1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

L m ph t v nh ng bi n ph p kh c ph c l m ph t

29 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 237 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

index và chỉ số điều chỉnh GDPGDP deflator.Cách thứ nhất sẽ dựa trên một rổ hànghoá tiêu dùng và giá cả của những hàng hoá trong rổ ở hai thời điểm khác nhau.Còncách tính thứ hai căn cứ

Trang 1

http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn,

đồ án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất

cả mọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng gópcủa quý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quýkhách gửi về luanvanpro.com@gmail.com

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/Lạm phát và những biện pháp khắc phục lạm phát

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường, lạm phát là một hiện tượng tất yếu và là một trong nhữngvấn đề kinh tế vĩ mô mà tất cả các quốc gia đều phải quan tâm giải quyết Bởi vậy, việckiểm soát lạm phát như thế nào là vấn đề hàng đầu trong cuộc tranh luận về chính sáchkinh tế.Vây lạm phát là gì? do đâu có lạm phát? Tại sao người ta lại quan tâm nhiều đếnlạm phát, có những giải pháp nào để kiểm soát nó Đây chính là những nội dung sẽ đượctrình bày trong tiểu luận “ Lạm phát và những biện pháp khắc phục lạm phát”

Trang 3

lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả đã và đang tạo cơ hội thuận lợi cho tăng trưởng Vậy chúng

ta phải hiểu “Lạm phát” là như thế nào?.Câu hỏi này có rất nhiều cách trả lời Tuy nhiênngười ta vẫn thường công nhận lạm phát là sự tăng lên của giá trung bình trong một thời

kỳ Sự “tăng lên của giá” lại do nhiều nguyên nhân hoặc do yếu tố chủ quan của các cấpquản lý kinh tế hoặc do những điều kiện chính trị, xã hội, thiên tai gây ra Có thể giảithích về lạm phát theo những cách sau:

1 Theo thuyết tiền tệ: Lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cung tiền

2 Theo trường phái Keynes: Lạm phát xảy ra do dư cầu về hàng hoá trong nền kinhtế

3 Theo học thuyết chi phí đẩy lạm phát xảy ra do tăng chi phí sản xuất

Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những luận điểm lý thuyết mang tính tương đối còn trongthực tế lạm phát xảy ra là kết quả tác động tổng hợp của nhiều yếu tố ở những khía cạnhkhác nhau của nền kinh tế

1.1.2 Đo lường lạm phát

Dựa vào các cách giải thích như trên, ta có thể định nghĩa lạm phát là sự gia tăng liêntục của mức giá chung trong nền kinh tế Như vậy sự tăng giá của một vài mặt hàng cábiệt nào đó trong ngắn hạn ngoài thị trường thì cũng không có nghĩa là đã có lạmphát.Các nhà kinh tế thường đo lạm phát bằng hai chỉ tiêu cơ bản là CPI(consumer price

Trang 4

index) và chỉ số điều chỉnh GDP(GDP deflator).Cách thứ nhất sẽ dựa trên một rổ hànghoá tiêu dùng và giá cả của những hàng hoá trong rổ ở hai thời điểm khác nhau.Còncách tính thứ hai căn cứ vào toàn bộ khối lượng hàng hoá và dich vụ cuối cùng được sảnxuất trong một năm và giá cả ở hai thời điểm khác nhau,thông thường theo ngôn ngữthống kê là giá cố định và giá hiện hành.Về cơ bản thì hai cách tính này không có sựkhác biệt lớn.Phương pháp tính theo GDP sẽ tính lạm phát chính xác hơn theo địnhnghĩa của lạm phát.Tuy nhiên CPI sẽ có ưu điểm là tính được lạm phát tại bất kì thờiđiểm nào căn cứ vào rổ hàng hoá,còn tính theo GDP thì chỉ tính được lạm phát của mộtnăm sau khi có báo cáo về GDP của năm đó.

Cách tính cụ thể như sau:

- Chỉ số giá tiêu dùng xã hội: CPI

Chỉ số giá tiêu dùng xã hội CPI được sử dụng rất phổ biến trong việc đánh giámức lạm phát CPI đo lường mức giá bình quân của một nhóm hàng hoá và dịch vụ cầncho tiêu dùng của các hộ gia đình ( được lựa chọn ) của một giai đoạn như tỷ lệ % củamức giá giai đoạn trước gọi là năm gốc Trên cơ sở xác định chỉ số giá tiêu dùng bìnhquân , tỷ lệ lạm phát phản ánh sự thay đổi mức giá bình quân của kỳ này so với kỳ khácđược tính theo công thức sau:

Mức giá hiện tại - Mức giá năm trước

Tỷ lệ lạm phát = - x 100%

Mức giá năm trước

Cách đo lường này cho phép so sánh sự biến động mức giá tiêu dùng theo thời giannhưng không phản ánh được sự thay đổi cơ cấu tiêu dùng của các hộ gia đình Vì thếtrong nhiều trường hợp người ta sử dụng cơ cấu tiêu dùng của năm hiện tại để xác địnhCPI Bên cạnh đó CPI tăng không phải lúc nào cũng xuất phát từ nguyên nhân duy nhất

là tiền tệ mà còn do những nguyên nhân như:

+ Sự khan hiếm hàng hoá, sự ế ẩm

Trang 5

+ Giá của mặt hàng thiết yếu tăng cao do các tổ chức độc quyền kiểm soát

+ Sự thay đổi tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ - ngoại tệ

Tuy vậy, CPI được coi là chỉ tiêu kinh tế nhạy cảm, phản ánh kịp thời quan hệ cungcầu tiền tệ của nền kinh tế

- Chỉ số lạm phát tính theo tổng sản phẩm quốc nội - GDP

- Chỉ số này đo lường mức giá bình quân của tất cả các hàng hoá và dịch vụ tạo nêntổng sản phẩm quốc nội Nó được xác định theo công thức:

GDP danh nghĩaChỉ số giảm phát GDP = - x 100%

GDP thực tế

+ GDP danh nghĩa đo lường sản lượng theo giá trị tiền tệ năm hiện tại

+ GDP thực tế đo lường sản lượng năm hiện tại theo giá năm được chọn làm gốc

Ta có thể nhận thấy do được xác định bởi GDP danh nghĩa - thực tế nên nó đầy

đủ và hoàn thiện hơn CPI vì nó bao gồm tất cả các hàng hoá và dịch vụ

1.1.3.Các loại lạm phát

Việc nghiên cứu các loại lạm phát giúp ta hình dung rõ những đặc điểm của từng loạilạm phát cũng như ảnh hưởng tiềm năng của chúng từ đó mà có những giải pháp kìmchế lạm phát thích hợp

Căn cứ vào tốc độ lạm phát người ta chia thành 3 loại:

- Lạm phát vừa phải: Xẩy ra khi tốc độ tăng giá chậm ở mức một con số Trong điềukiện lạm phát vừa phải, giá cả tăng chậm thường xấp xỉ bằng mức tăng tiền lương hoặccao hơn chút ít do vậy giá trị tiền tề tương đối ổn định tạo thuận lợi cho môi trường kinh

tế xã hội Tác hại của lạm phát này là không đáng kể

- Lạm phát phi mã: là loại lạm phát xẩy ra khi giá cả bắt đầu tăng ở mức 2, 3 con

số như 20%, 10% sự kiểm nghiệm thực tế cho thấy rằng nguyên nhân của loại lạmphát cao và kéo dài này là do sự tăng lên của khối tiền trong lưu thông Khi giá cả hànghoá biến động mạnh, giá trị tiền tệ giảm qua các thời kỳ tiền giấy bắt đầu bị từ chối trongthanh toán Dân chúng không giám giữ tiền dưới mọi hình thức và bắt đầu hoạt động đầu

cơ tích trữ hàng hoá Trong thời kỳ lạm phát phi mã, sản xuất không phát triển, hệ thốngtài chính tín dụng bị tàn lụi

Trang 6

- Siêu lạm phát: Xẩy ra khi tốc độ tăng giá vượt xa mức lạm phát phi mã có thểlên tới hàng nghìn tỷ lần.

Có thể rút ra các đặc trưng cơ bản của các cuộc siêu lạm phát như sau:

+ Siêu lạm phát có sức phá huỷ toàn bộ hoạt động của nền kinh tế và thường đi kèmvới suy thoái nghiêm trọng

+ Lạm phát thường xảy ra do các biến cố lớn dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội nhưchiến tranh, khủng hoảng chính trị

+ Nguyên nhân duy nhất của mức tăng giá khủng khiếp là do phát hành tiền giấykhông hạn chế nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước

1.2.Nguyên nhân gây ra lạm phát

Như vậy chúng ta hiểu một cách sơ lược về lạm phát, nhưng thật thiếu sót nếu chúng

ta không đi tìm nguồn gốc nguyên nhân của lạm phát Đây là một phần quan trọng khinghiên cứu đến vấn đề lạm phát bởi biết nguyên nhân - chính phủ mới có những chínhsách hợp lý tác động vào nền kinh tế sao cho có hiệu quả nhất Về cơ bản lạm phát xảy

áp chế tài chính hoặc trong trường hợp quốc gia đang theo đuổi chính sách tiền tệ mởrộng, áp chế tài chính là tình trạng ngân hàng trung ương tài trợ cho thâm hụt ngân sáchchính phủ bằng cách in tiền, quá nhiều tiền trong luư thông vượt quá tốc độ tăng trưởngthực sẽ dẫn đến lạm phát.Chính sách tiền tệ mở rộng kích thích tổng cầu hàng hoá dịch

vụ trong nền kinh tế, khi tốc độ tăng trưởng tổng cầu cao hơn tốc độ tăng trưởng tổngcung,thì cũng dẫn đến lạm phát

1.2.2 Lạm phát do cầu kéo

Loại lạm phát này xuất phát từ sự thay đổi hành vi tổng cầu mang tính đột biếntrong nền kinh tế Các nguyên nhân có thể là do chính phủ chi tiêu quá mức khi thựchiện chính sách thu chi ngân sách mở rộng,hoặc tăng chi tiêu tiêu dùng quá mức bình

Trang 7

thường do khu vực hộ gia đình quá lạc quan, hoặc do khu vực hộ gia đình có nguồn thunhập từ trên rơi xuống như viện trợ nước ngoài, thu nhập do giá cả xuất khẩu tăng độtbiến…

Bằng cách sử dụng mô hình tổng cung,tổng cầu ta có thể thấy rõ loại lạm phát trên nhưsau:

Hình 1 : Mô hình lạm phát cầu kéo

Giả định, ban đầu chúng ta ở điểm 1 Nền kinh tế YN < YT (YT mức chỉ tiêu sản phẩm).Lúc này nhà hoạch định có một chỉ tiêu thất nghiệp (4% chẳng hạn) thấp hơn tỷ lệ thấtnghiệp tự nhiên (dự tính hiện giờ 6%) thì mục tiêu của họ là đạt được một chỉ tiêu sảnphẩm lớn hơn mức tỷ lệ tự nhiên của sản phẩm (Yn) Để thực hiện mục tiêu các nhàhoạch đinh chính sách có biện pháp để tăng tổng cầu (AD1) di chuyển đến AD2 khi đónền kinh tế ở điểm 1’, sản phẩm tại YT và đạt được mục tiêu thất nghiệp 4%

Nhưng tại YT tỷ lệ thất nghiệp 4% nhỏ hơn mức tỷ lệ tự nhiên nên lương sẽ tăng vàđường tổng cung di chuyển AS2 đưa nền kinh tế từ 1’->2 => tỷ lệ thất nghiệp lại 6%nhưng ở mức giá P2 >P1 Tuy nhiên mục tiêu theo dưới tỷ lệ thất nghiệp 4% nên nhàhoạch định sẽ di chuyển AD2 -> AD3 để đạt được chỉ tiêu sản phẩm đến 2’ và toàn bộ

Trang 8

qúa trình sẽ tiếp tục đẩy nền kinh tế đến 3 và xa hơn nữa Vậy kết quả đó các nhà hoạchđịnh không thể tiếp tục di chuyển AD ra thông qua chính sách tài chính do có những giớihạn trong việc tăng chi tiêu của chính phủ và giảm thuế Thay vào đó họ sẽ phải áp dụngchính sách tiền tệ bành trướng: Liên tục tăng cung tiền tệ và vì thế tỷ lệ tăng trưởng tiền

tệ cao Họ có thể tăng tổng cầu bằng cách kích thích chi tiêu hộ gia đình qua tăng thunhập thực tế hoặc giảm lãi suất, hoặc nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp tăng lên xuất phát

từ những dự đoán về những triển vọng phát triển kinh tế, về khả năng mở rộng thịtrường hoặc do lãi suất đầu tư giảm - về mặt ngắn hạn nó làm AD tăng

1.2.3.lạm phát do chi phí đẩy

Lạm phát chi phí đẩy là loại lạm phát do thu hẹp tổng cung hoặc do các doanhnghiệp buộc lòng phải nâng cao giá bán sản phẩm vì những lý do bất lợi.Khác với hailoại lạm phát trên, thì loại lạm phát này chủ yếu đến từ phía cung và nguyên nhân chủyếu xuất phát từ hiện tượng tăng chi phí sản xuất không mong đợi từ phía các doanhnghiệp.Tăng chi phí không mong đợi từ doanh nghiệp tạo ra những những cú sốc tổngcung bất lợi.Công nhân đình công đòi tăng lương ở diện rộng, giá nguyên liệu tăng độtbiến, thảm hoạ tự nhiên làm đình trệ hoạt động sản xuất của nhiều doanh nghiệp lànhững ngòi nổ của loại lạm phát này

Mô hình lạm phát do chi phí đẩy:

Trang 9

Mô hình 2 : Lạm phát chi phí đẩy

Ảnh hưởng của việc tăng như vậy làm cho việc tổng cung dịch chuyển sang AS2 (do sức

ép đối với doanh nghiệp nên thu hẹp sản xuất) nếu chính sách tài chính và tiền tệ củachính phủ vẫn không thay đổi thì nền kinh tế sẽ chuyển từ điểm 1 sang điểm 1’ Sảnphẩm sẽ giảm xuống dưới mức tỷ lệ tự nhiên của nó (Y’) trong khi mức giá cả tăng lênP’1 Do sản phẩm giảm, thất nghiệp tăng, chính phủ sẽ thực hiện chính sách tăng đườngtổng cầu lên AD2 do đó nền kinh tế trở lại mức tự nhiên của sản phẩm tại điểm 2 nhưngmức giá tăng ở P2 Những công nhân được tăng lương sẽ không sống kham khổ Chínhphủ đã can thiệp để chắc chắn rằng không có thất nghiệp qúa nhiều và công nhân đã đạtđược mục tiêu tăng lương của họ

Các công nhân được tăng lương rồi nay lại được tăng lương nữa có thể được khuyếnkhích được tăng lương lần nưã Thêm vào đó, các công nhân khác bây giờ có thể thấyrằng lương của mình đã sụt xuống so với những bạn công nhân khác và do họ khôngmuốn tụt hậu lại đằng sau nên lại đòi tăng lương lần nữa Kết quả đường tổng cung dịchđến AS3 Thất nghiệp lại phát triển khi chúng ta chuyển đến 2’ và các chính sách năngđộng sẽ lại một lần nữa việc sử dụng để di chuyển đường tổng cầu ra đến AD3 và đưa

Trang 10

nền kinh tế trở lại tình hình công ăn đầy đủ với mức giá cả P3 Nếu qúa trình này tiếp tụcxẩy ra thì kết quả là việc tăng liên tục của mức giá cả nghĩa là một tình trạng lạm phát.

Trang 11

1.3 Hậu quả của lạm phát

Trên thực tế, không thể triệt tiêu được lạm phát trong kinh tế thị trường dù đạt trình độphát triển rất cao của lực lượng sản xuất Nếu giữ được lạm phát ở mức độ nền kinh tếchịu được, cho phép có thể mở thêm việc làm, huy động thêm các nguồn lực phục vụcho sự tăng trưởng kinh tế, thì cũng là một thành công trong công cuộc chống lạm phát ởnhiều nước Nhưng mức độ lạm phát là bao nhiêu thì phù hợp? Nếu tỷ lệ tăng trưởngcao, tỷ lệ lạm phát quá thấp thì dẫn tới tình trạng các ngân hàng ứ đọng vốn, làm ảnhhưởng tới sự phát triển của đất nước Vì thế trong trường hợp đó người ta phải cố gắngtăng tỷ lệ lạm phát lên Khi chính phủ kiểm soát lạm phát ở mức độ mà nền kinh tế chịuđược (tỷ lệ lạm phát dưới 10%) thì vừa không gây đảo lộn lớn, các hệ quả của lạm phátđược kiểm soát, vừa với sức che chắn hoặc chịu đựng được của nền kinh tế và của cáctầng lớp xã hội Hơn nữa, một sự hy sinh nào đó do mức lạm phát được kiểm soát đómang lại được đánh đổi bằng sự tăng trưởng , phát triển kinh tế mở ra nhiều việc làmhơn, thu nhập danh nghĩa có thể được tăng lên cho mỗi người lao động nhờ có đủ việclàm hơn trong tuần, trong tháng hoặc tăng thêm người có việc làm, có thu nhập trong giađình và cả tầng lớp lao động do giảm thất nghiệp Đến lượt nó, thu nhập bằng tiền tănglên thì tăng thêm sức kích thích của nhu cầu của tiền tệ và sức mua đối với đầu tư, tăngtrưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) Nhưng khi tỷ lệ lạm phát đến 2 con số trở lên(lạm phát phi mã hoặc siêu lạm phát) thì hầu như tác động rất xấu tới nền kinh tế như sựphân phối và phân phối lại một cách bất hợp lý giữa các nhóm dân cư hoặc các tầng lớptrong xã hội và các chủ thể trong các quan hệ về mặt tiền tệ trên các chỉ tiêu mang tínhchất danh nghĩa (chỉ tiêu không tính đến yếu tố lạm phát, không tính đến sự trượt giá củađồng tiền) Mặt khác tỷ lệ lạm phát cao phá hoại và đình đốn nền sản xuất xã hội do lúc

đó độ rủi ro cao, không ai dám tính toán đầu tư lâu dài, những hoạt động kinh tế ngắnhạn từng thương vụ, từng đợt, từng chuyến diễn ra phổ biến, Trong xã hội xuất hiện tìnhtrạng đầu cơ tích trữ, dẫn tới khan hiếm hàng hoá Điều đó lại làm giá càng tăng, và xãhội rơi vào vòng luẩn quẩn, lạm phát càng tăng dẫn tới mất ổn định về chính trị xã hội

Tỷ lệ lạm phát cao còn có ảnh hưởng xấu tới quan hệ kinh tế quốc tế Tóm lại khi lạmphát cao tới mức hai con số (ở Việt nam giữa những năm 80 đã xảy ra tình trạng lạmphát tới mức 3 con số) trở lên, thì có ảnh hưởng xấu tới xã hội Do đó chính phủ phải cógiải pháp khắc phục, kiềm chế, và kiểm soát lạm phát

Trang 12

Tác động kinh tế xã hội của lạm phát rất khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ lạm phát vàkhả năng dự đoán chính xác sự biến động của mức lạm phát.

Đối với loại lạm phát vừa phải, do đây là lạm phát tính trước nên không gây ảnh hưởngđến sản lượng, hiệu quả và phân phối thu nhập Nhưng khi lạm phát tăng lên kéo theo sựbiến động mạnh về giá cả hàng hoá thì ảnh hưởng của lạm phát bắt đầu bộc lộ ở mứclạm phát phi mã người ta không thể kiểm soát được nó, tạo nên sự biến động bất thường

về giá trị tiền tệ và làm sai lệch toàn bộ thước đo các quan hệ giá trị, ảnh hưởng đến mọikinh tế xã hội cụ thể

Tóm lại, lạm phát có thể tạo ra những ảnh hưởng chủ yếu như sau:

1.3.1 Lạm phát tạo sự bất ổn cho môi trường kinh tế xã hội:

Sự biến động của lạm phát trong một khoảng thời gian làm cho người ta khó xác địnhmức sinh lời chính xác của các khoản đầu tư,do vậy co xu hướngthích đầu tư vào các tài sản hơn là vào các dự án Kết quả là nguồn lực xã hội bị phân bổmột cách thiếu hiệu quả và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, nó còn tácđộng đến nhiều mặt khác như các quyết định tài chính bị bóp méo, ảnh hưởng đến thịtrường lao động khi công đoàn đòi tăng lương, đe doạ đình công

1.3.2.Phân phối lại thu nhập quốc dân và của cả xã hội:

Khi lạm phát tăng lên, tổng thu nhập danh nghĩa tăng lên nhưng trong đó có chứa đựng

sự phân phối lại giữa các nhóm dân cư với nhau: Giữa chủ - thợ,giữa người đi vay – chovay, giữa chính phủ với người đóng thuế

Tóm lại, tác động chính của lạm phát về mặt phân phối lại nảy sinh từ những tác độngkhông thể đoán trước đối vơí giá trị thực tế của thu nhập và của cải của nhân dân

1.3.3 Lạm phát tác động đến giá cả, sản lượng, việc làm

Lạm phát kéo dài làm cho lượng tiền cung ứng tăng lên liên tục, tổng cung tiền tăngnhanh hơn tổng cầu tiền, lượng tiền danh nghĩa tăng, lãi suất danh nghĩa tăng giá trịđồng tiền giảm giá cả hàng hoá tăng nhanh với tỷ lệ không đều nhau và tăng nhanh hơn

cả là giá các mặt hàng thiết yếu cho tiêu dùng và cho sản xuất Khi hàng hoá khan hiếm

Trang 13

nạn đầu cơ phát triển mạnh làm giá cả càng hỗn loạn, chính phủ rất khó kiểm soát cáchoạt động kinh tế ngầm lạm phát cao kéo dài làm cho hàng loạt doanh nghiệp vừa vànhỏ bị phá sản hoặc sản xuất cầm chừng, một bộ phận công nhân bị mất việc, tỷ lệ thấtnghiệp tăng, nền kinh tế sa sút.

Trang 14

CHƯƠNG 2

LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000- 2006

2.1.Diễn biến lạm phát của Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến đời sống kinh tế – xãhội

Trong lịch sử quản lý kinh tế vĩ mô của Việt Nam,kiểm soát lạm phát là một trongnhững thành công được ghi nhận.Lạm phát của Việt Nam đã giảm từ 70% vào năm 1986xuống còn 35% vào năm 1989 và trong mức kiểm soát ở những năm sau này Kết quảnày có được đã phản ảnh tổng hợp nhiều yếu tố như tự do hoá nền kinh tế, áp dụng tỷgiá hối đoái thực tế hơn,người dân không còn tồn trữ hàng hoá,vàng đô la,mà bắt đầutích luỹ bằng đồng tiền trong nước

Tỷ lệ lạm phát giảm từ giai đoạn 1988 đến năm 2000, đặc biệt năm 2000 tỷ lệ lạm phát

là 0,1% và năm 2001 là - 0.6%.Thế nhưng lạm phát bắt đầu tăng lại từ năm 2002 và trởnên mạnh hơn vào đầu năm 2004 Nhìn về xu hướng, tỷ lệ lạm phát giảm trong thời kỳ

1998 – 2001 là do tác động của khủng hoảng Châu á làm cho nền kinh tế lâm vào suythoái cùng với giảm phát.Vào giai đoạn này chính phủ thực hiện chính sách kích cầu để

ổn định nền kinh tế Chính sách này cùng với chính sách tín dụng mềm đối với nhữngcông trình đầu tư lớn của chính phủ đã làm cho lượng cung tín dụng tăng kéo theo sựtăng giá vào năm 2002

Số liệu tiền tệ cũng cho thấy điều này, tốc độ tăng trưởng hàng năm của lưọng cungtiền M2 trong năm 1999 và 2000 cao hơn nhiều so với những năm trước và sau đó, ởmúc là 56% vào năm 2000 Mức tăng M2 từ sau năm 2000 trở đi đã trở lại mức giá trungbình của giai đoạn trước năm 2000 là dao động trên dưới 20%

Nếu lạm phát của năm 2003 chỉ là 3% thì bắt đầu đến tháng 2 của năm 2004 chỉ số lạmphát được tính bằng CPI đã là 4,1% Cho đến tháng 8 năm 2004 thì chỉ số này đã vọt lênđến 8,3%.Đây là con số cao nhất kể từ năm 1995 cho đến nay

Ngày đăng: 20/10/2017, 05:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w