ĐẶT VẤN ĐỀ Tái chế phế liệu nói chung và tái chế kim loại nói riêng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Tái chế kim loại giúp giảm thiểu sử dụng tài nguyên, tạo việc làm, góp phần bảo tồn hệ sinh thái và tạo cơ hội cho phát triển bền vững [33]. Để thực hiện được những vai trò trên thì việc đảm bảo điều kiện lao động an toàn tại các khu vực tái chế kim loại là điều cần thiết. Vì điều kiện lao động đóng vai trò cốt lõi trong hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo an toàn cho người lao động và là tiền đề cho sự phát triển của xã hội [24]. Mặc dù có tầm quan trọng như vậy, nhưng thực tế hiện nay cho thấy điều kiện lao động tại cơ sở tái chế kim loại đang tồn tại nhiều yếu tố có hại và yếu tố nguy hiểm gây ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe người lao động. Tỷ lệ mẫu đo vi khí hậu vượt tiêu chuẩn tại làng Phù Ủng là 53,7% [28], số mẫu đo tiếng ồn vượt tiêu chuẩn tại làng Đại Bái là 90,9% [38], hàm lượng bụi toàn phần tại làng Tống Xá vượt tiêu chuẩn từ 1,1-4,6 lần [14]. Bên cạnh đó người lao động cũng phải làm việc với các loại máy và thiết bị không an toàn như các bộ phận truyền động không được che chắn hoặc không được bảo dưỡng định kỳ [12]. Trong khi đó đa số người lao động tái chế kim loại có trình độ học vấn chưa cao, thiếu hiểu biết về các qui định an toàn - vệ sinh lao động [8], [22]. Đồng thời nhiều cơ sở sản xuất, chính quyền địa phương chưa quan tâm và hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa cũng như hiệu quả của việc đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động [9], [31]. Đây là nguyên nhân góp phần làm gia tăng tình trạng bệnh tật và tai nạn lao động. Tỷ lệ người lao động làng Vân Chàng mắc bệnh hệ hô hấp lên tới 48% [25], có tới 38,9% người lao động làng Đồng Sâm bị bệnh về tâm thần kinh [54], tỷ lệ tai nạn lao động tại làng Văn Môn khoảng 75% [47]. Chính vì vậy việc đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động thông qua việc thực hiện các giải pháp cải thiện điều kiện lao động tại các làng nghề tái chế kim loại là vấn đề cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa thực tiễn và nhân đạo sâu sắc. Cho đến nay đã có nhiều giải pháp cải thiện điều kiện lao động được nghiên cứu và áp dụng vào thực tế. Kết quả áp dụng các giải pháp này tại các làng nghề đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc cải điều kiện lao động, đồng thời nâng cao nhận thức của người lao động về an toàn - vệ sinh lao động qua đó góp phần đảm bảo an toàn và nâng cao sức khỏe người lao động [12], [102]. Tuy nhiên tại Việt Nam hiện nay việc nghiên cứu cải thiện điều kiện lao động tại các làng nghề có quy mô nhỏ lẻ còn thiếu hụt. Bên cạnh đó hiệu quả của các giải pháp can thiệp đến sức khỏe người lao động chưa được phân tích rõ ràng. Làng nghề tái chế nhôm Bình Yên là một đơn vị hành chính thuộc xã Nam Thanh tỉnh Nam Định. Cho đến nay Bình Yên là làng nghề tái chế kim loại duy nhất của tỉnh Nam Định còn sản xuất theo hình thức hộ cá thể. Do công nghệ sản xuất lạc hậu, nguyên, nhiên liệu sản xuất phức tạp đã tạo ra nhiều yếu tố có hại và yếu tố nguy hiểm gây ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe người lao động. Tuy nhiên khoảng trống tri thức về điều kiện lao động và sức khỏe người lao động tại làng Bình Yên vẫn đang tồn tại. Vậy điều kiện lao động tại đây là như thế nào? Sức khỏe của người lao động ra sao? Liệu có cải thiện được vấn đề này không? Đáp án của các câu hỏi trên có thể giúp đánh giá được quy mô và nguyên nhân của vấn đề để từ đó đưa ra các giải pháp can thiệp phù hợp và khả thi nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao sức khỏe cho người lao động tại đây. Với ý nghĩa như trên, nghiên cứu này đã được tiến hành với 03 mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng điều kiện lao động tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên, xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. 2. Mô tả tình trạng sức khỏe, bệnh tật của người lao động làng nghề tái chế nhôm Bình Yên, xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. 3. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp cải thiện điều kiện lao động tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên, xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
ĐỖ MINH SINH
NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG, TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE, BỆNH TẬT CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHÔM BÌNH YÊN TỈNH NAM ĐỊNH
VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
THÁI BÌNH - 2017
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan điều kiện lao động và làng nghề 3
1.2 Thực trạng điều kiện lao động tại các làng nghề/cơ sở tái chế kim loại 7
1.3 Thực trạng sức khỏe, bệnh tật người lao động tái chế kim loại 15
1.4 Tổng quan một số giải pháp cải thiện điều kiện lao động phù hợp với loại hình sản xuất tái chế kim loại 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
2.2 Phương pháp nghiên cứu 36
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 59
3.1 Thực trạng điều kiện lao động tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên 59
3.2 Thực trạng sức khỏe, bệnh tật của người lao động 67
3.3 Kết quả can thiệp cải thiện điều kiện lao động 81
Chương 4: BÀN LUẬN 94
Trang 34.1 Thực trạng điều kiện lao động tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên xã Nam
Thanh huyện Nam Trực tỉnh Nam Định 94
4.2 Thực trạng sức khỏe, bệnh tật của người lao động tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên xã Nam Thanh huyện Nam Trực tỉnh Nam Định 105
4.3 Kết quả can thiệp cải thiện điều kiện lao động 118
4.4 Một số ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 126
KẾT LUẬN 129
KIẾN NGHỊ 131 DANH MỤC CÁC BÀI BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các biến số chính của mục tiêu mô tả điều kiện lao động 48
Bảng 2.2 Các biến số chính của mục tiêu mô tả tình trạng sức khỏe 49
Bảng 2.3 Các biến số chính của mục tiêu đánh giá hiệu quả can thiệp 50
Bảng 2 4 Mức độ cấp bách phải thực hiện các biện pháp điều chỉnh tư thế 52
Bảng 2 5 Giới hạn cho phép của vi khí hậu (QCVN 26:2016/BYT) 54
Bảng 2 6 Giới hạn cho phép của ánh sáng, độ ồn và bụi 54
Bảng 2 7 Giới hạn cho phép của hơi kim loại và khí độc 54
Bảng 3.1 Quy mô sản xuất của các hộ gia đình tại làng Bình Yên 59
Bảng 3.2 Một số đặc điểm của các hộ sản xuất tại làng Bình Yên 59
Bảng 3.3 Một số đặc điểm người lao động sản xuất tái chế nhôm (n=350) 60
Bảng 3.4 Thời gian làm việc và thu nhập của người lao động (n=350) 60
Bảng 3.5 Phân bố NLĐ theo nhóm tuổi đời, tuổi nghề, thời gian làm việc 61
Bảng 3.6 Thực trạng sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân của người lao động tái chế nhôm tại làng Bình Yên 61
Bảng 3.7 Cảm nhận gánh nặng lao động của người lao động (n=350) 62
Bảng 3.8 Đánh giá về gánh nặng tư thế của người lao động (n=350) 62
Bảng 3.9 Phân loại mức tư thế lao động theo OWAS (n = 404) 63
Bảng 3.10 Kết quả đo điều kiện vi khí hậu trong các cơ sở sản xuất 64
Bảng 3.11 Phân bố cường độ tiếng ồn và ánh sáng tại các cơ sở sản xuất 65
Bảng 3.12 Nồng độ bụi toàn phần và bụi hô hấp trong các cơ sở sản xuất 65
Bảng 3.13 Nồng độ một số hơi khí độc trong các cơ sở sản xuất 66
Bảng 3.14 Hàm lượng một số kim loại (mg/m3) trong các cơ sở sản xuất 66
Bảng 3.15 Phân loại sức khỏe người lao động theo giới tính 67
Trang 5Bảng 3.16 Phân loại sức khỏe người lao động theo nhóm tuổi đời 67
Bảng 3.17 Phân loại sức khỏe người lao động theo nhóm tuổi nghề 68
Bảng 3.18 Tình hình bệnh tật của người lao động theo giới tính 69
Bảng 3.19 Tình hình bệnh tật theo công đoạn sản xuất 70
Bảng 3.20 Tình hình bệnh tật của người lao động theo tuổi đời 70
Bảng 3.21 Tình hình bệnh tật của người lao động theo tuổi nghề 71
Bảng 3.22 Tình hình bệnh tật theo thời gian làm việc trong ngày 71
Bảng 3.23 Mô hình hồi quy logistic mô tả nguy cơ mắc bệnh của người lao động với các yếu tố liên quan 72
Bảng 3.24 Phân loại mức độ thấm nhiễm chì máu của người lao động 73
Bảng 3.25 Thực trạng thấm nhiễm chì theo công đoạn sản xuất 73
Bảng 3.26 Thực trạng thấm nhiễm chì của người lao động theo giới tính 74
Bảng 3.27 Thực trạng thấm nhiễm chì của người lao động theo tuổi đời 74
Bảng 3.28 Thực trạng thấm nhiễm chì theo thời gian làm việc trong ngày 75
Bảng 3.29 Thực trạng thấm nhiễm chì của người lao động theo tuổi nghề 75
Bảng 3.30 Mô hình hồi quy logistic mô tả nguy cơ thấm nhiễm chì của người lao động với các yếu tố liên quan 76
Bảng 3.31 Phân loại tai nạn lao động theo thời gian làm việc trong ngày 77
Bảng 3.32 Phân loại tình trạng tai nạn lao động theo tuổi nghề 78
Bảng 3.33 Phân bố tính chất tổn thương theo công đoạn (n=350) 79
Bảng 3.34 Phân bố nguyên nhân gây tai nạn theo công đoạn sản xuất 80
Bảng 3.35 Kết quả cải thiện “Mang vác và vận chuyển nguyên vật liệu” 81
Bảng 3.36 Kết quả cải thiện “Đảm bảo an toàn máy” 81
Bảng 3.37 Kết quả cải thiện “Thiết kế nơi làm việc” 82
Trang 6Bảng 3.38 Kết quả cải thiện trong nhóm “Môi trường lao động” 82
Bảng 3.39 Kết quả cải thiện “Cơ sở phúc lợi và Tổ chức công việc” 83
Bảng 3.40 Thay đổi mức độ tư thế giữa trước và sau can thiệp (n=404) 84
Bảng 3.41 Cảm nhận của người lao động về tình trạng mệt mỏi (n=73) 85
Bảng 3.42 Kết quả cải thiện tình trạng mệt mỏi theo thang đo FAS (n=73) 86
Bảng 3.43 Tình trạng đau mỏi cơ, xương của người lao động (n=73) 87
Bảng 3.44 Phân loại tai nạn lao động trước và sau can thiệp 88
Bảng 3.45 Phân bố tính chất tổn thương do tai nạn lao động 88
Bảng 3.46 Phân bố nguyên nhân gây tai nạn lao động 89
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân loại mức tư thế bằng OWAS theo công đoạn (n=404) 63
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ mẫu đo vi khí hậu không đạt tại các công đoạn 64
Biểu đồ 3.3 Tình hình bệnh tật của người lao động (n=350) 68
Biểu đồ 3.4 Một số bệnh phổ biến ở người lao động tái chế nhôm (n=350) 69
Biểu đồ 3.5 Phân loại tình trạng tai nạn lao động theo công đoạn (n=350) 77
Biểu đồ 3.6 Phân bố tính chất tổn thương do tai nạn lao động (n=350) 78
Biểu đồ 3.7 Phân loại nguyên nhân gây TNLĐ tại làng Bình Yên (n=350) 80
Biểu đồ 3.8 Kết quả cải thiện điều kiện lao động phân nhóm theo WISH 83
Biểu đồ 3 9 Kết quả giảm gánh nặng tư thế lao động theo OWAS 84
Biểu đồ 3 10 Phân bố tình trạng mệt mỏi trước và sau can thiệp 86
Biểu đồ 3 11 Tần suất xảy ra tai nạn lao động của người lao động (n=73) 87
Trang 8DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu (mô phỏng theo mô hình Lalonde) 32 Hình 2.1 Sơ đồ quy trình tái chế nhôm tại làng Bình Yên 35Hình 2 2 Sơ đồ tóm tắt Quy trình can thiệp cải thiện điều kiện lao động 46Hình 2 3 Quá trình thay đổi hành vi cải thiện điều kiện lao động theo mô hình
“Lý thuyết về quá trình thay đổi hành vi” 47Hình 2.4 Sơ đồ quy trình triển khai nghiên cứu 58
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Tái chế phế liệu nói chung và tái chế kim loại nói riêng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia Tái chế kim loại giúp giảm thiểu sử dụng tài nguyên, tạo việc làm, góp phần bảo tồn hệ sinh thái và tạo cơ hội cho phát triển bền vững [33] Để thực hiện được những vai trò trên thì việc đảm bảo điều kiện lao động an toàn tại các khu vực tái chế kim loại là điều cần thiết Vì điều kiện lao động đóng vai trò cốt lõi trong hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo an toàn cho người lao động và là tiền đề cho sự phát triển của xã hội [24] Mặc dù có tầm quan trọng như vậy, nhưng thực tế hiện nay cho thấy điều kiện lao động tại cơ sở tái chế kim loại đang tồn tại nhiều yếu tố có hại và yếu
tố nguy hiểm gây ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe người lao động Tỷ lệ mẫu
đo vi khí hậu vượt tiêu chuẩn tại làng Phù Ủng là 53,7% [28], số mẫu đo tiếng
ồn vượt tiêu chuẩn tại làng Đại Bái là 90,9% [38], hàm lượng bụi toàn phần tại làng Tống Xá vượt tiêu chuẩn từ 1,1-4,6 lần [14] Bên cạnh đó người lao động cũng phải làm việc với các loại máy và thiết bị không an toàn như các bộ phận truyền động không được che chắn hoặc không được bảo dưỡng định kỳ [12] Trong khi đó đa số người lao động tái chế kim loại có trình độ học vấn chưa cao, thiếu hiểu biết về các qui định an toàn - vệ sinh lao động [8], [22] Đồng thời nhiều cơ sở sản xuất, chính quyền địa phương chưa quan tâm và hiểu
rõ về mục đích, ý nghĩa cũng như hiệu quả của việc đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động [9], [31] Đây là nguyên nhân góp phần làm gia tăng tình trạng bệnh tật và tai nạn lao động Tỷ lệ người lao động làng Vân Chàng mắc bệnh hệ hô hấp lên tới 48% [25], có tới 38,9% người lao động làng Đồng Sâm bị bệnh về tâm thần kinh [54], tỷ lệ tai nạn lao động tại làng Văn Môn khoảng 75% [47] Chính vì vậy việc đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động thông qua việc thực hiện các giải pháp cải thiện điều kiện lao động tại các làng nghề tái chế kim loại là vấn đề cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa thực tiễn và nhân đạo sâu sắc
Trang 10Cho đến nay đã có nhiều giải pháp cải thiện điều kiện lao động được nghiên cứu và áp dụng vào thực tế Kết quả áp dụng các giải pháp này tại các làng nghề đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc cải điều kiện lao động, đồng thời nâng cao nhận thức của người lao động về an toàn - vệ sinh lao động qua
đó góp phần đảm bảo an toàn và nâng cao sức khỏe người lao động [12], [102] Tuy nhiên tại Việt Nam hiện nay việc nghiên cứu cải thiện điều kiện lao động tại các làng nghề có quy mô nhỏ lẻ còn thiếu hụt Bên cạnh đó hiệu quả của các giải pháp can thiệp đến sức khỏe người lao động chưa được phân tích rõ ràng Làng nghề tái chế nhôm Bình Yên là một đơn vị hành chính thuộc xã Nam Thanh tỉnh Nam Định Cho đến nay Bình Yên là làng nghề tái chế kim loại duy nhất của tỉnh Nam Định còn sản xuất theo hình thức hộ cá thể Do công nghệ sản xuất lạc hậu, nguyên, nhiên liệu sản xuất phức tạp đã tạo ra nhiều yếu tố có hại và yếu tố nguy hiểm gây ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe người lao động Tuy nhiên khoảng trống tri thức về điều kiện lao động và sức khỏe người lao động tại làng Bình Yên vẫn đang tồn tại Vậy điều kiện lao động tại đây là như thế nào? Sức khỏe của người lao động ra sao? Liệu có cải thiện được vấn đề này không? Đáp án của các câu hỏi trên có thể giúp đánh giá được quy mô và nguyên nhân của vấn đề để từ đó đưa ra các giải pháp can thiệp phù hợp và khả thi nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao sức khỏe cho người lao động tại đây Với ý nghĩa như trên, nghiên cứu này đã được tiến hành với 03 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng điều kiện lao động tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên,
xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
2 Mô tả tình trạng sức khỏe, bệnh tật của người lao động làng nghề tái chế nhôm Bình Yên, xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
3 Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp cải thiện điều kiện lao động tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên, xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan điều kiện lao động và làng nghề
1.1.1 Khái niệm và các yếu tố của điều kiện lao động
1.1.1.1 Khái niệm điều kiện lao động
“Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về kinh tế, xã hội, tổ chức, kỹ thuật, tự nhiên thể hiện qua quá trình công nghệ, dụng cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lại giữa chúng trong không gian và thời gian nhất định tạo nên những điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản xuất” [10]
1.1.1.2 Các yếu tố của điều kiện lao động
Có nhiều cách để phân chia các yếu tố cấu thành điều kiện lao động, tuy nhiên dựa trên cơ sở hình thành và những ảnh hưởng của các yếu tố đến cơ thể con người, có thể chia điều kiện lao động (ĐKLĐ) thành các nhóm sau [41]:
Các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, xã hội, tự nhiên và văn hóa:
Các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động (máy, thiết bị, công cụ, nhà xưởng, nguyên nhiên vật liệu, ) Các yếu tố liên quan đến tính chất của quá trình lao động (thể lực hay trí óc, thủ công, cơ giới, tự động ) Các yếu tố liên quan đến lao động (trình độ tay nghề, thu nhập, học vấn, tuổi đời, tuổi nghề, …)
Các yếu tâm sinh lý lao động và Ecgônômi: mức chịu tải, nhịp điệu lao
động của cơ bắp, mức tiêu hao năng lượng, biến đổi sinh lý, sinh hóa của cơ thể, căng thẳng thần kinh, thời gian làm việc ca kíp, tư thế lao động (TTLĐ)…
Môi trường lao động: vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió); vật lý (bức
xạ nhiệt, ánh sáng, tiếng ồn, rung, phóng xạ, điện từ trường); hóa học (bụi, hơi khí độc hại); vi sinh vật (vi khuẩn, nấm )
Trang 121.1.1.3 Một số khái niệm liên quan
An toàn lao động (ATLĐ) là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu
tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động [39]
Ecgônômi là khoa học nghiên cứu về giải phẫu, tâm sinh lý con người trong môi trường lao động nhằm tìm ra các giải pháp tối ưu hóa hiệu quả lao động, an toàn, sức khỏe và sự tiện lợi, nhẹ nhàng, thoải mái trong công việc và khi vui chơi Môn khoa học này đòi hỏi một sự nghiên cứu có hệ thống các tác động qua lại giữa con người, máy, thiết bị và môi trường nhằm mục đích làm cho công việc phù hợp với con người [10]
Yếu tố nguy hiểm là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động Yếu tố có hại là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động [39]
Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động [39]
Phương tiện bảo vệ cá nhân là những dụng cụ, phương tiện cần thiết mà người lao động phải được trang bị để sử dụng trong khi làm việc hoặc thực hiện nhiệm vụ để bảo vệ cơ thể khỏi tác động của các yếu tố nguy hiểm, độc hại phát sinh trong quá trình lao động, khi các giải pháp công nghệ, thiết bị, kỹ thuật an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc chưa thể loại trừ hết [39]
Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá trình lao động [39]
Vi khí hậu là trạng thái lý học của không khí trong khoảng không gian thu hẹp của nơi làm việc bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và tốc
độ vận chuyển của không khí [10]
Trang 13Các yếu tố vệ sinh lao động bao gồm yếu tố vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ chuyển động của không khí); vật lý (bức xạ nhiệt, ánh sáng, tiếng ồn, rung, phóng xạ, điện từ trường); hóa học; vi sinh vật; tâm sinh lý lao động và Ecgônômi; và các yếu tố khác trong môi trường lao động [5]
1.1.2 Tổng quan về làng nghề Việt Nam
1.1.2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề Việt Nam
Làng nghề là một trong những đặc trưng gắn liền với sự phát triển của nông thôn Việt Nam Hầu hết các làng nghề truyền thống đã được hình thành
và trải qua quá trình phát triển hàng trăm năm, song song với quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại các vùng nông thôn Các ghi chép cho thấy làng đúc đồng Đại Bái có lịch sử trên 900 năm, làng gốm Bát Tràng là 500 năm, làng chạm bạc Đồng Sâm cũng có niên đại trên 400 năm [4]
Sự ra đời của các làng nghề là do nhu cầu giải quyết lao động trong lúc nông nhàn nhằm sản xuất ra các sản phẩm phục vụ sinh hoạt hàng ngày hoặc là sản xuất nông nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, ngày nay bên cạnh các làng nghề truyền thống có rất nhiều làng nghề mới đã hình thành và phát triển rộng khắp trên cả nước, trong đó chủ yếu tập trung ở vùng Đồng bằng sông Hồng Từ chỗ chỉ sản xuất ra các sản phẩm phục vụ cho người dân trong làng, đến nay sản phẩm của các làng nghề đã đáp ứng được hầu hết các nhu cầu của nền kinh tế thị trường [4], [42]
1.1.2.2 Khái niệm và phân loại làng nghề
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006) “Làng nghề là một
hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông
thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [3]
Trang 14Có nhiều cách khác nhau để phân loại làng nghề, tuy nhiên trên cơ sở tiếp cận vấn đề về môi trường làng nghề thì cách phân loại làng nghề theo ngành sản xuất và loại hình sản xuất là phù hợp hơn cả Theo đó làng nghề được phân chia thành 6 nhóm ngành chính và mỗi nhóm chính lại có các nhóm nhỏ khác nhau [4]: (i) Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ; (ii) Làng nghề nhuộm, ươm tơ, thuộc da; (iii) Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá; (iv) Làng nghề tái chế phế liệu (trong đó có nhóm làng nghề cơ khí); (v) Làng nghề thủ công mỹ nghệ; (vi) Các nhóm ngành khác: chế tạo công cụ thô sơ, mộc gia dụng, …
1.1.2.3 Vai tro ̀ của làng nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Sự phát triển của làng nghề đã đáp ứng hầu hết nhu cầu cơ bản và thiết
yếu của người dân ở nông thôn, có tác động tích cực đến sản xuất nông nghiê ̣p, phu ̣c vu ̣ sản xuất nông nghiê ̣p và phu ̣c vụ đời sống của người dân [56] Góp phần giải quyết việc làm tại chỗ, lao động lúc nông nhàn, lao động khuyết tật, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo Sự phát triển các làng nghề cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng kết cấu ha ̣ tầng kinh tế-xã hô ̣i nông thôn, nâng cao trình đô ̣ văn hóa, dân trí, đổi mới nông thôn, đồng thời bảo tồn được các giá trị văn hóa dân tộc [13], [33], [56]
1.1.2.4 Ca ́ c thách thức trong quá trình phát triển của làng nghề
Phần lớn công nghê ̣ và kỹ thuâ ̣t được áp du ̣ng cho sản xuất ta ̣i làng nghề
còn la ̣c hâ ̣u, năng suất lao đô ̣ng thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của thi ̣ trường, tính ca ̣nh tranh rất ha ̣n chế [8] Bên cạnh đó
do công nghê ̣ sản xuất la ̣c hâ ̣u, hiê ̣u quả sử du ̣ng nhiên liê ̣u thấp, mă ̣t bằng sản xuất chật hẹp, viê ̣c đầu tư cho các hê ̣ thống xử lý nước thải, khí thải, chất thải
rắn chưa được quan tâm kết hợp với ý thức bảo vê ̣ môi trường của người dân
còn chưa cao vì vâ ̣y hoa ̣t đô ̣ng sản xuất ta ̣i các làng nghề đã ta ̣o ra nhiều hê ̣ lu ̣y cho môi trường và sức khỏe người dân sống trong vùng làng nghề [63]
Trang 151.1.2.5 Đặc điểm cu ̉ a làng nghề tái chế kim loại
Nhóm làng nghề tái chế chất thải, trong đó có tái chế kim loại là nhóm ngành mới được hình thành, tuy nhiên lại phát triển khá nhanh cả về quy mô và loại hình Trước đây sản phẩm chủ yếu của nhóm làng nghề này là sản xuất các dụng cụ phục vụ nông nghiệp như cày, bừa, cuốc, xẻng Tuy nhiên đến nay nhóm làng nghề này đã có những bước phát triển mạnh mẽ Đã có thêm rất nhiều loại hình sản xuất mới xuất hiện, như đúc nhôm, đúc đồng, cán kéo sắt, thép, tạo hình sản phẩm cho các ngành công nghiệp sản xuất khác nhau… [8] Với đặc điểm chung là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, trình độ công nghệ lạc hậu, nguyên, nhiên liệu sản xuất phức tạp, vấn đề an toàn vệ sinh lao động chưa được quan tâm đúng mức đã tạo nhiều yếu tố có hại và yếu tố nguy hiểm gây ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe người lao động Quá trình nấu chảy kim loại,
ủ và tháo dỡ khuôn đúc có thể tạo ra bụi và các khí độc hại Quá trình tẩy rửa, làm sạch bề mặt và mạ kim loại có thể phát sinh hơi kiềm, hơi axit…
1.2 Thực trạng điều kiện lao động tại các làng nghề/cơ sở tái chế kim loại
1.2.1 Điều kiện lao động tại các cơ sở tái chế kim loại trên thế giới
1.2.1.1 Các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, xã hội, tự nhiên và văn hóa
Các nghiên cứu trước đây tại các quốc gia có tồn tại hình thức sản xuất tái chế kim loại (TCKL) đặc biệt là ở các quốc gia kém và đang phát triển cho thấy một bức tranh chung đó là công nghệ và trình độ kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu Người lao động (NLĐ) phải làm việc trong điều kiện nguy hiểm và tiếp xúc với nhiều yếu tố độc hại nhưng lại thiếu hụt các phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN) [76], [93] Nhiều khâu trong quá trình sản xuất NLĐ phải thao tác trực tiếp bằng tay [78], [94], bên cạnh đó họ cũng không được cung cấp các thiết bị hỗ trợ nâng nhấc các vật nặng để làm việc [84] Điều này tạo ra nhiều yếu tố nguy hiểm và yếu tố có hại gây ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe NLĐ
Trang 16Trong khi đó, trình độ học vấn của NLĐ tại các khu vực TCKL hầu hết đều rất thấp, đặc biệt là ở các quốc gia kém và đang phát triển Có tới 48,3% NLĐ ở Kusami-Ghana là không có giáo dục chính thức [76], con số này tại làng Freetown - Sierra Leone còn lên tới 58% [86] Tỷ lệ NLĐ thất học tại một
số cơ sở TCKL ở Mumbai - Ấn Độ là 36% [93] và ở Pakistan là 58% [94] Thời gian lao động trong ngày của NLĐ đều rất dài từ 9-12giờ/ngày NLĐ TCKL ở Mumbai-Ấn Độ phải làm việc từ 8h-19h hàng ngày [93] Tại Lagos-Nigeria NLĐ phải làm việc trung bình từ 255-285 giờ/tháng [71] Mặc dù thời gian làm việc rất dài, nhưng thu nhập của NLĐ lại không cao như kỳ vọng Có đến 72% NLĐ tại Kusami-Ghana cho rằng thu nhập của họ không đủ để chăm sóc gia đình [76] Thu nhập bình quân của NLĐ tại Mumbai - Ấn Độ và Freetown-Siera Leon chỉ khoảng 0,44-3,68USD/giờ lao động [86], [93]
Sử dụng các PTBVCN khi làm việc là một trong những giải pháp để hạn chế TNLĐ Các báo cáo về vấn đề này cho thấy tại các quốc gia phát triển tỷ lệ NLĐ TCKL có sử dụng các PTBVCN khi làm việc là tương đối tốt [75] Tuy nhiên tại các quốc gia kém và đang phát triển tỷ lệ NLĐ có sử dụng PTBVCN còn rất thấp [76], [86], [94] Nguyên nhân một phần là do không được chủ sử dụng lao động cung cấp [93] hoặc do việc sử dụng PTBVCN cản trở việc thực hiện thao tác khi làm việc [76]
Hợp đồng lao động là một trong những văn bản quan trọng để đảm bảo quyền lợi cho NLĐ Tuy nhiên thực tế cho thấy tỷ lệ NLĐ được ký hợp đồng
là không cao [71], thậm chí không có hợp đồng và có thể bị sa thải bất cứ lúc nào [93] Chính vì không có hợp đồng lao động nên việc đảm bảo các chế độ phúc lợi xã hội của NLĐ còn hạn chế đặc biệt là ở các quốc gia kém và đang phát triển Họ không được hỗ trợ mua bảo hiểm y tế hay bảo hiểm xã hội [71], [76] Nếu bị TNLĐ hoặc bị ốm, đau thì NLĐ chỉ được trả một phần chi phí rất thấp cho các điều trị ban đầu [93]
Trang 171.2.1.2 Các yếu tố tâm sinh lý lao động và Ecgônômi
Các báo cáo trước đây về vấn đề này cho thấy người lao động tại các cơ
sở tái chế kim loại thường phải làm việc với gánh nặng lao động (GNLĐ) rất lớn Nhiều NLĐ cho rằng công việc họ làm là quá nặng nhọc [71], hoặc phải làm quá nhiều việc trong ngày, công việc quá phức tạp, công việc cần sự tập trung tinh thần cao độ [84] Bên cạnh đó NLĐ cũng thường phải nâng nhấc các vật nặng khi làm việc mà lại thiếu thiết bị hỗ trợ [105], [113]
Sử dụng phương pháp Rapid upper limb assessment - RULA để đánh giá
tư thế NLĐ tại các cơ sở TCKL ở Ấn Độ cho kết quả NLĐ TCKL phải làm với nhiều tư thế lao động (TTLĐ) cực kỳ bất lợi và cần phải cải thiện nhanh chóng
để hạn chế các nguy cơ tới sức khỏe [72] Nghiên cứu trên NLĐ TCKL ở Maharashtra (Ấn Độ) với phương pháp Rapid entire body assessment - REBA nhận thấy có tới 53% TTLĐ ở mức cần cải thiện càng sớm càng tốt và 33% TTLĐ ở mức cần thiết cải thiện [72] Đánh giá TTLĐ của NLĐ TCKL tại Trung Quốc bằng phương pháp OWAS (Hệ thống phân tích tư thế làm việc theo Ovako) cho thấy có tới 63% các TTLĐ là bất lợi [133]
Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp khảo sát Ecgônômi để đánh giá gánh nặng lao động và gánh nặng TTLĐ, nhiều nghiên cứu cũng đã sử dụng phương pháp tự đánh giá của NLĐ về tư thế lao động của họ Kết quả cho thấy nhiều NLĐ cho rằng TTLĐ của họ là không thoải mái hoặc họ phải làm việc với tốc độ quá nhanh và với nhiều động tác lặp đi lặp lại [78], [113]
1.2.1.3 Các yếu tố môi trường lao động
Kết quả nghiên cứu tại các khu vực tái chế kim loại đã chỉ ra rằng NLĐ TCKL thường phải làm việc trong điều kiện vi khí hậu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh lao động (TCVSLĐ) Tại khu vực tái chế kim loại Agbogbloshie (Ghana)
có tới 45,6% NLĐ cho rằng họ phải làm việc trong điều kiện môi trường vật lý
Trang 18không phù hợp [77] Quan trắc tại một số cơ sở TCKL ở Latvia cho kết quả có tới 72% mẫu đo có tốc độ chuyển động của không khí không đạt tiêu chuẩn vệ sinh lao động [108] Nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy độ ẩm không khí trung bình trong một số cơ sở tái chế kim loại chỉ là 68% [75]
Không chỉ phải làm việc trong điều kiện vi khí hậu bất lợi, NLĐ TCKL cũng đang phải làm việc trong môi trường có nhiệt độ không đảm bảo Hoặc là phải làm việc trong môi trường có nhiệt độ cao hơn TCVSLĐ [75], [108] hoặc phải làm việc trong môi trường nhiệt độ thấp hơn TCVSLĐ [78] Làm việc trong cả hai môi trường trên đều có thể gây ảnh hưởng bất lợi tới sức khỏe Vấn đề chiếu sáng tại các cơ sở TCKL cũng chưa được thực hiện tốt Quan trắc tại một số cơ sở ở Latvia cho kết quả có tới 54% số mẫu đo có cường độ chiếu sáng thấp hơn TCVSLĐ [108] Tại Pinche (Hồng Kông) mặc dù tại thời điểm đo 100% số mẫu đều đạt TCVSLĐ Tuy nhiên các tác giả cho rằng nếu được quan trắc vào thời điểm thời tiết xấu (nhiều mây, có mưa) thì cường độ ánh sáng sẽ giảm đi rất nhiều vì hệ thống chiếu sáng nhân tạo ở đây được lắp đặt rất đơn giản lại không được bảo trì thường xuyên [78]
Tình trạng ô nhiễm tiếng ồn cũng đang diễn ra khá nghiêm trọng ở các khu vực TCKL Cường độ tiếng ồn đo được tại Pin Che - Hồng Kông hầu hết đều vượt TCVSLĐ [78] Tại Latvia tỷ lệ số mẫu đo có cường độ vượt TCVSLĐ tại một cơ sở cơ khí là 34% [108], con số này tại một số cơ sở sản xuất nhôm ở Bosnia và Herzegovina còn lên tới 78,4% [81]
Với đặc điểm là sử dụng nguồn nguyên liệu là than đá và nhiên liệu là kim loại phế thải nên hoạt động TCKL thải ra môi trường nhiều bụi và hơi, khí độc hại Nghiên cứu tại Thượng Hải (Trung Quốc) cho thấy nồng độ bụi PM2,5 trong không khí vùng làm việc ở các cơ sở TCKL từ 252,2-290,8 µg/m3 cao hơn 3 lần so với nồng độ ở môi trường xung quanh [85] Điều tra tại Kenya cho thấy hàm lượng chì trong không khí cao hơn TCVSLĐ từ 2,5-3,7 lần [132] Tình
Trang 19trạng tương tự cũng được mô tả tại các quốc gia phát triển như Thụy Điển [97] Bên cạnh đó nồng độ các khí độc như NOx, CO, CO2, SOx cũng đã vượt TCVSLĐ ở rất nhiều cơ sở TCKL Nghiên cứu tại làng Uy O - Nigieria cho kết quả nồng độ SOx từ 0,04 -0,6ppm; nồng độ NOx từ 0,1-0,5ppm; nồng độ CO2
từ 0,1- 0,6ppm; nồng độ CO từ 0,01-0,7ppm đều cao hơn so với tiêu chuẩn cho phép của WHO [83]
Qua việc tổng quan các nghiên cứu trước đây cho thấy, tình trạng ô nhiễm môi trường lao động đang diễn ra khá phổ biến tại các cơ sở TCKL trên thế giới
kể cả ở các quốc gia đang phát triển cũng như các quốc gia phát triển Thực trạng trên cho thấy rằng, điều kiện làm việc tại khu vực này đang có nhiều yếu
tố nguy hiểm và yếu tố có hại gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe NLĐ và cần phải được quản lý
1.2.2 Điều kiện lao động tại các làng nghề tái chế kim loại ở Việt Nam
1.2.2.1 Các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, xã hội, tự nhiên và văn hóa
Cũng giống như các làng nghề ở Việt Nam, nhóm làng nghề TCKL có đặc điểm là quy mô sản xuất nhỏ hoặc rất nhỏ, phân tán, chỗ ở và chỗ sản xuất nằm cùng trong khuôn viên hộ gia đình, mặt bằng sản xuất hạn chế [8], [27] Trình
độ kỹ thuật hầu hết ở dạng thủ công, bán cơ khí [4], [30] Thực trạng trên đã dẫn đến việc quản lý nhà nước về hoạt động của làng nghề vốn đã rất khó khăn nay lại càng khó khăn hơn do quy mô sản xuất không ngừng được mở rộng Nguyên liệu sử dụng để sản xuất của nhóm làng nghề TCKL rất đa dạng như sắt vụn, thép phế liệu, Do công nghệ và trình độ sản xuất còn lạc hậu nên hiệu quả sử dụng nguyên nhiên liệu thấp, tạo ra nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường [8] Lượng phát sinh chất thải rắn tại làng nghề Đa Sỹ - Hà Nội là 0,8 tấn/ngày; làng Bình Yên tỉnh Nam Định là 39,59 tấn/tháng [31]
Trang 20Hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh tại các làng nghề TCKL nói riêng
và làng nghề Việt Nam nói chung đã có nhiều thay đổi Trước đây hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh truyền thống phổ biến nhất là hình thức hộ gia đình Tuy nhiên, hiện nay đã có nhiều hình thức mới được hình thành và phát triển
để đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới như: tổ sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần [8]
Chất lượng lao động và trình độ chuyên môn kỹ thuật của NLĐ tại các làng nghề TCKL nói chung còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông NLĐ hầu hết không được đào tạo qua trường lớp mà được đào tạo qua hình thức cầm tay chỉ việc, cha truyền con nối [8], [22], [57], tự học, chủ cơ sở hướng dẫn, tỷ lệ NLĐ có chứng chỉ đào tạo nghề rất thấp [67] Người lao động TCKL cũng thường xuyên phải làm việc với thời gian dài trong ngày đa số từ 8-10h/ngày (thậm chí 12h/ngày [52]) Ngoài ra do đa số NLĐ không có hợp đồng lao động nên thời gian làm việc tùy thuộc vào yêu cầu của chủ cơ sở [38], [52]
Việc thực hiện các chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường tại các làng nghề nói chung và làng nghề tái chế kim loại còn chậm trễ Việc quán triệt và triển khai các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường tới chính quyền địa phương cấp huyện, cấp xã và đặc biệt là các hộ, cơ sở sản xuất tại làng nghề còn chưa được quan tâm thực hiện đúng mức Nhiều hộ, cơ sở sản xuất cũng như chính quyền địa phương không hiểu hoặc hiểu chưa đúng về quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân mình trong công tác bảo vệ môi trường [9], [31], [36]
1.2.2.2 Các yếu tố tâm sinh lý lao động và Ecgônômi
Với đặc điểm chủ yếu là sản xuất nhỏ lẻ theo hộ gia đình, công nghệ sản xuất mang tính thủ công và bán tự động nên người lao động tại các làng nghề tái chế kim loại thường phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc và có nhiều yếu tố bất lợi gây ra mệt mỏi và căng thẳng trong quá trình làm việc [52]
Trang 21Nghiên cứu tại làng Vân Chàng tỉnh Nam Định cho kết quả có tới 63,3% NLĐ cho rằng họ bị căng thẳng thần kinh quá mức trong quá trình làm việc [30], con số này tại làng Văn Môn tỉnh Bắc Ninh lên tới 71,3% [52] Không chỉ phải làm quá nhiều việc, với tính chất công việc nặng nhọc, NLĐ tái chế kim loại cũng cho rằng họ phải làm việc trong môi trường có nhiều yếu tố nguy cơ gây mất an toàn và ảnh hưởng tới sức khỏe của họ [30], [52], [53]
Khảo sát tư thế lao động (TTLĐ) cũng được đề cập đến nhiều trong các nghiên cứu trước đây tại các làng nghề TCKL Nghiên cứu tại làng Xuân Tiến cho thấy có tới 61,4% NLĐ phải thường xuyên phải xoay/nghiêng người; 89,7% NLĐ phải thường xuyên phải cúi gập đầu khi làm việc [12] Thực trạng trên cũng có điểm tương đồng như ở các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm [23], dệt may [35], [34], da giầy [64] và thủ công mỹ nghệ [7]
Sử dụng phương pháp OWAS để đánh giá gánh nặng TTLĐ cho NLĐ tại làng Xuân Tiến tỉnh Nam Định đã xác định được 2,9% tư thế ở mức có hại rõ ràng cần có ngay các giải pháp điều chỉnh, 49,2% tư thế ở mức gây căng thẳng đáng kể cần một giải pháp điều chỉnh trong tương lai gần [12] Bên cạnh đó NLĐ tại nhiều làng nghề TCKL cũng khai báo rằng họ phải làm việc với nhiều công việc có tính chất đơn điệu, lặp đi, lặp lại [38], [52]
1.2.2.3 Các yếu tố môi trường lao động
Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam về môi trường lao động (MTLĐ) cho thấy tình trạng ô nhiễm đang diễn ra khá phổ biến tại các làng nghề TCKL Nghiên cứu điều kiện vi khí hậu tại làng nghề Phù Ủng tỉnh Hưng Yên cho thấy
có tới 53,7% số mẫu quan trắc không đạt TCVSLĐ [28] Tại làng Xuân Tiến tỉnh Nam Định có tới 15/16 cơ sở sản xuất có 100% mẫu đo độ ẩm không đạt TCVSLĐ; 13/16 cơ sở sản xuất có từ 7,6-58,4% số mẫu đo tốc độ chuyển động của không khí không đạt TCVSLĐ [12], con số này tại làng Đại Bái tỉnh Bắc Ninh còn lên tới 80% [38]
Trang 22Kết quả quan trắc nhiệt độ MTLĐ tại các cơ sở TCKL cho thấy NLĐ đang phải làm việc trong môi trường có nhiệt độ cao Tại làng Xuân Tiến tỉnh Nam Định 10/16 cơ sở có 100% mẫu đo nhiệt độ vượt TCVSLĐ [12] Tình trạng tương tự cũng được mô tả tại Văn Môn [50] và Đại Bái [38] tỉnh Bắc Ninh, Đồng Sâm tỉnh Thái Bình [54] Nhiệt độ môi trường làm việc vượt TCVSLĐ cũng là thực trạng chung của nhiều làng nghề khác như chế biến lương thực, thực phẩm [23] và làng nghề tái chế nhựa [31]
Bên cạnh nhiệt độ thì tiếng ồn cũng được mô tả đã và đang gây ô nhiễm MTLĐ nghiêm trọng Quan trắc tại làng Xuân Tiến tỉnh Nam Định cho thấy 100% các cơ sở được quan trắc đều có mẫu đo vượt TCVSLĐ [12] Tại làng Đại Bái tỉnh Bắc Ninh 90,9% số mẫu đo có cường độ tiếng ồn vượt TCVSLĐ [38], con số này tại làng Vân Chàng tỉnh Nam Định là 100% [30] Do đặc thù của sản xuất nên cường độ tiếng ồn tại các làng nghề TCKL cao hơn hẳn so với các nhóm làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm [23], nhưng lại tương đồng với ngành sản xuất may mặc [34], [62], làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ [16]
Với nhiên liệu sản xuất chủ yếu là than do vậy quá trình sản xuất tại các làng nghề TCKL đã thải ra môi trường nhiều loại bụi và các hơi khí độc hại Điều tra tại Văn Môn tỉnh Bắc Ninh cho kết quả nồng độ CO, NO2, SO2 vượt TCVSLĐ lần lượt là: 23,3%; 50%; 3,3% [50] Tại làng Tống Xá tỉnh Nam Định hàm lượng bụi toàn phần và bụi PM10 cao hơn TCVSLĐ lần lượt từ 1,1-4,6 lần;
và 5 lần [14] Nghiên cứu tại làng Đông Mai và Nghĩa Lộ tỉnh Hưng Yên cho kết quả có tới 85,7% số mẫu đo có nồng độ hơi chì trong không khí vùng làm việc vượt TCVSLĐ từ 1,4 - 4,4 lần [37] Mức độ ô nhiễm MTLĐ do bụi và hơi khí độc hại tại các làng nghề tái chế kim loại cao hơn hẳn so với một số làng nghề sản xuất lương thực, thực phẩm [23], trồng hoa [68] Tuy nhiên hàm lượng bụi trong MTLĐ ở làng nghề TCKL lại có những điểm tương đồng so với các làng nghề chế biến gỗ [16], dệt may [17], [34] và làng nghề tái chế nhựa [31]
Trang 231.3 Thực trạng sức khỏe, bệnh tật người lao động tái chế kim loại
1.3.1 Thực trạng sức khỏe người lao động tái chế kim loại trên thế giới
Sức khỏe của người lao động chịu tác động bởi rất nhiều yếu tố khác nhau
cả trong và ngoài lao động, do môi trường, do bản thân người lao động và các yếu tố thuộc về đặc điểm cá nhân người lao động Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra một số vấn đề sức khỏe phổ biến ở NLĐ tại các khu vực tái chế kim loại bao gồm: rối loạn cơ-xương-khớp; bệnh hệ hô hấp; bệnh về thần kinh; tai nạn lao động; nhiễm độc kim loại nặng…
1.3.1.1 Bệnh hệ Cơ-xương-khớp và mô liên kết
Theo Trung tâm Phòng chống dịch bệnh Hoa Kỳ “Rối loạn khớp là tổn thương hoặc rối loạn của cơ bắp, dây thần kinh, gân, khớp, sụn, cơ
Cơ-xương-và cấu trúc hỗ trợ của chi trên Cơ-xương-và chi dưới, cổ Cơ-xương-và lưng được gây ra hoặc làm trầm trọng hơn khi gắng sức đột ngột hoặc tiếp xúc kéo dài với các yếu tố vật
lý như sự lặp lại, áp lực công việc, độ rung, hoặc tư thế lao động bất lợi” Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng tình trạng rối loạn Cơ-xương-khớp là một vấn đề sức khỏe hay gặp nhất ở NLĐ TCKL Tỷ lệ NLĐ có các biểu hiện rối loạn Cơ-xương-khớp thường rất cao (> 50%) Điều tra trên thợ đúc kim loại tại Trung Quốc cho thấy tỷ lệ NLĐ bị đau nhức Cơ-xương-khớp lên tới 79,22% [105], con số này tại một số cơ sở TCKL tại Thụy Điển là 60% [84], tại Santo André - Brazil là 50% [89]
Các biểu hiện rối loạn Cơ-xương-khớp ở NLĐ TCKL cũng rất đa dạng Trong đó đau mỏi vai, gáy, đau lưng, cổ tay là những triệu chứng phổ biến nhất Tiếp đến là tình trạng đau, mỏi, nhức ở các bộ phận khác của cơ thể như: khuỷu tay, cổ tay, ngón tay, hông, đầu gối, mắt cá,… [78], [105] Tình trạng trên không chỉ phổ biến ở các quốc gia kém và đang phát triển mà cũng là một vấn đề sức khỏe y tế công cộng ở các quốc gia phát triển
Trang 241.3.1.2 Bệnh hệ hô hấp
Bệnh hệ hô hấp là một vấn đề sức khỏe phổ biến ở NLĐ TCKL đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu trước đây, tuy nhiên có sự khác biệt giữa các quốc gia Cụ thể ở các quốc gia phát triển thì tỷ lệ mắc và mức độ trầm trọng của bệnh không nghiêm trọng như ở các quốc gia kém và đang phát triển Một báo cáo gần đây ở Anh cho thấy tỷ lệ NLĐ TCKL có triệu chứng tức ngực chiếm 16,1%; tỷ lệ NLĐ có đờm vào buổi sáng là 23,2%; tỷ lệ NLĐ có triệu chứng thở khò khè là 8,5%; có triệu chứng ho là 15,3%; có triệu chứng khó thở là 8,3% [91] Trong khi đó nghiên cứu tại một xưởng đúc ở Ả Rập Saudi cho thấy NLĐ gặp rất nhiều các triệu chứng bệnh ở đường hô hấp bao gồm: ho (38,3%); có đờm (30,9%); thở khò khè (11,1%); khó thở (20,9%) [88] Kết quả nghiên cứu tại Terengganu (Malaysia) [116] và tại một số cơ sở đúc, rèn kim loại ở Ấn Độ cũng cho những số liệu tương đồng như trên [106] Thăm dò chức năng thông khí phổi trên NLĐ TCKL cũng được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu trước đây Điều tra tại làng Wardha (Ấn Độ) cho thấy chỉ số chức năng thông khí phổi ở NLĐ lần lượt là: FEV1 là 2,82; FEV1/FVC là 82,32; FEF25-75 là 3,15 và PEF là 7,13 [87] Thăm dò chức năng thông khí phổi trên NLĐ tại một xưởng đúc ở Ả Rập Saudi cho kết quả: Dung tích sống và dung tích sống thở mạnh của NLĐ đều cao hơn so với nhóm chứng Ngược lại các chỉ số FEV1, Tiffeneau, Gaensler, FEF25%-75%, PEF lại thấp hơn một cách có ý thống kê so với các chỉ số trên ở nhóm đối chứng [88] Tình trạng tương tự cũng được mô tả trên NLĐ ở Terengganu (Malaysia) [116]
1.3.1.3 Bệnh hệ thần kinh
Bên cạnh hai nhóm bệnh rất phổ biến ở trên thì bệnh hệ thần kinh cũng là một vấn đề sức khỏe nổi cộm ở NLĐ TCKL Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do NLĐ có gánh nặng công việc và gánh nặng tư thế lao động lớn, kết
Trang 25hợp với việc phơi nhiễm với nhiệt độ cao, vi khí hậu không đạt TCVSLĐ, nhiều loại hóa chất và các kim loại nặng Một nghiêu cứu gần đây tại một số cơ sở đúc nhôm tại Ba Lan cho kết quả tỷ lệ NLĐ có các biểu hiện bệnh của hệ thần kinh trong năm qua bao gồm: đau đầu 41,8%; chóng mặt 16,4%; khó tập trung 22,4%; mất ngủ 22,4%; buồn ngủ 14,9%; rối loạn cảm xúc 14,9% Tỷ lệ các chứng bệnh kể trên ở NLĐ đúc nhôm đều cao hơn so với nhóm đối chứng [121] Điều tra tại Hefei, tỉnh An Huy, Trung Quốc cũng cho thấy các chứng bệnh ở hệ thần kinh của người lao động TCKL là khá phổ biến bao gồm: mất ngủ 29,3%; thức dậy sớm 25,6%; mơ trong khi ngủ 39%; bồn chồn 20,7%; đau đầu 28%; khó chịu trong người 20,7%; chóng mặt 40,2%; mệt mỏi 36,6%; khó tập trung 25,6% [129] Phỏng vấn người NLĐ TCKL tại Accra (Ghana) về những biểu hiện của bệnh hệ thần kinh trong hai tuần qua cho thấy: 54,3% NLĐ cho rằng họ luôn luôn bị mệt mỏi; 12,3% NLĐ thường xuyên bị chóng mặt sau khi làm việc và 17,5% NLĐ báo cáo rằng họ luôn luôn bị khó ngủ [77]
1.3.1.4 Thực trạng thấm nhiễm chì
Các kết quả nghiên cứu về tình trạng thấm nhiễm chì ở NLĐ TCKL cho thấy ở những quốc gia phát triển tỷ lệ NLĐ bị thấm nhiễm chì ít hơn so với các quốc gia kém và đang phát triển Một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy nồng độ chì trong máu của NLĐ TCKL chỉ là 3,7 µg/dl [113], tình trạng tương tự cũng được
mô tả trên người lao động TCKL tại Thụy Điển [97]
Trái ngược với tình trạng trên, nghiên cứu ở các quốc gia kém và đang phát triển cho thấy tình trạng thấm nhiễm chì ở NLĐ TCKL là khá phổ biến Nghiên cứu tại Kenya cho thấy hàm lượng chì trung bình trong máu của NLĐ tại khu vực hàn là 40,9 μg/dl, tại khu vực tái chế chì là 50,1 μg/dl [132] Xét nghiệm nồng độ chì trong máu NLĐ TCKL tại Kolhapur (Ấn Độ) cũng cho kết quả tương tự Theo đó hàm lượng chì trong máu NLĐ là 53,63 μg/dl cao hơn nhóm so sánh chỉ có 12,52 ± 4,08μg/dl [127]
Trang 261.3.1.5 Thực trạng tai nạn lao động
Bên cạnh cơ cấu bệnh tật đa dạng, nhiễm độc kim loại thì TNLĐ cũng là một vấn đề sức khỏe khá phổ biến ở NLĐ TCKL Các loại TNLĐ phổ biến ở khu vực này bao gồm: bỏng, chấn thương phần mềm, gãy chi… Vị trí hay gặp tổn thương nhất là ở chân và ở tay Nghiên cứu trên NLĐ TCKL từ tàu thủy ở Pakistan cho thấy tỷ lệ các loại TNLĐ rất đa dạng bao gồm: vết thương phần mềm do vật sắc nhọn chiếm 35%; bị bỏng 31%; gãy xương 22% Việc ghi chép
hồ sơ TNLĐ, ốm đau và tử vong chưa đầy đủ chỉ có 5% các trường hợp được ghi chép còn lại là không có hồ sơ [94] Điều tra về tình hình tai nạn lao động tại làng Kusami (Ghana) cho thấy có tới 88% NLĐ bị tổn thương do làm nóng chảy kim loại và bị búa đập vào tay [76]
Tình trạng tai nạn lao động cũng được báo cáo trên người lao động tái chế kim loại ở các quốc gia phát triển, tuy nhiên tỷ lệ và mức độ tai nạn lao động thấp hơn so với các quốc gia kém và đang phát triển Một nghiên cứu gần đây tại Thụy Điển cho kết quả tỷ lệ tai nạn lao động ở người lao động tái chế kim loại trong năm qua là 22%, trong đó tai nạn ở mức độ nhẹ chiếm 63% [84]
1.3.2 Thực trạng sức khỏe, bệnh tật người lao động tái chế kim loại Việt Nam
Cũng giống như NLĐ TCKL trên thế giới, do phải làm việc trong điều kiện lao động có nhiều yếu tố nguy hiểm và yếu tố có hại nên NLĐ tại các làng nghề TCKL ở Việt Nam cũng đang gặp nhiều vấn đề về sức khỏe Nghiên cứu tại làng Đồng Sâm tỉnh Thái Bình cho thấy tần suất mắc bệnh trong năm của NLĐ là 2,34 [54] Tỷ lệ NLĐ mắc bệnh mạn tính tại làng nghề sắt Đa Hội, Bắc Ninh là 29% [4] Tại một số cơ sở sản xuất cơ khí ở Hải Dương tỷ lệ NLĐ có sức khỏe phân loại ở mức độ 4 và 5 là 16,7% cao hơn các ngành khác như thủ công mỹ nghệ, sản xuất lương thực thực phẩm, dệt may [23], [26], [34], [62] Các vấn đề sức khỏe phổ biến ở NLĐ TCKL gồm: bệnh Cơ-xương-khớp; bệnh
hệ hô hấp; bệnh thần kinh; TNLĐ…
Trang 271.3.2.1 Bệnh hệ Cơ-xương-khớp và mô liên kết
Nghiên cứu tại làng Xuân Tiến tỉnh Nam Định cho thấy các vấn đề về đau mỏi Cơ-xương-khớp ở người lao động khá đa dạng Cụ thể, tỷ lệ đau mỏi cổ là 5,1%; đau gáy 5,6%; đau thắt lưng 71,1%; đau đùi 30,5%; đau vai 58,4%; đau cánh tay 20,8%; đau cẳng tay 9,6% Những người làm việc trên 5 năm đau thắt lưng nhiều hơn người làm việc dưới 5 năm [12]
Điều tra tại làng Văn Môn tỉnh Bắc Ninh cho thấy tỷ lệ NLĐ có biểu hiện đau lưng khi kết thúc ca làm việc là 50,4% NLĐ phải làm việc ở tư thế với tay cao liên tục có nguy cơ đau cánh tay cao gấp 3,5 lần so với những người khác NLĐ cúi liên tục trên 50% thời gian để làm việc có nguy cơ đau cổ cao gấp 9 lần so với những người không có cùng tư thế [51] Tỷ lệ NLĐ tại đây có các biểu hiện rối loạn Cơ-xương-khớp trong vòng 12 tháng trước điều tra rất phổ biến dao động từ 18,3-46,8% với các vị trí đau mỏi như: gáy, bả vai, cổ tay, thắt lưng… [48] Tình trạng tương tự cũng được rất nhiều người lao động luyện gang, thép tại Thái Nguyên mô tả [18]
Gánh nặng lao động (GNLĐ) và gánh nặng TTLĐ của NLĐ TCKL cũng
có những điểm tương đồng so với GNLĐ và gánh nặng TTLĐ của NLĐ thuộc các nhóm ngành dệt may, chế biến lương thực, thủ công mỹ nghệ [23], [62], [69] Do đó tỷ lệ hiện mắc và các biểu hiện của đau nhức cơ, xương ở NLĐ TCKL không có nhiều điểm khác biệt so với NLĐ thuộc các nhóm ngành trên
1.3.2.2 Bệnh hệ hô hấp
Do đặc thù trong việc sử dụng nhiên liệu và nguyên liệu nên quá trình sản xuất tại các làng nghề TCKL đã phát thải ra môi trường nhiều hơi khí độc hại như: bụi, CO2, NO, NO2, SO2… [4] Việc phơi nhiễm liên tục trong một thời gian dài với các yếu tố nguy cơ trên đã dẫn đến một loạt các vấn đề về bệnh hệ
hô hấp ở người lao động tái chế kim loại
Trang 28Tỷ lệ người lao động tại làng Vân Chàng tỉnh Nam Định có tiền sử mắc bệnh hô hấp như viêm họng, viêm phổi, viêm phế quản cấp và mạn là 48% Tỷ
lệ người lao động bị dị dạng lồng ngực và chức năng hô hấp bất thường ở Vân Chàng cao hơn so với nhóm so sánh lần lượt là 9 và 2,7 lần [25] Khảo sát tại làng đúc đồng Phường Đúc thành phố Huế cho thấy các chứng bệnh hệ hô hấp
ở NLĐ là khá phổ biến Thở khò khè hay có tiếng rít trong lồng ngực gặp ở 18,5% NLĐ, 29,6% thường xuyên khạc nhổ đờm, 5,8% lên cơn hen suyễn Có 20,6% NLĐ có hội chứng hạn chế hô hấp, 8,7% có hội chứng tắc nghẽn hô hấp, hội chứng hỗn hợp xảy ra ở 8% người lao động [53]
Báo cáo tình hình sức khỏe của NLĐ tại một số làng nghề TCKL khác cũng cho thấy tình trạng bệnh hệ hô hấp của người lao động là khá phổ biến Tại làng Văn Môn tỉnh Bắc Ninh tỷ lệ người lao động bị viêm mũi dị ứng là 13% [45] Tỷ lệ người lao động tại làng Đồng Sâm tỉnh Thái Bình có các triệu chứng bệnh về tai, mũi, họng lên tới 46,7% [54]
tỷ lệ hiện mắc bệnh hệ thần kinh ở NLĐ tái chế kim loại cao hơn hẳn so với người lao động làm nông nghiệp [49], chế biến lương thực, thực phẩm [23], dệt may [34] và thủ công mỹ nghệ [7]
Trang 291.3.2.4 Thực trạng tai nạn lao động
Bên cạnh những gánh nặng về bệnh tật thì nguy cơ bị tai nạn lao động (TNLĐ) đối với NLĐ tại các làng nghề tái chế kim loại cũng rất lớn Tỷ lệ TNLĐ của nhóm làng nghề tái chế trong đó có nhóm làng nghề TCKL chiếm khoảng 33,4% trong tổng số TNLĐ của tất cả các nhóm làng nghề Những TNLĐ thường gặp ở NLĐ tái chế gồm: gãy xương, chấn thương phần mềm, bỏng, … [4] Tỷ lệ TNLĐ ở NLĐ tại làng Vân Chàng và Xuân Tiến tỉnh Nam lần lượt là 14,4% [25] và 19,9% [67], thậm chí ở làng Văn Môn tỉnh Bắc Ninh
tỷ lệ TNLĐ còn lên tới 74,8% [47]
Bỏng là loại TNLĐ phổ biến nhất ở NLĐ tham gia vào quá trình cô, đúc Trong khi đó NLĐ tại khâu cán nhôm, tạo hình lại hay gặp tình trạng xây, xước chân tay, chấn thương phầm mềm [47] Các loại vết thương thường gặp ở NLĐ TCKL rất đa dạng, trong đó chủ yếu là vết thương hở ở cổ tay và bàn tay, vết thương hở ở cổ chân và bàn chân, vết thương hở ở đầu Vị trí bị TNLĐ hầu hết
là ở chi trên, chi dưới và đầu, mặt, cổ Nguyên nhân gây TNLĐ chủ yếu là do các lực cơ giới tác động vào, ngã, do tiếp xúc với nhiệt độ cao, do dụng cụ lao động, máy móc và do NLĐ sơ ý [25]
1.3.2.5 Thực trạng thấm nhiễm kim loại nặng
Quá trình sản xuất tại các làng nghề TCKL phát thải ra ngoài môi trường nhiều kim loại như: Pb, Zn, Cu, Fe, Cr, Ni… Các kim loại này có thể thấm nhiễm vào cơ thể qua đường hô hấp, tiêu hóa, da và niêm mạc Qua quá trình tích lũy lâu dài có thể dẫn đến tình trạng thấm nhiễm cho người tiếp xúc Nghiên cứu tại làng Văn Môn tỉnh Bắc Ninh cho thấy mặc dù nồng độ chì trong nước tiểu của NLĐ vẫn nằm trong giới hạn cho phép Tuy nhiên tỷ lệ NLĐ có hàm lượng Cd, Hg và As trong nước tiểu vượt mức cho phép lần lượt là 51,8%; 36,7% và 31,5% Trong đó tình trạng thấm nhiễm kim loại nặng diễn ra chủ yếu ở nhóm NLĐ thuộc công đoạn cô, đúc kim loại [46] So với người lao động
Trang 30tái chế chì và một số ngành khác thì thực trạng thấm nhiễm chì của NLĐ tái chế kim loại ít trầm trọng hơn [19], [20], [43]
Bên cạnh các vấn đề sức khỏe đặc thù của loại hình tái chế kim loại đã được đề cập ở trên, thì tình trạng mắc bệnh về da, niêm mạc; tiêu hóa; mắt… của người lao động tái chế kim loại cũng được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu trước đây Điều tra tại làng Đồng Sâm tỉnh Thái Bình cho thấy tỷ lệ người lao động có bệnh về da và niêm mạc 25,6%, bệnh về tiêu hóa 17,7%, bệnh về mắt là 14,9% [54]
Như vậy qua quá trình tổng quan các tài liệu về mô hình sức khỏe của NLĐ tại các làng TCKL nhận thấy hiện nay NLĐ đang gặp rất nhiều các vấn
đề sức khỏe Trong đó phổ biến nhất là các bệnh về cơ - xương - khớp, bệnh hệ
hô hấp, bệnh hệ thần kinh, TNLĐ và nhiễm độc kim loại nặng Tuy nhiên, do
là lao động tự do, không có hợp đồng lao động, không được tham gia bảo hiểm
xã hội nên việc chẩn đoán, theo dõi, chăm sóc cũng như hưởng các chế độ của bệnh nghề nghiệp theo quy định hiện hành của NLĐ còn bị bỏ ngỏ
1.4 Tổng quan một số giải pháp cải thiện điều kiện lao động phù hợp với loại hình sản xuất tái chế kim loại
1.4.1 Giới thiệu về các nhóm giải pháp điều kiện lao động
Có nhiều giải pháp để cải thiện điều kiện lao động nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe của người lao động, tuy nhiên có thể phân chia các giải pháp này thành các nhóm như sau [8], [41]: (i) Nhóm giải pháp tổ chức lao động, nơi làm việc; (ii) Nhóm biện pháp kỹ thuật công nghệ sản xuất; (iii) Nhóm biện pháp
kỹ thuật an toàn và vệ sinh công nghiệp; (iv) Nhóm giải pháp quản lý; (v) Nhóm các biện pháp y tế, bảo vệ sức khỏe Mỗi nhóm giải pháp này có những ưu, nhược điểm riêng và phù hợp với những điều kiện cụ thể của từng loại hình sản xuất và đặc điểm của mỗi cơ sở sản xuất
Trang 31Với đặc điểm sản xuất nhỏ lẻ, trình độ công nghệ lạc hậu, mặt bằng và vốn sản xuất hạn chế nên việc áp dụng đồng bộ cùng lúc 05 nhóm giải pháp cải thiện ĐKLĐ cho các làng nghề TCKL là rất khó khăn Do đó trước mắt việc
ưu tiên lựa chọn nhóm giải pháp phù hợp với đặc điểm sản xuất của làng nghề
là hướng đi đúng đắn Nhóm giải pháp này phải đảm bảo tính bền vững, chi phí thấp, hiệu quả cao, dễ chấp nhận, dễ thực hiện, phù hợp với đặc điểm kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của địa phương và dựa vào nguồn lực sẵn có của địa
phương Trong 05 nhóm giải pháp trên thì nhóm giải pháp “Tổ chức lao động, nơi làm việc” có thể đáp ứng được gần như toàn bộ các nguyên tắc trên
Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Viện An toàn sức khỏe nghề nghiệp Quốc gia (Hoa Kỳ) … đã xuất bản nhiều tài liệu về
An toàn - Vệ sinh lao động; hướng dẫn quản lý môi trường lao động, khuyến cáo các giải pháp khả thi để cải thiện ĐKLĐ Các giải pháp cải thiện ĐKLĐ
thuộc nhóm “Tổ chức lao động, nơi làm việc” phù hợp với làng nghề TCKL
đã và đang được sử dụng sẽ được mô tả chi tiết sau đây:
1.4.2 Giới thiệu một số giải pháp điều kiện lao động thuộc nhóm “Tổ chức lao động, nơi làm việc” phù hợp với làng nghề tái chế kim loại
1.4.2.1 Giải pháp “Nâng cao sức khỏe nơi làm việc”
Các chương trình nâng cao sức khỏe nơi làm việc là một sự phối hợp toàn diện về các chiến lược tăng cường và bảo vệ sức khỏe được thực hiện tại nơi làm việc bao gồm các chương trình, chính sách, quyền lợi, hỗ trợ môi trường
và các liên kết đến các cộng đồng xung quanh được thiết kế để khuyến khích sức khỏe và sự an toàn của tất cả lực lượng lao động
Mặc dù “Nâng cao sức khỏe nơi làm việc” là một chương trình cải thiện ĐKLĐ khá toàn diện và đem lại nhiều hiệu quả tuy nhiên việc thực hiện chương trình này cần có nhiều nguồn lực và cần có sự tham gia của nhiều bên liên quan
Trang 32từ NLĐ, người sử dụng lao động, ngành y tế cũng như cả hệ thống chính trị Vì vậy giải pháp này chỉ được đề xuất thực hiện khi đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu trên Ngoài ra hiệu quả đầu ra mang tính lâu dài, khó đánh giá vì vậy cần phải thiết kế các công cụ đo lường phù hợp
1.4.2.2 Chương trình Cải thiện điều kiện lao động trong các doanh nghiệp vừa
và nhỏ - Work Improvements in Small Enterprises (WISE)
Chương trình WISE được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1988, qua nhiều quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và sửa chữa, bản hướng dẫn chương trình WISE hoàn chỉnh được xuất bản lần gần đây nhất là vào năm 2009 do ILO phát hành Chương trình WISE tập trung vào một số nguyên tắc cơ bản và những ví
dụ cụ thể để cải thiện điều kiện lao động Những hoạt động này có thể có những tác động tích cực trực tiếp đến cả cơ sở sản xuất cũng như hoạt động, động lực
và hiệu quả làm việc của cả người lao động Chương trình WISE đã được thiết
kế phù hợp để cải thiện điều kiện lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, không phù hợp với hình thức sản xuất nhỏ lẻ theo hộ gia đình [92]
1.4.2.3 Chương trình Cải thiện điều kiện lao động tại hộ gia đình - Work Improvemet for Safe Home (WISH)
Chương trình WISH được ILO giới thiệu từ năm 2006 và đã được dịch ra tiếng Việt từ năm 2010 bởi Văn phòng ILO tại Việt Nam [100] Phương pháp WISH là cách thức tổ chức lao động hợp lý hơn Mục tiêu của WISH là cải thiện điều kiện lao động, tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất trong các cơ sở sản xuất thông qua việc triển khai một số giải pháp hiệu quả với chi phí thấp, dựa trên những kinh nghiệm của địa phương
Điều kiện áp dụng chương trình WISH khá đơn giản không cần nhiều nguồn lực, không cần có sự tham gia của quá nhiều các bên liên quan, dễ thực hiện, chi phí thấp, hiệu quả rõ ràng và dễ đánh giá Bên cạnh đó việc triển khai
Trang 33thực hiện theo từng hộ cá thể riêng lẻ mỗi giải pháp cải thiện phù hợp với điều kiện cụ thể của từng hộ sản xuất, từng loại hình sản xuất Đây là giải pháp cải thiện điều kiện lao động rất phù hợp với các làng nghề có quy mô sản xuất nhỏ
* Phương pháp RULA
Phương pháp RULA là một phương pháp được xây dựng để khảo sát Ecgônômi tại nơi làm việc có liên quan đến các rối loạn Cơ-xương-khớp ở chi trên Công cụ này cung cấp một đánh giá nhanh về vị trí đau ở cổ, thân và chi trên cùng với chức năng cơ bắp của cơ thể Một hệ thống mã hóa được sử dụng
để tạo ra một danh sách hành động đó cho thấy mức độ can thiệp cần thiết để giảm nguy cơ chấn thương do gánh nặng TTLĐ
* Phương pháp REBA [90]
REBA là một công cụ phân tích tư thế nhạy cảm với rủi ro khớp được xây dựng dựa trên việc nghiên cứu trong một loạt các nhiệm vụ và
Cơ-xương-đánh giá của tư thế làm việc trong chăm sóc y tế và các ngành dịch vụ khác
* Phương pháp đánh giá công việc nâng nhấc (Lifting equation - LI) của Viện An toàn Sức khỏe nghề nghiệp quốc gia (Hoa Kỳ)[130]
Phương pháp này được sử dụng với mục đích thiết kế lại các công việc nâng nhấc đang làm hoặc để thiết kế mới các công việc bằng tay, ước lượng độ lớn liên quan của sự căng thẳng cơ thể đối với một công việc hoặc một nghề
Trang 34Tuy nhiên phạm vi áp dụng hạn chế và không áp dụng được cho các trường hợp: nâng nhấc bằng một tay; làm việc > 8 giờ/ngày; làm việc trong tư thế ngồi hoặc quỳ; hạn chế về không gian làm việc; các vật nặng dễ đổ; đẩy, kéo, vác trong khi nâng nhấc; dùng xe di chuyển; thiếu ma sát giữa chân và nền nhà
1.4.3 Hiệu quả can thiệp cải thiện điều kiện lao động
1.4.3.1 Hiệu quả áp dụng chương trình WISE
Chương trình WISE là một trong những chương trình cải thiện điều kiện lao động được áp dụng rộng rãi hiện nay và đã đem lại hiệu quả rõ rệt Áp dụng một số cải thiện điều kiện môi trường (làm tấm chắn tại các lò lung kim loại…) theo phương pháp WISE tại một số cơ sở đúc kim loại vừa và nhỏ tại Bankok
và một số tỉnh lân cận ở Thái Lan kết quả cho thấy nhiệt độ tại nơi NLĐ thực hiện các thao tác đã giảm một cách có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 [102] Một báo cáo khác tại Thái Lan về việc áp dụng chương trình WISE tại 18
cơ sở sản xuất vừa và nhỏ cho thấy sau 6 tháng áp dụng chương trình đã có 35
Trang 35cải thiện được thực hiện Những cải thiện này đã góp phần giảm tỷ lệ triệu chứng rối loạn Cơ-xương-khớp ở NLĐ có ý nghĩa thống kê [82] Ứng dụng WISE để cải thiện ĐKLĐ tại Cebu và Dabao của Philipin đã giúp tăng năng suất lao động giảm sự cố gắng quá sức của NLĐ [125] Hiệu quả cải thiện ĐKLĐ theo WISE cũng đã được ghi nhận tại 24 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ khác tại CeBu, Philinpin và tại một số cơ sở sản xuất ở Ấn Độ [101]
Sử dụng phương pháp cải tiến công nghệ sản xuất như thay đổi hệ thống dẫn lửa, cải tiến quy trình trộn nguyên vật liệu, … tại nhà máy tái chế nhôm ở Mostar - Bosnia và Herzegovina cho thấy hiệu quả giảm tiếng ồn có ý nghĩa thống kê so với trước khi cải thiện Trước can thiệp số mẫu đo TCVSLĐ chiếm tới 78,4% sau can thiệp chỉ còn 13% Cường độ tiếng ồn trước can thiệp từ 95 dBA - 102 dBA sau can thiệp giảm xuống còn từ 63 dBA - 94 dBA [81] Tại Việt Nam trong số các chương trình cải thiện ĐKLĐ hiện nay đang được áp dụng thì WISE là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất Báo cáo kết quả thực hiện dự án “Thực hiện hiệu quả Chương trình quốc gia về An toàn
- Vệ sinh lao động nhằm cải thiện an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc ở Việt Nam” cho thấy được hiệu quả rõ rệt của chương trình WISE Theo đó từ năm 2009-2011 đã có 574 doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc 10 tỉnh/thành phố tham gia với 1813 cải thiện đã được nghi nhận Hầu hết các cải thiện này đều đơn giản, thiết thực, chi phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao, góp phần tích cực nâng cao năng suất lao động, phòng ngừa TNLĐ và bệnh nghề nghiệp [11]
Áp dụng phương pháp WISE tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại làng nghề cơ khí Xuân Tiến - Nam Định cho thấy có rất nhiều cải thiện đã được thực hiện Trong đó nhóm cải tạo môi trường làm việc và nhóm cải thiện điều kiện tiện nghi phục vụ lao động có nhiều cải thiện được thực hiện nhất nhóm lần lượt là 32,3% và 27,4% [12] Cải thiện điều kiện lao động tại các khu công nghiệp ở tỉnh Nam Định bằng phương pháp WISE cũng đã được ghi nhận Sau
Trang 3603 năm thực hiện chương trình 12/12 doanh nghiệp đã thực hiện các cải thiện điều kiện lao động Mỗi doanh nghiệp đã thực hiện từ 3-15 đầu mục cải thiện cho 583 NLĐ Các cải thiện chủ yếu là cải thiện về ánh sáng (75%); chống nóng (75%); cải thiện tư thế làm việc cho công nhân (75%); mở rộng nhà xưởng (41,7%); … [15]
Kết quả triển khai phương pháp WISE tại 248 hộ gia đình tại một số làng nghề phía Bắc của Việt Nam cho kết quả: tổng số đã có 730 cải thiện điều kiện lao động và điều kiện sống được ghi nhận Gần 70% cải thiện điều kiện lao động tại các làng nghề là về an toàn dụng cụ máy móc, cải thiện điều kiện tiện nghi phục vụ lao động và cải thiện môi trường sống [29]
1.4.3.2 Hiệu quả áp dụng chương trình WISH
Ứng dụng phương pháp WISH để hướng dẫn cải thiện ĐKLĐ tại các hộ
cá thể ở Muang- Surin (Thái Lan) cho kết quả 78,78% NLĐ đã thực hiện các cải thiện ĐKLĐ Sự khác biệt về điểm cải thiện bằng WISH giữa trước và sau can thiệp có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Người lao động rất hứng thú với việc thực hiện các cải thiện của họ [98] Hiệu quả của việc ứng dụng phương pháp WISH để cải thiện ĐKLĐ cũng được ghi nhận tại các cơ sở sản xuất cá ngọt giòn ở Thái Lan Sau quá trình hướng dẫn cải thiện ĐKLĐ cho thấy các cải thiện được thực hiện nhiều nhất thuộc nhóm vận chuyển và cất giữ nguyên vật liệu, đặc biệt là việc sử dụng an toàn và bảo quản các hóa chất Nhận thức
về việc sử dụng PTBVCN đã tăng lên đáng kể sau can thiệp [73] Bên cạnh đó WISH cũng giúp cải thiện tình trạng chiếu sáng nơi làm việc tại một số cơ sở sản xuất khác ở quốc gia này [107]
Cho đến nay chương trình WISH chưa được áp dụng nhiều tại Việt Nam Mặc dù vậy theo báo cáo kết quả dự án RAS/08/07M/JPN về việc áp dụng chương trình WISH trên 246 hộ gia đình tại Thái Nguyên, Đồng Nai và một số tỉnh khác cũng đã ghi nhận được 490 cải thiện ĐKLĐ được thực hiện [11]
Trang 371.4.3.3 Hiệu quả áp dụng các phương pháp Ecgônômi
Ứng dụng Phương trình nâng nhấc của NIOSH trên NLĐ TCKL tại Puget Sound - Bremerton (Mỹ) cho thấy Với việc thiết kế các bàn để vật liệu trước khi người công nhân cho vật liệu vào máy đã làm giảm hệ số nâng nhấc của người lao động đáng kể Cụ thể trước can thiệp những công việc có trọng lượng tay cầm là 5kg có hệ số nâng nhấc là LI = 1,8 sau can thiệp chỉ còn LI = 0,6
Đề xuất giới hạn trọng lượng cho các nhiệm vụ đơn lẻ trước can thiệp chỉ là 5,5 kg; tuy nhiên sau can thiệp con số này là 16,1 kg [95] Hiệu quả của việc ứng dụng Phương trình nâng nhấc để giảm các yếu tố nguy cơ và tăng cường sức khỏe NLĐ cũng được ghi nhận tại Thái Lan [109] Theo đó sau khi can thiệp
đã giảm tỷ lệ đau mỏi Cơ-xương-khớp cho NLĐ một cách có ý nghĩa thống kê
Sử dụng phương pháp đánh giá gánh nặng lao động thể lực bằng phương trình nâng nhấc của NIOSH trên người lao động ở Xuân Tiến - Nam Định đã cho thấy được vai trò của phương pháp này trong việc giảm gánh nặng công việc cho người lao động Áp dụng những cải thiện đơn giản tại công đoạn cuốn
lô như người lao động khi thực hiện các thao tác nâng nhấc cần nâng tấm tôn sát người và người chủ doanh nghiệp cần làm giá để tấm tôn trước khi nâng để vào máy cuốn Kết quả triển khai cho thấy: chỉ số nâng nhấc (LI) tại công đoạn nâng vật-công đoạn cuốn lô; điểm cuối-công việc cuốn lô trước can thiệp lần lượt là LI = 1,66; LI = 11,32 (tiêu chuẩn cho phép LI < 1) sau can thiệp giảm xuống tương ứng là LI = 0,99; LI = 0,93 Với những cải thiện như trên đã góp phần giảm tỷ lệ TNLĐ tại đây một cách có ý nghĩa thống kê [12]
Sử dụng OWAS để đánh giá tư thế NLĐ tại một số cơ sở cơ khí ở Philipin
đã xác định được rất nhiều TTLĐ bất lợi Một loạt các giải pháp can thiệp đã được triển khai thực hiện Sử dụng phương pháp tổng trọng lượng tiêu chuẩn
để đánh giá hiệu quả các can thiệp các tác giả đã ghi nhận được kết quả: hiệu quả chi phí tăng từ 6,9 điểm trước can thiệp tăng lên 7,4 điểm sau can thiệp;
Trang 38điểm thực hiện thao tác dễ dàng tăng từ 7 lên 8,4 điểm; tăng sức bền khi làm việc từ 6,75 lên 8,35 điểm [123]
Kết hợp sử dụng OWAS, REBA và RULA để đánh giá tư thế trên người lao động tại nhà máy sản xuất thép tại Nagpur Ấn Độ nhận thấy có nhiều tư thế lao động bất lợi cần thay đổi, các tác giả đã đề xuất một số cải thiện bao gồm: thay thế và sắp xếp lại các bảng điều khiển, thiết kế lại ghế ngồi cho NLĐ … Với những cải thiện điều kiện lao động như trên sau can thiệp đã làm giảm số lượng các tư thế bất lợi có ý nghĩa thống kê [80]
1.4.3.4 Một số hiệu quả cải thiện điều kiện lao động khác
Kết quả áp dụng chương trình “Nâng cao sức khỏe nơi làm việc” tại làng nghề chế biến bún Tiền Ngoài - Bắc Ninh cũng đã cho thấy được hiệu quả trong việc cải thiện điều kiện lao động, nâng cao ý thức trách nhiệm của người lao động và các cấp chính quyền địa phương về đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, cải thiện môi trường làm việc [29]
Áp dụng mô hình quản lý An toàn vệ sinh lao động theo đề xuất của ILO tại một số doanh nghiệp đóng, sửa chữa tàu thủy ở phía Bắc cho thấy nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động về An toàn vệ sinh lao động và điều kiện môi trường lao động được cải thiện, mức độ rủi ro nguy cơ nghề nghiệp đã giảm xuống đáng kể [59]
Sử dụng phương pháp huấn luyện về an toàn - vệ sinh lao động VSLĐ) trực tiếp cho NLĐ tại nhà máy Xi măng Tam Điệp - Ninh Bình cho kết quả: Kiến thức của NLĐ về nghĩa vụ, quyền lợi của NLĐ về các nguyên tắc AT-VSLĐ, kiến thức về các yếu tố nguy hiểm, các yếu tố độc hại của NLĐ đã tăng lên một cách có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ NLĐ thực hành đúng quy định an toàn thiết bị, máy móc; kiểm tra sửa chữa thiết bị; thực hành phòng ngừa bệnh
(AT-do ô nhiễm môi trường đã tăng cao hơn trước can thiệp từ 2-4 lần [61]
Trang 39Rất nhiều chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe về an toàn vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường, nâng cao sức khỏe cũng đã được triển khai tại nhiều làng nghề, cơ sở, doanh nghiệp trên cả nước Kết quả của những chương trình này đã giúp tăng cường kiến thức và thực hành của người lao động về an toàn vệ sinh lao động Tỷ lệ có sử dụng PTBVCN và sử dụng đúng cách đã tăng lên có ý nghĩa thống kê Qua đó giúp giảm sự phơi nhiễm của người lao động với các yếu tố độc hại trong quá trình sản xuất, giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao sức khỏe cho người lao động [1], [44], [55].
Như vậy có thể nhận thấy tại Việt Nam cho đến nay đã có nhiều chương trình cải thiện điều kiện lao động đang được áp dụng Tuy nhiên, đa số các chương trình can thiệp mới chỉ tập trung vào khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực làng nghề đặc biệt là các làng nghề có quy mô sản xuất nhỏ lẻ còn đang bị bỏ ngỏ Bên cạnh đó kết quả của các chương trình can thiệp đa số mới chỉ mô tả được số lượng những cải thiện đã được thực hiện mà chưa đi sâu vào phân tích hiệu quả của các cải thiện đó đối với sức khỏe của người lao động Những thay đổi về sức khỏe như thay đổi về tình trạng mệt mỏi sau ca lao động, thay đổi về khả năng làm việc, thay đổi về rối loạn cơ-xương-khớp, … cần được
mô tả để thấy rõ được hiệu quả của các chương trình can thiệp
Trang 40Hình 1.1 Khung lý thuyết nghiên cứu (mô phỏng theo mô hình Lalonde)
Điều kiện lao động tại làng nghề tái chế kim loại
Các yếu tố kỹ thuật, tổ
chức lao động, kinh tế,
xã hội, tự nhiên, văn hóa
Các yếu tố tâm sinh lý lao động và Ecgônômi
Môi trường lao động trong các cơ
sở sản xuất
Máy móc, thiết bị, công
cụ, nhà xưởng, năng lượng,
nguyên nhiên vật liệu
Lao động thể lực hay trí
óc, lao động thủ công, cơ
giới, tự động hóa…
Nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ vận chuyển không khí
Ánh sáng, tiếng
ồn bụi, rung, hóa chất độc, hơi kim loại…
Gánh nặng thể lực, căng thẳng thần kinh, tâm lý…
Cường độ lao động, tư thế lao động bất lợi, đơn điệu…
SỨC KHỎE NGƯỜI LAO ĐỘNG
Tình trạng bệnh tật
Tình trạng thể lực (Phân loại tình trạng sức khỏe theo Quyết định số 1613/BYT-
QĐ của Bộ trưởng
Bộ Y tế)
Nhiễm độc
kim loại
Tai nạn lao động
Sức khỏe loại: I, II,
II, IV, V