1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

M t s bi n ph p nh m y m nh ho t ng ti u th s n ph m C ng ty Xi M ng B t S n

76 154 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 492 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M t s bi n ph p nh m y m nh ho t ng ti u th s n ph m C ng ty Xi M ng B t S n tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, lu...

Trang 1

http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ

án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cảmọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp củaquý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quýkhách gửi về luanvanpro.com@gmail.com

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở Công ty Xi Măng Bút Sơn

Trang 2

Lời Nói ĐầuĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ cơ chếbao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, điều này đồng nghĩa vớiviệc mỗi doanh nghiệp trở thành một chủ thể kinh tế độc lập, có quyền tự chủ trong sảnxuất kinh doanh và phải chịu trách nhiệm với hoạt động kinh doanh của mình Cơ chếmới đã mở ra cho các doanh nghiệp nhiều vận hội nhưng cũng không ít thách thức, rủi

ro Để có thể tồn tại và phát triển được, doanh nghiệp cần trả lời tốt ba câu hỏi: Sản xuấtcái gì? Sản xuất như thế nào? Và sản xuất cho ai?

Là một khâu cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tiêu thụ sản phẩm

có vai trò rất quan trọng, quyết định sự sống còn của doanh nghiệp bởi vì có tiêu thụđược sản phẩm thì doanh nghiệp mới có tiền để bù đắp các chi phí sản xuất và tích luỹ

để từ đó có thể tái sản xuất mở rộng Để thực hiện tốt hoạt động tiêu thụ sản phẩm,doanh nghiệp cần phải thực hiện một loạt các công việc đa dạng, liên quan đến các chứcnăng khác và diễn ra ở phạm vi rất rộng như: tiến hành các hoạt động Marketing, tổ chứcmạng lưới tiêu thụ, các biện pháp xúc tiến bán hàng

Qua thời gian thực tập tốt nghiệp tại Công ty Xi Măng Bút Sơn em nhận thấy việc tiêuthụ sản phẩm là một vấn đề rất được Công ty quan tâm, chính vì vậy em đã đi sâu vàonghiên cứu, tìm hiểu về hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty và thực hiện luận văntốt nghiệp với đề tài:

"Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở Công ty Xi Măng BútSơn.”

Luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận chung về tiêu thụ sản phẩm

Chương II: Tình hình hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Xi Măng Bút Sơn

Chương III: Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở Công ty

Xi Măng Bút Sơn

Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cán bộ, công nhân viên Công ty XiMăng Bút Sơn cùng với thầy giáo Phan Thế Vinh, giáo viên hướng dẫn, đã giúp đỡ em rấtnhiều trong quá trình thực tập tốt nghiệp cũng như khi thực hiện đề tài

Trang 3

Sinh viên Đinh Việt Dũng

Trang 4

Phần I

Cơ sở lý luận chung về tiêu thụ sản phẩm

I Khái niệm và vai trò Của Hoạt Động Tiêu Thụ Sản Phẩm Đối Với Sự Phát TriểnCủa Doanh Nghiệp:

1/ Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm:

Tiêu thụ sản phẩm là việc thực hiện việc thay đổi quyền sở hữu tài sản sau khi đạtđược sự thống nhất người bán giao hàng và người mua nhận hàng Qua tiêu thụ sảnphẩm hàng hoá, dịch vụ được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ vàvòng chu chuyển vốn của doanh nghiệp được hoàn thành Có đẩy nhanh tốc độ tiêuthụ sản phẩm sẽ góp phần làm tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn nói riêng và hiệuquả sử dụng vốn nói chung, đồng thời thoả mãn nhu cầu của toàn xã hội

Như vậy: “ Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh,

là hành động của nhà sản xuất chuyển giao quyền sở hữu và sử dụng sản phẩm haydịch vụ của mình cho người tiêu dùng để thu về tiền tệ.”

2/ Đặc điểm của hoạt động tiêu thụ sản phẩm:

Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tốquyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên ở mỗi thời kỳ, mỗi cơchế kinh tế khác nhau, hoạt động tiêu thụ sản phẩm cũng được nhìn nhận dưới nhữnggóc độ khác nhau

Trong cơ chế bao cấp, toàn bộ nền kinh tế quốc dân được điều hành bởi các mệnhlệnh hành chính của nhà nước chứ không tuân theo quy luật cung-cầu Nhà nước,đóng vai trò quan trọng trong xã hội, lập kế hoạch cung ứng vật tư cho các đơn vị sảnxuất kinh doanh và giao chỉ tiêu nộp sản phẩm cho nhà nước, từ đó nhà nước lại phânphối các sản phẩm đó đến tay người tiêu dùng Chính vì quan hệ kinh tế như vậy nênhoạt động tiêu thụ sản phẩm không được các doanh nghiệp quan tâm, tiêu dùng haynói đúng hơn là không cần quan tâm vì sản phẩm làm ra đã có nhà nước bao tiêu Cóthể hiểu, trong thời kỳ này, tiêu thụ sản phẩm là sự vận chuyển hàng hoá theo sốlượng, giá cả đến những đơn vị tiêu dùng, người tiêu dùng mà nhà nước quy định sẵn.Chuyển sang nền kinh tế thị trường, tiêu thụ sản phẩm trở thành một hoạt động quantrọng, quyết định sự tồn tại phát triển của doanh nghiệp, bởi vì cơ chế thị trường với

Trang 5

sự cạnh tranh khốc liệt của nó đã khiến các doanh nghiệp phải tự đi tìm khách hàngcho mình và việc đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bángia nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của cácdoanh nghiệp

Do vậy để đẩy nhanh công tác tiêu thụ sản phẩm bắt buộc doanh nghiệp phải thựchiện một loạt công việc phục vụ cho việc tiêu thụ sản phẩm như:

- Nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu thị trường

- Thay đổi mẫu mã và nâng cao chất lượng sản phẩm

- Cải tiến bộ máy quản lý

- Nâng cao năng suất lao động

- Hạ giá thành sản phẩm

3/ Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm:

Hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành qua nhiều khâu kế tiếp nhau, mỗi khâu

có quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời với khâu khác Các khâu trong hoạt động sảnxuất kinh doanh được ví như các mắt xích trong hệ thống dây xích, mắt xích này gắnliền với mắt xích kia tạo ra sự chuyển động liên tục, trơn tru và mắt xích này là tiền

đề, là kết quả hỗ trợ cho mắt xích khác Trong đó hoạt động tiêu thụ sản phẩm là mắtxích cuối cùng của chuỗi dây xích, mắt xích này hoạt động tốt thì cả hệ thống sẽ hoạtđộng trơn tru và ngược lại

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mục tiêu quan trọng nhất của các doanh nghiệp

là lợi nhuận, thông qua hoạt động tiêu thụ sản phẩm mục tiêu này được thực hiện, vìvậy có thể khẳng định hoạt động tiêu thụ sản phẩm là khâu quan trọng nhất chi phốicác khâu khác Thông qua tiêu thụ, giá trị sử dụng của sản phẩm mới được xác nhậnhoàn toàn và có tiêu thụ được hàng hoá thì doanh nghiệp mới thu hồi được vốn về,điều này có nghĩa nếu tăng nhanh quá trình tiêu thụ thì sẽ tăng nhanh vòng quay củavốn nhằm tiết kiệm vốn và lãi suất vay vốn Sau quá trình tiêu thụ, doanh nghiệpkhông những thu hồi được tổng số tiền liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh

mà còn thu được lợi nhuận, đây là nguồn cơ bản để bổ sung vào nguồn vốn tự có vàhình thành nên các quỹ xí nghiệp

Trang 6

Hoạt động tiêu thụ sản phẩm cũng thể hiện mục tiêu của doanh nghiệp là hướng tớikhách hàng Hoạt động này tạo ra nhu cầu, mà thực chất là cầu về sản phẩm hànghoá, một cách có hệ thống.

Hoạt động tiêu thụ sản phẩm là một quá trình từ tìm hiểu nhu cầu của khách hàng trênthị trường, tổ chức mạng lưới bán hàng tới thực hiện những dịch vụ sau bán hàng 4/ Mục tiêu của hoạt động tiêu thụ sản phẩm:

Hoạt động tiêu thụ của bất kỳ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế thị trường đềubao gồm một số mục tiêu cơ bản sau:

- Tăng thị phần của doanh nghiệp, tạo cho phạm vi và quy mô thị trường của doanhnghiệp không ngừng được mở rộng Mức độ thực hiện yêu cầu này phụ thuộc vàonhiều yếu tố, trong đó tập trung nhất là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranhtrên thị trường

- Tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp Có thể coi đây là yêu cầu về mặtkinh tế và biểu hiện về mặt lượng kết quả hoạt động bán hàng của doanh nghiệp Cầnchú ý rằng, lợi nhuận cao là lợi ích kinh tế trực tiếp của doanh nghiệp, giữa tăng lợinhuận và tăng doanh thu có mối quan hệ ước định với nhau, nhưng sự vận động củahai chỉ tiêu này không phải luôn đồng hướng Nói chung, tốc độ tăng của doanh thu

và lợi nhuận không tỷ lệ với nhau Doanh thu của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộcvào khối lượng tiêu thụ mà còn phụ thuộc vào chính sách giá bán hàng và mức chiphí sản xuất (giá thành toàn bộ) của sản phẩm Trong điều kiện cạnh tranh trên thịtrường, cái mà doanh nghiệp quan tâm hàng đầu không phải là mức lợi nhuận tuyệtđối cao trong từng đơn vị sản phẩm (tỷ suất lợi nhuận đơn vị sản phẩm cao) mà làtăng lượng hàng hoá bán và tăng tổng lợi nhuận Mặt khác, doanh thu và lợi nhuậncủa doanh nghiệp còn phụ thuộc vào cơ cấu sản phẩm và các chính sách kinh tế vĩ môcủa nhà nước

- Tăng tài sản vô hình của doanh nghiệp Đó chính là việc tăng uy tín của doanhnghiệp nhờ tăng niềm tin đích thực của người tiêu dùng đối với sản phẩm của doanhnghiệp sản xuất ra Tài sản vô hình của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố,trong đó biểu hiện trực tiếp ở hoạt động bán hàng của doanh nghiệp và sự phù hợpcủa sản phẩm mà nó bán ra với yêu cầu của khách hàng, chẳng hạn, phương thức bánhàng, mạng lưới bán hàng, thái độ bán hàng, trách nhiệm đến cùng với sản phẩm

Trang 7

mình sản xuất ra và bán trên thị trường Người mua hàng, người tiêu dùng sẽ có thiệncảm hoặc ác cảm với doanh nghiệp qua mua và tiêu dùng sản phẩm của doanhnghiệp.

Xét về lâu dài, chính tài sản vô hình sẽ tạo ra nền tảng vững chắc cho sự phát triểncủa doanh nghiệp

- Tăng vị thế của doanh nghiệp Vị thế của doanh nghiệp trên thị trường biểu hiệnbằng % doanh số hay số lượng hàng hoá bán được so với toàn bộ thị trường Con sốnày càng lớn thì vị thế của doanh nghiệp càng lớn, do vậy tiêu thụ sản phẩm có ýnghĩa quyết định vị thế của doanh nghiệp trên thương trường Để có được vị thế lớntrên thương trường trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay là rất khó khăn,

nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải vận dụng được sức mạnh tổng hợp của mình đểgiành lấy thị trường

- Mục tiêu an toàn Hàng hoá là những vật phẩm được sản xuất ra để bán chứ khôngphải để người sản xuất ra nó tiêu dùng, vì vậy sản phẩm sản xuất ra cần được bán trênthị trường và doanh nghiệp thu về tiền tệ để có thể tái sản xuất, như vậy quá trình sảnxuất kinh doanh mới diễn ra liên tục, có hiệu quả

- Mục tiêu phục vụ khách hàng, góp phần vào việc thoả mãn các nhu cầu pháttriển kinh tế xã hội của đất nước Mục tiêu này thể hiện một khía cạnh chức năng xãhội của doanh nghiệp và khẳng định vị trí của doanh nghiệp như là một tế bào của hệthống kinh tế quốc dân

Các mục tiêu này chính là động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh nóichung, hoạt động tiêu thụ sản phẩm nói riêng của doanh nghiệp Nó cũng chính là cáiđích để mọi doanh nghiệp theo đuổi và vươn tới

II Nội Dung Của Hoạt Động Tiêu Thụ Sản Phẩm:

1/ Tổ chức nghiên cứu thị trường:

Có thể hiểu một cách đơn giản thị trường là nơi diễn ra các hoạt động (trực tiếp và giántiếp) mua bán hàng hoá Nghiên cứu thị trường là sự nhận thức một cách khoa học, có hệthống mọi nhân tố tác động của thị trường và phải tìm cách ảnh hưởng tới chúng Nghiêncứu thị trường tạo ra các thông tin cần thiết về các ảnh hưởng của thị trường tới việc tiêuthụ sản phẩm hàng hoá, làm cơ sở cho việc ra các quyết định về chính sách tiêu thụ hànghoá, dịch vụ Với mục đích như thế, nghiên cứu thị trường không chỉ giới hạn ở nghiên

Trang 8

cứu thị trường hiện tại mà phải luôn chú ý đến thị trường tương lai của doanh nghiệp màtrước hết là các thị trường doanh nghiệp muốn chinh phục.

Một mặt, mục tiêu của việc nghiên cứu thị trường là xác định thực trạng của thị trườngtheo các tiêu thức có thể lượng hoá được về nguyên tắc có thể đạt được bằng khoa họcthống kê Mặt khác, nghiên cứu thị trường cũng tìm cách giải thích các ý kiến có thể vềcầu của các hàng hoá do doanh nghiệp cung cấp hay những lý do mua hoặc không muasản phẩm của doanh nghiệp Đây là những cơ sở để doanh nghiệp ra các quyết định củamình Để tạo ra và xử lý những thông tin cần thiết phải đặc biệt chú ý sử dụng cácphương pháp nghiên cứu xã hội, kinh nghiệm, tâm lý, thống kê

Quá trình nghiên cứu thị trường được tiến hành qua ba bước:

- Thu thập thông tin

- Xử lý thông tin

- Ra quyết định

a, Thu thập thông tin:

Các thông tin về thị trường luôn biến đổi không ngừng vì vậy doanh nghiệp phải nhanhnhậy nắm bắt lấy những biến đổi đó để có thể điều chỉnh kế hoạch kinh doanh của mình.Thông thường, trong quá trình thu thập thông tin, doanh nghiệp cần thu thập các thôngtin về:

- Quy mô của thị trường

- Khách hàng (hiện tại và tiềm năng)

- Các sản phẩm cùng loại trên thị trường

* Phương pháp điều tra trực tiếp:

Là phương pháp sử dụng lực lượng trực tiếp tiếp cận với thị trường để nghiên cứu thôngqua các hình thức điều tra tại chỗ, phỏng vấn, quan sát Điều tra thị trường bằngphương pháp trực tiếp đòi hỏi nhiều lao động, phương tiện và do đó chi phí kinh doanh

Trang 9

lớn Thị trường ngày càng phát triển, việc nghiên cứu trực tiếp không thể bao quát hếttoàn bộ thị trường và thường ở dạng điều tra chọn mẫu Độ chính xác của các kết luậnđiều tra nghiên cứu theo phương pháp này tuỳ thuộc vào rất nhiều vào việc phân mẫu và

sử dụng các lý thuyết xác suất thống kê Để tăng tính hấp dẫn, thu hút sự quan tâm củanhững người được điều tra bộ phận điều tra không thể không dựa trên cơ sở các kiếnthức tâm lý, xã hội mà sử dụng nhiều hình thức khác nhau từ phỏng vấn (trực tiếp, quađiện thoại), phiếu thăm dò (tại chỗ, gửi đến người được thăm dò), đến các hình thức thuhút các đối tượng điều tra vào các cuộc vui có thưởng (sử dụng nhiều trong thăm dò giácả), Muốn đạt được hiệu quả điều tra cao, công tác chuẩn bị điều tra phải được quantâm đúng mức Tuỳ theo từng hình thức điều tra mà tiến hành các nội dung cần thiếtchuẩn bị thích hợp Với hình thức phỏng vấn việc chuẩn bị bao gồm xác định đối tượng

và phạm vi phỏng vấn, phân nhóm đối tượng và chuẩn bị các câu hỏi phỏng vấn thíchhợp với từng loại đối tượng sẽ phỏng vấn Câu hỏi càng ngắn gọn, dễ hiểu càng có khảnăng dẫn đến kết quả mà người phỏng vấn mong muốn.Trong phỏng người phỏng vấnphải có nghệ thuật giao tiếp, người phỏng vấn phải biết lái người được phỏng vấn trả lờivào đúng trọng tâm các câu hỏi phỏng vấn đã chuẩn bị Nếu sử dụng hình thức điều trabằng phiếu thăm dò, ngoài việc lựa chọn đối tượng và phạm vi thăm dò, mẫu thăm dòphải được chuẩn bị hết sức chu đáo Các câu hỏi thăm dò không phải chỉ ngắn gọn màcòn phải đánh trúng tâm lý người được thăm dò, có sức lôi cuốn họ quan tâm đến vấn đề

mà người điều tra đang cần quan tâm Khác với các phương pháp trên, phương phápquan sát không lôi cuốn đối tượng nghiên cứu phải trực tiếp tham gia vào quá trìnhnghiên cứu Theo phương pháp này, nhân viên nghiên cứu trực tiếp hoặc bằng thiết bịquan sát mà quan sát khách hàng; qua theo dõi cử chỉ, biểu hiện thái độ của khách hàng(chẳng hạn trong một siêu thị) mà phân tích và rút ra các kết luận cần thiết về hàng hoáđang tiêu thụ ở các thị trường phát triển, người ta còn sử dụng cả các phương pháp quansát bằng các thiết bị đo chuyên dụng

Nhìn chung, phương pháp trực tiếp nghiên cứu thị trường là phương pháp tốn kém vàkhông đưa ra được kết luận có tính chất đại diện cho thị trường Chỉ nên sử dụng phươngpháp này bổ sung cho phương pháp bàn giấy, làm sáng tỏ các kết luận nhất định mà bộphận nghiên cứu thị trường thấy rằng cần kiểm tra thêm các kết luận đã đưa ra từ phươngpháp bàn giấy

Trang 10

* Phương pháp điều tra gián tiếp (phương pháp bàn giấy):

Doanh nghiệp cũng có thể nghiên cứu thị trường bằng phương pháp gián tiếp (phươngpháp bàn giấy) Theo phương pháp này, việc nghiên cứu thị trường có thể dựa trên cơ sởcác dữ liệu do chính doanh nghiệp tạo ra như các số liệu của kế toán tài chính, tính chiphí kinh doanh, thống kê tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, thống kê kết quả quảng cáo, cácbáo cáo của các bộ phận bán hàng, hoặc từ các dữ liệu có ở bên ngoài doanh nghiệpnhư các số liệu của các cơ quan thống kê (các số liệu thống kê công bố trên báo chí, sốliệu công bố của các tổ chức kinh tế, các cơ quan nghiên cứu thị trường, ) Hoạt độngthông tin kinh tế càng phát triển, phương pháp bàn giấy càng đóng vai trò quan trọng đốivới công tác nghiên cứu thị trường

b, Xử lí thông tin:

Để có được những kết luận chính xác về thị trường thì thông tin thu thập được phải được

xử lí bằng các phương pháp khoa học (thống kê, kinh tế lượng ) cùng với sự giúp đỡcủa các chuyên gia Việc xử lí thông tin đòi hỏi phải trả lời được các câu hỏi sau:

- Quy mô của thị trường

- Những khu vực thị trường có cơ hội tiêu thụ hấp dẫn

- Các khách hàng tiềm năng

- Các đòi hỏi của khách hàng

- Các loại sản phẩm cùng loại hiện có trên thị trường, cũng như có bao nhiêu đối thủcạnh tranh

c, Ra quyết định:

Trên cơ sở việc xử lí các thông tin đã thu thập được, doanh nghiệp đưa ra các quyết định

về sản xuất kinh doanh như:

- Quyết định giá bán tại các thị trường khác nhau sao cho phù hợp

- Quyết định về việc đưa một mặt hàng mới thâm nhập thị trường hoặc cắt giảm một mặthàng nào đó khi không còn khả năng tiêu thụ

- Quyết định về việc mở rộng hay thu hẹp mạng lưới kênh phân phối sản phẩm củadoanh nghiệp trên thị trường

- Quyết định về mức hàng hoá dự trữ cần thiết cho quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp

Trang 11

Quá trình nghiên cứu thị trường về nguyên tắc được tiến hành theo trình tự như trên vớinhững nội dung cụ thể, song trên thực tế mỗi doanh nghiệp trong điều kiện của mình vớinhững yêu cầu cụ thể mà có thể chú trọng nghiên cứu mặt này hay mặt kia, từ đó đưa ranhững quyết định đúng đắn phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của mình.

Trang 12

2/ Xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm:

Trên cơ sở tổ chức công tác nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp cần xây dựng được kếhoạch cụ thể về tiêu thụ sản phẩm của mình trong năm hoạt động Bên cạnh đó doanhnghiệp cũng cần căn cứ vào các nhân tố cơ bản sau:

- Nhiệm vụ nhà nước giao cho doanh nghiệp trong năm kế hoạch đối với một sốdoanh nghiệp

- Khả năng tiêu thụ sản phẩm và những hợp đồng kinh tế đã ký

- Kết quả phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo

* Trình tự xây dựng kế hoạch: Thông thường xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩmcủa doanh nghiệp được tiến hành qua 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị vào giữu năm báo cáo, doanh nghiệp cần tiếnhành các công việc sau:

+ Phân tích các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Xác địnhcác nguồn lực tiềm tàng về vật tư kỹ thuật, lao động, tiền vốn, có thể huy động trongnăm kế hoạch

+ Điều tra nhu cầu thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm, chủ động bàn và kýcác hợp đồng kinh tế (có thể tiến hành ký kết các hợp đồng sơ bộ về tiêu thụ sản phẩm)

Giai đoạn 2: Giai đoạn dự thảo kế hoạch (vào khoảng quý III) Căn cứ vào nhữngthông tin có được trong giai đoạn chuẩn bị, doanh nghiệp tiến hành kế hoạch tiêu thụ sảnphẩm Lấy ý kiến của cán bộ công nhân viên và tiến hành dự thảo dự thảo trước cấp trên

Giai đoạn 3: Giai đoạn lập kế hoạch chính thức (vào khoảng tháng 12 của nămbáo cáo) sau khi lập kế hoạch chính thức, doanh nghiệp cần tiến hành một số công việcsau:

+ Phân chia kế hoạch cho từng quý, tháng về cho các bộ phân nội bộ

+ Tổ chức hội nghị công nhân viên phổ biến và tìm biện pháp thực hiện nhiệm vụ

Trang 13

Chính sách sản phẩm của doanh nghiệp là cơ sở để xác định phương hướng đầu tư pháttriển doanh nghiệp, là cơ cơ sở để thực hiện chính sách giá bán, chính sách phân phối,chính sách khuyếch trương và là cơ sở để thực hiện các mục tiêu phát triển doanhnghiệp.

Chính sách sản phẩm của doanh nghiệp có thể dựa vào:

* Sự khác biệt hoá về sản phẩm:

Khác biệt hoá là một chính sách của doanh nghiệp dựa vào việc làm cho các sản phẩmcủa mình khác người, nhằm phân biệt chúng với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.Chính sách này cho phép:

- Hướng việc mua của người tiêu dùng đến với các sản phẩm của doanh nghiệp, nhờ vàohình ảnh về nhãn mác hoặc các đặc tính riêng biệt về sản phẩm của mình

- Khuyến khích người tiêu dùng mua các sản phẩm của doanh nghiệp, khi so sánh nhữnghấp dẫn đặc biệt, mà đối thủ cạnh tranh không có Giảm bớt được cạnh tranh nhờ gạt bỏđược khả năng so sánh trực tiếp giữa các sản phẩm không còn là giống hệt nhau nữa trênthị trường

- Có thể giúp doanh nghiệp từ hoạt động trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo sang thịtrường độc quyền, do vậy doanh nghiệp có thể bán được giá cao (giá độc quyền) và đảmbảo khả năng sinh lợi cao

Khác biệt hoá sản phẩm có thể được thực hiện theo những phương pháp thay đổi sau:

- Những đặc trưng kĩ thuật của sản phẩm: sự vận hành tốt, chắc chắn, thời gian sống, độ

an toàn, kích cỡ, trọng lượng

- Kiểu bao gói, vận chuyển, phân phối

- Tổng thể các dịch vụ được đưa ra kho bán hoặc sau khi bán: tín dụng, bảo hành, lắpđặt, trợ giúp kỹ thuật

- Quảng cáo kèm theo: tạo ra sự tương phản về hình ảnh của sản phẩm hay mác của sảnphẩm và của đối thủ cạnh tranh

* Gam sản phẩm:

Doanh nghiệp có thể khác biệt hoá các sản phẩm của mình không những so với sảnphẩm của các đối thủ cạnh tranh mà còn khác biệt hoá ngay chính các sản phẩm củamình nhờ việc tạo ra một gam sản phẩm bổ sung đáp ứng các nhu cầu của các phân đoạnkhác nhau của thị trường

Trang 14

Việc định ra một gam sản phẩm đối với doanh nghiệp là khó khăn, bởi vì các sản phẩmphải bổ sung được cho nhau và không được thay thế nhau Điều đó có nghĩa việc bổsung sản phẩm mới vào gam cần làm tăng cầu và không dẫn đến một sự thay thế cầutheo kiểu hướng tới sản phẩm mới cho sản phẩm cũ.

Sự biến đổi gam sản phẩm của doanh nghiệp có thể được thực hiện theo nhiều hướng:

- Mở rộng gam sản phẩm bao gồm việc tiếp tục bổ sung thêm hoặc về phía trên hay vềphía dưới của gam sản phẩm

- Thu hẹp gam sản phẩm bao gồm giảm tính đa dạng của các sản phẩm cung cấp và điều

đó cho phép giảm nhẹ dự trữ, hạ thấp chi phí và đơn giản hoá các chương trình sản xuất,chương trình bán hàng

- Đa dạng hoá gam sản phẩm là việc thêm vào các sản phẩm có bản chất khác với gamhiện tại, nhưng đáp ứng cùng một mục tiêu sử dụng

* Xác định các giới hạn và độ linh hoạt cần thiết:

Yêu cầu chung của chính sách định giá trong kinh doanh của doanh nghiệp là giá cả củasản phẩm phải bù đắp được chi phí sản xuất kinh doanh và có lãi Do trên thị trường cáckhách hàng thường mua sản phẩm với số lượng khác nhau và vào những thời điểm khácnhau nên khó có thể áp dụng một mức giá thống nhất Trên thực tế, người bán có thểtăng giá khi cầu tăng, hoặc thực hiện chiết khấu khi khách hàng mua với số lượng lớn

Để có cơ sở cho việc tăng, giảm giá trong từng tình huống cụ thể chính sách giá bán củadoanh nghiệp cần xác định độ linh hoạt của giá, nó có thể được quy định bằng mức tănggiảm tuyệt đối của giá đơn vị sản phẩm hoặc tỷ lệ tăng giảm giá đơn vị sản phẩm Với

Trang 15

chính sách này, người bán có thể chủ động quyết định giá bán trong phạm vi độ linh hoạtcho phép Trong trường hợp doanh nghiệp lựa chọn chính sách một giá ổn định thì ngườibán không được phép thay đổi giá bán.

 Các chính sách định giá bán:

- Chính sách định giá từ chi phí:

Được xác định theo công thức: P = Ztb + Cth + Ln

Trong đó: Ztb: Giá thành toàn bộ tính cho một đơn vị sản phẩm

Cth: Các khoản thuế phải nộp tính cho một sản phẩm

Ln : Lợi nhuận dự kiến thu được của một đơn vị sản phẩm

Định giá theo hình thức này thường được áp dụng cho nhiều doanh nghiệp, đặcbiệt là các doanh nghiệp nhà nước

- Chính sách định giá theo thị trường:

Đây là cách định giá khá phổ biến của các doanh nghiệp hiện nay, tức là định giá sảnphẩm xoay quanh mức giá thị trường của sản phẩm đó Tuy nhiên doanh nghiệp cũng cóthể đưa ra mức giá cao hơn giá thị trường nếu chất lượng, uy tín của sản phẩm - dịch vụcủa doanh nghiệp cao hơn các doanh nghiệp khác, ngược lại có thể đưa ra mức giá thấphơn

Tức là định mức giá cao hơn mức giá trên thị trường Cách này có thể áp dụng:

- Với các sản phẩm mới tung ra thị trường, người tiêu dùng chưa biết rõ chất lượng của

nó, chưa có cơ hội để so sánh về giá

- Với những doanh nghiệp hoạt động trong thị trường độc quyền

- Với những mặt hàng cao cấp

- Chính sách ổn định giá bán:

Trang 16

Tức là không thay đổi giá bán theo cung cầu của từng thời kỳ Cách này giúp doanhnghiệp thâm nhập, giữ vững và mở rộng thị trường.

2.3 Chính sách phân phối hàng hoá:

* Vai trò và chức năng của phân phối hàng hoá:

- Phân phối là toàn bộ các công việc để đưa một sản phẩm, dịch vụ từ nơi sản xuất đến tận tay ngườitiêu dùng có nhu cầu, bảo đảm về chất lượng, thời gian, số lượng, chủng loại, kiểu dáng, mầu sắc màngười tiêu dùng mong muốn

- Chính sách phân phối có vai trò quan trọng nó ảnh hưởng lớn đến các chính sách sảnphẩm, chính sách giá cả, quảng cáo và xúc tiến bán hàng Phân phối có vai trò làm chocung và cầu ăn khớp với nhau

* Kênh phân phối hàng hoá:

Trong nền kinh tế thị trường việc tiêu thụ sản phẩm có thể được thực hiện bằng nhiềukênh khác nhau, qua đó sản phẩm được chuyển từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuốicùng Việc các doanh nghiệp áp dụng hình thức tiêu thụ nào phần lớn phụ thuộc vào đặcđiểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó và việc phân phối hàng hoá vào các kênhtiêu thụ là những quyết định nhằm chuyển hàng hoá từ tay người sản xuất đến tay ngườitiêu dùng cuối cùng một cách hợp lý, nhanh chóng nhằm đạt được mục tiêu của doanhnghiệp là tối đa hoá lợi nhuận

Quá trình phân phối sản phẩm vào các kênh tiêu thụ có các nhân tố sau xuất hiện:

- Người sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng:

Trong quan hệ mua bán, người mua có vai trò quyết định nhưng sự quyết định cuối cùngcủa người mua lại bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố từ phía người bán như: cách thức tổchức bán hàng, giá cả hàng hoá, các dịch vụ

- Người trung gian:

Là người đứng giữa người sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng Trong nền kinh tếthị trường không phải lúc nào việc mua bán cũng diễn ra trực tiếp giữa người sản xuất và

Trang 17

người tiêu dùng cuối cùng mà còn có rất nhiều trường hợp việc mua bán được diễn rathông qua môi giới Người trung gian không chỉ đóng vai trò tổ chức lưu thông hàng hoá

mà còn thực hiện vai trò làm giảm bớt các đầu mối quan hệ trên thị trường Trung gian

có nhiều loại như: Người môi giới, người đại lý, người bán buôn, người bán lẻ Việc liênkết chặt chẽ giữa người sản xuất với người trung gian để tổ chức phân phối hàng hoá hợp

lý tới người tiêu dùng cuối cùng là cần thiết, điều đó làm hàng hoá lưu thông nhanh hơn,tiết kiệm được chi phí lưu thông và các chi phí khác giúp cho doanh nghiệp thu được lợinhuận tối đa

Ta có thể thấy được vai trò của người trung gian qua sơ đồ sau:

Khi chưa có trung gian, số lần tiếp xúc giữa nhà sản xuất và khách hàng là 9 lần, còn khi

có trung gian, số lần tiếp xúc là 6

- Mạng lưới thông tin thị trường:

Vai trò của thông tin thị trường đối với việc sản xuất và lưu thông hàng hoá là khác nhau.Đối với việc lưu thông, điều họ cần biết là thông tin về giá cả, về sự thay đổi cung - cầutrên thị trường Xử lý thông tin nhanh, chính xác dẫn đến việc ra quyết định phân phối sảnphẩm vào các kênh tiêu thụ chính xác và hợp lý, làm cho quá trình tiêu thụ sản phẩmnhanh chóng và nhịp nhàng Còn đối với việc sản xuất, cần nắm bắt được các thông tin vềthị trường để từ đó có thể sản xuất các mặt hàng phù hợp với yêu cầu của thị trường

- Các thành phần phụ trợ:

Hệ thống kho tàng bến bãi, các phương tiện vận chuyển, bốc xếp hàng hoá, hệ thống cửahàng là khâu không thể thiếu được của quá trình phân phối sản phẩm Tuỳ thuộc vào mỗiloại hàng hoá khác nhau mà quy mô và cấu trúc kho tàng, bến bãi cũng khác nhau

Nh s n xu t à sản xuất ản xuất ất

Nh s n xu t à sản xuất ản xuất ất

Khách h ng à sản xuất Khách h ng à sản xuất Khách h ng à sản xuất

Nh s n xu t à sản xuất ản xuất ất Khách h ngà sản xuất

Nh s n xu t à sản xuất ản xuất ất

Trang 18

Các doanh nghiệp có thể phân phối sản phẩm của mình qua các kênh tiêu thụ trực tiếphay gián tiếp:

a) Kênh tiêu thụ trực tiếp:

Theo phương thức này, các doanh nghiệp trực tiếp bán sản phẩm của mình cho người tiêudùng cuối cùng không qua trung gian Nếu doanh nghiệp sản xuất lựa chọn hình thức tiêuthụ trực tiếp thì sẽ phải thực hiện mọi chức năng liên quan không chỉ đến sản xuất mà cònliên quan đến tiêu thụ sản phẩm Việc xoá bỏ sự chia cắt giữa sản xuất và tiêu dùng sẽ chỉthực hiện được nếu sự chia cắt đó là không lớn về cả không gian và thời gian Tổ chứckênh tiêu thụ trực tiếp đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn sản xuất kinh doanh lớn Để lựachọn kênh phân phối nào, người ta thường dựa vào tiêu thức chi phí kinh doanh trong lĩnhvực tiêu thụ Ngoài ra, người sản xuất còn phải dựa vào nhiều cơ sở khác như tìm cáchtiếp cận trực tiếp với khách hàng: càng tiếp cận trực tiếp với khách hàng càng có khả năngtăng cường ảnh hưởng tới khách hàng và có khả năng kiểm soát các quan hệ cung cầu,càng có điều kiện thực hiện các chính sách giá cả, các biện pháp quảng cáo theo đúng ý đồ

đã vạch ra, Việc tổ chức kênh tiêu thụ trực tiếp phát triển mạnh dưới nhiều hình thứckhác nhau như mở trụ sở, chi nhánh, cửa hàng, đại diện thương mại,

b) Kênh tiêu thụ gián tiếp:

Theo kiểu tổ chức kênh tiêu thụ gián tiếp thì giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng không

có mối quan hệ trực tiếp mà thực hiện quan hệ gián tiếp thông qua doanh nghiệp thươngmại (hay trung gian thương mại, bao gồm: người đại lý, người bán buôn, người bánlẻ, )

Trung gian thương mại có thể đảm nhiệm các chức năng sau:

- Thứ nhất: chức năng thu hẹp khoảng cách về không gian Trung gian thương mại cónhiệm vụ chuyển những sản phẩm hàng hoá được các doanh nghiệp sản xuất tạo ra tớingười tiêu dùng Bằng việc thực hiện nhiệm vụ này, khoảng cách giữa sản xuất và tiêudùng thu hẹp lại và người tiêu dùng mua được sản phẩm hàng hoá ngay tại nơi họ sinhsống Như thế, doanh nghiệp sản xuất chỉ cần một bộ phận nhỏ làm công tác tiêu thụ,đơn giản hoá công việc do chuyên môn hoá cao

- Thứ hai: chức năng cân đối về thời gian Sản xuất và tiêu dùng không có sự nhất trí vềthời gian, sản xuất có thể diễn ra liên tục trong khi tiêu dùng lại theo mùa vụ và ngượclại Do đó để xoá bỏ khoảng cách về thời gian cần có biện pháp dự trữ thích hợp Kể cả

Trang 19

trong trường hợp sản xuất và tiêu dùng liên tục cũng không thể không cần dự trữ để giảmchi phí vận chuyển và các chi phí khác do tiến hành công việc nhỏ lẻ gây ra.

- Thứ ba: chức năng cân đối về số lượng Giữa sản lượng sản xuất một loại hàng hoá vàlượng tiêu dùng chúng luôn tồn tại một khoảng cách lớn Việc rút ngắn khoảng cách nàychỉ có thể do doanh nghiệp thương mại thực hiện bằng việc thu gom hàng từ nhiều doanhnghiệp khác nhau (như hàng nông sản, hàng tiểu thủ công, ) Đối với hàng hoá do cácdoanh nghiệp lớn sản xuất lại diễn ra tình hình ngược lại: doanh nghiệp thương mại chianhỏ sản lượng tạo ra để đưa đến người tiêu dùng với sản lượng thích hợp

- Thứ tư: chức năng cân đối về chất lượng Chương trình sản xuất của doanh nghiệp sảnxuất và chương trình thu gom hàng hoá của doanh nghiệp thương mại là khác nhau.Thương mại phải hướng tới người mua, tập hợp các chủng loại hàng hoá phù hợp vớingười mua theo địa điểm và không gian Doanh nghiệp sản xuất lại chỉ xác định cân đốicung - cầu trên một phạm vi thị trường rộng lớn mà không đi sâu vào các vấn đề cụ thể,chi tiết

-Thứ năm: chức năng thông tin và tư vấn Thông qua việc mua bán trên thị trường doanhnghiệp thương mại đã thực hiện sự tiếp xúc giữa các thành viên kinh tế Chính nhờ chứcnăng thông tin và tư vấn của mình, doanh nghiệp thương mại đã khai thác khả năng bánhàng cho người sản xuất và khả năng mua hàng cho người tiêu dùng và do đó gắn giữa sảnxuất và tiêu dùng

Hoạt động thương mại diễn ra với hai hình thức chủ yếu là thương nghiệp bán buôn và thươngnghiệp bán lẻ Đặc trưng của thương nghiệp bán buôn là không bán hàng trực tiếp cho ngườitiêu dùng mà chỉ bán cho người sản xuất hoặc cho người bán hàng khác Thương mại bánbuôn nối liền doanh nghiệp sản xuất với thương mại bán lẻ hay giữa sản xuất với sản xuất.Còn thương nghiệp bán lẻ bán hàng hoá trực tiếp cho người tiêu dùng dưới nhiều hình thứckhác nhau Thị trường càng phát triển và càng mang tính chất thị trường người mua thì cáchình thức tổ chức bán lẻ càng phát triển đa dạng và phong phú Thương mại bán lẻ là cầu nốigiữa thương mại bán buôn và người tiêu dùng

Tóm lại, việc lựa chọn kênh phân phối này hay kênh phân phối kia tuỳ thuộc vào đặcđiểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và doanh nghiệp sẽ quyết định sử dụngphương thức nào có hiệu quả nhất

Có thể minh hoạ các kênh phân phối sản phẩm của doanh nghiệp theo sơ đồ sau:

Trang 20

Kênh trực tiếp Kênh gián ti p ếp

Ng ười sản ản xuất i s n

xu t ất s n xu t ản xuất Ng ười sản ất i

Ng ười sản i tiêu dùng

Ng ười sản i tiêu dùng

Ng ười sản i bán l ẻ Ng ười sản i bán l ẻ Ng ười sản i

bán lẻ

Ng ười sản i bán buôn

Ng ười sản i bán buônĐại lý

Các kênh phân phối hàng hoá của doanh nghiệp

3/ Bán hàng và công tác xúc tiến bán hàng:

3.1 Hoạt động bán hàng:

Thông qua hoạt động bán hàng, hình thái vật chất của hàng hoá được chuyển sang hìnhthái tiền tệ và giá trị sử dụng của nó thoả mãn một nhu cầu nhất định của khách hàng.Việc phát triển sản xuất kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào tốc độ bán hàng, bán hàng tựbản thân nó không phải là chức năng sản xuất nhưng lại là một yếu tố cần thiết của táisản xuất kinh doanh, nó góp phần nâng cao năng suất lao động chung của doanh nghiệp.Nội dung của hoạt động bán hàng bao gồm:

- Đáp ứng đầy đủ số lượng, chất lượng mặt hàng theo yêu cầu của khách hàng Đây làmột điều kiện không dễ đối với nhiều doanh nghiệp, tuy vậy doanh nghiệp có thể lựachọn cho mình những sản phẩm đặc trưng nhất thể hiện thế mạnh của mình

- Tổ chức tốt hoạt động dịch vụ trong suốt quá trình bán cũng như trước và sau bán hàng

- Hoàn thiện bộ máy bán hàng, đảm bảo sử dụng có hiệu quả năng lực của đội ngũ nhânviên bán hàng

- Tạo những địa điểm thuận lợi phục vụ công tác bán hàng như đặt cửa hàng gần đườnggiao thông hoặc nơi có thể dễ dàng vận chuyển hàng hoá

Trang 21

- Phục vụ tốt khách hàng bằng những phương thức thuận tiện nhất có thể, không ngừng cảitiến thiết kế cửa hàng, quầy hàng, thiết bị dụng cụ bán hàng

- Kết hợp quảng cáo với bán hàng, coi quảng cáo là phương thức thúc đẩy quá trình bánhàng một cách hữu hiệu nhất

* Quảng cáo: Có thể hiểu quảng cáo là hoạt động nhằm giới thiệu sản phẩm hàng hoá,dịch vụ của doanh nghiệp cho khách hàng, gây sự chú ý của khách hàng đối với sảnphẩm hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp làm cho khách hàng quen biết, có thiện cảm

và ngày càng tăng thiện cảm của họ đối với sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của doanhnghiệp Như vậy, mục đích của quảng cáo là thu hút, lôi cuốn khách hàng bằng các biệnpháp giới thiệu, truyền tin thích hợp Để lôi cuốn khách hàng, chức năng hướng dẫn sửdụng cũng phải được chú ý sử dụng ở các hình thức quảng cáo thích hợp (nhãn bao bì).Quảng cáo vừa đi trước và vừa tiến hành song song với bán hàng

Các phương tiện quảng cáo rất đa dạng, phong phú Tuỳ vào đặc điểm của sản phẩmhàng hoá, dịch vụ cũng như đặc điểm của doanh nghiệp mà lựa chọn và kết hợp cácphương tiện khác nhau để quảng cáo như báo chí, áp phích, rađio, tivi, phim ảnh, hội trợtriển lãm, Bên cạnh việc lựa chọn phương tiện, việc lựa chọn thời điểm và địa điểmquảng cáo cũng có tầm quan trọng đặc biệt đối với hiệu quả của hoạt động quảng cáo.Chẳng hạn, quảng cáo trên tivi phải lựa chọn thời điểm mà khả năng đối tượng cầntruyền đạt thông tin đang giành thời gian xem nhiều nhất

Các yêu cầu quan trọng nhất của công tác quảng cáo là:

- Thứ nhất, dung lượng thông tin phải cao Muốn vậy, thông tin quảng cáo phải ngắn gọn,

cụ thể, rõ ràng và tập trung theo nguyên tắc chỉ đưa vào quảng cáo những thông tin màkhách hàng quan tâm như chất lượng, giá cả,

Trang 22

- Thứ hai, phải đảm bảo tính nghệ thuật để thu hút sự quan tâm của khách hàng Muốnthế, những thông tin cần truyền đạt nhất phải hấp dẫn, gây được sự chú ý đối với ngườinhận tin

- Thứ ba, độ tin cậy của thông tin Hiệu quả của quảng cáo có được là nhờ độ tin cậy củathông tin quảng cáo Nguyên tắc là thông tin phải chính xác, đảm bảo tính trung thực vàđặc biệt về chất lượng sản phẩm

Việc tiến hành quảng cáo luôn gây ra chi phí kinh doanh lớn Vì vậy, xác định chi phí kinhdoanh cho hoạt động quảng cáo là một vấn đề quan trọng mà bộ phận tiến hành quảng cáokhông được phép không chú ý tới

* Chào hàng: Là một phương pháp tiếp xúc với khách hàng qua các nhân viên bán hàngcủa doanh nghiệp để bán buôn, bán lẻ hàng hoá và cung cấp dịch vụ cho khách hàng.Chào hàng có liên quan đến việc truyền thông tin giữa cơ sở tiêu thụ với các đại diệnthương mại, với các khách hàng dự kiến Qua công tác chào hàng, Công ty sẽ thu thậpđược các thông tin cần thiết về nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm của mình, từ

đó có được các đơn đặt hàng từ phía khách hàng

* Các biện pháp xúc tiến bán hàng thường được sử dụng là:

- Hội nghị khách hàng:

Là sự họp mặt giữa doanh nghiệp với khách hàng nhằm có sự tác động qua lại với nhau

về thông tin giữa người sản xuất với người tiêu dùng, tại đây các vấn đề cần quan tâmgiữa các bên sẽ được xem xét giải quyết Hội nghị khách hàng thường được tổ chức mộtnăm một lần nhằm vào các khách hàng chủ yếu của doanh nghiệp

- Tham gia hội chợ triển lãm:

Đây là một hình thức hỗ trợ cho công tác tiêu thụ, được tổ chức bởi các cơ quan nhànước có thẩm quyền như Bộ Thương mại, Bộ Công nghiệp, Công ty quảng cáo và hộichợ Nơi đây, ngoài việc doanh nghiệp trưng bày hàng hoá của mình còn có thể diễn raviệc ký kết các hợp đồng mua bán với khách hàng Tham gia hội chợ triển lãm thực sự

là việc cần thiết đối với doanh nghiệp, khi tham gia hội chợ doanh nghiệp cần chọn cácsản phẩm là thế mạnh của mình (về kỹ thuật, công nghệ, chất lượng, giá cả, ), chuẩn bịchu đáo các ấn phẩm về mình như các tài liệu, tờ rơi, ca-ta-lô,

- Mở các cửa hàng giới thiệu sản phẩm:

Trang 23

Đó là việc lựa chọn những địa điểm tốt, nơi có đông dân cư hoặc nơi tiện đường giaothông để mở các cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm của doanh nghiệp Đây cũng lànơi để tiến hành hoạt động giao dịch giữa doanh nghiệp với khách hàng.

4/ Tổ chức thanh toán và đánh giá hoạt động tiêu thụ sản phẩm:

4.1 Tổ chức thanh toán:

Hiện nay, có nhiều phương thức thanh toán được các doanh nghiệp sử dụng trong mua bán,

đó là: tiền mặt, séc, chuyển khoản, trả chậm, Việc lựa chọn phương thức thanh toán saocho cả hai bên (bên bán và bên mua) đều có lợi là một việc tương đối khó khăn, bởi vì khitiến hành hoạt động mua bán, người ta thường có xu hướng chiếm dụng vốn của nhau bằngcác hình thức chịu, nợ Tuy nhiên để tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm củamình thì doanh nghiệp cần đề ra những phương thức thanh toán đơn giản, thuận tiện nhất cóthể được

Một trong các chính sách thanh toán doanh nghiệp hay sử dụng là chính sách bán trảdần Theo phương thức bán hàng này, doanh nghiệp ký hợp đồng với khách hàng về sốtiền phải trả ngay, số tiền sẽ trả dần, thời gian trả dần, lãi suất đối với số tiền khách trảchậm, Với chính sách trả tiền dần, người mua chỉ cần trả một lượng tiền rất nhỏ so vớitổng giá thành lô hàng và số còn lại sẽ được trả dần Lợi ích của chính sách này là ở chỗthu hút được nhiều khách hàng chưa có đủ tiền ngay để mua sản phẩm song đã có dựtính tiết kiệm trong tương lai từ số thu nhập ổn định của họ để mua sản phẩm Trongtrường hợp tỷ lệ lãi suất tính cho số tiền phải trả dần thấp hoặc không tính lãi thì phươngthức trả dần tương đương với việc giảm giá bán sản phẩm, vì vậy nó tương đương vớiviệc thu hút khách hàng bằng biện pháp giảm giá

4.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm:

Sau khi thanh toán và xác định được kết quả tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp cần đánhgiá phân tích kết quả của công tác tiêu thụ để từ đó đưa ra được các ưu nhược điểm củamình và tìm ra các nguyên nhân của thành công cũng như của thất bại trong hoạt độngtiêu thụ

Có nhiều chỉ tiêu doanh nghiệp có thể sử dụng để đánh giá kết quả của công tác tiêu thụsản phẩm, sau đây là một số chỉ tiêu cơ bản các doanh nghiệp thường dùng:

- Doanh thu bán hàng:

DTBH = Pi*Qi

Trang 24

Trong đó: - Pi: giá bán của mặt hàng thứ i

- Qi: khối lượng tiêu thụ mặt hàng thứ i

- Lợi nhuận thu được từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm:

LN = Qi(Pi -Zi -CPi -Ti)Trong đó: - Qi: khối lượng tiêu thụ mặt hàng thứ i

- Pi: giá bán của mặt hàng thứ i

- Zi: giá vốn của mặt hàng thứ i

- CPi: chi phí quản lý và bán hàng của mặt hàng i

- Ti: thuế doanh thu (hoặc thuế VAT) của mặt hàng i

- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tiêu thụ sản phẩm = Qtt *100%

Qkh

Trong đó: - Qtt: số lượng sản phẩm tiêu thụ thực tế

- Qkh: số lượng sản phẩm tiêu thụ kế hoạch

Chỉ tiêu này phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm về mặt hiện vật

- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch tiêu thụ chung = QttPkh *100%

III Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến Hoạt Động Tiêu Thụ Sản Phẩm Của Doanh Nghiệp:1/ ảnh hưởng của môi trường vĩ mô:

Trang 25

Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanhnói chung và hoạt động tiêu thụ sản phẩm nói riêng, nó luôn tạo ra các cơ hội kinh doanhthuận lợi cũng như các nguy cơ đối với doanh nghiệp Vậy môi trường vĩ mô là gì?Chúng ta có khái niệm: “ Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố, lực lượng mang tínhchất xã hội rộng lớn có tác động ảnh hưởng đến các quyết định sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp”

Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát và thay đổiđược, đó là các yếu tố thuộc về kinh tế, pháp luật, kỹ thuật - công nghệ, văn hoá - xãhội,

Sau đây chúng ta xem xét một số nhân tố chính của môi trường vĩ mô ảnh hưởng đếnhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:

a, Môi trường kinh tế:

Trong bất kỳ trường hợp nào, các yếu tố thuộc môi trường kinh tế cũng có vai trò quantrọng và quyết định hàng đầu Bởi lẽ sự hình thành hệ thống tổ chức quản lý và các thiếtchế của hệ thống đó có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến chiều hướng và cường độcủa các hoạt động kinh tế trong nền kinh tế nói chung cũng như trong từng ngành, từngvùng và từng doanh nghiệp nói riêng

Các nhân tố kinh tế cần phải được nghiên cứu, phân tích và dự báo bao gồm: tỷ lệ lạmphát, tỷ giá hối đoái, lãi suất ngân hàng, các chính sách kinh tế của nhà nước,

b, Môi trường luật pháp, chính trị:

Các yếu tố chính trị và luật pháp là nền tảng quy định các yếu tố khác của môi trườngkinh doanh Có thể nói: quan điểm, đường lối chính trị nào, hệ thống luật pháp và chínhsách nào sẽ có môi trường kinh doanh đó, không có môi trường kinh doanh nào thoát lyquan điểm chính trị và nền tảng luật pháp

Hệ thống luật pháp, các chính sách, chế độ, đồng bộ và hoàn thiện sẽ tạo khung khổpháp lý và giới hạn cho việc đảm bảo quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh của cácloại hình doanh nghiệp

c, Môi trường kỹ thuật-công nghệ:

Các nhân tố thuộc môi trường kỹ thuật - công nghệ ngày càng có vai trò quan trọng vàquyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bởi vì tiến bộ khoa học

và công nghệ ảnh hưởng một cách trực tiếp và quyết định đến hai yếu tố tạo khả năng

Trang 26

cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, đó là chất lượng và giá cả của sản phẩm Dovậy nó có tác động đến thị trường, các nhà cung cấp, đến khách hàng, quá trình sản xuất

và vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường

d, Môi trường văn hoá-xã hội:

Các nhân tố thuộc môi trường văn hoá - xã hội có ảnh hưởng chậm, song cũng rất sâusâu sắc đến môi trường kinh doanh Trên thực tế, các vấn đề thuộc về phong tục tậpquán, lối sống, trình độ dân trí, tôn giáo tín ngưỡng, có ảnh hưởng sâu sắc đến cơ cấucủa nhu cầu thị trường

e, Môi trường tự nhiên:

Trong thực tế, các yếu tố thuộc môi trường tự nhiên có thể tạo ra thuận lợi khó khăn banđầu đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, của một ngành, hay thậm chí cảmột quốc gia Tuy vậy, các cơ hội hay bất lợi do các yếu tố tự nhiên gây ra chỉ trong giớihạn thời gian và không gian nhất định Vượt quá giới hạn đó các yếu tố này sẽ không cònảnh hưởng lớn đến các hoạt động của nền kinh tế hay của doanh nghiệp nữa

2/ ảnh hưởng của môi trường vi mô:

Môi trường vi mô chính là hoàn cảnh nội tại của doanh nghiệp, bao gồm tất cả các yếu

tố và hệ thống bên trong doanh nghiệp Các yếu tố nội tại chủ yếu gồm:

a, Bộ máy quản lý:

Tổ chức bộ máy quản lý ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung vàhoạt động tiêu thụ sản phẩm nói riêng bởi vì tổ chức bộ máy định hướng cho toàn bộcác hoạt động của doanh nghiệp Bộ máy quản lý có thể là ưu hoặc nhược điểm cho việchoạch định và thực hiện chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

b, Vấn đề tài chính:

Yếu tố này gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó bao gồmnhả năng huy động vốn ngắn hạn, dài hạn, các quyết định về tài chính Chức năng của bộphận này bao gồm việc phân tích, tổng hợp, lập kế hoạch kiểm tra, kiểm soát việc thựchiện kế hoạch tài chính và tình hình tài chính của doanh nghiệp

c, Yếu tố chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp:

Đây là hệ thống những đặc tính nội tại của sản phẩm, được xác định bằng các thông số cóthể đo hoặc so sánh được, phù hợp với điều kiện hiện tại và thoả mãn nhu cầu của xã hội.Chất lượng sản phẩm là yếu tố quan trọng cho cạnh tranh trên thị trường, vì vậy để giữ

Trang 27

vững được uy tín và vị trí của mình trên thị trường, doanh nghiệp cần không ngừng nângcao chất lượng sản phẩm.

d, Yếu tố giá cả hàng hoá:

Đây là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp, người tiêudùng rất nhạy cảm đối với giá cả, mức giá của mỗi loại hàng hoá cần được nghiên cứuđiều chỉnh cho phù hợp trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm Việc xác định giá của sảnphẩm phải đảm bảo cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận tối đa hay ít nhất phải bù đắpđược các chi phí đã bỏ ra Các chính sách giá đúng đắn, hợp lý sẽ giúp cho doanh nghiệpđứng vững trên thị trường và loại bớt được các đối thủ cạnh tranh

3/ ảnh hưởng của các yếu tố khác:

Ngoài ảnh hưởng của các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô, vi mô nêu trên, hoạt độngtiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:

- Các kênh phân phối sản phẩm hàng hoá

- Danh tiếng của doanh nghiệp, của sản phẩm hàng hoá

- Cơ cấu mặt hàng của doanh nghiệp

- Dịch vụ bán hàng, hoạt động hậu mãi,

Trang 28

phần IItình hình hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại

Công ty Xi Măng Bút Sơn

I Giới Thiệu Chung Về Công ty Xi Măng Bút Sơn:

1/ Quá trình hình thành và phát triển:

Sau khi đất nước thống nhất đất nước năm 1975 để đáp ứng nhu cầu xi măng chocông việc tái thiết, xây dựng lại đất nước Cùng với việc triển khai xây dựng Nhà máy ximăng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch Tháng 4/1977 Bộ xây dựng đã khởi công xây dựng Nhàmáy xi măng Bút Sơn với công suất 600.000 tấn xi măng/năm, với dây chuyền và côngnghệ do Trung Quốc giúp đỡ Một số công trình phụ trợ và cơ sở hạ tầng đã được xâydựng nhưng phải hoãn lại do bên Trung Quốc đơn phương bỏ vào tháng 5/1978 và điềukiện chúng ta khi đó không đủ điều kiện để xây dựng tiếp được

Cho đến những năm đầu của thập niên 90 nhu cầu xây dựng ngày một nhiều Công

ty xi măng Bút Sơn lại được thành lập theo quyết định số 54/BXD-TCLĐ của Bộ trưởng

Bộ xây dựng, theo uỷ quyền của Thủ tướng chính phủ tại văn bản 6543/ĐMDN ngày 12-1996

Nhà máy được đặt tại xã Thanh Sơn huyện Kim Bảng, Tỉnh Hà Nam, gần quốc lộ 1,cách Hà Nội 60 km về phía Nam, gần sông Đáy, sông Châu, sông Nhuệ và đường sắtBắc Nam rất thuận tiện cho việc chuyên chở

- Tên ban đầu của Công ty là Ban quản lý công trình xi măng Bút Sơnthành lập từ tháng 1/1993 chính thức 27/9/1994

- Quyết định thành lập Công ty 28/1/1997

- Bắt đầu chạy lò thử 29/8/1998 (có mẻ Clinker đầu tiên)

- Hoàn thiện để cấp giấy chứng nhận IS0 9002 ngày 23/10/2000

Công ty xi măng Bút Sơn là một doanh nghiệp lớn, với số lao động khoảng 1200người, có công suất 4000 tấn Clinker/ngày đêm (tương đương 1,4 triệu tấn xi măng/năm)với số vốn đầu tư 195,832 triệu USD Thuộc tổng Công ty 91 do chính phủ quản lý 2/ Chức năng và nhiệm vụ của Công ty:

Trang 29

Với nhiệm vụ sản xuất xi măng, Clinker nhằm cung cấp cho các công trình xâydựng và các nhà máy sản xuất xi măng khác.

Các loại sản phẩm chính của Công ty là xi măng Portland PC 40, xi măngPortland hỗn hợp PCB 30, Clinker và một số vật liệu xây dựng khác

3/ Quy trình công nghệ:

Công ty xi măng Bút Sơn là một trong những nhà máy có công nghệ hiện đại nhấtViệt Nam hiện nay, do hãng Technip - Cle - Cộng hoà Pháp thiết kế công nghệ và cungcấp thiết bị Lò quay, phương pháp khô được điều khiển hoàn toàn tự động từ phòngđiều khiển trung tâm qua hệ thống máy tính của hãng SIEMENS (Cộng hoà liên bangĐức) Hệ thống giám sát và điều khiển vi tính cho phép vận hành các thiết bị một cáchđồng bộ, an toàn Các quá trình công nghệ được theo dõi và điều chỉnh chính xác, đảmbảo sản phẩm xuất xưởng đạt chất lượng cao và ổn định

Các bước tiến hành:

1) Chuẩn bị nguyên liệu:

Các nguyên liệu chính dùng để sản xuất xi măng là đá vôi và đất sét Ngoài racòn sử dụng xỉ pyrite và đá silíc làm các nguyên liệu điều chỉnh

2) Nghiền nguyên liệu và đồng nhất sơ bộ:

Các cầu xúc đá vôi, đất sét xỉ và đá si-líc có nhiệm vụ cấp liệu vào các két chứacủa máy nghiền, Từ đó qua hệ thống cân định lượng vật liệu được cấp vào máy nghiền.Máy nghiền nguyên liệu là loại máy nghiền có con lăn trục đứng hiện đại PFEIFFERMPS 4750 có năng suất 320 tấn/giờ Bột liệu đạt yêu cầu sẽ được vận chuyển tới si lôđồng nhất bột liệu, có sức chứa 20.000 tấn bằng hệ thống máng khí động và gầu nâng Si

lô đồng nhất bột liệu làm việc theo nguyên tắc đồng nhất và tháo liên tục Việc đồng nhấtbột liệu được thực hiện trong quá trình tháo bột liệu ra khỏi si lô Mức độ đồng nhất của

si lô này là 10:1

3) Nhiên liệu:

Lò được thiết kế để chạy 100% than antraxit, dầu MFO chỉ sử dụng trong quátrình sấy lò và chạy ban đầu Than được sử dụng trong lò là loại hỗn hợp 40% than

Trang 30

cám3 và 60% than cám 4a Máy nghiền than là loại máy nghiền con lăn trục đứngPFEIFFER năng suất 30 tấn/giờ Bột than mịn được chứa trong 2 két than mịn, 1 két đểdùng cho lò, 1 két dùng cho calciner Than mịn được cấp vào lò và calciner qua hệ thốngcân định lượng SCHENK.

4) Hệ thống lò nung và thiết bị làm lạnh Clinker:

Lò nung của Công ty xi măng Bút Sơn có đường kính là 4,5 mét, chiều dài 72mét, với hệ thống sấy sơ bộ 2 nhánh 5 tầng cùng hệ thống calciner, buồng trộn Năngsuất của lò là 4000 tấn clinker/ngày đêm Lò được thiết kế sử dụng vòi đốt than đa kênhROTAFLAM đốt 100% than antraxit, trong đó đốt tại calciner là 60%, phần còn lại đốttrong lò Clinker sau khi ra khỏi lò được đổ vào thiết bị làm nguội kiểu ghi BMHSAđược làm lạnh, đập sơ bộ Clinker thu được sau thiết bị làm lạnh sẽ được vận chuyển tới

2 si lô để chứa và ủ clinker, có tổng sức chứa là 2x20.000 tấn Bột tả hoặc clinker phếphẩm được đổ vào si lô bột tả có sức chứa 2.000 tấn, có thể rút đổ ra ngoài

5) Nghiền sơ bộ clinker và nghiền xi măng:

Clinker, thạch cao và phụ gia (nếu có) sẽ được vận chuyển lên két máy nghiềnbằng hệ thống băng tải và gầu nâng Từ két máy nghiền, clinker và phụ gia sẽ được đưaqua máy nghiền sơ bộ CKP 200 nhằm làm giảm kích thước và làm nứt vỡ cấu trúc đểphù hợp với điều kiện làm việc của máy nghiền bi xi măng Sau đó, clinker, phụ gia (đãqua nghiền sơ bộ) và thạch cao sẽ được cấp vào máy nghiền xi măng để nghiền mịn.Máy nghiền xi măng là loại máy nghiền bi 2 ngăn làm việc theo chu trình kín có phân lytrung gian kiểu O’SEPA Xi măng bột được được vận chuyển tới 4 si lô chứa xi măngbột, có tổng sức chứa là 4 x 10.000 tấn, bằng hệ thống máng khí động và gầu nâng

Trang 31

Sơ đồ 1-1: Qúa trình công nghệ sản xuất xi măng Portland

6) Đóng bao và xuất xi măng:

Từ đáy các si lô chứa, qua hệ thống cửa tháo, xi măng sẽ được vận chuyển tới cáckét chứa của các máy đóng bao hoặc các hệ thống xuất xi măng rời Hệ thống xuất ximăng rời gồm 2 vòi xuất cho ô tô năng suất 100 tấn/giờ và 1 vòi xuất cho tầu hỏa năngsuất 150 tấn/giờ Hệ thống máy đóng bao gồm 4 chiếc máy đóng bao HAVER kiểu quay,

8 vòi với hệ thống cân điện tử, năng suất 100 tấn/ giờ Các bao xi măng qua hệ thốngbăng tải sẽ được vận chuyển tới các máng xuất xi măng bao xuống tàu hỏa và ô tô

4/ Bộ máy tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất của Công ty

Kho đồng nhất sơ bộ Kho đồng nhất sơ bộ

Két chứa Định lượng

Két chứa

Két chứa

Sản phẩmKétchứa

Định lượng Định lượng Định lượng

Máy nghiền, sấy Dầu

Lò nung Clinker

Thiết bị làm lạnh Clinker Máy đập Clinker

Silo chứa ủ Clinker Máy đóng bao Xuất xi măng bao

Trang 32

4.1 Tổ chức quản lý:

Về cơ cấu sản xuất Công ty xi măng Bút Sơn còn có 1 thành viên là nhà máy bao

bì Nam Định chuyên sản xuất bao bì phục vụ cho việc sản xuất xi măng bao của Công

ty

Qua sơ đồ 1-2 ta có thể thấy cách bố trí bên trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản lýcủa Công ty xi măng Bút Sơn là theo kiểu trực tuyến chức năng Trong đó Giám đốcCông ty được sự giúp đỡ của các Phó Giám đốc để ra các quyết định, hướng dẫn kiểmtra việc thực hiện các quyết định và có toàn quyền quyết định Nhưng Giám đốc cũngphải chịu trách nhiệm về mọi mặt trong Công ty, các Phó Giám đốc không thể ra mệnhlệnh trực tiếp cho những người thừa hành ở các bộ phận sản xuất khác được Theo môhình tổ chức này có nhược điểm là Giám đốc thường xuyên phải giải quyết mối quan hệgiữa các bộ phận, nên thường mất nhiều thời gian cho công việc họp hành

Giám đốc: Có quyền điều hành cao nhất trong Công ty, chịu trách nhiệm về mọihoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty, là đại diện pháp nhân của doanhnghiệp trước pháp luật và Tổng Công ty

Giúp việc cho Giám đốc trong công tác quản lý gồm có:

- Các Phó Giám đốc phụ trách các lĩnh vực theo sự phân công của Giám đốc gồmcó: sản xuất, cơ điện, kinh doanh, nội chính Có nhiệm vụ giúp Giám đốc điều hànhCông ty theo sự uỷ quyền của Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Giám đốc về nhữngcông việc mình làm

-Kế toán trưởng giúp Giám đốc trong việc thực hiện pháp lệnh kế toán thống kê

và điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty

Trang 33

Sơ đồ 1-2: Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty xi măng Bút Sơn

Giám Đốc c

PGĐ

Kinh Doanh

PGĐ Sản xuất Cơ điện PGĐ trách XNBB PGĐ phụ

Phân xưởng khai thác mỏ

Phân xưởng Nguyên liệu

Phân xưởng

Lò nung

Phân xưởng nghiền bao gói

Ban ki m ểm tra an to n à sản xuất

Phòng xây

d ng c b n ựng cơ bản ơ bản ản xuất

X ưởng ng Công trình

Phòng TCLĐ

Phòng

K ế

ho ch ại diện

Phòng tài vụ

Phòng hành chính quản trị

Phòng

cơ điện

Xưởng điện tự động hoá

Xưởng nước

PGĐ nội chính

PGĐ sản xuất

Phòng TH

Phòng KT

Phòng KTSX Xưởng I Xưởng II Xưởng

cơ điện

Trang 34

Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban:

a) Phòng tổ chức Lao Động

- Chức năng: Quản lý tổ chức, lao động, nhân sự, pháp chế, đào tạo, tiền lương

và các chế độ chính sách đối với người lao động

- Nhiệm vụ: Nghiên cứu thực tế sản xuất kết hợp với thông tin khoa học về tổ chức và lao động từ đó hình thành các phương án cải tiến tổ chức nội bộ, tham mưu cho Giám đốc về công tác

b) Phòng kỹ thuật sản xuất

- Chức năng: Quản lý chuyên sâu về kỹ thuật công nghệ sản xuất xi măng, về tiến

bộ kỹ thuật trong sản xuất clinker, xi măng từ các nguyên liệu đá vôi, đá sét, xỉ pyríte,thạch cao, phụ gia và các loại vật liệu khác đảm bảo chất lượng sản phẩm nâng cao năngsuất thiết bị, hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của Công ty

+ Xây dựng và quản lý các quy trình sản xuất

+ Thường xuyên kiểm tra sản phẩm xi măng bao về chất lượng giấy, chỉ khâu,trọng lượng bao

+ Xây dựng định mức tiêu hao và chỉ tiêu chất lượng đối với nguyên, nhiên, vật liệu cho sản xuất và lập kế hoạch dự trù vật tư kỹ thuật hàng tháng

+ Kết hợp với các đơn vị liên quan phát hiện và chỉ đạo xử lý nhanh các sự cốlớn

+ Đề xuất với lãnh đạo Công ty biện pháp sử lý đối với những người vận hànhtrong dây chuyền sản xuất vi phạm quy trình vận hành, quy trình công nghệ gây sự cốthiết bị hoặc gây ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm

+ Quản lý tốt tài sản và trang bị của Công ty: giữ gìn và sử dụng có hiệu quả cáctrang thiết bị được giao

c) Phòng thí nhiệm KCS

Trang 35

- Chức năng: Cung cấp thông số kỹ thuật các nguyên liệu, vật liệu đầu vào làm

cơ sở phối liệu thích hợp cho sản xuất, phát hành phiếu chất lượng sản phẩm, tham giađóng góp ý kiến về chất lượng sản phẩm

- Nhiệm vụ: Thực hiện các phép phân tích mẫu trong ngày, tổ chức lấy mẫu đávôi, đá sét, bột liệu sau khi nghiền và thống kê chất lượng nguyên liệu, bán sản phẩm ,sản phẩm, sản phẩm xi măng lập báo cáo kết quả phân tích chất lượng

e) Phòng kế toán – thống kê tài chính

- Chức năng: Thực hiện công tác kế toán, thông kê, thông tin kinh tế và hoạchtoán kinh tế theo quy định hiện hành của Nhà nước trong Công ty đạt hiệu quả kinh tếcao nhất

- Nhiệm vụ: Có trách nhiệm quản lý tài chính, tiền tệ, thu, chi, chứng từ hoáđơn thanh quyết toán theo quy định hiện hành của Bộ tài chính, pháp lệnh thống kê, kếtoán và theo điều lệ thống kê kế toán quy định

f) Phòng kế hoạch và xây dựng cơ bản

- Chức năng: Quản lý kế hoạch sản xuất, kinh doanh, xây dựng cơ bản, sửachữa và tổng hợp kế hoạch mua sắm vật tư thiết bị phụ tùng Tiến hành hợp đồng kinh tếvới các chủ thể trong và ngoài Công ty

- Nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ bản, sửachữa và tổng hợp kế hoạch mua sắm thiết bị vật tư theo tháng, quí, năm để huy động tối

đa năng xuất thiết bị sản xuất, nâng cao hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn kinhdoanh

g) Phòng y tế

- Chức năng: Quản lý và chăm sóc sức khoẻ ban đầu, khám chữa bệnh cho cán

bộ công nhân viên trong Công ty theo khả năng chuyên môn và phân cấp của nghành y

Trang 36

tế Tổ chức công tác vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch, vệ sinh môi trường và vệ sinh laođộng Tổ chức cấp cứu kịp thời cho các bệnh nhân và tai nạn xẩy ra.

- Nhiệm vụ: Hướng dẫn kiểm tra đôn đốc, vận động thực hiện công tác vệ sinhphòng bệnh, phòng dịch, vệ sinh lao động, phòng chống các bệnh xã hội, bệnh nghềnghiệp cho cán bộ công nhân viên trong khu tập thể gia đình và nhà trẻ mẫu giáo củaCông ty Tổ chức thực hiện tốt công tac dân số kế hoạch hoá gia đình

h) Phòng cơ điện

- Chức năng: Quản lý kỹ thuật các thiết bị cơ, điện (bao gồm hệ thống cung cấpđiện cao và hạ thế, thiết bị tự động hoá, đo lường, điều khiển, điện tử và tin học…) vàthiết bị, phụ tùng cần cho nhu cầu sửa chữa sản xuất hàng năm của toàn Công ty

- Nhiệm vụ: Giám sát quá trình hoạt động của toàn bộ thiết bị trên dây chuyềnsản xuất, thống kê chi tiết từng chủng loại và các yêu cầu kỹ thuật Qua đó luôn cóhướng chỉ đạo kỹ thuật các đơn vị sản xuất và phụ trợ làm tốt công tác sửa chữa

Trang 37

4.2 Hình thức tổ chức sản xuất:

Tổ chức sản xuất của Công ty theo kiểu chuyên môn hoá công nghệ với mức độchuyên môn hoá cao, tất cả các phân xưởng hoạt động đều được điều khiển qua phòngđiều hành trung tâm Phòng điều hành trung tâm là đơn vị đầu não điều hành toàn bộ dâychuyền sản xuất (tại đây được trang bị hệ thống vi tính điều khiển do hãng SIEMENScung cấp và lắp đặt)

Bộ phận sản xuất chính của Công ty là phân xưởng khai thác (khai thác đá và sét),phân xưởng lò nung Clinker là những nguyên liệu chủ yếu trong quá trình sản xuất ximăng

5/ Các đặc điểm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của Công ty Xi Măng Bút Sơn:

a, Đặc điểm về lao động:

Con người luôn được đánh giá vừa là chủ thể, vừa là khách thể của mọi hoạt độngtrong đời sống xã hội và đối với các doanh nghiệp yếu tố con người đã trở lên quan trọnghơn lúc nào hết, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế mở như hiện nay Sự thành công hoặcthất bại của các quyết định hoặc phương hướng sản xuất kinh doanh của Công ty đều phụthuộc vào yếu tố con người và ở mỗi vị trí khác nhau sẽ có sự đòi hỏi khác nhau về khảnăng hoặc năng lực của mỗi người

Bảng 1-1: Tình hình lao động của Công ty qua các năm

1 Lao động sản xuất chính 982 người 970 người 988 người

2 Lao động kinh doanh xi măng 58 người 71 người 105 người

Phòng tổ chức lao động

Qua bảng trên ta thấy tình hình lao động của Công ty luôn biến đổi qua các năm

để cho phù hợp với hình thức sản xuất kinh doanh của Công ty Trong đó số lao độngkinh doanh tăng lên đáng kể và đến năm 2001 số lao đông sản xuất kinh doanh đã chiếm9,5 % số lao động trong toàn Công ty

Trang 38

Lĩnh vực sản xuất xi măng của Công ty Xi Măng Bút Sơn ít nhiều cũng mang tínhmùa vụ, do vậy việc sử dụng hợp lý và linh hoạt lao động sao cho phù hợp với nhịp độsản xuất luôn được Công ty chú trọng Tính đến cuối năm 2001 đội ngũ cán bộ côngnhân viên của Công ty bao gồm 1.100 người, trong đó 319 người là nữ chiếm 29%.

Thực trạng trình độ văn hoá của cán bộ công nhân viên năm 2001:

Trong đó:

+ Phó giám đốc, kế toán trưởng 4 người chiếm 0,36%

Trong đó :

- Công nhân lái xe con, xe phục vụ bậc 1/3 3 người

- Công nhân lái xe con, xe phục vụ bậc 2/3 5 người

- Công nhân lái xe con, xe phục vụ bậc 3/3 7 người

- Công nhân lái xe mỏ bậc 1/3 3 người

- Công nhân lái xe mỏ bậc 2/3 10 người

- Công nhân lái xe mỏ bậc 3/3 40 người

- Công nhân lái xúc, ủi bậc 4/7 7 người

- Công nhân lái xúc, ủi bậc 5/7 19 người

- Công nhân lái xúc, ủi bậc 6/7 12 người

Ngày đăng: 20/10/2017, 05:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1-1: Qúa trình công nghệ sản xuất xi măng Portland - M t s bi n ph p nh m y m nh ho t ng ti u th s n ph m C ng ty Xi M ng B t S n
Sơ đồ 1 1: Qúa trình công nghệ sản xuất xi măng Portland (Trang 31)
Sơ đồ 1-2: Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty xi măng Bút Sơn - M t s bi n ph p nh m y m nh ho t ng ti u th s n ph m C ng ty Xi M ng B t S n
Sơ đồ 1 2: Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty xi măng Bút Sơn (Trang 33)
Sơ đồ 1- 3: Bộ máy tiêu thụ sản phẩm của Công ty xi măng Bút Sơn - M t s bi n ph p nh m y m nh ho t ng ti u th s n ph m C ng ty Xi M ng B t S n
Sơ đồ 1 3: Bộ máy tiêu thụ sản phẩm của Công ty xi măng Bút Sơn (Trang 41)
Bảng 1-3: Tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm  xi măng và clinker qua một số - M t s bi n ph p nh m y m nh ho t ng ti u th s n ph m C ng ty Xi M ng B t S n
Bảng 1 3: Tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm xi măng và clinker qua một số (Trang 43)
Bảng 1-4: Tình hình tiêu thụ sản phẩm của - M t s bi n ph p nh m y m nh ho t ng ti u th s n ph m C ng ty Xi M ng B t S n
Bảng 1 4: Tình hình tiêu thụ sản phẩm của (Trang 44)
Bảng 1-5: Kết quả tiêu thụ Xi măng qua các kênh phân phối - M t s bi n ph p nh m y m nh ho t ng ti u th s n ph m C ng ty Xi M ng B t S n
Bảng 1 5: Kết quả tiêu thụ Xi măng qua các kênh phân phối (Trang 45)
Bảng 1-6: Kết quả tiêu thụ xi măng qua các - M t s bi n ph p nh m y m nh ho t ng ti u th s n ph m C ng ty Xi M ng B t S n
Bảng 1 6: Kết quả tiêu thụ xi măng qua các (Trang 46)
Bảng 1-3:  bảng tổng hợp sản lượng tiêu thụ - M t s bi n ph p nh m y m nh ho t ng ti u th s n ph m C ng ty Xi M ng B t S n
Bảng 1 3: bảng tổng hợp sản lượng tiêu thụ (Trang 49)
Bảng 1-4: Tình hình tiêu thụ xi măng của Công ty Bút Sơn qua các kênh phân phối năm 2001 - M t s bi n ph p nh m y m nh ho t ng ti u th s n ph m C ng ty Xi M ng B t S n
Bảng 1 4: Tình hình tiêu thụ xi măng của Công ty Bút Sơn qua các kênh phân phối năm 2001 (Trang 50)
Bảng 1-4: Giá các chủng loại xi măng lò quay trên địa bàn - M t s bi n ph p nh m y m nh ho t ng ti u th s n ph m C ng ty Xi M ng B t S n
Bảng 1 4: Giá các chủng loại xi măng lò quay trên địa bàn (Trang 53)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w