1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tài liệu ôn thi môn chủ nghĩa tư bản hien dai

20 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 156,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CNTB HIỆN ĐẠI VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG Câu 1: Phân tích lịch sử hình thành và những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản hiện đại? Vì sao nói: chủ nghĩa tư bản hiện đại là một giai đoạn phát triển mới so với chủ nghĩa tư bản cổ điển? Trả lời: Lịch sử hình thành và những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản hiện đại: Lịch sử hình thành: Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế – xã hội phát triển cao của xã hội loài người, xuất hiện đầu tiên tại châu Âu phôi thai và phát triển từ trong lòng xã hội phong kiến châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tư bản chủ nghĩa tại Anh Quốc và Hà Lan ở thế kỷ thứ 18. Sau cách mạng Pháp cuối thế kỷ 18 hình thái chính trị của nhà nước tư bản chủ nghĩa dần dần chiếm ưu thế hoàn toàn tại châu Âu chèn ép loại bỏ dần hình thái nhà nước của chế độ phong kiến, quý tộc. Và sau này hình thái chính trị – kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa lan ra khắp châu Âu và thế giới. CNTB giai đoạn CNTBTDCT phát triển đến đỉnh cao là CNTBĐQ đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng, báo hiệu sự cáo chung của nó như một thể chế kinh tế xã hội do cái vỏ quan hệ sản xuất TBTN đã không chứa nổi cái ruột lực lượng sản xuất đã đạt trình độ xã hội hoá cao của nó nữa. Thực tế lịch sử cũng cho thấy CNTBCĐ đã cáo chung bằng hai cách: một là, bị tiêu diệt tận gốc bởi cách mạng vô sản, mở đầu bằng cuộc CM tháng 10 Nga năm 1917 làm thay đổi hẳn bản lề chính trị thế giới. Đến năm 1965, các nước XHCN đã chiếm 26% diện tích lãnh thổ và 35% dân số thế giới. Thắng lợi của CM tháng 10 Nga đã chứng minh những đánh giá của V. I Lênin về mâu thuẫn nội tại của CNTBĐQ lúc đó là xác đáng. Thể chế kinh tế xã hội đó không sụp đổ dưới hình thức này cũng phải sụp đổ dưới hình thức khác. Ở những nơi giai cấp vô sản chưa đủ sức tập hợp lực lượng, giai cấp tư sản cầm quyền còn mạnh thì CNTBCĐ đã cáo chung bằng cách: thích ứng, hình thành một thể chế kinh tế xã hội mới, trong đó Nhà nước đóng vai trò mới, rất quan trọng – vai trò người tổ chức đời sống kinh tế xã hội, CNTBHĐ đã ra đời bằng con đường tiến hoá thứ hai này. Nếu sự thủ tiêu CNTBCĐ bằng CM vô sản đã diễn ra nhanh chóng thì sự thay thế CNTBCĐ bằng CNTBHĐ đã diễn ra chậm chạp hơn, muộn hơn. Mốc xuất hiện CNTBHĐ như một tất yếu kinh tế là cuộc đại khủng hoảng kinh tế TBCN 1929 – 1933, nhưng phải tới sau chiến tranh thế giới thứ II, CNTBHĐ mới phát triển đầy đủ, với những đặc trưng khác về chất so với CNTBCĐ. Những đặc trưng cơ bản: + CNTB đang trong bước quá độ từ cơ sở vật chất kỹ thuật truyền thống sang cơ sở vật chất kỹ thuật hoàn toàn mới về chất: Kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, của cải làm ra chủ yếu dựa vào cái chưa biết, cái đã biết không có giá trị. Tìm cái chưa biết tức là tạo ra giá trị mới. Khi phát hiện ra cái chưa biết, thì cũng tức là loại trừ cái đã biết, cái cũ mất đi thay thế bằng cái mới; phát triển từ cái mới, không phải từ số lượng lớn dần lên, nền kinh tế xã hội luôn đổi mới. + Sự biến đổi trong đội ngũ người lao động: Lao động làm thuê – LLSX chủ yếu – đã có sự biến đổi, cả về nghiệp vụ, cơ cấu và các yếu tố cấu thành giá trị hàng hoá sức lao động. Về cơ cấu lao động đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tiến bộ và các yếu tố tái sản xuất TBCN một cách có hiệu quả. Các nước tư bản đã quan tâm đến yếu tố cấu thành giá trị hàng hoá sức lao động, thực hiện nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua sự điều tiết kinh tế, can thiệp vào các điều kiện an sinh do đó xuất hiện tầng lớp trung lưu chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong xã hội tư bản. + Đa dạng hoá và quốc tế hoá các hình thức sở hữu: Hình thức sở hữu đa dạng: có nhiều chủ thể sở hữu TLSX trong cùng một công ty cổ phần với những tỷ lệ khác nhau, kể cả người lao động cũng góp vốn cổ phần để hưởng lợi tức cổ phần. Trong CNTBHĐ sở hữu không chỉ giới hạn trong việc sở hữu TLSX mà chủ yếu là sở hữu về mặt giá trị dưới nhiều hình thức như vốn tự có, vốn cổ phần, vốn cho vay. Sự tách biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn ngày càng sâu sắc thúc đẩy sự hình thành, phát triển của lao động quản lý thành một nghề: nghề giám đốc. Hình thức sở hữu độc quyền vẫn tồn tại, nhưng không còn độc quyền thuần tuý mà là dạng hỗn hợp và dưới hình thức sở hữu của các công ty xuyên quốc gia. + Hệ thống kinh tế TBCN thế giới biến đổi sâu sắc: Sự phát triển không đều giữa các bộ phận cấu thành hệ thống trong đó thể hiện rõ sự hình thành ba trung tâm lớn: Hoa Kỳ Nhật Bản – EU. Các nước đang phát triển có sự phân hoá mạnh, một số nước tăng trưởng nhanh, đã và sẽ bước vào nhóm các nước công nghiệp phát triển song về tổng thể các nước đang phát triển vẫn trong tình trạng lạc hậu và tiếp tục tụt hậu so với các nước tư bản phát triển. + Những biểu hiện mới về kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại: Dù có những biểu hiện mới, chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn

Trang 1

MÔN: CNTB HIỆN ĐẠI VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG

Câu 1: Phân tích lịch sử hình thành và những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản hiện đại? Vì sao nói: chủ nghĩa tư bản hiện đại là một giai đoạn phát triển mới so với chủ nghĩa tư bản cổ điển?

Trả lời:

* Lịch sử hình thành và những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản hiện đại:

- Lịch sử hình thành:

Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế – xã hội phát triển cao của xã hội loài người, xuất hiện đầu tiên tại châu Âu phôi thai và phát triển từ trong lòng xã hội phong kiến châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái xã hội tư bản chủ nghĩa tại Anh Quốc và Hà Lan ở thế kỷ thứ

18 Sau cách mạng Pháp cuối thế kỷ 18 hình thái chính trị của nhà nước tư bản chủ nghĩa dần dần chiếm ưu thế hoàn toàn tại châu Âu chèn ép loại bỏ dần hình thái nhà nước của chế độ phong kiến, quý tộc Và sau này hình thái chính trị – kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa lan ra khắp châu Âu và thế giới

CNTB giai đoạn CNTBTDCT phát triển đến đỉnh cao là CNTBĐQ đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng, báo hiệu sự cáo chung của nó như một thể chế kinh tế xã hội do cái vỏ quan hệ sản xuất TBTN đã không chứa nổi cái ruột lực lượng sản xuất đã đạt trình độ xã hội hoá cao của nó nữa

Thực tế lịch sử cũng cho thấy CNTBCĐ đã cáo chung bằng hai cách: một là, bị tiêu diệt tận

gốc bởi cách mạng vô sản, mở đầu bằng cuộc CM tháng 10 Nga năm 1917 làm thay đổi hẳn bản

lề chính trị thế giới Đến năm 1965, các nước XHCN đã chiếm 26% diện tích lãnh thổ và 35% dân

số thế giới Thắng lợi của CM tháng 10 Nga đã chứng minh những đánh giá của V I Lênin về mâu thuẫn nội tại của CNTBĐQ lúc đó là xác đáng Thể chế kinh tế xã hội đó không sụp đổ dưới hình thức này cũng phải sụp đổ dưới hình thức khác Ở những nơi giai cấp vô sản chưa đủ sức tập hợp lực lượng, giai cấp tư sản cầm quyền còn mạnh thì CNTBCĐ đã cáo chung bằng cách: thích ứng, hình thành một thể chế kinh tế xã hội mới, trong đó Nhà nước đóng vai trò mới, rất quan trọng – vai trò người tổ chức đời sống kinh tế xã hội, CNTBHĐ đã ra đời bằng con đường tiến hoá thứ hai này

Nếu sự thủ tiêu CNTBCĐ bằng CM vô sản đã diễn ra nhanh chóng thì sự thay thế CNTBCĐ bằng CNTBHĐ đã diễn ra chậm chạp hơn, muộn hơn Mốc xuất hiện CNTBHĐ như một tất yếu kinh tế là cuộc đại khủng hoảng kinh tế TBCN 1929 – 1933, nhưng phải tới sau chiến tranh thế giới thứ II, CNTBHĐ mới phát triển đầy đủ, với những đặc trưng khác về chất so với CNTBCĐ

- Những đặc trưng cơ bản:

+ CNTB đang trong bước quá độ từ cơ sở vật chất kỹ thuật truyền thống sang cơ sở vật chất

kỹ thuật hoàn toàn mới về chất: Kinh tế tri thức

Trong nền kinh tế tri thức, của cải làm ra chủ yếu dựa vào cái chưa biết, cái đã biết không có giá trị Tìm cái chưa biết tức là tạo ra giá trị mới Khi phát hiện ra cái chưa biết, thì cũng tức là loại trừ cái đã biết, cái cũ mất đi thay thế bằng cái mới; phát triển từ cái mới, không phải từ số lượng lớn dần lên, nền kinh tế xã hội luôn đổi mới

+ Sự biến đổi trong đội ngũ người lao động:

Lao động làm thuê – LLSX chủ yếu – đã có sự biến đổi, cả về nghiệp vụ, cơ cấu và các yếu

tố cấu thành giá trị hàng hoá sức lao động

Về cơ cấu lao động đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tiến bộ và các yếu tố tái sản xuất TBCN một cách có hiệu quả

Các nước tư bản đã quan tâm đến yếu tố cấu thành giá trị hàng hoá sức lao động, thực hiện nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua sự điều tiết kinh tế, can thiệp vào các điều kiện an sinh

do đó xuất hiện tầng lớp trung lưu chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong xã hội tư bản

+ Đa dạng hoá và quốc tế hoá các hình thức sở hữu:

Hình thức sở hữu đa dạng: có nhiều chủ thể sở hữu TLSX trong cùng một công ty cổ phần với những tỷ lệ khác nhau, kể cả người lao động cũng góp vốn cổ phần để hưởng lợi tức cổ phần

Trang 2

Trong CNTBHĐ sở hữu không chỉ giới hạn trong việc sở hữu TLSX mà chủ yếu là sở hữu về mặt giá trị dưới nhiều hình thức như vốn tự có, vốn cổ phần, vốn cho vay Sự tách biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn ngày càng sâu sắc thúc đẩy sự hình thành, phát triển của lao động quản

lý thành một nghề: nghề giám đốc

Hình thức sở hữu độc quyền vẫn tồn tại, nhưng không còn độc quyền thuần tuý mà là dạng hỗn hợp và dưới hình thức sở hữu của các công ty xuyên quốc gia

+ Hệ thống kinh tế TBCN thế giới biến đổi sâu sắc:

Sự phát triển không đều giữa các bộ phận cấu thành hệ thống trong đó thể hiện rõ sự hình thành ba trung tâm lớn: Hoa Kỳ - Nhật Bản – EU

Các nước đang phát triển có sự phân hoá mạnh, một số nước tăng trưởng nhanh, đã và sẽ bước vào nhóm các nước công nghiệp phát triển song về tổng thể các nước đang phát triển vẫn trong tình trạng lạc hậu và tiếp tục tụt hậu so với các nước tư bản phát triển

+ Những biểu hiện mới về kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại:

Dù có những biểu hiện mới, chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay vẫn là chủ nghĩa tư bản độc quyền Những biểu hiện mới đó chỉ là sự phát triển của năm đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền mà thôi

+ Những biểu hiện mới trong cơ chế điều tiết kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:

Các hình thức của kinh tế thuộc Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân ngày càng trở nên đa dạng, nó vừa bao gồm các xí nghiệp thuộc Nhà nước trong các ngành sản xuất vật chất, vừa bao gồm các tổ chức tài chính thuộc ngân hàng, ngành kinh tế thứ ba (dịch vụ), cùng những công trình

cơ sở hạ tầng xã hội mới xây dựng do Nhà nước tư bản chủ nghĩa đầu tư

Kinh tế thuộc Nhà nước và tư nhân kết hợp tăng lên mạnh mẽ

Chi tiêu tài chính của các Nhà nước tư bản phát triển dùng để điều tiết quá trình tái sản xuất

xã hội tăng lên nhiều

Phương thức điều tiết của Nhà nước linh hoạt, mềm dẻo hơn với phạm vi rộng hơn

* Nói: chủ nghĩa tư bản hiện đại là một giai đoạn phát triển mới so với chủ nghĩa tư bản cổ điển Vì:

CNTBHĐ theo đúng nghĩa của nó, khởi đầu hình thành từ sau khủng khoảng kinh tế TBCN

1929 -1933 phát triển đầy đủ hơn sau chiến tranh thế giới thứ hai, là một giai đoạn phát triển mới

so với CNTBCĐ, vì:

- Vận động trên một cơ sở vật chất kỹ thuật khác hẳn so với cơ sở vật chất kỹ thuật của CNTBCĐ, nền văn minh hậu công nghiệp

- Vai trò mới của Nhà nước xuất hiện như một tất yếu kinh tế - vai trò người tổ chức đời sống kinh tế xã hội , ngày càng đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc, điều hoà lợi ích của các tầng lớp khác nhau trong xã hội

- Tổ chức độc quyền không ngừng lớn mạnh, vươn lên trở thành các tổ chức độc quyền quốc gia, nhưng không còn thống trị đời sống kinh tế xã hội như cũ được nữa Tính chất tư nhân giảm dần, tính chất xã hội tăng lên ngay trong lòng các tổ chức độc quyền này được phản ánh trước hết

ở quy mô cổ phần hoá ngày càng lớn, sự tách rời giữa quyền sở hữu tư nhân với quyền sử dụng tư bản ngày càng sâu sắc

- Sự phát triển ngày càng không đều theo hướng ngày càng tăng ảnh hưởng lan tỏa từ các nước TBCN trung tâm sang các nước TBCN ngoại vi, tạo nên sự phát triển rút ngắn của một số nước đi sau, hình thành thị trường thống nhất, phát triển đa dạng, một nền kinh tế toàn cầu hoá

Trang 3

Câu 2: Phân tích những biểu hiện mới về kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại Anh chị có nhận xét gì về xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản hiện đại kể từ sau chiến tranh lạnh (1991) đến nay?

Trả lời:

* Những biểu hiện mới về kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại:

- Biểu hiện mới của chủ nghĩa tư bản độc quyền:

+ Sự tập trung sản xuất và sự thống trị của các tổ chức độc quyền: sự xuất hiện ngày càng nhiều những công ty độc quyền xuyên quốc gia bên cạnh sự phát triển của các xí nghiệp vừa và nhỏ

+ Sự thay đổi trong các hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chính

+ Xuất khẩu tư bản vẫn là cơ sở của tư bản độc quyền nhưng quy mô, chiều hướng và kết cấu của việc xuất khẩu tư bản đã có bước phát triển mới

+ Sự phân chia thế giới giữa các liên minh của chủ nghĩa tư bản: xu hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá ngày càng tăng bên cạnh xu hướng khu vực hóa nền kinh tế

+ Sự phân chia thế giới giữa các cường quốc vẫn tiếp tục dưới những hình thức cạnh tranh và thống trị mới

Tóm lại, dù có những biểu hiện mới, chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay vẫn là chủ

nghĩa tư bản độc quyền Những biểu hiện mới đó chỉ là sự phát triển của năm đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền mà thôi

- Những biểu hiện mới trong cơ chế điều tiết kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:

Trong giai đoạn hiện nay, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước có những biểu hiện mới sau đây:

+ Các hình thức của kinh tế thuộc Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân ngày càng trở nên đa dạng, nó vừa bao gồm các xí nghiệp thuộc Nhà nước trong các ngành sản xuất vật chất, vừa bao gồm các tổ chức tài chính thuộc ngân hàng, ngành kinh tế thứ ba (dịch vụ), cùng những công trình

cơ sở hạ tầng xã hội mới xây dựng do Nhà nước tư bản chủ nghĩa đầu tư

+ Kinh tế thuộc Nhà nước và tư nhân kết hợp tăng lên mạnh mẽ Năm 1979, trong 40 công ty

công nghiệp lớn nhất của Tây Âu có 7 công ty hỗn hợp vốn giữa Nhà nước và tư nhân, trong đó vốn Nhà nước chiếm khoảng một nửa Trong công ty dầu lửa của Mỹ, cổ phần do Chính phủ nắm

là 46% ở Cộng hoà Liên bang Đức đã có 1.000 xí nghiệp thuộc Nhà nước và tư nhân kết hợp + Chi tiêu tài chính của các Nhà nước tư bản phát triển dùng để điều tiết quá trình tái sản xuất xã hội tăng lên nhiều Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, khoản chi này chiếm khoảng 10%

tỷ trọng tổng giá trị sản phẩm quốc dân, thì đến đầu những năm 1980, khoản chi này đã chiếm hơn 30%, cá biệt có nước vượt quá 50%

+ Phương thức điều tiết của Nhà nước linh hoạt, mềm dẻo hơn với phạm vi rộng hơn

Phương thức điều tiết của Nhà nước cũng thay đổi một cách linh hoạt, mềm dẻo hơn, kết hợp điều tiết tình thế với điều tiết dài hạn Các công cụ và phạm vi điều tiết của nhà nước cũng đa dạng và mở rộng hơn

* Xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản hiện đại kể từ sau chiến tranh lạnh (1991) đến nay:

Từ sự biến đổi về chính trị và kinh tế của CNTB toàn cầu hoá, có thể rút ra vài nhận xét sau:

- CNTB trong xu thế toàn cầu hoá còn khả năng phát triển kinh tế - xã hội, nhất là chuyển sản xuất sang chiều sâu như hiện nay Sở hữu tư nhân, lợi ích tư nhân vẫn còn là động lực lâu dài của phát triển kinh tế nói chung trong CNTB

- Sự thích ứng của CNTB thông qua những điều chỉnh về nhiều mặt, không vượt được giới hạn lợi ích tư sản Kinh tế - xã hội phát triển được một bước thì mâu thuẫn tư bản và lao động lại bộc lộ ra có quy mô rộng lớn hơn và đi vào chiều sâu hơn, không thể có cách giải quyết triệt để trong khuôn khổ CNTB

- CNTB toàn cầu hoá tạo ra được nền kinh tế tri thức, chuyển mạnh được sản xuất ở trình độ

cơ khí sang tin học hoá và từ đây quá trình toàn cầu hoá kinh tế ngày càng phát triển Nhưng toàn

Trang 4

cầu hoá, bên cạnh mặt tích cực, thì do sự gia tăng khống chế của CNTB lũng đoạn toàn cầu với mạng lưới đồ sộ vươn rộng khắp hành tinh của các tổ chức tư bản độc quyền xuyên quốc gia, thực

sự là một quá trình đầy mâu thuẫn, hàm chứa sự bất bình đẳng mà phần bất lợi đang thuộc về các nước đang phát triển với nguy cơ tụt hậu ngày càng xa

- CNTB thực hiện được một bước phát triển thì cũng tạo ra những gì không dung được với chính nó Từ góc nhìn này, CNTB toàn cầu hoá thực sự là "chủ nghĩa tư bản chống chủ nghĩa tư bản", là "chủ nghĩa tư bản hướng tới hậu tư bản, phi tư bản" Chiến tranh, môi sinh, bất bình đẳng, phát triển vì con người biết bao nhiêu vấn đề có tính sống còn phải khắc phục trong các lĩnh vực trên, và sự khắc phục này về cơ bản là khắc phục chính CNTB toàn cầu hoá

Như vậy, những biện pháp điều chỉnh của CNTB không làm thay đổi bản chất của nó Tuy nhiên, xu hướng vận động khách quan của CNTB trong xu thế toàn cầu hoá tiếp tục chuẩn bị tiền

đề không chỉ vật chất - kỹ thuật, mà cả những nhân tố hợp lý trong thiết chế chính trị, nhà nước cho chủ nghĩa xã hội Trên góc nhìn này, xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng chính là sự hiện thực hoá cái lô-gic phát triển của lực lượng sản xuất và nền văn minh mà nhân loại đạt được trong CNTB Toàn bộ tình hình như đã nêu làm cho việc thay thế chế độ tư bản để mở đường cho sự phát triển xã hội trở thành vấn đề thời sự của lịch sử đương đại Bước đi tuỳ thuộc hoàn cảnh cụ thể, nhưng đó là xu thế lịch sử không thể đảo ngược

Trang 5

Câu 3: Trình bày nguồn gốc, bản chất của các công ty xuyên quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu? Tại sao nói: “TNCs vừa là đạo diễn, vừa là diễn viên chính trên sân khấu kinh tế toàn cầu”?

Trả lời:

* Nguồn gốc, bản chất của các công ty xuyên quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu:

- Nguồn gốc:

+ Tích tụ và tập trung sản xuất:

Tích tụ, tập trung sản xuất đạt đến một trình độ nhất định làm cho các tổ chức độc quyền vươn ra khỏi biên giới quốc gia hoạt động trên phạm vi quốc tế, thực hiện sự phân chia thế giới về mặt kinh tế

Cùng với tích tụ và tập trung tư bản, xuất khẩu tư bản được đẩy mạnh đã trở thành cơ sở kinh

tế quan trọng cho sự mở rộng phạm vi hoạt động quốc tế của các công ty xuyên quốc gia được hình thành từ các tổ chức độc quyền sau Chiến tranh thế giới thứ II

+ Để thực hiện việc nắm lại thị phần đã mất, chủ nghĩa tư bản thực hiện nhiều biện pháp trong đó có sự xâm nhập của TNCs TNCs là tổ chức phù hợp nhất để các tổ chức độc quyền có thể thâm nhập về kinh tế, xuất khẩu, đầu tư tư bản ra nước ngoài

+ Tác động của cách mạng khoa học công nghệ đã dẫn tới sự hình thành nhiều ngành kinh tế mới đồng thời đặt ra yêu cầu tái cấu trúc các ngành sản xuất lâu đời; Sự phát triển mạnh mẽ của R

&D, yêu cầu nguồn vốn và sự phối hợp của nhiều quốc gia đã thúc đẩy các công ty có điều kiện bành trướng ra nước ngoài

+ Sự điều tiết của Nhà nước tư sản thông qua vai trò “bà đỡ” chất xúc tác không thể thiếu với

sự ra đời của TNCs, đặc biệt là kinh tế đối ngoại

+ Lợi ích của kinh doanh quốc tế: thông qua hoạt động của các chi nhánh, các công ty tư bản

có thể tận dụng những lợi thế của nước chủ nhà

TNCs ra đời là một tất yếu khách quan và là sản phẩm của quá trình quốc tế hoá sản xuất Chỉ trong điều kiện quốc tế hoá sản xuất cao độ thì mới có những tiền đề vật chất khách quan để TNCs ra đời

- Bản chất:

TNCs kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay đã có sự phát triển bùng nổ cả về quy mô, phương thức hoạt động và ảnh hưởng ngày càng sâu sắc đến nền kinh tế thế giới

Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển đã nêu một định nghĩa về TNC: Công ty xuyên quốc gia là những công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn bao gồm các công ty

mẹ là công ty kiểm soát toàn bộ tài sản của chúng ở nước sở hữu và các công ty con của chúng ở nhiều nước trên thế giới

Trước xu hướng phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa, nhiều quốc gia mở cửa thu hút TNCs, các hoạt động của TNCs không còn giới hạn ở một số lĩnh vực chuyên doanh nữa mà đã chuyển sang đa doanh và có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu

Có thể cho rằng, TNC là phạm trù kinh tế phản ánh sự thay đổi về lượng của QHSX TBCN để phù hợp với trình độ quốc tế hoá của LLSX trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế

* Tại sao nói: “TNCs vừa là đạo diễn, vừa là diễn viên chính trên sân khấu kinh tế toàn cầu”?

- Các công ty xuyên quốc gia (TNC) là các công ty tư bản độc quyền, bành trướng thế lực

ra nước ngoài dưới hình thức cài cắm nhánh Hiện tại, các TNC được Nhà nước ở các nước tư bản chủ nghĩa nâng đỡ, thông qua đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trên quy mô lớn, các công ty xuyên quốc gia mua và thôn tính các tài sản ở nước ngoài, không ngừng tăng cường thực lực, mở rộng thị phần

- Dựa vào thực lực hùng hậu của bản thân, các công ty xuyên quốc gia đã trở thành lực lượng chủ yếu thúc đẩy toàn cầu hoá kinh tế và chủ nghĩa tư bản độc quyền liên quốc gia phát triển

- Do có thực lực kinh tế, chính trị hùng mạnh, hệ thống sản xuất, tiêu thụ, dịch vụ, nghiên cứu khoa học, thông tin toàn cầu hoá, các TNC đã có tác động lớn đến các mặt của đời sống chính

Trang 6

trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và thế lực của họ đã thâm nhập các lĩnh vực trên toàn thế giới Thể hiện

ở những điểm sau đây:

+ Các công ty xuyên quốc gia đã thúc đẩy toàn cầu hoá sản xuất và nguồn vốn, thúc đẩy mạnh mẽ phân công lao động quốc tế sâu sắc hơn, dựa vào nhau trong đời sống kinh tế, thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển nhanh

+ Truyền bá khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý trên phạm vi toàn cầu, tạo không gian rộng lớn để phát triển lực lượng sản xuất và điều chỉnh quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa trên quy mô quốc tế

+ Chiếm đoạt thị trường toàn cầu, xuất khẩu vốn và hàng hoá trên quy mô lớn, thu về nhiều ngoại tệ, phát triển thực lực trong nước, tăng cường kiểm soát của tư bản độc quyền trên phạm vi toàn cầu Nhưng mặt khác, trong quá trình xuất khẩu vốn và kỹ thuật ra thị trường thế giới cũng có khả năng làm cho kinh tế trong nước "trống rỗng", khiến nạn thất nghiệp thêm trầm trọng, cũng có khả năng bùng nổ mâu thuẫn và xung đột với các nước sở tại

+ Tạo cơ hội và cả những thách thức to lớn cho các nước đang phát triển Tuy nhiên, để độc lập tự chủ trong phát triển kinh tế dân tộc, trong khi lợi dụng những cơ hội mà các TNC đưa đến, các nước đang phát triển cũng cần có biện pháp đối phó với những thách thức đang gặp phải; giảm bớt tình trạng dựa dẫm vào các TNC; đề phòng các công ty đó thâm nhập về chính trị và kiểm soát

về kinh tế, bảo vệ nền độc lập chính trị và lợi ích căn bản của nhà nước dân tộc

+ Ảnh hưởng lớn tới lĩnh vực tài chính, tiền tệ Các TNC thao túng nguồn vổn tín dụng quốc tế khổng lồ, hình thành thị trường tiền tệ lớn, trở thành các nhà kinh doanh ngoại tệ lớn nhất

và là lực lượng chủ yếu thúc đẩy lưu thông vốn trên toàn thế giới, ảnh hưởng trực tiếp đến việc ổn định thị trường tiền tệ và cân bằng cán cân thanh toán quốc tế

Trang 7

Câu 4: Phân tích đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản hiện đại Sự phát triển của Chủ nghĩa

tư bản hiện đại với những đặc trưng đó ảnh hưởng như thế nào đối với nền kinh tế thế giới?

Trả lời:

* Đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản hiện đại:

- CNTB đang trong bước quá độ từ CSVCKT truyền thống sang CSVCKT hoàn toàn mới về chất: Kinh tế tri thức

Trong nền kinh tế tri thức, của cải làm ra chủ yếu dựa vào cái chưa biết, cái đã biết không có giá trị Tìm cái chưa biết tức là tạo ra giá trị mới Khi phát hiện ra cái chưa biết, thì cũng tức là loại trừ cái đã biết, cái cũ mất đi thay thế bằng cái mới; phát triển từ cái mới, không phải từ số lượng lớn dần lên, nền kinh tế xã hội luôn đổi mới

- Sự biến đổi trong đội ngũ người lao động:

Lao động làm thuê – LLSX chủ yếu – đã có sự biến đổi, cả về nghiệp vụ, cơ cấu và các yếu

tố cấu thành giá trị hàng hoá sức lao động

+ Về cơ cấu lao động đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tiến bộ và các yếu tố tái sản xuất TBCN một cách có hiệu quả

+ Các nước tư bản đã quan tâm đến yếu tố cấu thành giá trị hàng hoá sức lao động, thực hiện nâng cao chất lượng cuộc sống thông qua sự điều tiết kinh tế, can thiệp vào các điều kiện an sinh

do đó xuất hiện tầng lớp trung lưu chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong xã hội tư bản

- Đa dạng hoá và quốc tế hoá các hình thức sở hữu:

+ Hình thức sở hữu đa dạng: có nhiều chủ thể sở hữu TLSX trong cùng một công ty cổ phần với những tỷ lệ khác nhau, kể cả người lao động cũng góp vốn cổ phần để hưởng lợi tức cổ phần Trong CNTBHĐ sở hữu không chỉ giới hạn trong việc sở hữu TLSX mà chủ yếu là sở hữu về mặt giá trị dưới nhiều hình thức như vốn tự có, vốn cổ phần, vốn cho vay Sự tách biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn ngày càng sâu sắc thúc đẩy sự hình thành, phát triển của lao động quản

lý thành một nghề: nghề giám đốc

+ Hình thức sở hữu độc quyền vẫn tồn tại, nhưng không còn độc quyền thuần tuý mà là dạng hỗn hợp và dưới hình thức sở hữu của các công ty xuyên quốc gia

- Hệ thống kinh tế TBCN thế giới biến đổi sâu sắc:

+ Sự phát triển không đều giữa các bộ phận cấu thành hệ thống trong đó thể hiện rõ sự hình thành ba trung tâm lớn: Hoa Kỳ - Nhật Bản – EU

+ Các nước đang phát triển có sự phân hoá mạnh, một số nước tăng trưởng nhanh, đã và sẽ bước vào nhóm các nước công nghiệp phát triển song về tổng thể các nước đang phát triển vẫn trong tình trạng lạc hậu và tiếp tục tụt hậu so với các nước tư bản phát triển

- Những biểu hiện mới về kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại:

Dù có những biểu hiện mới, chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay vẫn là chủ nghĩa tư bản độc quyền Những biểu hiện mới đó chỉ là sự phát triển của năm đặc điểm cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc quyền mà thôi

- Những biểu hiện mới trong cơ chế điều tiết kinh tế của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước:

+ Các hình thức của kinh tế thuộc Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân ngày càng trở nên đa dạng, nó vừa bao gồm các xí nghiệp thuộc Nhà nước trong các ngành sản xuất vật chất, vừa bao gồm các tổ chức tài chính thuộc ngân hàng, ngành kinh tế thứ ba (dịch vụ), cùng những công trình

cơ sở hạ tầng xã hội mới xây dựng do Nhà nước tư bản chủ nghĩa đầu tư

+ Kinh tế thuộc Nhà nước và tư nhân kết hợp tăng lên mạnh mẽ

+ Chi tiêu tài chính của các Nhà nước tư bản phát triển dùng để điều tiết quá trình tái sản xuất xã hội tăng lên nhiều

+ Phương thức điều tiết của Nhà nước linh hoạt, mềm dẻo hơn với phạm vi rộng hơn

* Sự phát triển của Chủ nghĩa tư bản hiện đại với những đặc trưng đó ảnh hưởng như thế nào đối với nền kinh tế thế giới?

Trang 8

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay thêm một lần nữa cho thấy rõ, khủng hoảng vẫn luôn là bạn đồng hành của kinh tế tư bản chủ nghĩa với biên độ ngày càng dầy hơn Lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin về CNTB, chủ nghĩa đế quốc vẫn giữ nguyên giá trị và là cơ sở khoa học để phân tích làm rõ nhiều vấn đề mang tính bản chất của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính hiện nay Toàn cầu hoá ngày càng phát triển thì càng đẩy nó mâu thuẫn với các thể chế quản trị - điều tiết kinh tế quốc gia hiện hành Cuộc khủng hoảng hiện nay đặt ra đòi hỏi phải có những luật chơi

và thể chế quản trị toàn cầu tương ứng, không bị trói buộc bởi những thể chế quản trị quốc gia vốn rất khác biệt, thậm chí trái ngược và xung đột nhau Khủng hoảng thể chế quản trị nền kinh tế toàn cầu cũng có thể xem là một nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu

CNTB trong bối cảnh toàn cầu hoá vì mục đích lợi nhuận đã khách quan thúc đẩy, phát triển nền văn minh, song đồng thời cũng đẩy tới sự tiêu dùng vật chất đến mức đe doạ ngay chính sự tồn tại hợp lý của con người CNTB trong kỷ nguyên toàn cầu hoá cũng đang làm nảy sinh tâm trạng

bi quan về khoa học ngày càng tăng, bởi mỗi bước tiến của khoa học đều đặt các nhà khoa học trước trách nhiệm đối với cuộc sống con người Đó là sự tha hoá của khoa học, sự tha hoá ấy không phải lỗi từ khoa học, mà từ việc sử dụng khoa học của CNTB toàn cầu hoá

Trang 9

Câu 5: Phân tích bản chất của các công ty xuyên quốc gia Theo anh (chị) công nghiệp phụ trợ

có vai trò như thế nào đối với hoạt động đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia ở Việt Nam?

Trả lời:

* Bản chất của các công ty xuyên quốc gia:

TNCs kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay đã có sự phát triển bùng nổ cả về quy mô, phương thức hoạt động và ảnh hưởng ngày càng sâu sắc đến nền kinh tế thế giới

Báo cáo Đầu tư thế giới 1998, Hội nghị của Liên hợp quốc về Thương mại và phát triển đã

nêu một định nghĩa về TNC: Công ty xuyên quốc gia là những công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc

vô hạn bao gồm các công ty mẹ là công ty kiểm soát toàn bộ tài sản của chúng ở nước sở hữu và các công ty con của chúng ở nhiều nước trên thế giới

Trước xu hướng phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa, nhiều quốc gia mở cửa thu hút TNCs, các hoạt động của TNCs không còn giới hạn ở một số lĩnh vực chuyên doanh nữa mà đã chuyển sang đa doanh và có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu Bởi thế, đã xuất hiện thuật ngữ công ty toàn cầu Thực ra, thuật ngữ này chỉ phản ánh đặc điểm của TNC trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, còn

về bản chất và định nghĩa vẫn không có sự khác biệt đáng kể

Qua các thuật ngữ và định nghĩa trên, có thể rút ra hai nhận xét quan trọng:

Thứ nhất, về bản chất, TNC có đặc điểm chung là quy mô lớn, sở hữu đa quốc gia và kiểm soát

các hoạt động sản xuất kinh doanh ở nhiều nước

Thứ hai, định nghĩa chung về TNCs của UNCTAD là hợp lý hơn cả Quan niệm về TNC như

vậy chú trọng đến tính chất sở hữu và quốc tịch của tư bản: vốn đầu tư là của ai? ở đâu? Chủ tư bản ở một nước nào đó có công ty mẹ đóng tại nước đó và thực hiện hoạt động kinh doanh trong

và ngoài nước, phát triển các công ty con, các chi nhánh ở nước ngoài là những hình thức phổ biến của TNC

Có thể cho rằng: TNC là phạm trù kinh tế phản ánh sự thay đổi về lượng của QHSX TBCN để phù hợp với trình độ quốc tế hoá của LLSX trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế

* Vai trò của công nghiệp phụ trợ đối với hoạt động đầu tư trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia ở Việt Nam:

- CNPT có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút dòng vốn FDI vào lĩnh vực công nghiệp, đồng thời kích thích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước

- CNPT thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất Dưới áp lực cạnh tranh, các công ty công nghiệp phụ trợ phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập khẩu Tiềm năng đó sẽ thành hiện thực nhờ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI

- CNPT góp phần tạo công ăn việc làm, thu hút lao động dư thừa trên các địa bàn sản xuất của doanh nghiệp và khu vực lân cận Mở rộng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp

- Những lợi ích từ việc đầu tư vào các yếu tố sản xuất tiên tiến trong các ngành công nghiệp

hỗ trợ sẽ lan truyền đến các ngành công nghiệp khác CNPT góp phần tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá theo hướng vừa mở rộng vừa thâm sâu CNPT không phát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp và những công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu

Trang 10

Câu 6: Phân tích vai trò của các công ty xuyên quốc gia đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nền kinh tế thế giới Theo anh (chị) cần làm gì để ngăn chặn tình trạng chuyển giá, báo lỗ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam?

Trả lời:

* Vai trò của các công ty xuyên quốc gia đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong nền kinh tế thế giới:

- TNCs thúc đẩy lưu thông dòng vốn đầu tư trên toàn thế giới:

Trên thực tế, hầu hết các hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện qua kênh TNCs Các TNCs hiện chi phối trên 90% Tổng FDI trên toàn thế giới Giá trị của lượng vốn FDI thực sự là thước đo vai trò to lớn của các TNCs trong nền kinh tế thế giới vì FDI là công cụ quan trọng nhất của các TNCs trong việc thực hiện chiến lược toàn cầu của mình

Với tư cách là chủ thể của hoạt động đầu tư trên thế giới TNCs là nhân tố đặc biệt quan trọng

có ảnh hưởng mang tính quyết định tới toàn bộ hoạt động đầu tư quốc tế Vai trò điều tiết hoạt động đầu tư trên quy mô toàn cầu của TNCs thể hiện như sau:

Vào thời kỳ suy thoái kinh tế năm 207 -2010, hầu hết các ngành đều có tốc độ tăng trưởng chậm lại Các TNCs giảm hoạt động trên hầu hết các lĩnh vực Động thái đó ảnh hưởng trực tiếp tới dòng lưu chuyển FDI trên thế giới

Hơn nữa, các TNCs làm thay đổi xu hướng đầu tư giữa các quốc gia Trong cơ cấu vốn FDI trên thế giới tỷ trọng vốn FDI vào các nước phát triển chiểm phần lớn Tuy nhiên, tỷ trọng này có

xu hướng giảm dần trong khi các nước đang phát triển lại có tỷ trọng ngày càng cao

Cơ cấu dòng vốn FDI đã thay đổi do có sự điều chỉnh trong chiến lược kinh doanh của các TNCs Cũng chính nhờ mở rộng chính sách tự do hoá FDI, các TNCs ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với thúc đẩy dòng vốn FDI vào các nước đang phát triển

Nếu trước đây, hầu hết nguồn vốn FDI được thực hiện bởi các TNCs của các nước phát triển thì ngày nay số lượng các TNCs của các nước đang phát triển cũng tăng lên và có ngày càng nhiều vốn FDI đến từ các nước đang phát triển

- TNCs làm tăng tích luỹ vốn của nước chủ nhà:

Với thế mạnh về vốn TNCs đóng vai trò là động lực thúc đẩy tích lũy vốn của nước chủ nhà Thông qua kênh TNCs, nước chủ nhà có thể tăng cường thu hút vốn FDI đầu tư vào nước mình Vai trò này của TNCs được thể hiện qua một số khía cạnh sau:

Thứ nhất: Bản thân TNCs khi đến hoạt động ở các quốc gia đều mang đến cho nước này một

số lượng vốn nào đó Hơn nữa, trong quá trình hoạt động TNCs cũng đóng cho ngân sách của nước chủ nhà qua các khoản như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, chi phí về viễn thông, điện nước… Mặt khác, nhờ có TNCs mà một bộ phận đáng kể người dân có thêm thu nhập do làm việc trực tiếp trong các công ty chi nhánh nước ngoài hoặc gián tiếp thông qua việc cung cấp các dịch vụ cho TNCs và hoặc những người lao động khác

Thứ hai: Ngoài việc vốn ban đầu để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh TNCs còn

thực hiện các biện pháp huy động thêm vốn từ Công ty mẹ, từ các chi nhánh thành viên của tập đoàn, từ các đối tác, các tổ chức tài chính và tín dụng thế giới… Đây chính là hình thức thu hút đầu tư của các nước đang phát triển hiện nay

Thứ ba: TNCs góp phần cải thiện cán cân thanh toán của các nước thông qua việc tích luỹ

ngoại hối nhờ các hoạt động xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu của TNCs chiếm một tỷ trọng đáng

kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước Điều đó không chỉ thể hiện ở vai trò thúc đẩy thương mại thế giới của TNCs mà còn đem lại một nguồn ngoại tệ quan trọng, góp phần tạo thế cân bằng cho cán cân thanh toán của nước chủ nhà

Tóm lại, TNCs đóng vai trò rât to lớn trong hoạt động đầu tư quốc tế Xét trên góc độ nền kinh tế toàn cầu thì TNCs thúc đẩy lưu thông dòng vốn FDI trên phạm vi toàn thế giới Mặt khác,

ở góc độ từng quốc gia riêng thì TNCs góp phần làm tăng tích lũy vốn cho nước chủ nhà

* Để để ngăn chặn tình trạng chuyển giá, báo lỗ của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, cần thực hiện những giải pháp sau:

Ngày đăng: 20/10/2017, 07:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w