GIỚI THIỆUKỉ nguyên kháng sinh và tiêm chủng mở ra đã giúp cho con người đẩy lùi đượcrất nhiều căn bệnh nhiễm nguy hiểm... TỔNG QUAN LÍ THUYẾT2.1... Khoa học hành vi Be
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin chân thành cảm ơn đến toàn bộ các thầy
cô đã góp phần vào việc xây dựng thành công và đưa vào giảng dạy liên module Kinhtế y tế – Quản lý bệnh viện cho chúng em, đó được xem như một món quà vô giá màkhông phải sinh viên Y của trường nào cũng được giảng dạy Vỏn vẹn trong ba tuần lýthuyết, hai module được kết hợp khéo léo một cách tài tình nhất, để sinh viên chúng
em tiếp thu được lượng kiến thức tuy hai mà một, cùng song song với nhau, thống nhấtvà bổ sung cho nhau, giúp việc học của chúng em càng thuận lợi và có điều kiện pháttriển những suy nghĩ, tư duy theo hướng kết hợp giữa việc quản lý cũng như việc làmkinh tế trong Y tế sao cho hoàn hảo nhất
Em xin cảm ơn thầy Nguyễn Thế Dũng, một người thầy không chỉ dạy chochúng em về kiến thức chuyên môn của bài học mà còn đóng vai trò là người lái đò,người truyền cảm hứng, luôn khơi dậy trong em một tinh thần háo hức học hỏi điềumới Cũng nhờ sự tâm huyết của thầy mà Khoa Y – Đại học Quốc gia TP HCM mớimay mắn có được module này trong chương trình giảng dạy, với đội ngũ giảng viênkhông chỉ giàu kiến thức mà còn có khả năng truyền tải rất ấn tượng, tạo được khôngkhí vui nhộn trong lớp học, giúp sinh viên hăng hái phát biểu và tiếp thu bài
Đặc biệt nhất, em xin cảm ơn thầy Trương Trọng Hoàng, một người thầy tuykhông phải giảng viên cơ hữu của Khoa Y nhưng luôn cho chúng em cảm giác như
“người nhà” Chính thầy là người truyền tải kiến thức, thêu dệt nên những cảm hứngtrong em về chủ đề mà em sẽ viết ngay sau đây, bằng cách nào đó mà không phải aicũng làm được, thầy lúc nào cũng khuấy động không khí học tập của cả lớp, làm mọingười hứng thú thảo luận và đưa ra ý kiến riêng của mình Đó là điều em luôn tâm đắcvề thầy
Cuối cùng, em xin hứa sẽ luôn trân trọng “món quà” đặc biệt mà các thầy cô đãdành cho sinh viên Y5 chúng em vào những ngày tháng mùa hè oi bức này Sự tận tâmcủa thầy cô là động lực phấn đấu của chúng em
Trang 3TÓM TẮT
Thời lượng ba tuần cho liên module Kinh tế Y tế – Quản lý bệnh viện trôi qua,là lúc em nhận được một khối lượng kiến thức to lớn từ các thầy cô giảng dạy Tất cảcác bài học đều có cái thú vị và tầm quan trọng riêng Về phần bài thu hoạch, em xinphép chọn một chủ đề để tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn, đó là: giáo dục sức khỏe(GDSK, Health Education) và nâng cao sức khỏe (NCSK, Health Promotion) trongbệnh viện Đây chắc chắn là một hoạt động không hề xa lạ gì với tất cả chúng ta, đặcbiệt là những nhân viên Y tế công tác tại các bệnh viện Ở những tỉnh, thành phố cóđiều kiện kinh tế phát triển, trình độ dân trí cao, giao thông thuận lợi, công tác GDSKđã và đang được triển khai ngày một phổ biến và tích cực hơn Đặc biệt trong các bệnhviện tuyến trên, hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe có thể xem là hoạt độngnòng cốt, thu hút được sự quan tâm của số đông bệnh nhân và người nhà Những câulạc bộ được thành lập dưới sự tập trung chia sẻ kiến thức về một bệnh cụ thể nào đó.Những buổi tham vấn trực tiếp giữa bác sĩ với người bệnh cũng ngày một nhiều hơn.Đó có lẽ cũng chính là lý do khiến cho người bệnh luôn muốn tìm đến bệnh viện lớn,bệnh viện tuyến cuối để khám và điều trị bệnh Bên cạnh đó, ở những tỉnh vùng sâuvùng xa, nơi mà đến việc đi lại còn khó khăn, kinh tế kém phát triển, thì dường nhưngười dân cũng thiệt thòi hơn trong việc nhận được những kiến thức về GDSK Chưakể đến việc trình độ dân trí thấp, số lượng người không biết chữ còn nhiều, tỷ lệ dântộc thiểu số không biết tiếng phổ thông còn cao, việc truyền thông GDSK bằng tài liệu,tờ bướm lại càng gặp khó khăn Trong khuôn khổ bài viết, em sẽ trình bày đại cươngvề GDSK và NCSK cũng như những nguyên tắc cơ bản để thực hiện hoạt động này,thêm vào đó là làm rõ vai trò của GDSK, thực trạng công tác GDSK tại một số địaphương trong nước đã có báo cáo Từ đó đưa ra kết luận và những kiến nghị
Trang 4MỤC LỤC
DANH SÁCH HÌNH VẼ
Hình 3.1 Thư mời sinh hoạt câu lạc bộ đái tháo đường
Hình 3.2 Phiếu tham gia miễn phí tư vấn về chế độ ăn bệnh lý
tim mạch và đái tháo đườngHình 3.3 Bảng truyền thông GDSK khoa Răng-Hàm-Mặt bệnh
viện An BìnhHình 3.4 Chương trình phòng chống đái tháo đường - câu lạc bộ
đái tháo đường bệnh viện Nguyễn Tri PhươngHình 3.5 Buổi nói chuyện GDSK về đái tháo đường tại bệnh viện
Hình 3.6 Bệnh nhân xem bảng truyền thông GDSK của khoa tại
bệnh việnHình 3.7 Mục GDSK trên trang web bệnh viện
Trang 5DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Trang 6DANH SÁCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT Tiếng Việt:
- GDSK: giáo dục sức khỏe
- NCSK: nâng cao sức khỏe
- TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
Tiếng Anh:
- WHO: World Health Organization – Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 7CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Kỉ nguyên kháng sinh và tiêm chủng mở ra đã giúp cho con người đẩy lùi đượcrất nhiều căn bệnh nhiễm nguy hiểm Tuy nhiên, ở các quốc gia đang phát triển, cảbệnh nhiễm trùng và các bệnh do thói quen, hành vi của chính con người gây ra đềuđang là những mối lo ngại lớn, thách thức toàn xã hội nói chung và ngành Y tế nóiriêng phải đề ra những chiến lược mới và có hiệu quả để giảm thiểu được bệnh tật.Song song với những nghiên cứu, thử nghiệm và sử dụng thuốc trong điều trị cũng nhưphòng bệnh, công tác giáo dục, nâng cao sức khỏe ngày càng bộc lộ được vai trò tolớn, giúp con người từ không biết chuyển thành biết, từ biết rồi muốn thay đổi, rồi cốgắng thực hiện, và họ đã gặt hái được nhiều lợi ích từ việc chấp nhận và thay đổi hành
vi, loại bỏ các thói quen xấu, tập thói quen tốt cho sức khỏe
Trong công tác giáo dục sức khỏe, đòi hỏi sự lồng ghép giữa vai trò của nhànước, các tổ chức và cá nhân với nhau để đạt hiệu quả tối ưu Trong khuôn khổ bàiviết, em xin trình bày về lịch sử, khái niệm cơ bản, nguyên tắc của hoạt động giáo dụcvà nâng cao sức khỏe trong bệnh viện Từ đó đưa ra kết luận và kiến nghị nhữngphương pháp đẩy mạnh hoạt động này hơn nữa so với thực trạng tại nước ta hiện nay
Trang 8CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÍ THUYẾT
2.1 Vài nét về lịch sử và khái niệm
Mặc dù lịch sử GDSK đã có từ thế kỷ 19, mãi đến những năm 1940 lĩnh vựcnày mới được phát triển như một môn học riêng biệt Theo thời gian, lý thuyết và cơsở thực hành GDSK được mở rộng từ việc tập trung vào các can thiệp hành vi trực tiếpgiữa người với người và các phương tiện thông tin đại chúng chứa đựng sự bảo đảm vềchính sách, hệ thống, và môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân
GDSK nhìn chung phù hợp với các ngành khoa học xã hội và hành vi là mộttrong những khía cạnh cốt lõi của nghiên cứu và thực hành GDSK trong cộng đồng
Vào đầu thế kỉ 21, thuật ngữ GDSK và NCSK thường được hoán đổi qua lại ởHoa Kỳ, trong khi trên trường quốc tế, NCSK được sử dụng như một khái niệm tổngthể bao hàm cả GDSK [1]
Ở thời kỳ đầu, GDSK quan tâm nhiều đến các yếu tố bên trong cho sự thay đổihành vi (kiến thức, thái độ, lòng tin, thực hành,…) Sau đó, các yếu tố bên ngoài ngàycàng được chú ý vì tính hiệu quả cao và nhanh của nó, yểm trợ cho việc thay đổi hành
vi (hoàn cảnh, môi trường,…) Thí dụ, rất khó cho một người nghiện thuốc lá bỏ thuốcnhưng từ lúc có lệnh cấm hút thuốc trong bệnh viện hay trên máy bay thì mọi ngườiphải tuân thủ Do vậy, yếu tố tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thay đổi hành vi kếthợp với các tác động trực tiếp trên cá nhân tạo ra khái niệm mới, mở rộng phạm viGDSK gọi là “NCSK” [2]
Có nhiều định nghĩa về GDSK và NCSK nhưng cho đến nay việc định nghĩavẫn chưa được thống nhất
“GDSK là giúp quần chúng đạt được sức khỏe bằng chính nỗ lực của họ”(Badgly 1975) [2]
“GDSK là một quá trình nhằm giúp nhân dân tự thay đổi những hành vi có hạicho sức khỏe để chấp nhận thực hiện những hành vi tăng cường sức khỏe” (Bộ Y tếViệt Nam 1993) [2]
“GDSK là bất kỳ sự kết hợp nào của việc học tập những kinh nghiệm được thiếtkế để giúp cho các cá nhân và cộng đồng cải thiện sức khỏe, bằng việc tăng cườnghiểu biết của họ hoặc ảnh hưởng đến thái độ của họ” (WHO 2017) [3]
“NCSK là quá trình làm cho mọi người có thể tăng cường kiểm soát và cảithiện sức khỏe của họ” (Ottawa WHO 1986) [4]
“NCSK là sự kết hợp các tiến trình thay đổi tạo nên hoàn cảnh thuận lợi yểmtrợ về môi trường, kinh tế, tổ chức và giáo dục dẫn tới sức khỏe” (Bruce G Simons –Morton, Walter H Greene, Nell H Gottlieb 1995) [5]
Trang 92.2 Các khoa học nền tảng của GDSK và NCSK
2.2.1 Khoa học hành vi (Behavioral Sciences)
Các khoa học hành vi quan tâm đến tại sao và cách nào con người đã hành xửtheo kiểu này hay kiểu khác Đó là Tâm lý, Xã hội học, Tâm lý xã hội học, Nhânchủng học đã cung cấp những kiến thức căn bản về lý thuyết, khái niệm cũng như thựctiễn về hành vi, cách ứng xử của con người và sự thay đổi Ngoài ra còn có các khoahọc khác hỗ trợ như Kinh tế học, Chính trị học, Triết học
Khoa học hành vi cung cấp những kiến thức căn bản về cách con người ứng xửtrên ba mức độ: cá nhân, tổ chức và cộng đồng, từ đó có thể hiểu được hành vi sứckhỏe của con người và cộng đồng nên nó là nền tảng của GDSK và NCSK
2.2.2 Khoa học giáo dục (Education)
Giáo dục học nghiên cứu và thực hiện việc giảng dạy, học tập và thay đổi Tâmlý giáo dục, Sư phạm, Giáo dục tráng niên, Thiết kế chương trình đáp ứng cho mụctiêu đào tạo huấn luyện cho từng đối tượng là những thành phần căn bản cho GDSK vàNCSK vì GDSK không chỉ tập trung vào học sinh ở nhà trường nên giáo dục trángniên là rất quan trọng Phương pháp giáo dục chủ động, tạo tham gia, học đi đôi vớihành là chủ yếu để tạo sự thay đổi hành vi, trong đó có hành vi sức khỏe
2.2.3 Y học và Y tế công cộng (Medicine and public Health)
Cung cấp những nội dung y học, cách xử trí đúng và sai trong việc tạo ra, bảovệ và NCSK của cá nhân và cộng đồng Dịch tễ học, Vệ sinh môi trường, Dân số vàhướng dẫn các dịch vụ Y tế Đặc biệt Dịch tễ học giúp phát hiện các vấn đề sức khỏe,chọn vấn đề sức khỏe ưu tiên từ đó đề ra biện pháp can thiệp Dịch tễ học cũng giúpphân tách vấn đề nào là y sinh học, vấn đề nào thuộc hành vi, nếp sống và vấn đề nào
do môi trường Công tác lập kế hoạch, quản lý và đánh giá chương trình sức khỏe, vậnđộng chính sách y tế là những phần cơ bản cho GDSK và NCSK
2.2.4 Khoa học truyền thông (Communication)
Khoa học truyền thông ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong truyền thôngtrực tiếp giữa người với người, truyền thông nhóm và truyền thông đại chúng Truyềnthông có ảnh hưởng trực tiếp làm thay đổi hành vi trong các chương trình truyền thôngsức khỏe, tiếp thị xã hội ngày càng được quan tâm và trở thành nền tảng cho GDSK vàNCSK
2.3 Nguyên tắc thực hiện GDSK
- Kế hoạch phải dựa trên cơ sở thông tin thích đáng, trên nhu cầu và lợi ích củađối tượng đích, các yếu tố tác động đến hành vi của họ và các hậu quả về sứckhỏe của họ;
- Xác định được tầm quan trọng của các yếu tố môi trường (xã hội và tự nhiên)chung quanh đối tượng đích;
- Đối tượng đích phải được tham gia trong quá trình lập kế hoạch;
- Dựa trên nguyên tắc tôn trọng trong quá trình tham gia, công tác GDSK là mộtsự chia sẻ và hợp tác chứ không phải sự ban bố;
Trang 10- Mục tiêu GDSK không dừng lại ở kiến thức mà phải đạt đến mức độ tự giác.Đòi hỏi để đạt sức khỏe tốt nhất của đối tượng;
- Áp dụng linh động các nguyên tắc và phương pháp học tập phù hợp để tạo hiệuquả cao dựa trên từng đối tượng đích;
- Khi thiết kế kế hoạch can thiệp GDSK cần phải quan tâm không những đến cáctrở ngại về kỹ thuật mà còn đến các trở ngại kinh tế – xã hội Chú trọng phươngpháp và nhân lực Linh động trong chiến lược sao cho phù hợp;
- Không có một kế hoạch GDSK, NCSK nào là mẫu mực, duy nhất, tốt nhất Kếhoạch tốt là một kế hoạch phù hợp, dựa trên đối tượng đích và hoàn cảnh cụ thểtrong từng tình huống
2.4 Các nguyên tắc của NCSK
- NCSK thu hút toàn bộ dân chúng trong bối cảnh sống hàng ngày của họ, hơn làchỉ tập trung vào những người có nguy cơ cao cho một bệnh nào đó
- NCSK hướng tới các hành động nhằm tác động lên các yếu tố quyết định haycác nguyên nhân tạo nên sức khỏe Nó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cácngành ngoài y tế (phối hợp liên ngành) chứng tỏ tính đa dạng của các điều kiệnảnh hưởng đến sức khỏe
- NCSK kết hợp với các phương pháp hay cách tiếp cận khác nhau, bao gồm:truyền thông, giáo dục, luật pháp, các biện pháp tài chính, những thay đổi về tổchức, sự phát triển cộng đồng và các hoạt động tức thời của địa phương chốnglại các mối nguy hiểm của sức khỏe
- NCSK đặc biệt nhằm vào sự tham gia cụ thể và có hiệu quả của quần chúng Nóđòi hỏi sự phát triển xa hơn nữa – các kỹ năng xác định cấn đề và ra quyết địnhcủa cá nhân cũng như của tập thể, và sự tăng cường các cơ chế tham gia có hiệuquả
- NCSK trước hết là một thể nghiệm về mặt xã hội và chính trị chứ không phải làmột dịch vụ y tế, mặc dù các nhà chuyên môn y tế giữ một vai trò quan trọngtrong việc ủng hộ và tạo khả năng cho công tác NCSK
Năm nguyên tắc của Hiến chương Ottawa WHO, 1986 về NCSK
- Phát triển các kỹ năng cá nhân;
- Tạo môi trường hỗ trợ thuận lợi;
- Tạo tham gia cộng đồng;
- Chuyển hướng ngành Y để đáp ứng tình hình nhiệm vụ mới (dịch vụ có liênquan sức khỏe, nghiên cứu và đạo tạo);
- Đề ra các chính sách công cộng lành mạnh hỗ trợ nâng cao sức khỏe
Điều kiện cần thiết thực hiện NCSK:
- Tạo khả năng (Enable)
- Hòa giải (Mediate)
- Vận động ủng hộ (Advocate)
Những chiến lược then chốt tạo ra các môi trường hỗ trợ:
Trang 11- Tăng cường sự ủng hộ thông qua sự ủng hộ của cộng đồng, đặc biệt là thôngqua các nhóm do phụ nữ tổ chức
- Tạo khả năng cho các cộng đồng và các cá nhân để họ có thể tự kiểm soát sứckhỏe và môi trường sống của mình thông qua giáo dục và việc được trao quyềnhành
- Xây dựng các liên minh vì sức khỏe và các môi trường hỗ trợ nhằm tăng cườngsự phối hợp giữa y tế và các chiến dịch và chiến lược về môi trường
- Dàn hòa các mâu thuẫn trong xã hội nhằm đảm bảo việc hưởng thụ công bằngcác môi trường hỗ trợ cho sức khỏe
2.5 Tiêu chuẩn bệnh viện nâng cao sức khỏe
Từ năm 1991, WHO đã xây dựng mạng lưới bệnh viện nâng cao sức khỏe tạihơn 50 nước với hơn 700 bệnh viện tham gia Bệnh viện nâng cao sức khỏe không chỉchẩn đoán và điều trị mà còn phòng ngừa bệnh tật và phục hồi chức năng tại bệnhviện Mục tiêu là cung cấp các dịch vụ tập trung, toàn diện, hiệu quả cho người bệnh,người nhà người bệnh và các cán bộ, nhân viên của bệnh viện; nâng cao chất lượngcuộc sống không chỉ bằng điều trị mà còn bằng phòng bệnh và phục hồi chức năng;tạo ra môi trường điều trị và phục hồi chức năng an toàn [6]
Theo tiêu chí của WHO tại Châu Âu năm 2004, bệnh viện nâng cao sức khỏephải có đủ 5 tiêu chuẩn
2.5.1 Bệnh viện phải có chính sách NCSK bằng văn bản Chính sách này được thựcthi như một phần của toàn bộ hệ thống cải thiện chất lượng, nhằm mục đích cải thiệnsức khỏe Chính sách này hướng đến bệnh nhân, thân nhân người bệnh và nhân viên ytế
2.5.2 Bệnh viện phải đảm bảo được rằng các chuyên gia y tế phải có mối liên hệ vớibệnh nhân, tiến hành đánh giá một cách hệ thống các nhu cầu cho hoạt động nâng caosức khỏe
2.5.3 Bệnh viện cung cấp cho người bệnh những thông tin quan trọng liên quan đếnvấn đề bệnh tật hoặc tình trạng sức khỏe của họ và các can thiệp nhằm nâng cao sứckhỏe sẽ tiến hành trong suốt lộ trình điều trị của tất cả bệnh nhân
2.5.4 Nhà quản lý phải tạo điều kiện cho việc phát triển bệnh viện thành một môitrường lành mạnh có lợi cho sức khỏe
2.5.5 Bệnh viện hoạch định các phương thức hợp tác với đơn vị y tế các cấp, với cácbệnh viện chuyên ngành và với các ngành khác [4]
2.6 Pháp luật Việt Nam về NCSK
2.6.1 Hiến pháp nước CHXNCN Việt Nam năm 2013
- Điều 38: Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trongviệc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòngbệnh, khám bệnh, chữa bệnh