câu văn Ở đây, theo quan điểm hiện đại về việc nghiên cứu ngôn ngữ hình tượng, chúng ta nên bắt đầu với cuộc thảo luận nhỏ về ngôn ngữ qua một vài câu văn mẫu Khảo sát các trường hợp của từ xuân trong những câu sau:
a- Mùa xuân là t ết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân
(Hồ Chủ Tịch)
b- Xuân này kháng chi ến đã năm xuân
(Hồ Chủ Tịch)
So v ới ông Bành vẫn thiếu niên
(Hồ Chủ Tịch)
d- Ngày xuân em hãy còn dài
(Nguyễn Du)
e- Ôi nh ững nàng xuân rất dịu dàng
(Tố Hữu) f- Xuân ơi xuân, em mới đến dăm năm
(Tố Hữu)
ta thấy rằng xuất phát từ nghĩa cơ bản của từ xuân chỉ mùa đứng đầu trong năm
Trang 26phép tu từ dùng trong từ xuân
Nhìn vào ví dụ (a, b, c, d) ta thấy nghĩa của từ xuân đã được chuyển đổi, không
còn có nghĩa ban đầu "chỉ mùa đầu của năm" Ví dụ (a) "Làm cho đất nước càng ngày
càng xuân " là làm cho đất nước càng ngày càng tươi đẹp Ví dụ (b) "xuân này kháng
chi ến đã năm xuân" là kháng chiến đã được 5 năm Ví dụ (c, d) từ xuân chỉ tuổi trẻ,
sức trẻ Nghĩa của từ xuân trong các ví dụ trên đều gắn với nghĩa "năm, tháng", "tuổi
tr ẻ, sức trẻ" , được xem là nghĩa mới, nghĩa phái sinh của từ, nói cách khác, đã được
cố định lại và đi vào ngôn ngữ (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, 1988)
Trong ví dụ (e, f) nghĩa của từ xuân đi xa hơn, đã chuyển sang một phạm trù
khác Ví dụ (e) nàng xuân chỉ cô gái mới lớn, tươi trẻ tràn đầy sức sống , từ phạm
trù "th ế giới tự nhiên" chuyển sang phạm trù con người Nhưng dẫu sao nghĩa chuyển
này ta vẫn có thể dễ dàng hiểu được do chúng có liên hệ trực tiếp đến nghĩa gốc của từ
(tràn đầy sức sống) Riêng ví dụ (f) nghĩa của từ xuân chỉ chủ nghĩa xã hội Người
đọc khó có thể chấp nhận và giải thích nó khi không nắm được văn cảnh cụ thể của hai câu thơ nằm trong bài Mùa thu mới của Tố Hữu Tách khỏi văn cảnh, nghĩa "chủ
nghĩa xã hội" của từ xuân hoàn toàn mất đi
Theo quan điểm của I A Richards (1936) và Max Black (1962, 1993) (dẫn theo Ungerer & Schmid 1996:116): "điều cốt tủy của phép ẩn dụ nằm ở sự tương tác giữa
Trong ví dụ (f), sự tác động qua lại có thể được mô tả như là một sự mâu thuẫn
về ngữ nghĩa hoặc là sự phân biệt rõ ràng ở phạm trù "mùa xuân" và ngữ cảnh xây
dựng chủ nghĩa xã hội Hiểu theo một cách nào đó, điều này dẫn đến kết quả của sự
diễn đạt: Xuân ơi xuân như là chủ nghĩa xã hội
Rõ ràng, khi tiếp cận với phép ẩn dụ tu từ, người tiếp nhận văn bản phải dùng năng lực liên tưởng để quy chiếu giữa các yếu tố hiện diện trên văn bản với các sự vật
hiện tượng tồn tại ngoài văn bản Điều này sẽ được sáng tỏ hơn khi ta tìm hiểu từ
mưa trong những câu thơ của Nguyễn Du:
a- Ti ếng mau sầm sập như trời đổ mưa
b- V ật mình vẫy gió tuôn mưa
Trang 27c- H ạt mưa sá nghĩ phận hèn
Mưa trong ví dụ (a) được dùng với nghĩa đen: nước kết lại trong mây rồi mưa
xuống Nhưng trong ví dụ (b, c, d) nghĩa của từ mưa là nghĩa mới (nghĩa ẩn dụ) trong văn cảnh tác phẩm của Nguyễn Du Mưa (ví dụ b) chỉ nước mắt của nàng Kiều Còn
h ạt mưa (ví dụ c), giọt mưa (ví dụ d) chỉ thân phận người con gái, cụ thể là Thúy
Kiều Khi đọc câu "Vật mình vẫy gió tuôn mưa" người ta nghĩ ngay đến thành ngữ
"khóc như mưa" Đọc câu "Hạt mưa sá nghĩ phận hèn" cũng như "cũng liều một giọt
mưa rào" ta liên tưởng đến những câu ca dao quen thuộc (Thân em như hạt mưa sa )
Chính những mối liên tưởng gián tiếp trên đã giúp ta hiểu được nghĩa mới của từ
Ẩn dụ tu từ trong tiếng Việt rất đa dạng và phong phú Người Việt Nam có bao nhiêu mối liên tưởng thì cũng có thể có bấy nhiêu ẩn dụ Việt Nam là nước có nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, trồng trọt và chăn nuôi phát triển sớm Đặc điểm địa lý
Việt Nam có nhiều sông ngòi, kênh rạch lại thêm bờ biển dài Vì vậy, người Việt Nam
có môi trường và môi sinh gắn liền với sông nước, cây cối Đó là cơ sở, là nguồn gốc
ra đời nhiều ẩn dụ có liên quan đến sông nước, biển cả, cây cối, động vật qua sự liên tưởng đa dạng của người Việt Nam
Trang 28Cánh cò nói v ới mênh mông nắng chiều
Tìm hiểu, đi sâu vào ẩn dụ chúng ta nhận thấy rằng ẩn dụ thâm nhập khắp nơi trong cuộc sống hàng ngày, không chỉ biểu hiện trong ngôn ngữ mà cả trong suy nghĩ
và hành động Trong phạm vi chúng ta suy nghĩ và hành động, hệ thống khái niệm thông thường thực chất về cơ bản đã mang tính ẩn dụ
Các khái niệm chi phối suy nghĩ của chúng ta không chỉ là các vấn đề thuộc về
khả năng hiểu biết (trí tuệ) mà còn tác động đến hoạt động hàng ngày của chúng ta Các khái niệm này phản ánh những gì mà chúng ta lĩnh hội được, cách thức mà chúng
ta hiểu biết về thế giới và mối quan hệ của chúng ta trong xã hội Do vậy, hệ thông khái niệm đóng vai trò trung tâm trong việc xác định các hiện tượng thực tế hàng ngày Và như vậy thì nếu chúng ta cho rằng hệ thống khái niệm chủ yếu mang tính ẩn
dụ thì cách chúng ta nghĩ, những gì chúng ta rút tỉa được và những hoạt động hàng ngày đều có liên quan đến ẩn dụ
Tuy nhiên, hệ thống khái niệm không phải cái chúng ta dễ dàng nhận thức được
Trang 29Một phương pháp hữu hiệu nhất để nhận ra ẩn dụ khái niệm là nhìn vào ngôn ngữ Do ngôn ngữ là phương tiện mà ta sử dụng trong quá trình suy nghĩ và hành động, nên ngôn ngữ là nguồn minh họa quan trọng cho bản chất của hệ thống này
Ta hãy bắt đầu với khái niệm Tranh luận và hình thức ẩn dụ mang tính tri nhận
Tranh lu ận là Cuộc chiến Hình thức ẩn dụ này được phản ánh qua ngôn ngữ hàng
ngày của chúng ta bằng hàng loạt cách diễn đạt:
- Nó không bao gi ờ thắng khi tranh luận với tôi
- Cô ta bác b ỏ mọi lý lẽ của tôi
- Anh ấy luôn bảo vệ lập luận của mình
Thực tế trong các cuộc tranh luận, chúng ta có thể thắng hoặc thua Chúng ta xem người đang tranh luận với chúng ta là một đối thủ Chúng ta tấn công anh ta và chúng ta tự bảo vệ mình Nếu chúng ta tìm thấy một điểm yếu nào đó chúng ta có thể
loại bỏ nó và tìm hướng tấn công mới Chúng ta vạch kế hoạch và sử dụng các chiến lược Chúng ta thắng hoặc thua Nhiều vấn đề được thực hiện trong quá trình tranh
luận một phần được cấu tạo bởi khái niệm về cuộc chiến Mặc dù ở đây không có một
trận đánh thể chất nào, nhưng có một trận chiến ngôn ngữ và cấu trúc cuộc tranh cãi:
nhận thức được rằng hình thức ẩn dụ Tranh luận là Cuộc chiến là một cách mà
chúng ta thường dùng trong cuộc sống hàng ngày, nó tạo ra các hành động mà chúng
ta thể hiện trong quá trình tranh cãi
Có thể xem đây là một điển hình về ẩn dụ khái niệm với tiêu đề Tranh luận là
Cu ộc chiến nhằm tạo ra những gì chúng ta làm, cách chúng ta hiểu về những điều
chúng ta thực hiện khi tranh luận Bản chất của ẩn dụ là hiểu một điều gì đó dưới hình
Trang 30thức của một sự vật khác Dĩ nhiên là Tranh cãi và Chiến tranh là hai điều khác nhau nhưng rõ ràng Tranh luận một phần được hình thành, hiểu, trình bày và thảo luận dưới hình thức của Cuộc chiến Khái niệm này được hình thành mang tính ẩn dụ và
kết quả là ngôn ngữ cũng được hình thành một cách ẩn dụ Tuy nhiên, ẩn dụ không hoàn toàn nằm trong các ngôn từ mà chúng ta sử dụng, mà nó nằm trong chính khái
ni ệm tranh luận Chúng ta nói về tranh luận theo cách đó bởi vì chúng ta hiểu chúng
theo cách đó
Tóm lại, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng hệ thống khái niệm được hình thành và định nghĩa theo cách ẩn dụ Do đó, khi nói về các hình thức ẩn dụ chúng ta nên hiểu
rằng khái niệm mang tính ẩn dụ (ẩn dụ khái niệm) và do ẩn dụ khái niệm mang tính hệ
thống nên ngôn ngữ chúng ta dùng để nói về khía cạnh này cũng mang tính hệ thống Trong ẩn dụ khái niệm Tranh luận là Cuộc chiến, các từ ngữ về cuộc chiến như: tấn
tranh luận Một bộ phận hệ thống cuộc chiến đã mô tả được khái niệm của cuộc tranh
luận và ngôn ngữ theo sau phù hợp Do các từ ngữ mang tính chất ẩn dụ gắn chặt với các khái niệm ẩn dụ một cách hệ thống, chúng ta có thể sử dụng ngôn ngữ ẩn dụ để nghiên cứu bản chất của các ẩn dụ khái niệm và hiểu được bản chất ẩn dụ trong các hành động của chúng ta
Lakoff & Johnson (1980: 71) chứng minh rằng: về phương diện ngôn ngữ, đúng
là chúng ta không lợi dụng ẩn dụ "Thời gian là tiền bạc" nhưng sự thật là chúng ta nghĩ đến hoặc tri nhận được cái gọi là "đích" của "thời gian" qua phạm trù "nguồn" -
"ti ền bạc", khi chúng ta sử dụng những câu tiếng Anh sau đây:
Ví dụ:
Trang 31a- You're wasting my time
(B ạn đang lãng phí thời gian của tôi)
b- Can you give me a few minutes?
(Anh có th ể cho tôi một vài phút?)
c- How do you spend your time?
d- We are running out of time
(Chúng ta đã hết thời gian)
Hay những câu tiếng Việt:
a- Tôi r ất cần thời gian để viết bài
c- C ậu đã biết tận dụng thời gian
d- B ạn sắp hết thời gian làm bài
f- Thi ết bị hiện đại này sẽ tiết kiệm nhiều thời gian
i- Tôi đã đầu tư rất nhiều thời gian vào công việc ấy
Th ời gian trong các ví dụ trên được xem là một mặt hàng có giá trị Nó là một
nguồn tài sản có hạn được sử dụng để đạt một mục đích nào đó Trong nền văn hóa
hiện đại, công việc luôn gắn liền với lượng thời gian và thời gian được xác định rất rõ Điều này đã trở nên bình thường khi trả lương cho người làm theo giờ, tuần hoặc tháng hay giá phòng khách sạn, lãi vốn vay, nhắn tin điện thoại được tính bằng
th ời gian Các thói quen này xuất hiện và tồn tại trong xã hội công nghiệp hiện đại và
hình thành nên các hoạt động cơ bản hàng ngày rất sâu sắc Thời gian gắn chặt với
Trang 32tiền bạc, thậm chí về mặt tri nhận, được đánh đồng với tiền bạc Và do vậy, thời gian
là một thứ gì đó có thể tiêu, phung phí, tiết kiệm, đầu tư, dành dụm
Th ời gian là tiền bạc, đưa đến thời gian là nguồn tài sản có hạn hay thời gian
là m ột món hàng quý giá, tất cả đều là ẩn dụ khái niệm Chúng mang tính ẩn dụ do
chúng ta sử dụng các kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta với tiền bạc, một nguồn tài nguyên hạn hẹp và các món hàng có giá trị để khái niệm hóa thời gian Trong các từ
ngữ được liệt kê dưới hình thức ẩn dụ Thời gian là Tiền bạc, một số đề cập đến tiền
bạc (tiêu, đầu tư, tiết kiệm ) một số đề cập đến nguồn tài nguyên giới hạn (sử dụng,
h ết, còn, cần ) và một số đề cập đến các món hàng quý giá (mất, cho, quý )
Các tác giả ngôn ngữ học tri nhận như: Lakoff (1980), Johnson (1980), Turner (1993) và Kovecses (1986) trong các tác phẩm của mình đã thừa nhận rằng: mặc dù ẩn
dụ là một hiện tượng thuộc khái niệm, nhưng chúng ta có thể đưa ẩn dụ trong cấu trúc
đó vào cách suy nghĩ của chúng ta xuyên qua ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng
1.2.2.1.Vi ệc truyền đạt ngôn ngữ và cấu trúc của mô hình tri nhận ẩn dụ
Như đã nói, ẩn dụ thể hiện cách suy nghĩ của chúng ta Có thể mô tả như thế nào quá trình truyền đạt bằng ngôn ngữ trong mối quan hệ với cấu trúc của mô hình ẩn
dụ? Những cứ liệu tiếng Việt sau đây về những ẩn dụ liên quan đến sự truyền đạt bằng ngôn ngữ có thể giúp ích cho chúng ta:
Ví dụ:
f B ạn vẫn chưa cho tôi biết ý bạn muốn gì
không?
Trang 33h.B ạn phát hiện một ý tưởng hay nào trong bài luận văn này chưa?
i Tôi không nh ận ra một chút tình cảm nào trong lời nói của ông ta
Những ví dụ này chứng tỏ người Việt sử dụng những ẩn dụ có liên hệ với nhau
để nói về việc truyền đạt bằng ngôn ngữ Ba ví dụ đầu cho thấy khi nói chúng ta lấy ý tưởng, sự suy gẫm, mối xúc cảm rồi đưa vào câu Ví dụ d, e, f là những ẩn dụ thừa
nhận việc truyền đạt ngôn ngữ như là việc chuyển ý nghĩ và cảm xúc bằng phương
tiện ngôn ngữ Cuối cùng, ví dụ g, h, i có liên quan đến việc mở rộng tư tưởng để tiếp
nhận hoặc rút ra ý tưởng từ ngôn ngữ bằng cách nào Nhìn một cách tổng thể, "tư
tưởng" được xem như là những "vật thể" được đặt vào nơi chứa đựng (bằng từ) do
một người gửi và gửi cho một người nhận đã nắm bắt được vật thể ấy ở đây, sự truyền đạt ngôn ngữ được khái niệm hóa trong thuật ngữ "gửi" và "nhận" Đó là điều
Reddy (1993) gọi là conduit (đường dẫn) (dẫn theo Ungerer & Schmid, 1996:119)
Từ những ví dụ trên, ta thấy điều quan trọng là: ẩn dụ không phải là phần mở
trù, t ối thiểu có một phần (bộ phận) quan trọng có liên quan
Quan điểm trên cho thấy cấu trúc bằng phương pháp ẩn dụ là câu trúc của một
mô hình tri nhận Các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng: đó là chuyển một sự sắp
xếp cấu trúc của mô hình NGUỒN vào mô hình ĐÍCH (Ungerer & Schmid,
1996:120) Đấy chính là cấu trúc của mô hình (cơ chế) tri nhận ẩn dụ
Chúng ta hãy nhìn vào một ví dụ khác để minh họa quan niệm trên về phép ẩn
dụ Theo Lakoff và Turner (1989: 37), sự tuần hoàn cuộc sông con người được khái quát một cách có quy ước như: bắt đầu đến với thế gian, đi vào cuộc đời và ra đi Điều
này có nghĩa là chúng ta nghĩ về cuộc đời trong thuật ngữ ba chuyến đi:
+ Khi chúng ta sinh ra, chúng ta đến với chuyến đi thứ nhất
+ Toàn bộ cuộc đời chúng ta là chuyến hành trình thứ hai trên thế gian
+ Khi chúng ta chết, chúng ta sắp đặt cho chuyến đi cuối cùng
Ở đây, điều mà chúng ta thật sự quan tâm là trọng tâm của chuyến đi: chuyến đi
vào cu ộc đời
Trang 34Tất cả những ví dụ này cho thấy: xuyên qua ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng, chúng ta quan niệm cuộc đời như một chuyên đi
Một khi chấp nhận phép ẩn dụ là những sự sắp xếp cấu trúc từ mô hình nguồn đến mô hình đích, thì có vẻ hợp lý để hỏi: Vậy cái gì là mô hình nguồn điển hình và
mô hình đích điển hình?
Dưới đây là một vài ví dụ về sự sắp xếp ẩn dụ (những phạm trù và mô hình tri
nhận) mà ta có thể tìm thấy trong văn chương:
Trang 35So sánh hai danh sách, chúng ta nhận thấy rằng phạm trù và mô hình đích (cột bên trái) thì hơi trừu tượng, trong khi phạm trù và mô hình nguồn (cột bên phải) thì cụ
thể hơn nhiều Dường như hai danh sách này cho thấy chúng ta dựa vào mô hình cụ
thể để khái niệm hóa những hiện tương trừu tượng Nói cách khác, tri nhận của chúng
ta về mô hình của phạm trù trừu tượng là dựa vào kinh nghiệm của chúng ta với mọi người, mọi vật thể hàng ngày, những hành động và những sự kiện
Trang 36Chúng ta sẽ khảo sát kỹ lưỡng, chi tiết các mô hình tri nhận: lý lẽ và ý tưởng
1.2.2.2.Mô hình tri nh ận:
Lý lẽ
Chúng ta quan niệm như thế nào về mô hình tri nhận lý lẽ?
Lý l ẽ có thể là ý kiến đưa ra để tranh luận, dẫn đến đồng tình hoặc đả phá một
cách ẩn dụ có liên quan như sau:
Chúng ta có thể khảo sát qua một vài ví dụ:
a- Nh ững ý kiến này chỉ rõ con đường đi đến một giải pháp hòa hợp
c- Chúng ta s ắp đặt lý lẽ để có thể bảo vệ được mình
d- Các lý l ẽ của anh ta tuy đúng đắn như không được sắp xếp hợp lý
e- Khi ti ếp cận lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn ẩn
d ụ như một cơ chế tri nhận
f- Nh ững lý lẽ xác đáng ấy dẫn đến một kết luận đầy sức thuyết phục
Những ví dụ này khẳng định "sự phát triển của một lý lẽ" có cấu trúc tương tự
với sự phát triển của cuộc hành trình Nói rõ hơn, phạm trù không gian như: con
đường, điểm, và phạm trù hoạt động như: đi đến, sắp đặt, sắp xếp, tiếp cận, dẫn
đến cho thấy một sự đẳng câu đồng hình giữa mô hình cuộc hành trình (nguồn) và
Trang 37mô hình lý l ẽ (đích)
• - Lý l ẽ là một Cuộc chiến đấu:
Những ẩn dụ nhìn theo chiều hướng này phục vụ cho khái niệm "sức mạnh và
tác d ụng" của lý lẽ Giống như một cuộc chiến đấu, lý lẽ có thể được chia nhiều giai
đoạn: chuẩn bị, tấn công, bảo vệ, rút lui, phản công, chiến thắng hoặc thất bại và tạm
đấu vào mô hình lý lẽ được thể hiện qua sự diễn đạt ngôn ngữ
Trang 38• -Lý l ẽ là một Nơi chứa đựng:
Xét về mặt "khuôn khổ nội dung lý luận", lý lẽ được tri nhận như nơi chứa
đựng
Ví dụ:
a- Lý l ẽ của bạn không có nhiều sức thuyết phục
b- Lý l ẽ của anh thì rỗng tuếch,
c- Lý l ẽ đó có phần thiếu sót ở bên trong,
e- Lý l ẽ của ông ta hàm chứa ý đồ không xây dựng
f- Lý l ẽ của cô ấy chứa đựng một nội dung rất đặc biệt
• -Lý l ẽ là một Sự xây dựng:
Lý l ẽ có thể đứng vững hoặc lung lay, lý lẽ cũng có cơ sở, nằm trong khuôn khổ,
cấu trúc nào đó
Ví dụ:
v ững chắc
v ẫn lung lay, không đứng vững nổi
1.2.2.3.Mô hình tri nh ận:
ý tưởng
This image cannot currently be displayed.
Trang 39Trong việc phân tích phạm trù ý tưởng và qua cuộc khảo sát từ các bài văn, khái
niệm ý tưởng có thể được dựa trên 3 cách ẩn dụ sau:
+ Trí óc là Nơi chưa đựng ý tưởng
+ Ý tưởng là Vật thể
+ Ý tưởng là Sinh vật
• - Trí óc là Nơi chứa đựng ý tưởng:
Nhiều cứ liệu về ẩn dụ chứng tỏ chúng ta nghĩ về trí óc của chúng ta như là Nơi
ch ứa đựng ý tưởng Sự tri nhận này thường kết hợp với sự tri nhận thứ hai là Vật thể
Chúng ta nói về nó, lấy, mượn, cho, gán tư tưởng, hay có thể cất, giấu, để ý tưởng ở
một nơi nào đó hoặc không cần, vứt đi
Ví dụ:
b- Hãy cho tôi m ột vài ý tưởng đẹp
c- Tôi xin mượn ý tưởng trong bài để chứng minh
d- Anh gán nh ững suy nghĩ của chính anh cho tôi
f- Cu ối cùng tôi thấy tốt nhất là nên vứt ý tưởng ấy đi
g- B ỏ được ý tưởng rồ dại đó, anh mới cứu được anh
Trang 40Ví dụ:
a- Tư tưởng lớn gặp nhau
(Nam Cao)
c- Vì l ẽ đó tâm hồn trở nên yếu đuối, không thể đánh thức dậy những tư tưởng
t ốt đẹp trong con người mình
(Trung Đức)
d- Nh ững ý tưởng của bạn rất mập mờ
nhau n ảy ra trước những điều bà già nói và sẽ nói
(Trung Đức)
f- Cái gì? H ắn đột nhiên tắt ý nghĩ và để vọt ra miệng cách hỏi ấy
(Nam Cao)
• - Ý tưởng là Sinh vật (con người):
Cách tri nhận này thiết lập sự nối kết giữa ý tưởng và sinh vật hay con người Ý
tưởng có thể được khái niệm hóa như con người Ý tưởng có thể đi đây, đi đó, trở về,
đến, hướng tới Ý tưởng có thể được nhận thức, giết chết, phục thù, liều lĩnh và khi
lý l ẽ là một cuộc chiến đấu, ý tưởng có thể bị tấn công hay đầu hàng