1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

m t s v n v t gi h i o i nh h ng c a n v m t s bi n ph p ho n thi n t gi h i o i trong giai o n hi n nay Vi t Nam

40 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 256,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về hình thức, tỷ giá hối đoái TGHĐ là giá cả đơn vị tiền tệ của một nước được biểuhiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia; là hệ số của một đồng tiền này sang đồng tiềnkhác và được xác

Trang 1

http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ án,báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cả mọingười Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp của quýkhách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý khách gửi

về luanvanpro.com@gmail.com

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/một số vấn đề về tỷ giá hối đoái ảnh hưởng của nó và một số biện pháp để hoàn thiện tỷgiá hối đoái trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Cùng với quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra nhanh chóng sâu sắc và rộng lớn là xuhướng mở rộng các quan hệ kinh tế tài chính đa phương, nhiều chiều giữa các quốc gia vàlàm tăng cường sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, không một quốc gia nào có thểđứng ngoài cuộc được Các quan hệ này đã làm cho hệ thống tỷ giá hối đoái thay đổi mộtcách sôi động

Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế gắn chặt với những biến động kinh tế củamỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ và mỗi giai đoạn phát triển Sự biến động của tỷ giá hốiđoái có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế quốc gia Nóvừa là nguyên nhân đồng thời là kết quả của nhiều nhân tố khác nhau trong nền kinh tế

Sự hoạt động có hiệu quả của các biện pháp, chính sách kinh tế sẽ có tác dụng điều hoà vàlàm lành mạnh tỷ giá hối đoái Ngược lại, tỷ giá hối đoái lại kích thích và hoàn thiện cácbiện pháp, các chính sách giúp cho guồng máy kinh tế hoạt động một cách có hiệu quả vàđạt được tốc độ phát triển mong muốn

Mọi biến động trên các thị trường tài chính quốc tế luôn luôn được các quốc gia theodõi một cách sát sao nhằm tránh những tác động tiêu cực của những thay đổi trên thịtrường tài chính thông qua hệ thống tỷ giá Song không phải quốc gia nào cũng đạt đượchiệu quả mong muốn bởi tỷ giá là vấn đề hết sức phức tạp, nó có quan hệ với các yếu tốbên ngoài quốc gia và sự tương tác của các quá trình, các chính sách kinh tế tài chính tiền

tệ của mỗi nước

Nhận thức một cách đúng đắn và chính xác để từ đó xác định và đưa vào vận hànhtrong thực tế một tỷ giá hối đoái phù hợp nhằm biến nó như một công cụ quản lý nền kinh

tế một cách tích cực là yêu cầu của các quốc gia

Để có thể hiểu biết thêm về tỷ giá hối đoái, về những ảnh hưởng của nó đến thị

trường, đến nền kinh tế vĩ mô, trong khuôn khổ đề tài này, em xin trình bày “một số vấn

đề về tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng của nó và một số biện pháp để hoàn thiện tỷ giá hối đoái trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam” Đề án được chia làm 3 chương:

Trang 3

CHƯƠNG I : Tổng quan chung về hệ thống tỷ giá hối đoái.

CHƯƠNG II : Hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam.

CHƯƠNG III: Những giải pháp hoàn thiện tỷ giá hối đoái.

Vì chuyên môn và kiến thức còn hạn chế cộng với những hạn chế trong việc thu thậptài liệu, do đó trong đề án này không tránh khỏi những khiếm khuyết Vì vậy, em mongđược sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô và các bạn giúp em có cách nhìn sâu hơn về vấn

đề và hoàn thành tốt hơn cho những công trình tiếp theo

Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến quý báu củacác thầy, cô giáo trong khoa đặc biệt là cô giáo NGUYỄN THỊ NGỌC DIỆP cùng tập thểbạn bè đã giúp em hoàn thành tốt đề án này

Trang 4

CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN CHUNG VỀ HỆ THỐNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

I TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

1 Khái niệm.

1.1 Tỷ giá hối đoái là gì?

Về hình thức, (tỷ giá hối đoái) TGHĐ là giá cả đơn vị tiền tệ của một nước được biểuhiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia; là hệ số của một đồng tiền này sang đồng tiềnkhác và được xác định bởi mối quan hệ cung-cầu trên thị trường tiền tệ

Về nội dung, TGHĐ là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hoá,dịch vụ, phát sinh trực tiếp từ tiền tệ, quan hệ tiền tệ (sự vận động của vốn, tín dụng )giữa các quốc gia

Tỷ giá đồng Yên Nhật và của đôla Mỹ so với đồng Việt Nam ngày 05/09/ 2001 nhưsau:

1 USD = 119,83 JPY

1 USD = 15.000 VND

Như vậy, TGHĐ thể hiện quan hệ về giá trị tiền tệ giữa hai đồng tiền khác nhau

2 Các loại tỷ giá hối đoái

2.1 TGHĐ giao ngay và TGHĐ kỳ hạn (Spot and Forward Rate)

TGHĐ giao ngay là tỷ giá yết cho những giao dịch thực tế diễn ra tại thời điểm yết giá

và việc thanh toán được thực hiện chậm nhất sau 2 ngày

Ví dụ: tỷ giá giao ngay USD/VND là 15.000 vào ngày 05/10/2001 áp dụng cho cácgiao dịch ngoại tệ trong ngày và việc thanh toán được thực hiện chậm nhất vào ngày07/10/2001

Trang 5

TGHĐ kỳ hạn là tỷ giá ấn định cho một giao dịch ngoại tệ sẽ diễn ra trong tương lai.

Ví dụ: Tỷ giá giao ngay USD/VND là 14.950 vào ngày 05/09/2001 Tỷ giá kỳ hạn 30ngày ấn định ngày hôm đó là 14.990 nhưng được tiến hành thanh toán vào 30 + 2 ngày sautức ngày 07/10/2001 Tỷ giá kỳ hạn thường có sự chênh lệch với tỷ giá giao ngay Mứcchênh lệch này phản ánh dự đoán của thị trường về xu thế biến động tỷ giá

2.2 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế

Ở nhiều nước, (Ngân hàng trung ương) NHTW can thiệp vào việc xác định TGHĐ và

ấn định mức tỷ giá giao dịch hàng ngày Tỷ giá đó được gọi là tỷ giá danh nghĩa Tuynhiên, các giao dịch thực tế trên thị trường có thể dựa trên một tỷ giá khác được xác định

trên cơ sở cung-cầu trên thị trường Tỷ giá đó gọi là TGHĐ trên thị trường.

TGHĐ danh nghĩa là tỷ giá do NHTW công bố và ấn định, còn TGHĐ thị trường là tỷgiá giao dịch thực tế trên thị trường

2.3 TGHĐ yết trực tiếp và TGHĐ yết gián tiếp

TGHĐ yết trực tiếp là tỷ giá được yết trên cơ sở tính giá trị một đơn vị nội tệ theo

ngoại tệ Hình thức yết giá này thường được sử dụng ở Anh-Mỹ nên còn được gọi là yết giá kiểu Anh-Mỹ Tỷ giá này được ký hiệu là e.

Ví dụ: Tại Anh người ta yết GBP/USD = 1,6669 còn tại Mỹ người ta yết USD/GBP =0,5999

TGHĐ yết gián tiếp là tỷ giá được yết trên cơ sở tính giá trị một đơn vị ngoại tệ theonội tệ Tỷ giá này được ký hiệu là E

Ví dụ: Tại Việt Nam ta yết USD/VND = 14.980

(Nếu yết giá trực tiếp sẽ là: VND/USD = 1/14.980 = 0.0000667)

2.4 Tỷ giá hối đoái tính chéo (Cross Rate)

Trên thực tế, không phải tỷ giá giữa 2 đồng tiền nào cũng được yết giá trên thị trườngngoại tệ và thị trường hối đoái mà chủ yếu là tỷ giá của các đồng tiền với các đồng tiềnmạnh (hard curency) như USD, GBP, FRF, JPY, DEM tỷ giá giữa các đồng tiền yếu

Trang 6

(soft curency) thường không được yết giá do tính kém chuyển đổi (inconvertibility) củachúng Tuy nhiên trong thực tế, đôi khi người ta lại cần tính toán tỷ giá giữa các đồng tiềnnày, chẳng hạn giữa đồng Bath và đồng Việt Nam Khi đó người ta sử dụng tỷ giá tínhchéo.

Tỷ giá tính chéo giữa 2 đồng tiền được xác định dựa trên cơ sở so sánh tỷ giá củachúng với một đồng tiền thứ 3 (thường là một đồng tiền mạnh)

Chẳng hạn nếu: USD/VND = 14.890 và USD/Bath = 40 thì tỷ giá tính chéoBath/VND = 14.890/40 = 372,25

Ngoài những khái niệm trên, còn có một số loại tỷ giá khác như tỷ giá mua, tỷ giá bán, tỷgiá Big-Mac

3 Phương pháp xác định tỷ giá hối đoái.

Qua việc xác định trên, khi trình bày các khái niệm về TGHĐ, chúng ta có thể để ýthấy rằng có nhiều loại TGHĐ khác nhau cũng như giá trị của chúng cũng có thể khônggiống nhau Và có thể ta cũng sẽ băn khoăn là tại sao và làm thế nào các NHTW lại ấnđịnh tỷ giá chính thức? Thị trường quyết định tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn như thếnào? Tại sao tỷ giá USD/VND ngày 05/09/2001 lại là 14.950 chứ không phải 11.000 hay17.000? Làm sao để xác định tỷ giá trao đổi giữa 2 loại tiền tệ? Trên thực tế người ta đãtừng dùng nhiều phương pháp để xác định tỷ giá

3.1.Ngang giá vàng

Để hiểu về ngang giá vàng, trước hết chúng ta cần nhớ lại rằng trước kia phương tiệntrao đổi và thanh toán chính là vàng, lúc đầu là vàng thỏi (bullion), sau là tiền vàng đúc.Sau đó, tiền giấy ra đời thay thế cho vàng song vẫn được gắn giá trị vào vàng Đó là chế

độ bản vị tiền vàng (Gold Standard)

Ví dụ: 1 USD = 0,888671 gram vàng, trong khi 1 GBP = 2,488281 gram vàng Người

ta đã lợi dụng ngay đặc điểm gắn giá trị của các đồng tiền vào vàng để xác định TGHĐ.Ngang giá vàng (gold parity) là phương pháp xác định TGHĐ dựa trên cơ sở so sánhhàm lượng vàng của đơn vị tiền tệ mỗi nước

Trang 7

Giả định ta có hai loại đồng tiền là A và B Tỷ giá này được xác định theo công thứcsau:

Hàm lượng vàng trong 1 đơn vị tiền ATGHĐ(Đồng A/ Đồng B)=

Hàm lượng vàng trong 1 đơn vị tiền B

Như vậy, với ví dụ trên thì tỷ giá GBP/USD = 2,488281/0,888671=2,8

Ngày nay, phương pháp tính tỷ giá này ít được áp dụng

3.2 Đồng giá lãi suất (Interest Parity)

Để hiểu phương pháp đồng giá lãi suất, trước hết chúng ta hãy xem xét ví dụ về 2đồng tiền: D (nội tệ) và F (ngoại tệ); E, F lần lượt là tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn giữa

2 đồng tiền RD và RF lần lượt là lãi suất (theo năm) của 2 đồng tiền Nếu bắt đầu bằng 1đồng D thì chúng ta sẽ có 2 phương án:

- Phương án 1:

+ Gửi 1 đơn vị đồng tiền D lấy lãi sau 1 năm thu được (1+ RD)xD đồng tiền D

- Phương án 2:

+ Chuyển tiền D sang đồng tiền F theo tỷ giá giao ngay E được (1xE)xD đồng tiền F

+ Gửi lấy lãi (1xE) đồng tiền F sau 1 năm thu được E(1+ RF) đồng tiền F

+ Chuyển E(1+ RF) đồng tiền F sang đồng tiền D theo tỷ giá kỳ hạn F được E(1+ RF)xF

Dđồng tiền D

Nếu E(1+ RF)xFD > (1+ RD) thì rõ ràng gửi tiền bằng tiền F có lãi hơn Do số người muốngửi tiền bằng đồng F tăng lên, lãi suất sẽ giảm xuống để cân đối nguồn vốn Chỉ đến khiE(1+ RF)xFD < (1+ RD) thì gửi tiền bằng đồng tiền D có lợi hơn và gây ra làn sóng chuyển

từ đồng F sang đồng D gửi lấy lãi Tương tự, dòng di chuyển này chỉ dừng lại khi lãi suấtcủa hai phương án cân bằng Hay E(1+ RF)xFD = (1+ RD) hay E(1+ RF) = (1+ RD)/FD Điều kiện này gọi là điều kiện ngang giá tiền lãi Nó cho rằng trong điều kiện cácnguồn vốn được chu chuyển tự do, lãi suất được hình thành trên cơ sở cung-cầu thị trường

và bỏ qua các chi phí giao dịch thì lãi suất ở mọi nơi trên thế giới đều như nhau Từ đó,người ta xây dựng phương pháp đồng giá lãi suất để xác định TGHĐ trên cơ sở cho rằng

Trang 8

tỷ giá phải được xác định để đảm bảo sự đúng đắn của quy luật đồng giá lãi suất Khi đó,

tỷ giá được xác định bởi công thức:

1 + RD E - Eo RD - RF

1 + RF Eo 1 + RF

Trong đó: E là tỷ giá tại thời điểm nghiên cứu (cần tính)

Eo là tỷ giá tại thời điểm gốc

Từ công thức trên ta cũng thấy biến động tỷ giá phụ thuộc vào tương quan lãi suấtgiữa hai đồng tiền Vì tỷ giá có thể biến động ngay khi có sự thay đổi lãi suất, xác định tỷgiá theo đồng giá lãi suất được xem là cách xác định TGHĐ ngắn hạn

3.3 Quy luật một giá và thuyết đồng giá sức mua

Tương tự như đối với đồng giá lãi suất, để hiểu quy luật một giá chúng ta hãy xem xétgiá cả của một mặt hàng là gạo ở 2 quốc gia có 2 đồng tiền lần lượt là D và F Giá gạo tínhbằng 2 đồng tiền lần lượt là PD và PF Tỷ giá F/D là E Nếu căn cứ vào đồng tiền D, bạn có

2 phương án chọn:

- Phương án 1: Mua 1 kg gạo bằng đồng D hết PD

- Phương án 2: Mua 1 kg gạo bằng đồng F hết PF tức là phải bỏ ra (PFxE) đồng tiền D.Nếu (PFxE) < PD, mua gạo bằng đồng F sẽ rẻ hơn Các nhà buôn lập tức đổ xô vàomua gạo tại nước F Kết quả, giá gạo F tăng lên cho đến khi (PFxE) = PD

Ngược lại nếu (PFxE) > PD, mua gạo bằng đồng D sẽ có lợi, các nhà buôn lập tứcchuyển sang mua gạo ở nước D đẩy giá gạo ở đây lên đến khi (PFxE) = PD

Nói tóm lại, do hoạt động kinh doanh của các nhà buôn, giá gạo tương đối tại hai quốc

gia sẽ luôn cân bằng Đó cũng là nội dung quy luật 1 giá Quy luật này phát biểu rằng trên

các thị trường cạnh tranh hoàn hảo, không có các chi phí giao dịch và vận tải, gia cả tươngđối (giá tính theo cùng một loại tiền tệ) là như nhau đối với mọi loại hàng hoá giống nhau,

bất kể chúng được sản xuất ở nước nào Do đó, nếu giá gạo ở 2 nước là PD và PF thì tỷ giáhối đoái E phải được xác định bằng: E = PD / PF để đảm bảo quy luật 1 giá đúng với gạo

Trang 9

Dựa trên cách tiếp cận của quy luật 1 giá, Ricardo và nhiều nhà kinh tế đã đưa ra lýthuyết đồng giá sức mua (Purchasing Power Parity) Lý thuyết này phát biểu rằng, tỷ giáhối đoái giữa 2 đồng tiền bằng tỷ số giữa các mức giá của giá hàng hoá 2 nước Thuyếtnày tính toán sức mua của các đồng tiền thông qua giá cả của giá hàng hoá ở mỗi nước,sau đó so sánh chúng với nhau:

Sức mua của đồng nội tệ

E =

Sức mua của đồng ngoại tệ

Tính toán TGHĐ theo cách này gọi là đồng giá sức mua tuyệt đối (PPP tuyệt đối).Một hàm ý khác của thuyết đồng giá sức mua là đồng giá sức mua tương đối (PPPtương đối) PPP tương đối cho rằng sự thay đổi theo tỷ lệ phần trăm trong TGHĐ giữa 2đồng tiền trong bất kỳ một điều kiện nào cũng bằng mức chệnh lệch giữa các thay đổi tỷ lệphần trăm trong mức giá giữa các quốc gia Nghĩa là:

(E - Eo) / Eo = (CPID – CPIF) / CPID

Trong đó:

Eo : tỷ giá tại thời điểm chọn gốc

E : tỷ giá tại thời điểm nghiên cứuCPID : chỉ số giá trong nước

CPIF : chỉ số giá nước ngoàiCông thức trên được gọi là công thức Ricardo - Cassel (do David Ricardo và GustavCassel cùng đưa ra trong tác phẩm của mình) Công thức này gợi ý rằng nếu chúng ta biếtTGHĐ tại một thời điểm lý tưởng là gốc thì ta có thể xác định được tỷ giá tại một thờiđiểm khác qua các mức giá 2 nước Tỷ giá được xác định theo phương pháp này tạm gọi

là TGHĐ đồng giá sức mua (PPP) Cũng từ công thức Ricardo-Cassel, chúng ta có thể xác

Trang 10

định được tỷ giá trong đó bỏ qua yếu tố lạm phát Tỷ giá đó gọi là tỷ giá thực (Realexchange rate or Effective rate) còn TGHĐ được yết hàng ngày là TGHĐ danh nghĩa.TGHĐ thực được xác định bởi công thức:

- Bao giờ cũng tồn tại chi phí giao dịch, vận chuyển hàng hoá Do đó, không có gì bảo

đảm giá của cùng một sản phẩm lại như nhau ở mọi nơi

- Do có những hàng rào ngăn trở nên mậu dịch và lưu thông hàng hoá không hoàn toàn tự

do Do vậy, thị trường không thể điều hoà giá cả trên phạm vị thế giới

- Các mặt hàng ở các nước khác nhau cũng không giống nhau.

- Các điều kiện thu thập dữ liệu, số liệu và lựa chọn khác nhau; ngoài ra còn các sai số

thống kê làm cho các kết quả thu được mất tính chính xác và không đủ điều kiện so sánh.3.4 Xác định tỷ giá hối đoái theo quan hệ cung-cầu tiền tệ

Với những nhược điểm của phương pháp đồng giá lãi suất và đồng giá sức mua.Ngang giá vàng được coi là biện pháp có hiệu quả, song chỉ có tác dụng dưới chế độ bản

vị vàng Khi tiền giấy tách ra khỏi vàng, việc so sánh qua vàng trở nên không thể thựchiện được Giá trị tiền giấy biến động liên tục và buộc việc xác định tỷ giá phải dựa trênnhững căn cứ mới Tuy nhiên, ngay cả khi chúng ta không biết xác định TGHĐ như thếnào, thì tỷ giá vẫn cứ tồn tại trong các giao dịch trên thị trường, nó được xác định theoquan hệ cung-cầu ngoại tệ

- Cầu về tiền của một nước xuất hiện trên thị trường ngoại hối khi người dân hay

chính phủ nước khác muốn sử dụng tiền của nước đó để thanh toán, dự trữ hay đầu cơ

Trang 11

- Cung về tiền của một nước xuất hiện trên thị trường ngoại hối khi người dân hay

chính phủ nước đó muốn sử dụng tiền của nước khác cho mục đích giao dịch, dự trữ hayđầu cơ

Và tỷ giá được xác định trên thị trường ngoại tệ trên cơ sở cân bằng giữa cung-cầutiền tệ

Sự thay đổi của TGHĐ do thay đổi quan hệ cung cầu cũng giống như các hàng hoáthông thường khác Khi cầu > cung, lập tức tỷ giá tăng lên để phân phối được lượng cunghạn chế Do vậy, bất cứ tác động tăng cầu hay giảm cung nào cũng có tác động làm cho tỷgiá tăng lên Khi cung > cầu, tỷ giá bị kéo xuống để phân phối hết lượng cung thừa Dovậy, bất cứ tác động nào làm tăng cung hay giảm cầu đều có tác động kéo tỷ giá xuống

* Các yếu tố cấu thành cung - cầu ngoại tệ:

3.4.1 Cung ngoại tệ tạo thành từ các nguồn sau:

- Doanh thu từ hoạt động xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ ra nước ngoài.

- Đầu tư nước ngoài:

+ Các nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI

+ Các nguồn vốn vay ODA và vay nợ thương mại

+ Các nguồn đầu tư gián tiếp qua các tài sản tài chính

- Các nguồn đầu cơ, giao dịch phi thương mại.

- Nguồn tiền ròng từ nước ngoài qua con đường kiều hối, viện trợ không hoàn lại.

3.4.2 Cầu ngoại tệ hình thành từ các nguồn sau:

- Thanh toán cho hàng hoá, dịch vụ nhập khẩu.

- Đầu tư nước ngoài:

+ Đầu tư trực tiếp

+ Đầu tư gián tiếp

- Chu chuyển ngoai tệ ròng dưới hình thức chuyển lợi nhuận về nước, trả lãi

- Dự trữ, đầu cơ, giao dịch, tỷ giá Tom-next

4 Các nhân tố tác động lên quá trình hình thành tỷ giá.

Trên thực tế, sự hình thành quan hệ tỷ giá là tác động của nhiều yếu tố khách quan

và chủ quan Tuy có những mâu thuẫn trong phương pháp nghiên cứu, tiếp cận và đánh

Trang 12

giá vai trò, tính chất, phương thức cường độ, tốc độ tác động của các yếu tố cụ thể, songnhìn chung có một số yếu tố quan trọng, trực tiếp cấu thành GNP và tác động lên quá trìnhhình thành TGHĐ, đó là:

- Sức mua của các đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát ở các nước.

- Trạng thái cán cân thanh toán ảnh hưởng đến cung cầu ngoại tệ, thông qua đó tác

động lên mức tỷ giá và kéo theo sự dao động của tỷ giá lệch khỏi sức mua của đồng tiền

- Chênh lệch mức giá giữa các nước, giữa thị trường tín dụng nội địa và quốc tế.

- Thực trạng hoạt động của các thị trường tài chính, ngoại hối và các xu hướng

nghiệp vụ đầu cơ ảnh hưởng đến tỷ giá

- Hệ số tín nhiệm đối với các đồng tiền trên thị trường tài chính trong nước và quốc

tế

- Các phương thức, công cụ điều chỉnh, các chính sách can thiệp của Nhà nước.

- Các cú sốc kinh tế, chính trị xã hội và các chính sách lớn của Nhà nước trong lĩnh

vực kinh tế, tài chính tiền tệ

5 Các phương pháp chủ yếu điều chỉnh tỷ giá hối đoái

Sự sụp đổ của chế độ bản vị vàng đã chấm dứt cơ chế tự điều tiết TGHĐ Bởi tỷ giáảnh hưởng tới nhiều biến số kinh tế vĩ mô khác nhau, hầu hết các chính phủ phải ít nhiềucan thiệp vào TGHĐ nhằm đạt đợc các mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế Muốnvậy, họ phải sử dụng các công cụ can thiệp TGHĐ

5.1 Lãi suất chiết khấu

Lãi suất chiết khấu là lãi suất thông qua đó NHTW cho vay chiết khấu hay tái chiết

khấu đối với các NHTM Khi lãi suất chiết khấu giảm xuống, các ngân hàng sẽ vay chiết

khấu nhiều hơn Vì nguồn vốn vay bây giờ rẻ hơn nên lãi suất cho vay của các ngân hànggiảm xuống Lãi suất của hàng loạt các tài sản chính cũng giảm theo Do đó, NHTW cóthể vận dụng công cụ lãi suất chiết khấu để điều chỉnh lãi suất thị trường Ở điều kiện bìnhthường, lãi suất được thiết lập đảm bảo sự cân bằng mức lãi ròng giữa trong nước và ngoàinước Khi NHTW nâng cao mức lãi suất chiết khấu, lãi suất thị trường tăng lên Gửi tiềntrong nước trở nên có lợi tạo ra dòng vốn ồ ạt chảy vào trong nước Cung ngoại tệ tăng và

tỷ giá theo đó giảm xuống Ngược lại, khi muốn tăngTGHĐ, NHTW giảm lãi suất trong

Trang 13

n-ước so với lãi suất bên ngoài Luồng vốn chảy ra ngoài gây áp lực về cầu ngoại tệ và kéo

tỷ giá lên

Tuy nhiên, tác động của lãi suất lên tỷ giá chỉ mang ý nghĩa gián tiếp Tỷ giá phụthuộc vào cung cầu ngoại tệ trên thị trờng trong khi lãi suất bị giới hạn bởi tỷ suất lợinhuận bình quân Hơn nữa, đôi khi lãi suất không phải là mục tiêu các của nhà đầu tư mà

là tính an toàn vốn (đặc biệt khi đang xảy ra khủng hoảng tài chính chính tiền tệ) Mặtkhác, ở nhiều quốc gia có những qui định hạn chế chu chuyển vốn Vì vậy, trong nhiềutrường hợp, chính sách lãi suất hầu như không có ảnh hưởng đến tỷ giá

Vào thời kỳ 1971-1973, lãi suất ở thị trường New York cao gấp 1,5 lần thị trườngLondon và gấp 3 lần thị trường Frankfurk nhưng vốn vẫn không chảy vào Mỹ mà lạichuyển sang Đức và Nhật Lý do là trong thời kỳ này, do ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng dầu lửa, kinh tế Mỹ sa sút nghiêm trọng tạo ra nguy cơ mất giá đồng đôla Rủi rohối đoái tăng lên quá cao đẩy lùi mọi ý tưởng mạo hiểm Gần đây nhất, để đối phó vớicuộc khủng hoảng tiền tệ khu vực, các chính phủ Thái Lan, Indonesia đều đồng loạtnâng cao lãi suất nhằm giữ ổn định tỷ giá Nhưng trước sự hủng hoảng lòng tin của dânchúng và các nhà đầu tư cũng như sự lo ngại về mất giá đồng tiền nên TGHĐ của cácđồng tiền khu vực vẫn tiếp tục tăng vọt Lãi suất tăng vọt trên mức lợi nhuận bình quâncòn gây ra tình trạng khó khăn cho các doanh nghiệp muốn vay vốn và tình hình hoảngloạn trên thị trường tài chính do các nhà đầu tư ồ ạt bán ra các chứng khoán có lãi suấtthấp Dẫu vậy, lãi suất vẫn là công cụ ưa thích và có hiệu quả của các chính phủ, đặc biệttrong tình hình đồng bản tệ bị mất giá mạnh

5.2 Nghiệp vụ thị trường hối đoái

Dường như có một cách đơn giản hơn để các chính phủ tác động vào TGHĐ đó làtham gia trực tiếp vào thị trường với vai trò là người bán hoặc người mua Khi cung<cầu,gây sức ép tăng tỷ giá, chính phủ có thể bán ra ngoại tệ nhằm tăng cung để giữvữngTGHĐ, chính phủ cũng có thể mua ngoại tệ vào để tăng cầu và kéo tỷ giá lên Khimuốn thay đổi tỷ giá, các chính phủ chỉ việc lựa chọn nên đứng bên cung hay bên cầu(đứng bên cung khi muốn giảm tỷ giá và đứng bên cầu khi muốn tăng tỷ giá) Hoạt động

Trang 14

can thiệp trực tiếp của NHTW vào thị trường ngoại tệ thông qua mua bán gọi là nghiệp vụthị trường hối đoái.

Can thiệp theo hình thức này có thuận lợi là có thể tiến hành bất kỳ lúc nào, tuỳ thuộcvào quyết định của NHTW và lượng dự trữ ngoại tệ hiện có Đồng thời, can thiệp theo ph-ương pháp này cũng có độ chính xác cao, có thể tác động liều lượng nhỏ và tiến hànhnghiệp vụ ngược khi có dấu hiệu can thiệp quá mạnh

Tuy nhiên phương pháp này cũng bộc lộ một số khó khăn như :

- Để có hiệu quả, đặc biệt là khi có khủng hoảng, thì tỷ giá cần phải có lượng ngoại tệ rất

lớn cũng như phải có thực lực kinh tế Điều này khó có thể đáp ứng ở nhiều nước đangphát triển

- Việc can thiệp bằng nghiệp vụ thị trường hối đoái ảnh hưởng đến lượng cung tiền nội

địa Khi bán ngoại tệ, nội tệ bị thu về gây giảm cung tiền và tạo bất lợi cho sản xuất vàthanh toán, đồng thời làm giảm tổng cầu hàng hoá Ngược lại, khi ngân hàng mua vàongoại tệ, nó đã vào lưu thông thêm một lượng nội tệ làm tăng cung tiền và gây ra lạmphát Để ngăn ngừa những biến động trong cung tiền do can thiệp hối đoái, NHTW phảitiến hành hoạt động trung hoà

Trung hoà (Neutrialization) là nghiệp vụ thị trường tự do giữa tiền và chứng khoántrong nước nhằm mục đích điều tiết lượng cung tiền khỏi những ảnh hưởng do những hoạtđộng can thiệp tỷ giá của NHTW

Nghiệp vụ can thiệp hối đoái gắn liền với các nghiệp vụ trung hoà gọi là can thiệp vôhiệu (Uncertain Interference) Can thiệp hối đoái không gắn liền với các nghiệp vụ trunghoà gọi là can thiệp hữu hiệu (Certain Interference)

5.3 Quỹ bình ổn hối đoái

Quỹ bình ổn hối đoái là hình thức tạo nguồn vốn tập trung đủ lớn cho hoạt động canthiệp vào thị trường ngoại hối của NHTW Quỹ này có thể lấy từ các nguồn:

- Phát hành trái phiếu kho bạc bằng nội tệ và dùng số tiền này mua ngoại tệ khi muốn

nâng cao tỷ giá Số ngoại tệ thu được sẽ dùng để bán ra khi muốn ổn định tỷ giá và thu hồilại các trái phiếu kho bạc đã ban hành

Trang 15

5.5 Nâng giá tiền tệ

Nâng giá tiền tệ là sự đánh giá sụt TGHĐ mà các chính phủ muốn duy trì Nâng giátiền tệ thường dùng khi có bội chi cán cân thanh toán, lạm phát cao, nợ nước ngoài lớn.Giải pháp này rất ít được thực hiện

II CÁC HỆ THỐNG TỶ GIÁ.

TGHĐ có ý nghĩa rất quan trọng đối với tất cả các đối tượng tham gia vào các giaodịch đối ngoại cho dù đó là nhà thương mại hay nhà đầu tư TGHĐ cũng có vai trò trungtâm trong chính sách tiền tệ trong đó tỷ giá có thể là mục tiêu hay công cụ hay chỉ đơnthuần là một chỉ số phụ thuộc vào cơ chế chính sách của mỗi quốc gia Mức độ can thiệpkhác nhau của nhà nước khác nhau đến TGHĐ đã tạo nên những cơ chế TGHĐ khác nhau

giữa các quốc gia Có hai cơ chế tỷ giá cơ bản là: cơ chế TGHĐ cố định (vào vàng, vào một đồng tiền hay một nhóm đồng tiền) và cơ chế tỷ giá thả nổi (tỷ giá được xác định dựa

vào cung cầu trên thị trường) Mỗi quốc gia trong một thời kỳ khác nhau có sự lựa chọnkhác nhau về mức độ cố định thả nổi TGHĐ hay có sự dung hoà nào đó về sự cố định haythả nổi TGHĐ Điều này đã đưa đến các nguyên tắc khác nhau về điều hành TGHĐ haycác chính sách có liên quan khác của mỗi quốc gia Sự khác nhau đó đã tạo nên sự đa dạng

về cơ chế TGHĐ ở trên thế giới

1 Chế độ tỷ giá cố định.

Trang 16

Mục đích của quan điểm giữ tỷ giá cố định là phải giữ TGHĐ ổn định để kiềm chếlạm phát ở mức thấp và củng cố niềm tin của dân chúng vào đồng tiền nội địa Khi sửdụng chế độ tỷ giá cố định người ta có thể sử dụng các hệ thống sau:

* Chế độ bản vị vàng :

Trong chế độ này chính phủ của mỗi quốc gia cố định giá vàng tính bằng tiền nước

họ và duy trì khả năng chuyển đổi đồng tiền trong nước thành vàng chính phủ sẽ mua vàbán vàng nhiều bằng mức mà nhân dân muốn giao dịch tại giá trị ngang giá này và chínhphủ tuân theo quy tắc nhằm gắn liền đồng tiền trong nước với số vàng nhà nước có Chínhphủ chỉ có thể phát hành tiền bằng cách mua vàng của công chúng, tức là nếu công chúngchuyển đổi tiền giấy của họ thành vàng thì lượng tiền lưu hành sẽ giảm đi Dưới chế độbản vị vàng khả năng của chính phủ trong việc tăng mức cung tiền bị hạn chế nghiêm ngặtbởi yêu cầu là chỉnh phủ phải nắm giữ một giá trị vàng tương đương trong kho bạc

Chế độ bản vị vàng là một chế độ ổn định, đồng tiền rất ít khi bị mất giá, việc thanhtoán nợ nần giữa các quốc gia cũng được thực hiện bằng vàng như vậy nó thực sự đẩmbảo một cơ chế tự động điều chỉnh sự mất cân đối trong thương mại và thanh toán quốc tế

Vì vậy chế độ này đã được sử dụng hầu như suốt thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX ở cácnước Bản vị vàng có những ưu điểm lớn nhưng cũng có một số nhược điểm đáng kể.Bằng cách gắn chặt, nếu không phải là hoàn toàn mức cung tiền nội địa với mức dự trữvàng, bản vị vàng thực sự đã loại trừ việc phát hành tiền liên tục trên quy mô lớn và tỷ lệlạm phát một cách thường xuyên cao Tuy nhiên, do cơ chế chủ yếu để phục hồi công ănviệc làm đầy đủ là sự giảm giá và tiền lương nội địa mà phải mất nhiều năm để điều chỉnhhoàn toàn theo mức giảm đáng kể về tổng cầu cho nên thời kỳ của bản vị vàng là thời kỳtrong đó các nền kinh tế riêng lẻ dễ bị tổn thương dẫn tới những giai đoạn suy thoái lâudài và sâu sắc

2 Chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods

Dưới chế độ bản vị vàng, TGHĐ danh nghĩa được cố định một cách vô thời hạn Bâygiờ chúng ta sẽ bàn về hệ thống điều chỉnh hạn chế, trong đó các TGHĐ thông thườngđược cố định nhưng đôi lúc các nước được phép thay đổi TGHĐ của mình Hệ thống này

Trang 17

được ra đời gần cuối thế chiến thứ hai trong một hội nghị đa quốc gia được tổ chức ở

Bretton Woods Newpshire để hoạch định" một hệ thống TGHĐ có trật tự thuận lợi cho luồng thương mại tự do" Theo hệ thống này tỷ giá chính thức giữa đồng tiền của các

nước thành viên được hình thành trên cơ sở so sánh hàm lượng vàng của đôla Mỹ (1USD= 0,888671 gram vàng) và chỉ được phép dao động trong biên độ 1% của tỷ giá chínhthức đã được đăng ký tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF vì thế hệ thống tỷ giá này còn được biếtvới đến với tên gọi bản là vị đôla Theo chế độ bản vị đôla, các đồng tiền được chuyển đổitheo đôla chứ không phải theo vàng Tại mức TGHĐ cố định, các NHTW cam kết muahoặc bán đôla từ nguồn dự trữ ngoại hối hoặc lượng đôla hiện có của họ Họ cam kết canthiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ TGHĐ cố định theo đồng đôla

Sự khác nhau căn bản giữa bản vị vàng và bản vị đôla là ở chỗ không còn sự đảmbảo đổi lại 100% đối với đồng tiền nội địa, các chính phủ có thể in thêm tiền để làm tăngsức cạnh tranh trong nước Nếu tình trạng thâm hụt ngân sách kéo dài chính phủ phải dùngngày càng nhiều dự trữ ngoại hối của mình để trang trải cho thâm hụt, thì cuối cùng đấtnước sẽ cạn kiệt dự trữ ngoại hối, lúc đó nhà nước sẽ phải phá giá TGHĐ của mình chuyểnsang một nước giá trị ngang giá thấp hơn theo đôla để cố gắng tăng thường xuyên sức cạnhtranh và loại trừ sự mất cân đối cơ bản trong thanh toán quốc tế

TGHĐ cố định, nếu bền vững hay được coi là bền vững thì sẽ tạo cho các doanhnghiệp có cơ sở để lập kế hoạch và tính toán giá, như vậy sẽ thúc đẩy đầu tư và thươngmại quốc tế; TGHĐ cố định tạo ra sự hạn chế đối với chính sách tiền tệ trong nước vì doTGHĐ cố định nên không khuyến khích sự luân chuyển vốn vào hay ra khỏi quốc gia và

do đó không cần thiết phải có sự quan tâm thường xuyên của NHTW TGHĐ cố định sẽ làtối ưu nếu các NHTW có thể thực hiện được sự điều chỉnh cho tới mức tỷ giá tương đốicân bằng và thực hiện việc cố định tỷ giá ở mức đó; cơ chế tỷ giá cố định trực tiếp đặt ra

sự tuân thủ đối với chính sách tiền tệ và có thể được coi là phù hợp trong tình huống cáccông cụ tài chính và thị trường tài chính chưa phát triển đủ mức cho sự vận hành củachính sách tiền tệ theo cơ chế thị trường

Tuy nhiên, TGHĐ cố định trong trường hợp thiếu tin cậy sẽ bị ảnh hưởng rất lớn củađầu cơ, điều này có thể dẫn tới sự phá vỡ hoàn toàn sự ổn định tiền tệ, ổn định kinh tế hay

Trang 18

ảnh hưởng tới dự trữ ngoại hối; TGHĐ cố định có thể làm người ta phải từ bỏ đầu cơ, do

đó thị trường sẽ buồn tẻ, khó có thể xác định đâu là TGHĐ tối ưu, hay hợp lý cho một nềnkinh tế, mặc dù cả chính phủ và NHTW đều cần thiết phải hiểu hơn ai hết đâu là mức cânbằng TGHĐ danh nghĩa cố định có thể là quan trọng nhưng nó không quyết định TGHĐthực tế mà nó chỉ được coi là chỉ số hay mục tiêu quan trọng mà thôi Duy trì TGHĐ cốđịnh đòi hỏi NHTW phải luôn sẵn sàng can thiệp vào thị trường ngoại hối để đảm bảomức TGHĐ cố định.Tuy nhiên, khó có thể đưa ra về mức độ cần can thiệp như thế nào đểtác động vào nền kinh tế nhằm đạt được mục tiêu can thiệp NHTW cần thiết phải duy trìmột mức nhất định về dự trữ ngoại hối, như vậy chi phí về quản lý tài sản sẽ lớn TGHĐnày cũng phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của quốc gia khác và đó là điều đôi khi gây bấtlợi do việc gắn đồng tiền bản tệ vào một đồng ngoại tệ nào đó

3 Tỷ giá hối đoái thả nổi.

Là TGHĐ được hình thành trên cơ sở diễn biến cung-cầu Có hai loại tỷ giá thả nổi

là thả nổi tự do và thả nổi có quản lý Chúng ta biết rằng nền kinh tế cân bằng dài hạn là

phải cân đối cả bên trong lẫn bên ngoài (tức là đầy đủ việc làm, xuất khẩu ròng bằngkhông và tài khoản vãng lai cân bằng) Nhu cầu nhập khẩu phụ thuộc vào mức sản lượngtrong nước và TGHĐ thực tế Nhu cầu xuất khẩu phụ thuộc vào mức sản lượng ở nướcngoài và TGHĐ thực tế Do đó, khi nền kinh tế trong nước và nước ngoài đều ở trong tìnhtrạng cân đối hoặc ở mức sản lượng tiềm năng, thì chỉ có một tỷ giá chính thức duy nhấtđồng thời tương ứng với sự cân bằng bên ngoài, ở bầt kỳ mức TGHĐ nào cao hơn nềnkinh tế nội địa cũng có sức cạnh tranh kém hơn Nhập khẩu sẽ cao hơn và xuất khẩu sẽthấp hơn, nền kinh tế sẽ bị thâm hụt trong tài khoản vãng lai Ngược lại, ở bất kì một mứcTGHĐ thực tế nào thấp hơn với xuất khẩu cao hơn và nhập khẩu thấp hơn, nền kinh tế nộiđịa sẽ có một khoản thặng dư trong vãng lai Chỉ có một TGHĐ thực tế duy nhất tươngứng với sự cân đối bên trong và bên ngoài

Khi tỷ giá thả nổi tự do, thì không có sự can thiệp nào trên thị trường ngoại hối vàkhông có khoản chuyển nhượng ròng về tiền giữa các nước với nhau vì cán cân thanh toánluôn bằng không Và về lâu dài, TGHĐ danh nghĩa sẽ phải điều chỉnh để đạt tới mức

Trang 19

TGHĐ thực tế duy nhất cần thiết cho sự cân đối bên trong và bên ngoài trong sự cân bằngdài hạn.

Ưu điểm của TGHĐ thả nổi là nó được hình thành trên cơ sở cung-cầu trên thịtrường Qua cơ chế thị trường các nguồn lực được phân bổ một cách thành công và có

hiệu quả Cung-cầu nội tệ và ngoại tệ sẽ được tự cân bằng trên thị trường NHTW sẽ

không cần cũng như không có phải có trách nhiệm can thiệp vào thị trường hối đoái màchủ yếu thực hiện theo yêu cầu của khách hàng Nhìn chung, tình hình thị trường trongnước sẽ không bị ảnh hưởng bởi các luồng vốn bên ngoài và vì vậy NHTW có thể theođuổi chính sách tiền tệ một cách độc lập không phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của quốcgia khác

Tuy nhiên cơ chế này cũng có những nhược điểm vì thị trường luôn có rủi ro, nhiềukhi quá tải sẽ dẫn đến TGHĐ không ở mức phù hợp với các chỉ số kinh tế cơ bản của nềnkinh tế, thậm chí tồn tại trong thời gian khá dài Hơn nữa khuynh hướng của tỷ giá trongtương lai sẽ không chắc chắn, điều đó sẽ khó khăn trong việc lập kế hoạch và tính toán giá

cả Những biến động không chắc chắn của TGHĐ có thể được khắc phục bằng các công

cụ phòng tránh rủi ro (như hợp đồng kỳ hạn, quyền lựa chọn) nhưng sẽ gây ra thay đổi rấtlớn trong giá thành sản phẩm Mặt khác sự tự do hoạt động của chính sách tiền tệ trongnước có thể bị lợi dụng, chẳng hạn như chính phủ, do không có trách nhiệm phải ngănchặn sự mất giá của đồng tiền, nên có thể dễ thực hiện việc lạm phát qua đường ngân sách

và tiền tệ

Như vậy, trong một chừng mực nào đó có thể nói rằng TGHĐ thả nổi hay cố địnhcũng đều có những ưu điểm và hạn chế Việc lựa chọn một cơ chế tỷ giá cố định hay thảnổi ở mức nào đó sẽ phụ thuộc vào từng quốc gia với những điều kiện kinh tế và thịtrường khác nhau hay nói chung là phụ thuộc vào lý do riêng nhằm mục đích phát huynhững điểm mạnh và khắc phục những hạn chế của mỗi cơ chế ở mỗi môi trường kinh tế

xã hội khác nhau Những quốc gia chủ trương thả nổi TGHĐ cho rằng: Nếu áp dụng cơchế này, thị trường ngoại hối có tính minh bạch cao, thị trưòng hoạt động hiệu quả, và hơnnữa thị trường phải để tự nó tự điều chỉnh Chính sách tiền tệ phải được thiết lập một cách

Trang 20

độc lập, phù hợp với tình hình kinh tế trong nước (nghĩa là đạt được sự ổn định mức giáchung của nền kinh tế), và tỷ giá hối đoái cần phải được thả nổi theo bất kì hướng nào mà

do thực tế đem lại mức TGHĐ đó

Trong khi đó, những quốc gia chủ trương cố định tỷ giá (tức là chủ trương gắn vàomột hay một số đồng tiền chủ chốt, hoặc các đối tác kinh doanh chính của nước đó) vớimục tiêu dung hoà các yếu tố chính trị, kinh tế và thương mại Các nhà kinh tế công nhậntầm quan trọng và lợi ích của việc gắn đồng tiền này trong việc thực hiện một chính sáchtiền tệ chặt chẽ và TGHĐ cố định được ưa thích hơn bất kì một dạng thả nổi nào, vìTGHĐ cố định không được coi là công cụ độc lập hữu hiệu của chính sách tiền tệ trongdài hạn Những lợi ích do tỷ giá cố định đem lại được coi là nhiều hơn cái giá phải trả chonhững hậu quả mà nó gây ra cho nền kinh tế

Các nhà nghiên cứu về TGHĐ thường tập trung vào vai trò của tỷ giá trong việcbảo đảm cho nền kinh tế một mức sản lượng kinh tế cao, trong điều kiện có rất nhiều bất

ổn, hay các cú sốc trong nước và quốc tế tác động đến nền kinh tế Và vì vậy, các nhàkhoa học cho rằng, cơ chế TGHĐ thả nổi có khả năng đối phó tốt nhất đối với các cú sốctrong một nền kinh tế Vì sự thay đổi TGHĐ sau mỗi cú sốc sẽ là cách hữu hiệu nhất nhằmkhôi phục lại mức sản lượng trở lại trạng thái cân bằng Trong khi đó, các nhà kinh tế họccũng thừa nhận cơ chế TGHĐ cố định có khả năng đối phó một cách tốt nhất với sự mấtcân đối về tiền tệ của nền kinh tế, vì rằng sự tăng hay giảm ra từ dự trữ ngoại hối sẽ làmgiảm sự tác động của sự mất cân đối tiền tệ Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng những nước cónền kinh tế mở cửa cao thì nên sử dụng TGHĐ cố định, vì với cơ chế tỷ giá thả nổi thì córất nhiều sự biến động của TGHĐ danh nghĩa một cách mạnh mẽ, tác động đến giá thànhsản phẩm, giá cả hàng hoá mạnh đến mức mà không có một sự thay đổi nào của TGHĐ cóthể điều chỉnh được, thậm chí chỉ là mức mong muốn; tuy nhiên sự mở cửa của nền kinh

tế lại cần thiết phải duy trì chế độ TGHĐ thả nổi nhằm đảm bảo để cho chính sách tiền tệkhông bị ảnh hưởng bởi các cú sốc từ bên ngoài trong chừng mực mà bản thân nền kinh tếcần phải đối phó

4 Sự can thiệp của nhà nước vào hệ thống tỷ giá hối đoái.

Ngày đăng: 20/10/2017, 05:55

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w