1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC, TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC ĐÁP ỨNG THÔNG TIN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHỤC VỤ CÔNG TÁC ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

18 139 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 545,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác động của BĐKH và nhu cầu thông tin trong ứng phó với BĐKH BĐKH tác động đến hầu hết các ngành và địa phương.. Thông tin quan trắc tức thời và dự báo KTTV thường ngày rất cần cho hoạ

Trang 1

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

CHƯƠNG TRÌNH KHCN CẤP NHÀ NƯỚC KHCN-BĐKH/11-15

BÁO CÁO TÓM TẮT KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC,

TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC ĐÁP ỨNG THÔNG TIN KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN PHỤC VỤ CÔNG TÁC ỨNG

PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chủ nhiệm đề tài Cục Khí tượng Thuỷ văn

và Biến đổi khí hậu

ThS Nguyễn Thị Bình Minh

Ban chủ nhiệm chương trình Bộ Khoa học và Công nghệ

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

1 Mở đầu

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một thách thức lớn trong thế kỷ 21đối với toàn thế giới, trong đó có nước ta Báo cáo mới nhất của Ban Liên chính phủ

về BĐKH (IPCC) đã đưa ra những chứng cứ khoa học mới khẳng định nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi của khí hậu trái đất là do hậu quả những hoạt động của con người

BĐKH có thể tạo ra môi trường khí hậu chưa từng thấy trong lịch sử khí hậu đã được quan trắc và do đó có tác động sâu sắc đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế, xã hội cũng như cuộc sống

Để hạn chế những tác động tiêu cực của BĐKH việc xây dựng các giải pháp ứng phó ở các ngành và các địa phương là hết sức cần thiết và cần được tích hợp trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Xây dựng các giải pháp ứng phó với BĐKH là công việc phức tạp, đòi hỏi rất nhiều thông tin và công cụ khác nhau, trong đó thông tin khí tượng thủy văn (KTTV) là một thành phần quan trọng

Cung cấp kịp thời các thông tin khí hậu hữu ích cho người dùng để mang lại tối đa những lợi ích và giảm thiểu những thiệt hại đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với các cơ quan KTTV lâu nay chỉ có chức năng chủ yếu là cung cấp thông tin phục vụ phòng chống thiên tai

2 Tác động của BĐKH và nhu cầu thông tin trong ứng phó với BĐKH

BĐKH tác động đến hầu hết các ngành và địa phương Tác động của BĐKH đến mỗi ngành hoặc địa phương sẽ khác nhau tùy thuộc tính chất, đặc điểm hoạt động của từng ngành và đặc điểm của mỗi địa phương Tác động của BĐKH có thể xảy ra với các khoảng thời gian khác nhau từ ngắn hạn đến dài hạn, trong đó phải kể đến cả những tác động của thiên tai xảy ra thường xuyên

Ứng phó với BĐKH, do vậy, phải bao gồm cả việc ứng phó ngắn hạn với những thiên tai bất thường lẫn việc ứng phó dài hạn với sự thay đổi khí hậu dài hạn

Nghiên cứu tác động của BĐKH và nhu cầu thông tin KTTV trong ứng phó với BĐKH được thực hiện trên 8 lĩnh vực kinh tế chủ yếu là: nông nghiệp

và an ninh lương thực, lâm nghiệp, thủy sản, tài nguyên nước, năng lượng, giao thông (đường bộ, đường thủy, hàng không và hàng hải), xây dựng và y tế

và 4 vùng địa lý của nước ta là: ven biển, đồng bằng, vùng núi và khu vực Tây Nguyên

Trang 3

2.1 Nhu cầu thông tin KTTV trong ứng phó ngắn hạn

Thông tin quan trắc tức thời và dự báo KTTV thường ngày rất cần cho hoạt động của nhiều ngành kinh tế như : điều hành canh tác trong nông nghiệp, điều tiết hồ chứa trong thuỷ điện, điều hành giao thông, chăm sóc nuôi trồng thuỷ sản, bố trí thi công xây dựng Trong số các thông tin dự báo KTTV, quan trọng nhất là các dự báo về thiên tai

BĐKH làm thay đổi tần suất và cường độ các hiện tượng khí hậu cực đoan dẫn đến nguy cơ làm tăng thêm các thiên tai như bão, lũ, mưa lớn, hạn hán, giá rét v.v

Những hậu quả về thiên tai do BĐKH gây ra có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày cũng như các hoạt động kinh tế xã hội Những lĩnh vực như nông nghiệp, tài nguyên nước, năng lượng v.v có thể chịu những tác động gây tổn hại, thậm chí làm gián đoạn hoạt động Giảm nhẹ rủi ro do thiên tai gây ra cũng là một phần của hoạt động thích ứng với BĐKH

Trước đây, mục tiêu chính của công tác phòng chống thiên tai là nhằm phòng tránh, giảm nhẹ ảnh hưởng có hại của các thiên tai thông qua những hoạt động và các biện pháp tổng hợp phòng tránh, giảm thiểu, phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sau thiên tai

Cách tiếp cận mới trong phòng chống thiên tai tập trung vào các chiến lược chuẩn bị phòng ngừa (preparedness) và phòng chống (prevention) Như vậy, cách tiếp cận mới đã chuyển từ “quản lý khủng hoảng” sang một cách tiếp cận toàn diện, có hệ thống và chủ động hơn Nhu cầu thông tin KTTV không chỉ là những dự báo ngắn hạn hàng giờ hoặc hàng ngày mà cả những

dự báo thời hạn dài hàng tháng trở lên

Thông tin KTTV được sử dụng trong tất cả các bước của quá trình quản

lý rủi ro thiên tai Trong hoạt động phòng chống, các dự báo và cảnh báo kịp thời là thông tin căn bản cho mọi hoạt động ứng phó Trong hoạt động phòng ngừa thông tin khí hậu được dùng để đánh giá tác động rủi ro và lập quy hoạch, thiết kế cơ sở hạ tầng Mặc dù không phải mọi thiên tai đều có thể dự báo trước, nhưng nhiều thiên tai có thể thấy trước từ kinh nghiệm của quá khứ, phân tích khí hậu, phân tích và đánh giá các thiệt hại

2.2 Nhu cầu thông tin KTTV trong ứng phó dài hạn

BĐKH làm thay đổi dao động khí hậu và các điều kiện khí hậu trung bình và những thay đổi này có thể kéo dài hàng chục, thậm chí hàng trăm năm BĐKH hiện nay còn kéo theo hậu quả là sự dâng lên của mực nước biển

Thiết kế và xây dựng các công trình hạ tầng của nhiều ngành như năng lượng, tài nguyên nước, giao thông phải dựa trên các số liệu quan trắc khí hậu

Trang 4

lâu năm, đặc trưng cho những dao động khí hậu trong một thời gian dài Trong nông nghiệp, các điều kiện khí hậu ở mỗi vùng là cơ sở cho việc xác định cơ cấu mùa vụ, bố trí giống cây trồng, vật nuôi Nhiệt độ và hóa học đại dương trực tiếp ảnh hưởng đến sinh lý, tăng trưởng, sinh sản và phân bố của sinh vật biển Qui hoạch và thiết kế hạ tầng quản lý tài nguyên nước sử dụng các số liệu như: mực nước, lưu lượng, lượng mưa và cường độ mưa, nhiệt độ Khí hậu ấm lên hay lạnh đi dẫn đến sự thay đổi số lượng, thời gian, dạng và cường độ mưa và dòng chảy của nước trong lưu vực, cũng như chất lượng môi trường nước và biển Những thay đổi này ảnh hưởng đến các lĩnh vực liên quan đến nước như nông nghiệp, thuỷ sản, năng lượng cũng như sức khỏe

và an toàn công cộng Chẳng hạn, quy hoạch các khu dân cư nhằm tránh nguy

cơ ngập lụt hoặc các thiên tai như lũ quét là biện pháp cần thiết để giảm nhẹ các thiệt hại do thiên tai gây ra Ở đây, việc quy hoạch phải dựa trên các số liệu KTTV lịch sử cùng với những điều khảo sát về địa hình, lớp phủ, môi trường v.v Với BĐKH phải tính đến các dự báo khí hậu dài hạn

BĐKH với những hệ quả làm thay đổi chế độ KTTV và cực trị của các yếu tố đặt ra những thách thức về cách qui hoạch và thiết kế cơ sở hạ tầng trong nhiều lĩnh vực

Từ lâu các đặc điểm khí hậu nhiều năm, thông thường là 30 năm, theo khuyến cáo của Tổ chức Khí tượng thế giới, được coi là căn cứ cho các quyết định trong các hoạt động kinh tế xã hội, từ xây dựng các công trình giao thông, năng lượng đến việc bố trí cơ cấu mùa vụ trong nông nghiệp

Khi xảy ra BĐKH, các thông số khí hậu của chế độ khí hậu thay đổi có thể nằm ngoài những giá trị trong chuỗi số liệu đã quan trắc được Vì vậy, việc sử dụng cơ sở dữ liệu khí hậu đã có có thể không còn phù hợp Để có căn

cứ cho các hoạt động ứng phó với BĐKH, phải sử dụng các dự báo khí hậu dài hạn hàng chục, thậm chí hàng trăm năm

Các số liệu lịch sử trung bình và cực trị rất quan trọng trong việc lập kế hoạch dài hạn, quy hoạch, thiết kế Khi tính đến BĐKH, tức là ta đã tính đến điều kiện khí hậu biến động rộng hơn số liệu lịch sử Ở đây phải cần đến các

dự báo khí hậu

Thông tin dự báo khí hậu cũng có thể được đưa vào giả định lập qui hoạch Mặc dù có thể vẫn chưa xác định được phương pháp tốt nhất, việc kết hợp với dự đoán khí hậu nói chung liên quan đến khảo sát các thông tin dự báo khí hậu Khảo sát mối quan hệ giữa các điều kiện khí hậu trong quá khứ với hoạt động của mỗi lĩnh vực là một căn cứ quan trọng để đánh giá tác động

có thể của BĐKH trong tương lai Từ đó đưa ra các giả định cần thiết (dự báo khí hậu, phát triển kinh tế xã hội v.v.) để lập kế hoạch và tiến hành phân tích tác động đến các hệ thống tự nhiên và xã hội Các kết quả này sau đó gắn vào

Trang 5

các các giả định qui hoạch về nguồn cung cấp, nhu cầu, và hạn chế hoạt động

để cuối cùng đưa ra các giải pháp ứng phó

Do tầm quan trọng của khí hậu trong thiết kế hệ thống và điều hành, BĐKH có thể làm cho các thiết kế thay đổi cũng như những giả định điều hành điều hành hoạt động trong các lĩnh vực Tầm quan trọng của những thay đổi như vậy phụ thuộc vào mức độ của BĐKH trong vòng đời của dự án và các mối quan tâm trong điều hành Nếu mức tăng đủ lớn, các điều kiện khí hậu giả định để thiết kế hoặc lập quy hoạch có thể không còn giá tri

3 Khả năng đáp ứng thông tin KTTV trong ứng phó với BĐKH

Khả năng đáp ứng thông tin KTTV được đánh giá theo ba loại thông tin : thông tin tức thời (mạng lưới quan trắc), thông tin dự báo và thông tin tư liệu (số liệu khí hậu) Các đánh giá đều có hai nội dung : đánh giá khả năng của khoa học công nghệ KTTV và khả năng đáp ứng ở nước ta

3.1 Thông tin tức thời (mạng lưới quan trắc)

Mạng lưới quan trắc khí tượng bề mặt là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu cho các yêu cầu khác nhau từ dự báo thời tiết đến các hoạt động kinh tế

xã hội Công nghệ quan trắc KTTV trong những năm gần đây đã có rất nhiều tiến bộ Các thiết bị đo đạc tự động hiện nay có thể đo đạc hầu hết các yếu tố trong quan trắc bề mặt, chỉ trừ một số yếu tố cần xác định bằng mắt thường như mây hoặc hiện tượng thời tiết

Đáng chú ý là các công nghệ quan trắc mới như quan trắc từ vệ tinh, đo gió cắt lớp, quan trắc bằng ra đa dople, quan trắc bằng GPS phát triển rất mạnh và là nguồn bổ sung số liệu cho mạng lưới quan trắc truyền thống (mặt đất và trên cao) rất thưa ở nhiều vùng, nhất là trên đại dương Các công nghệ quan trắc mới còn có khả năng đưa ra các hình ảnh ba chiều rất thuận tiện

Theo đánh giá, hiện nay số liệu trên cao trong các mô hình toàn cầu của Trung tâm dự báo hạn vừa châu Âu có tới 90% là nguồn số liệu đo đạc từ vệ tinh

Mạng lưới quan trắc khí tượng ở nước ta có 186 trạm, mật độ trạm khoảng 1.770 km2/trạm Mật độ trạm phân bố không đều, khu vực phía bắc,

từ đèo Hải Vân trở ra, có mật độ khoảng 1.540km2/trạm, phía nam khoảng 2.600 km2/trạm Khu vực đồng bằng Bắc Bộ có mật độ trạm khí tương bề mặt dày nhất, có những vùng, các trạm chỉ cách nhau khoảng 20 km, trong khi ở miền núi như Tây Nguyên số trạm còn ít, mật độ trạm chỉ khoảng 3.200km2/trạm Các trạm ven biển cũng còn quá thưa Dọc theo bờ biển dài 3.260km chỉ có 30 trạm khí tượng bề mặt, khoảng cách trung bình giữa hai trạm khoảng 110 km, có nơi khoảng cách giữa hai trạm tới 400 km

Mạng lưới trạm quan trắc thủy văn có 345 trạm, trong đó có 83 trạm đo

Trang 6

lưu lượng và mực nước, các trạm còn lại chỉ đo mực nước Các trạm quan trắc thủy văn chủ yếu nằm trên các sông và nhánh sông lớn phục vụ cho dự báo là chủ yếu Chỉ tiêu tối thiểu về mật độ trạm trên lưu vực sông, thường phải bố trí trạm đo dòng chảy tại các lưu vực có diện tích từ 100km2 trở lên, nhưng ở nước ta vẫn còn tới 178 phụ lưu có diện tích trên 200 km2, 45 phụ lưu có diện tích trên 500 km2, 17 phụ lưu có diện tích trên 1.000 km2 chưa có trạm

Mạng lưới trạm hải văn ở nước ta có 20 trạm khí tượng hải văn, gồm

12 trạm trên đảo, 7 trạm ven bờ và 1 trạm trên giàn khoan Mạng lưới trạm hải văn ven bờ như vậy chưa đủ dày để quan trắc các yếu tố như sóng, nước dâng do bão cũng như đáp ứng các yêu cầu kinh tế xã hội, nhất là các hoạt động thuỷ sản, hệ thống cảng biển với khoảng 80 cảng trên cả nước

Tại các trạm khí tượng thuỷ văn, phương pháp và thiết bị đo truyền thống chiếm phần lớn và đang được hiện đại hoá Dự kiến trong thời gian vài

ba năm tới, toàn bộ mạng lưới trạm quan trắc KTTV sẽ được tự động hoá

Mạng lưới quan trắc rada thời tiết ở nước ta hiện có 7 trạm đặt tại: Phủ Liến, Việt Trì, Vinh, Đông Hà, Tam Kỳ, Nha Trang, Nhà Bè bao phủ gần hết lãnh thổ nước ta Tuy nhiên để thực hiện đo mưa, đo gió hoặc quan trắc dông bán kinh hoạt động của ra đa thu hẹp đáng kể và sẽ không bao phủ cả nước

Hiện nay, Trung tâm dự báo KTTV TƯ thu nhận và sử dụng ảnh mây

từ nhiều vệ tinh khác nhau :

Ảnh mây vệ tinh địa tĩnh: vệ tinh MTSAT (Nhật); các vệ tinh FY-2C, 2D và 2E (Trung Quốc); các vệ tinh quỹ đạo cực NOAA (Mỹ), FY-1D, FY-1C, FY-1E (Trung Quốc) Ảnh vệ tinh MTSAT được sử dụng là chủ yếu từ nhiều năm nay, vệ tinh đang sử dụng là MTSAT – 2

3.2 Thông tin dự báo

Hiện nay, trong dự báo thời tiết có hai phương pháp chủ yếu đang được

sử dụng là: phương pháp truyền thống (phương pháp synop) và phương pháp

mô hình số

Mô hình số dự báo thời tiết là cốt lõi của các trung tâm dự báo thời tiết hiện đại Thông thường, một trung tâm sử dụng các mô hình khác nhau cho các mục tiêu khác nhau về thời hạn (hạn ngắn, hạn vừa), về hiện tượng (mưa, bão)

Các mô hình ở nhiều trung tâm dự báo tiên tiến hiện nay có độ phân giải theo chiều ngang dưới 10km Với mô hình số, một trung tâm dự báo mô hình số có thể chạy mô hình dự báo thời tiết cho bất kỳ địa điểm nào trên trái đất nằm trong miền dự báo của mô hình

Trang 7

Do bản chất phức tạp của khí quyển, các mô hình dự báo thường không đưa ra kết quả đúng như thực tế, nhiều khi chứa đựng những sai số rất lớn Để khắc phục những sai sót của dự báo bằng mô hình số, một số phương pháp đã được áp dụng:

 Xử lý thống kê sản phẩm của mô hình, hay còn gọi là xử lý thống kê sau mô hình (MOS) Bản chất của phương pháp này là tìm mối quan hệ giữa các yếu tố dự báo và yếu tố quan trắc được tại địa điểm cần dự báo trên cơ sở chuỗi số liệu dài hạn của cả hai yếu tố này

 Dự báo tổ hợp Điều kiện ban đầu có ý nghĩa quyết định đối với kết quả

dự báo Vì vậy, thay vì dự báo với một điều kiện ban đầu cố định, có thể sử dụng các điều kiện ban đầu khác nhau hoặc các điều kiện khác nhau để chạy mô hình Kết quả sẽ là một tập hợp các sản phẩm từ những điều kiện ban đầu khác nhau nên được thể hiện dưới dạng xác suất

Các phương pháp dự báo hiện đại có thể đưa ra dự báo chi tiết hàng giờ cho những khu vực nhỏ có phạm vi vài ba km

Dự báo thời tiết ở nước ta chủ yếu là phương pháp synop nhưng ở đây,

dự báo synop không chỉ sử dụng bản đồ thời tiết mà còn sử dụng nhiều công

cụ khác như ảnh mây vệ tinh, ảnh rađa thời tiết và cả các sản phẩm từ mô hình số

Hiện nay Trung tâm dự báo KTTV TƯ sử dụng 4 mô hình toàn cầu:

IFS (Integrated Forecast System) là mô hình toàn cầu dự báo thời tiết của Trung tâm dự báo hạn vừa châu Âu; GFS (Global Forecast System) là mô

hình toàn cầu dự báo thời tiết của Cục Thời tiết Mỹ; GSM (Global Spectral Model) là mô hình phổ toàn cầu của Cơ quan khí tượng Nhật Bản (JMA) và

ETA là mô hình toàn cầu dự báo thời tiết của Cục Thời tiết Mỹ Trung tâm dự

báo KTTV TƯ cũng đang sử dụng một mô hình khu vực HRM được chuyển giao từ Cơ quan khí tượng Đức

Ngoài ra, các phương pháp xử lý sau mô hình (MOS) và dự báo tổ hợp cũng đang được thử nghiệm

Sản phẩm dự báo thời tiết, ngoài dự báo hạn ngắn và hạn vừa có các dự báo tháng và mùa

Trong dự báo thuỷ văn, các mô hình khác nhau đang được sử dụng để dự báo thủy văn cho các lưu vực sông bao gồm: mô hình SSARR được áp dụng để

dự báo cho thượng lưu sông Hồng ở các tỉnh Yên Bái, Hòa Bình và Tuyên Quang ; mô hình thủy văn thông số tập trung TANK (Nhật Bản), NAM (Đan Mạch), FIRR (Viện Cơ) được sử dụng để dự báo cho sông Mã, sông Cả và sông Thu Bồn; mô hình thủy văn thông số phân bố MARINE (Pháp) cho lưu

Trang 8

vực sông Đà và sông Hương, WETSPA (Bỉ) cho hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn

Sản phẩm dự báo thuỷ văn cũng có các dự báo hạn ngắn, hạn vừa và các dự báo tháng và mùa

3.3 Thông tin tư liệu

Số liệu KTTV lịch sử là nguồn tư liệu có giá trị trong việc cung cấp thông tin KTTV cho các hoạt động ứng phó với BĐKH Khảo sát, đánh giá kho tư liệu KTTV lịch sử sẽ giúp xác định khả năng cung cấp thông tin KTTV

Số lượng của các trạm khí tượng bề mặt hiện nay là 186 trạm Số lượng của các trạm thủy văn là 345 trạm Các trạm có chuỗi số liệu dài nhất được thành lập từ cuối thế kỷ 19 Kết quả khảo sát cho thấy, trong số hơn 180 trạm khí tượng bề mặt, có 14 trạm có số liệu trên 100 năm, trong số các trạm thủy văn có 28 trạm có số liệu trên 100 năm

Do nhiều lý do, chủ yếu do chiến tranh, số liệu thực tế thu thập và lưu trữ được có biến động rất nhiều qua các năm Trước năm 1954, số lượng trạm khí tượng nhiều nhất là 34 trạm nhưng có thời gian chỉ có chưa đầy 10 trạm hoạt động Số lượng trạm phát triển mạnh nhất là sau năm 1854 và sau năm

1975 Sự biến động của số lượng trạm tạo ra sự bất đồng nhất của chuỗi số liệu, gây khó khăn trong việc chỉnh lý

4 Thiết kế hệ thống cung cấp thông tin KTTV

Để hạn chế những tác động tiêu cực của BĐKH việc xây dựng các giải pháp ứng phó ở các ngành và các địa phương là hết sức cần thiết và cần được tích hợp trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Xây dựng các giải pháp ứng phó với BĐKH là công việc phức tạp, đòi hỏi rất nhiều thông tin và công cụ khác nhau Các thông tin ở đây không chỉ là những thông tin KTTV mà cả về những thông tin về sự thay đổi của điều kiện xã hội và kinh tế trong mối quan

hệ tương tác với BĐKH cũng như những hiểu biết đã có và cả những điều chưa biết về những hiện tượng sẽ xảy ra

Hệ thống phục vụ thông tin KTTV đáp ứng các yêu cầu ứng phó với BĐKH sẽ có hai chức năng chính:

Phục vụ thông tin dự báo KTTV đáp ứng các yêu cầu phòng chống

thiên tai và ứng phó với BĐKH ngắn hạn Những yêu cầu này có thể là tăng mức độ chi tiết trong các dự báo, dự báo các thiên tai với cường độ lớn hơn và phạm vi rộng hơn Những yêu cầu cũng có thể về thời gian

dự báo Chẳng hạn, phải dự báo trước với thời hạn nhất định đối với một số thiên tai

Trang 9

Phục vụ khí hậu đáp ứng các yêu cầu ứng phó với BĐKH dài hạn Đáp

ứng các yêu cầu thông tin KTTV trong ứng phó với BĐKH dài hạn bao gồm cung cấp số liệu và dự báo khí hậu

Hai chức năng này được tổ chức thực hiện từ trung ương đến địa phương nhưng được phân cấp giữa trung ương và địa phương Mỗi cấp có sản phẩm và đối tượng phục vụ trong phạm vi trách nhiệm của mình

Chức năng phục vụ thông tin dự báo KTTV đã được thực hiện từ lâu với mục đích phòng chống thiên tai nên sẽ không đề cập ở đây Ở đây chủ yếu

đề cập đến phục vụ khí hậu

Thông tin phục vụ khí hậu sẽ bao gồm ba loại: Số liệu khí hậu (số liệu quá khứ), thông tin giám sát khí hậu, thông tin dự báo khí hậu

Các đơn vị ở TƯ bao gồm Trung tâm dự báo KTTV TƯ và Trung tâm

TT Tư liệu có chức năng phục vụ thông tin khí hậu cho các ngành và các Đài KTTV khu vực và Trung tâm KTTV tỉnh

Các sản phẩm phục vụ thông tin khí hậu:

 Số liệu khí hậu Một số số liệu đặc trưng được chỉnh lý (tính toán các đặc trưng thống kê và phân cấp) để phổ biến rộng rãi Số liệu khí hậu cung cấp theo yêu cầu là chính

 Thông tin giám sát khí hậu Toàn bộ số liệu quan trắc từ các trạm phải được cập nhật hàng tháng để tính toán các đặc trưng và đánh giá dao động khí hậu

 Dự báo khí hậu Các sản phẩm dự báo từ các mô hình khí hậu toàn cầu

đã hạ tỷ lệ Các sản phẩm này được cung cấp cho các địa phương và là căn cứ cho các địa phương dự báo khí hậu tại địa phương Trong tương lai, khi có mô hình dự báo khí hậu khu vực, cơ sở để dự báo khí hậu tại địa phương sẽ tốt hơn

Các đơn vị ở địa phương phục vụ khí hậu cho địa phương có sản phẩm

là các đặc trưng khí hậu địa phương, cập nhật đánh giá dao động khí hậu và một số hiện tượng như hạn hán

5 Sử dụng thông tin khí hậu

5.1 Tích hợp thông tin khí hậu trong quy hoạch

BĐKH có thời gian tác động khá dài so với khung thời gian 20 năm của hầu hết các quy hoạch khiến cho việc đánh giá tác động trở nên khó khăn Tác động của khí hậu đến quy hoạch chủ yếu là do các giá trị cực trị của các yếu

tố khí tượng đã vượt qua ngưỡng bình thường, vì vậy tác động của BĐKH đối

Trang 10

với quy hoạch hoặc thiết kế chủ yếu là do sự thay đổi các giá trị cực trị của các yếu tố khí tượng

Thay vì ước lượng chính xác tương đối các tác động tiềm tàng cần thiết cho nhiều khía cạnh của quy hoạch, ở đây cần có phạm vi đánh giá rộng hơn những gì các nhà khí hậu hiện nay có thể cung cấp Do có nhiều điều chưa chắc chắn khi đánh giá BĐKH, các nhà khí hậu có xu hướng chuyển sang xác định xác suất của các tác động tiềm tàng

Dự báo khí hậu và kịch bản BĐKH là một thành phần trong quá trình lập kế hoạch Tuy nhiên các kịch bản BĐKH hiện nay không cho biết chi tiết

sự thay đổi cụ thể của các điều kiện KTTV cần thiết cho người dùng Mặt khác, các dự báo khí hậu hoặc kịch bản BĐKH mang bản chất xác suất và luôn chứa những điều không chắc chắn Vì vậy để giải quyết những khó khăn này, có nhiều cách tiếp cận khác nhau đã được thực hiện, từ cách sử dụng kịch bản đến cách không sử dụng kịch bản

Trong phương pháp sử dụng kịch bản cần có mô hình/công cụ để “liên kết” các yếu tố hoặc điều kiện KTTV cần biết trong tương lai tại nơi cần thực hiện ứng phó với các yếu tố trong kịch bản Ở đây cần lưu ý, mỗi địa phương, mỗi yếu tố KTTV trong mỗi thời gian có đặc điểm riêng nên không thể có mô hình hoặc công cụ chung

Trong phương pháp không sử dụng kịch bản, số liệu KTTV trong quá khứ được sử dụng Tuy nhiên, số liệu ở đây có thể được xử lý bằng các phương pháp thống kê hoặc “nới rộng” bằng cách bổ sung thêm các số liệu quan trắc bằng các phương pháp gián tiếp

Đánh giá rủi ro là một phương pháp hoàn thiện và rất phát triển để xử

lý với các vấn đề bất định nhằm quản lý hiệu quả hơn Rủi ro được đưa vào tính toán trong thiết kế công trình được sử dụng khá rộng rãi hiện nay Chẳng hạn muốn thiết kế kích thước công trình tiêu thoát nước dựa trên xác suất cường độ mưa lớn xảy ra một lần trong 100 năm Tuy nhiên cách tiếp cận này không phù hợp trong điều kiện thích ứng với BĐKH Trước hết, các số liệu lịch sử quan trắc được không đủ bảo đảm tin cậy trong tương lai Thứ hai, chính các mối hiểm nguy cũng thay đổi cùng với thời gian nhưng ta còn chưa hiểu rõ những thay đổi này Sau cùng những nỗ lực giải quyết vấn đề bằng cách thiết kế với các tiêu chuẩn thật cao, chẳng hạn với xác suất mưa lớn xảy

ra một lần trong 500 năm, sẽ dẫn đến những chi phí hết sức tốn kém khó chấp nhận về chi phí

Về nguyên tắc, vẫn sử dụng cách xác định rủi ro này để đánh giá nguy

cơ của BĐKH gây ra đối với một hệ thống nhưng thay vì một khả năng ta sẽ

có nhiều khả năng từ các dự báo khí hậu đưa ra Ở đây cần lập danh mục những tác động có thể xảy ra do BĐKH gây ra trong khu vực cần đánh giá,

Ngày đăng: 20/10/2017, 11:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w