Quan hệ kinh tế quốc tế trong nền kinh tế thế giới...7CHƯƠNG II - NHỮNG XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾTHẾ GIỚI TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY II.1.Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phá
Trang 1http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn,
đồ án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất
cả mọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng gópcủa quý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quýkhách gửi về luanvanpro.com@gmail.com
Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/Những xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới trong những năm gần đây
Trang 2M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I - CƠ CẤU NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAYI.1 Chủ thể nền kinh tế thế giới
I.2 Quan hệ kinh tế quốc tế trong nền kinh tế thế giới 7CHƯƠNG II - NHỮNG XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾTHẾ GIỚI TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
II.1.Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển nhanh như vũ bão tác động vào mọimặt nền kinh tế thế giới - Thúc đẩy sự thống nhất của nền kinh tế toàn cầu 9II.2 Quá trình quốc tế hoá (quy mô, tốc độ, mọi lĩnh vực đời sống kinh tế, xu hướngtoàn cầu hoá, khu vực hoá)
II.3 Nền kinh tế thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, từ biệt lập sang hợp tác.13II.4 Châu Á - Thái Bình Dương sự ra đời của một trật tự thế giới mới 14CHƯƠNG III - NHỮNG XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚIẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ
ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
III.1/ Tác động tới chính sách thương mại quốc tế 17III.2/ Tác động tới chính sách đầu tư quốc tế của Việt Nam 22III.3/ Một số gợi ý trong việc hoạch định chính sách thương mại và đầu tư quốc tế trongtình hình mới hiện nay
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trái đất mà loài người chúng ta đang sinh sống ngày càng trở nên nhỏ hẹp Hoạt độngkinh tế ngày càng vượt ra khỏi biên giới quốc gia, hình thành cục diện sản xuất, kinhdoanh quốc tế Sự phát triển của kỹ thuật tin học và giao thông hiện đại đã tạo điều kiệnthuận lợi để tổ chức, phối hợp các hoạt động kinh tế trên phạm vi toàn cầu Xu thế toàncầu hoá, khu vực hoá diễn ra ngày càng rộng lớn và phát triển một cách nhanh chóngvàsâu sắc.Để thích ứng với xu thế toàn cầu, các chính phủ đang tích cực vạch ra chiến lược toàncầu của mình để tận dụng các điều kiện có lợi như vốn, tài nguyên của kinh tế toàn cầu vànâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nước mình
Toàn cầu hoá đòi hỏi phải mở cửa với bên ngoài Tuy nhiên, chỉ mở cửa thì chưa đủ bởikinh tế toàn cầu đòi hỏi một thể chế được nhất thể hoá Nó vừa cần có một cơ chế, quitắc, trình tự, tập quán gần gũi với nhau và thông suốt để thực hiện lưu thông và trao đổithuận lợi cả về năng lượng, tài nguyên, sản phẩm và dịch vụ Kinh tế thị trường hiện đạiđang được thừa nhận là cơ chế tương đối có lợi cho việc phân phối tài nguyên, tăngthêm sức sống cho nền kinh tế và đã phổ biến trên toàn thế giới Bởi vậy, việc nối tiếp quĩđạo hoặc nhập quĩ đạo thể chế kinh tế diễn ra song song với sự phát triển kinh tế toàn cầu hoá
đã trở thành một xu thế quan trọng trên thế giới ngày nay
Việt Nam đang trên con đường mở cửa nền kinh tế với thế giới bên ngoài, một nền kinh
tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, chính vì vậy
cơ hội đến với chúng ta có nhiều song thách thức cũng lắm và cần được giải quyết Tácđộng của nền kinh tế thế giới tới Việt Nam ngày càng lớn và vai trò cuả Việt Nam trêntrường quốc tế ngày một cao Điều này đòi hỏi chính phủ Việt Nam phải có chính sáchthương mại và đầu tư nước quốc tế hợp lý để đưa đất nước hội nhập vào nền kinh tế thếgiới
Đề án này đi sâu đề cập tới hai xu thế: quốc tế hoá của nền kinh tế thế giới và sự pháttriển của vòng cung Châu á - Thái Bình Dương với những tác động của chúng tới việc hoạchđịnh chính sách thương mại và đầu tư quốc tế của Việt Nam hiện nay
Đề án ngoài lời nói đầu và kết luận còn gồm ba chương:
- Chương I: Cơ cấu nền kinh tế thế giới trong giai đoạn hiện nay
Trang 4- Chương II: Những xu hướng vận động của nền kinh tế thế giới trong những năm gầnđây.
- Chương III: Những xu hướng vận động của nền KTTG ảnh hưởng tới việc hoạchđịnh chính sách thương mại và đầu tư quốc tế của Việt Nam
CHƯƠNG I
CƠ CẤU NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Nền kinh tế thế giới là một tổng thể các nền kinh tế quốc gia trên trái đất có mối liên hệhữu cơ và tác động qua lại lẫn nhau, không ngừng hoạt động thông qua sự phân công laođộng quốc tế cùng với các quan hệ kinh tế quốc tế của chúng Nền kinh tế thế giới đượcchia làm hai bộ phận đó là chủ thể nền kinh tế thế giới và các quan hệ kinh tế quốc tế.I.1 Chủ thể nền kinh tế thế giới :
Nền kinh tế thế giới vào cuối thế kỷ 20 là sự phân chia thành 4 khu vực: Bắc Mỹ, Châu
Âu, Châu Á- Thái Bình Dương và phần còn lại của thế giới Lịch sử cận đại đã chứngminh chính các chu kỳ vận động và phát triển của thế giới đã sinh ra sự chuyển dịch cáctrung tâm phát triển về kinh tế và chính trị, về thương mại và văn hoá Có lẽ vì thế mà
có ý kiến cho rằng “Nếu thế kỷ 19 là thế kỷ của Địa Trung Hải, thế kỷ 20 là của Đại TâyDương thì thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của Châu Á - Thái Bìn1h Dương” (1)
Nội dung trong phần này đề cập đến các quốc gia, các cường quốc về kinh tế hôm nay
và triển vọng trong tương lai không xa có tác động lớn tới nền kinh tế, thế giới như :
Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc ngoài ra còn đề cập tới các tổ chức và các liên kết kinh tếquốc tế đó là: EU, APEC, ASEAN, WTO
Các cường quốc kinh tế: Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc
Có thể nói, nền kinh tế của các nước Mỹ, Nhật Bản đã phát triển như vũ bão sau chiếntranh thế giới lần thứ II do áp dụng thành công những thành tựu khoa học của các cuộccách mạng khoa học - kỹ thuật vào đời sống và cộng thêm vào đó là phương thức vàtrình độ quản lý kinh tế tiên tiến Còn Trung Quốc với chính sách kinh tế thị trường củamình đã mở cửa với thế giới bên ngoài, chỉ trong vòng hai thập kỷ, nền kinh tế đã pháttriển vượt bậc và tác động mạnh đến nền kinh tế thế giới
Trang 5Sau chiến tranh lạnh, nần kinh tế Mỹ vẫn là siêu cường số một trên thế giới và nền kinh
tế Mỹ đã có ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế toàn cầu Sức mạnh tổng hợpcủa Mỹ mấy năm gần đây tăng lên nhanh chóng, ngoài yếu tố tự điều chỉnh cơ cấu còn
có phần lớn là được hưởng nhiều lợi ích từ sự tăng trưởng nhanh của các nền kinh tếĐông Á Tuy thực lực kinh tế tổng thể của Mỹ đứng đầu thế giới nhưng tỷ trọng GNP sovới thế giới đã giảm đi rất nhiều: Năm 1965 Mỹ có GNP chiếm 34,4% nhưng đến năm
1990 tức là năm trước khi chấm dứt chiến tranh lạnh, tỷ trọng này đã giảm xuống còn24,1% Ngược lại tổng giá trị sản xuất quốc dân của các nước EU đã hơn hẳn Mỹ, cònNhật Bản cũng hơn hẳn Mỹ về giá trị sản phẩm quốc dân tính theo đầu người Trongnhiều vấn đề toàn cầu, Mỹ đã lực bất tòng tâm và buộc phải có sự giúp đỡ hoặc ủng hộcủa các nước đồng minh Rõ nhất là trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh Pecxic (PersianGulf war), các nước đồng minh bỏ tiền và bản thân Mỹ thì bỏ công sức
Sự phát triển kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ II được thế giới biết đến nhưmột sự thần kì của thế kỷ 20 Nhờ vào những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất,Nhật Bản đã vận dụng vào thực tế đưa nước mình trở thành một cường quốc kinh tếđứng thứ hai sau Mỹ trên thế giới Tỷ trọng kinh tế Nhật Bản cũng chiếm một phần lớncủa nền kinh tế thế giới Mô hình kinh tế Nhật Bản được nhiều nước noi theo và đã được
áp dụng thành công
Vào đầu thập kỷ 90 từ sau khi quả bóng đầu cơ vỡ tung (Cuộc khủng hoảng BìnhThành) sự vận động của nền kinh tế Nhật Bản đã hầu như ngừng trệ, tình trạng thiểuphát đang cản trở bất cứ khả năng thực tế vào sự phục hồi nền kinh tế: Đồng yên giảmgiá so với đồng đô la Chỉ vài năm trước đây Nhật Bản được coi là một siêu cường cósức mạnh phi thường nhưng sau 4 năm kinh tế ngừng trệ, nền kinh tế Nhật Bản rơixuống như diều đứt dây, có dấu hiệu bị tan vỡ Mô hình kinh tế Châu Á với hình dạngđàn nhạn bay mà Nhật Bản làm chim đầu đàn bây giờ đang lâm vào khủng hoảng.Khủng hoảng suy thoái kinh tế ở Nhật Bản đã có tác động một cách tiêu cực tới nềnkinh tế EU ( liên hiệp Châu Âu) Đầu năm 1990, sau một thời kỳ tăng trưởng ngắn ngủi,nền kinh tế EU bị mất đà, tốc độ phát triển chậm lại Cũng thêm vào đó là hiệp ướcMastricht để đưa EU đến đồng tiền chung vào năm 1999 đang gặp khó khăn trong việcthực hiện
Trang 6Tuy vậy, cả Mỹ lẫn Nhật Bản vẫn là những trụ cột chính của nền kinh tế thế giới(Economic Powers)bởi vốn đầu tư của họ lớn, cộng thêm vào đó trình độ khoa học vàquản lý cao Cho nên, sự vận động của nền kinh tế thế giới với xu hướng toàn cầu hoá,khu vực hoá nền kinh tế đều chịu ảnh hưởng lớn của các nền kinh tế hùng mạnh này
Về phần mình, Trung Quốc, một thực thể kinh tế hùng mạnh có tác động lớn tới quátrình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới, đặc biệt trong khu vực Châu Á-Thái BìnhDương.Với chính sách xuyên thế kỷ của mình- định hướng phát triển theo hướng nềnkinh tế thị trường - tốc độ phát triển kinh tế của Trung Quốc tăng như vũ bão, nhiều nămlên tới hai con số Trung Quốc đang trở thành một cực thứ 4 của thế giới Một nước ĐạiTrung Hoa bao gồm cả Hoa Lục, Hồng Kông và tương lai Ma Cao, nổi lên thành mộtđối thủ đáng gờm đối với các cực khác Nó cũng tham gia chi phối các hoạt động củathế giới Sự phát triển năng động của nền kinh tế ở Châu Á - Thái Bình Dương cũng mộtphần nhờ vào sự phát triển của Trung Quốc
Các tổ chức và các liên kết KTQT; EU, APEC, WTO và ASEAN
Ngoài ba quốc gia, các cường quốc về kinh tế là Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc có tácđộng lớn tới nền kinh tế thế giới, thì chúng ta còn phải đề cập tới các chủ thể kinh tếquốc tế ở cấp độ vượt ra ngoài phạm vi quốc gia đó là các tổ chức kinh tế quốc tế và cácliên kết KTQT: EU, APEC, WTO và ASEAN
Liên minh Châu Âu (EU), diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC),
tổ chức thương mại quốc tế (WTO), hiệp hội các quốc gia Đông - Nam Á (ASEAN).Tuyên bố Schuman, còn gọi là kế hoạch Schuman đã được coi là "giấy khai sinh" củacộng đồng Châu Âu Sau gần một năm đàm phán khẩn trương căng thẳng, ngày 18 / 04/
1951, sáu nước: Pháp, Bỉ, Cộng hoà liên bang Đức, Italia, Hà Lan, Luc Xăm Bua đã kýhiệp ước thành lập cộng đồng than, thép Châu Âu (CECA) và ngày 13/7/1952, CECAchính thức ra đời Và đến 1/1/1958 hiệp ước thiết lập EEC và cộng đồng năng lượngnguyên tử Châu Âu (CEEA) ký tại Roma đã có hiệu lực Nhưng đến năm 1967, CECA,CEEA và EEC chính thức hợp nhất thành một tổ chức chung gọi là "cộng đồng ChâuÂu" (EC) Đến 1/1/1993 Hiệp ước Maastricht chính thức có hiệu lực EC gồm 12 nướctrở thành EU (liên minh Châu Âu) và đến 1/1/1995 kết nạp thêm Phần Lan, Áo, ThuỵĐiển đưa số thành viên lên 15 nước Từ một cộng đồng chỉ có hai sản phẩm than thépđến nay EU đã trở thành cộng đồng chi phối nhiều lĩnh vực kinh tế, chiếm tới gần 17%
Trang 7thương mại thế giới (khi đó Mỹ chiếm 12%) Hiện nay EU với dân số khoảng 300 triệungười là thị trường lớn nhất thế giới, cộng với tiềm năng về kinh tế, khoa học và côngnghệ của mình, EU đóng vai trò hết sức to lớn trong việc chi phối các quan hệ kinh tếquốc tế.
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương được thành lập tháng 11 - 1989 đếnnay APEC gồm 19 nước thành viên (Việt Nam gia nhập ngày 14/11/1998) Hiện nayAPEC chiếm 56%GDP Và 46% Thương mại thế giới với mục tiêu thành lập là:
+ Duy trì sự tăng trưởng và phát triển của khu vực vì lợi ích chung của các dân tộc trongkhu vực, góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thế giới
- Phát huy các kết quả tích cực đối với khu vực và nền kinh tế thế giới do sự phụ thuộclẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế tạo ra, khuyến khích các hàng hoá, dịch vụ, vốn vàcông nghệ
Phát triển và tăng cường hệ thống thương mại đa phương vì lợi ích các nước Châu Á Thái Bình Dương và các nền kinh tế khác
Cắt giảm những hàng rào thuế quan và phi thuế quan cản trở việc trao đổi hàng hoá,dịch vụ và đầu tư giữa các thành viên phù hợp với nguyên tắc của GATT/WTO, ởnhững lĩnh vực thích hợp và không làm tổn hại tới các nền kinh tế khác
Tổ chức thương mại quốc tế (WTO): Sau chiến tranh thế giới thứ hai nhằm cứu nềnthương mại thế giới khỏi khủng hoảng, trì trệ nghiêm trọng mà lịch sử đã chứng kiến ởđầu thập kỷ 30 Người ta kịp nhận thấy rằng một trong những nguyên nhân đẩy đến tìnhtrạng trên chính là chính sách bảo hộ thái quá mà mỗi quốc gia, vì những lợi ích riêng đã
có thi hành bất chấp ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại chung Những chính sách bảo
hộ thái quá này đã làm cho buôn bán quốc tế phải tiến hành trong môi trường kém antoàn và việc dự đoán xu hướng phát triển cũng như dung lượng trao đổi hàng hoá vàdịch vụ rất khó khăn Điều này tác động xấu tới nền kinh tế toàn cầu, làm hãm sự pháttriển kinh tế của từng quốc gia Đây chính là bối cảnh cho ra đời GATT (GeneralAgreement on Tareffs and Trade) nhưng mới đầu GATT chỉ là một hiệp định đa phươnggiữa các quốc gia có nền kinh tế thị trường để các nước tham dựu tạo một quy chế mậudịch, là diễn đàn quốc tế để các nước thành viên đàm phán mở rộng buôn bán thươngmại sau cùng là diễn đàn quốc tế để các bên tham gia giải quyết những bất đồng hoặctranh chấp trong thương mại song phương hoặc đa phương Sau một thời gian phát triển
Trang 8và cuối cùng tại vòng đàm phán Urugoay kéo dài từ 9/1986 đến 1/1/1995 thì GATTchuyển thành tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Với mục tiêu cao cả là: tạo một môi trường thương mại quốc tế an toàn và rộng khắp,nhằm đạt được sự tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi toàncầu Hiện nay WTO thu hút sự tham gia của 132 thành viên chiếm hơn 90% tổng giá trịthương mại thế giới
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN - The Association of Southeast ASEANNations) được thành lập 8/8/1967 với sự ra đời của bản tuyên bố ASEAN do bộ trưởngngoại giao của 6 thành viên đầu tiên ký kết gồm Indonexia, Malaixia, Philippin,Singapor, Thái Lan, nay có thêm bốn thành viên mới đó là Brunay, Lào, Myanma vàViệt Nam ASEAN với mục tiêu là tăng cường và hợp tác kinh tế giữa các nước trongkhu vực thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, văn hoá, tiến bộ xã hội, duy trì hoàbình an ninh khu vực tạo cơ sở cho một cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á hoà bình
và thịnh vượng ASEAN luôn được thế giới biết tới là khu vực có tiềm lực về kinh tế lànơi có môi trường đầu tư hấp dẫn, và trong tương lai không xa sẽ trở thành khu vực cónền kinh tế phất triển năng động nhất thế giới
I.2 Quan hệ kinh tế quốc tế trong nền kinh tế thế giới:
Năm 1995 là năm mà xu thế toàn cầu hoá - khu vực hoá diễn ra mạnh mẽ ở khắp các lụcđịa và ở cả bốn tầng nấc: toàn cầu, liên khu vực, cấp vùng và các tiểu vùng Thêm nhiều
tổ chức liên kết kinh tế ra đời Các tổ chức liên kết hiện có được mở rộng hoặc đang đẩynhanh tốc độ hợp tác hay hình thành khu vực mậu dịch tự do Liên hiệp quốc (UN), Quĩtiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng thế giới ( WB)
và điển hình là vào tháng 1/1995: WTO (World Trade Organization) - Tổ chức thươngmại thế giới - ra đời thay thế cho hiệp định chung về buôn bán và thế quan GATT, nhằmthực hiện tự do hoá buôn bán trên thế giới Hoạt động của nó đã kích thích các nền kinh
tế là thành viên và chưa phải là thành viên phát triển nhanh, thúc đẩy buôn bán trên thếgiới tăng trưởng với tốc độ khá cao và tăng cường hợp tác hoá giữa các khu vực và trêntoàn cầu
Ngoài tự do thương mại hoá ra, các tổ chức liên kết kinh tế, liên lục địa, khu vực nở rộnhư EU, ASEAN , NAFTA, TAFTA ( thị trường xuyên Đại Tây Dương ) Các thị
Trang 9trường hàng hóa và dịch vụ phát triển khắp nơi và đa dạng tạo nên một sự cạnh tranhtoàn cầu Các nguồn vốn tư bản chuyển dịch dần ra ngoài vào các nước đang phát triển (Developing Countries ), hợp tác Bắc - Nam có quy mô ngày càng lớn, ngoài ra còn cóhợp tác Nam- Nam Thị trường tiền tệ, trao đổi thương mại, hàng hoá và dịch vụ cũngngày một sôi động trên thế giới.
Ngoài ra còn có các tổ chức phi chính phủ - NGO( Non Government Organization), cáccông ty đa quốc gia với hình dạng muôn màu muôn vẻ ngày càng thâm nhập một cáchsâu sắc vào nền kinh tế thế giới
Có thể nói xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá đang được thúc đẩy bởi một cuộc cáchmạng kinh tế - công nghệ hiện đại và diễn ra như vũ bão trên thế giới Khi sự phân cônglao động quốc tế ngày càng sâu sắc, tính phụ thuộc lẫn nhau và sự hợp tác phát triểngiữa các quốc gia, các tổ chức quốc tế, và trên toàn cầu ngày càng tăng Với xu thếnày, sự hợp tác cạnh tranh về kinh tế giữa các quốc gia ở từng khu vực và trên thế giớidiễn ra ngày càng sôi động trong những năm còn lại của thập kỉ 90, góp phần đưa nềnkinh tế thế giới phát triển nhanh hơn trong thiên niên kỉ XXI
Trang 10CHƯƠNG II
NHỮNG XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NỀN KINH TẾ THẾ GIỚITRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Nền kinh tế thế giới ngày nay chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau bởi vậy
sự vận động của nền kinh tế thế giới cũng diễn ra với nhiều xu hướng khác nhau Ở đâyxin đề cập đến những xu hướng cơ bản chi phối chính sách kinh tế đối ngoại của mỗiquốc gia nhưng chỉ phân tích sâu hai xu hướng có tác động mạnh đến việc hoạch địnhchính sách thương mại quốc tế và chính sách đầu tư quốc tế, đó là: Xu hướng quốc tếhoá của nền kinh tế thế giới và sự phát triển của vòng cung Châu Á - Thái BìnhDương
II.1.Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển nhanh như vũ
bão tác động vào mọi mặt nền kinh tế thế giới - Thúc đẩy sự thống
nhất của nền kinh tế toàn cầu
Trong tiến trình lịch sử, nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp Nội dung
cơ bản của các cuộc cách mạng đó là sự thay thế các công cụ sản xuất thô sơ, thủ côngcũng như thay thế các quá trình sản xuất lạc hậu đơn điệu bằng việc áp dụng các thànhtựu khoa học - kỹ thuật vào sản xuất, tiến dần lên cơ khí hoá đến tự động hoá, sản xuấttheo kiểu dây truyền hiện đại và với những nguồn năng lượng mới Sự thay thế trên chothấy một thực tế là ngày nay, khoa học - kỹ thuật đã trở thành một yếu tố tác động trựctiếp của quá trình sản xuất, một yếu tố có vai trò hết sức quan trọng chứ không nhưtrước đây, giữa khoa học và sản xuất còn có sự cách biệt
Về tốc độ phát triển khoa học - kỹ thuật cũng rất nhanh chóng: chu kỳ thay thế sản phẩmngày nay chỉ cần từ 3 - 5 năm thay cho từ 15 - 20 năm như trước đây
Khoa học - kỹ thuật không chỉ dừng ở đó mà còn phát triển liên tục, trong những thập
kỷ gần đây, nó đã có sự chuyển biến về chất Vì thế, cách mạng khoa học - kỹ thuật đãtrở thành cách mạng khoa học - công nghệ
Xét từ góc độ phương thức sản xuất, những thay đổi về cơ cấu sản xuất nói trên do cáchmạng khoa học - công nghệ đã tạo ra sự phát triển mới: Sự nhảy vọt về chất của lựclượng sản xuất dẫn đến sự tăng trưởng hết sức mạnh mẽ Chỉ trong vòng 20 năm (1970 -
Trang 111990) sản xuất của cải trên thế giới đã tăng 2 lần, tức là vượt khối lượng được sản xuất
ra trong 230 năm trước (1740 - 1970)
Để thích ứng với một trình độ của lực lượng sản xuất cụ thể, tất phải có một trình độquản lý tương ứng nhưng để đạt được trình độ quản lý cao, tất yếu các nước cùng phảitrao đổi phương tiện, kinh nghiệm cho nhau, thậm chí còn phải giúp đỡ lẫn nhau nângcao trình độ Việc nối mạng Internet, việc các nước phát triển mở những lớp bồi dưỡngkiến thức cho các nước khác là những ví dụ cụ thể cho vấn đề trên
Cách mạng khoa học - công nghệ phát triển là cùng với nó có nhiều vấn đề khác cầnđược giải quyết như môi trường, dân số, mà xét trên góc độ kinh tế cũng là những vấn
đề liên quan đến nhiều quốc gia, nhiều khu vực trên thế giới
II.2 Quá trình quốc tế hoá (quy mô, tốc độ, mọi lĩnh vực đời sống
kinh tế, xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá)
Có thể nói, bản thân nội tại “ngôi làng kinh tế” mà chúng ta đang sống biến đổi khôngngừng với quy mô từ nhỏ đến lớn và tác động đến mọi mặt đời sống Kinh tế - Chính trị -Văn hoá, của các cá thể sống trong đó
Quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế Thế giới ngày nay diễn ra rất nhanh,mạnh và trở thành phổ biến Tác động của nó ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực củađời sống quốc tế và đã gây ra những phản ứng thuận, nghịch khác nhau đối với từng khuvực, từng quốc gia Một câu hỏi của dư luận quốc tế đặt ra là: Tại sao lại xuất hiện xuthế toàn cầu hoá và khu vực hoá nền kinh tế trên thế giới ? và điều đặc biệt là ngoàiquan hệ chặt chẽ về kinh tế trước đây giữa Bắc - Bắc (các nước phương Tây giàu có)ngày nay có quan hệ giữa Bắc - Nam (các nước giàu và các nước nghèo) lại trở nên sôiđộng mạnh mẽ đến như vậy Để trả lời những câu hỏi này ta phải xét đến một phần củamột xu thế mới - Xu thế dung hoà lợi ích Ngày nay, mỗi nước đều phải tự bảo vệ lợi íchquốc gia và dân tộc mình Muốn có một nền an ninh tốt và vững mạnh để bảo vệ lợi íchcủa mình thì cần phải có một nền kinh tế phát triển, mà muốn có điều kiện để phát triển
và gìn giữ một nền kinh tế hùng mạnh thì tất yếu cần có một nền an ninh ổn định cả trênkhu vực lẫn trên thế giới Do vậy, mối quan hệ biện chứng này liên quan chặt chẽ, bổxung lẫn nhau Vào thế kỷ XX này, chiến tranh nóng và chiến tranh lạnh đã làm hao tổnlớn đến nền kinh tế toàn cầu, nó đã làm chậm tiến trình phát triển nền kinh tế thế giới vàtàn dư của nó vẫn còn là hiểm họa cho nhân loại hiện nay và trong tương lai Ngày nay,
Trang 12nhắc đến chiến tranh xung đột, đổ máu thì không một quốc gia nào là không ngao ngánmặc dù vẫn còn tiềm ẩn một vài điểm nóng cục bộ tại một số khu vực.
Xu thế mới của thời đại ngày nay là loại trừ chiến tranh nóng nhưng lại nổi lên một cuộcchiến tranh mới - Chiến tranh kinh tế - với sự cạnh tranh và hợp tác mạnh mẽ mang tínhliên quốc gia, tính liên khu vực và tính toàn cầu
Cạnh tranh quốc tế càng gay gắt càng đòi hỏi các quốc gia phải tự bảo vệ mình Nhưngmặt khác, loài người cũng có nhiều lợi ích chung vượt trên tầm quốc gia như vấn đề môitrường, và hơn thế nữa, lợi ích của một nước phải thông qua sự phối hợp và giúp đỡlẫn nhau giữa nhiều nước mới có thể đạt được Bởi vậy, phối hợp thế nào giữa lợi íchmột nước với lợi ích của nước khác và lợi ích toàn cầu đã trở thành một vấn đề lớn củacộng đồng quốc tế Trong quá trình đối lập - thống nhất giữa va chạm và phối hợp - điềuchỉnh lợi ích cũng là một xu thế lớn của thế giới ngày nay
Xung đột tất có giới hạn nhất định Thông qua dung hoà lợi ích, các cuộc xung đột sẽ dịudần Tuy vậy, mâu thuẫn giữa các nước Đông - Tây sẽ tiếp tục tồn tại nhưng ở trên bìnhdiện khác - mâu thuẫn trong cạnh tranh kinh tế
Cùng với việc kết thúc thời kỳ chiến tranh lạnh “Cold war“ mâu thuẫn Tây - Tây lại tănglên Những cuộc tranh cãi gay gắt đã liên tục nổ ra giữa EU (Liên hiệp Châu  u) - Mỹ
- Nhật Bản; giữa Mỹ - Nhật Bản trên các vấn đề về phê chuẩn ra nhập thị trường buônbán nông sản phẩm, trợ giá xuất khẩu, song những cuộc tranh cãi này có giới hạn Nềnkinh tế các nước trên đã ở vào tình thế “trong tôi có anh, trong anh có tôi “, dựa vàonhau, không bên nào rời được bên nào Thông qua phối hợp “lợi ích“ để cuối cùng điđến dung hoà, không đến mức tan vỡ Chính vì vậy, trong thời gian gần đây đã xuấthiện nhiều tín hiệu của một mối quan hệ ổn định giữa các cường quốc là: Mỗi quốc giađều cố gắng đặt mối quan hệ với các quốc gia khác dưới nhiều hình thái và điều khoảnkhác nhau, tháng 7/1997 Thủ tướng Hashimoto bày tỏ một khái niệm "Quan hệ ngoạigiao Âu - Á“ và đưa ra ba nguyên tắc cho mối quan hệ Nga - Nhật là " Tin tưởng lẫnnhau, lợi ích tương hỗ và hướng tới tương lai" Tháng 9/1997 tại Trung Quốc, Thủtướng Hashimoto đã khởi xướng bốn nguyên tắc "Hiểu biết lẫn nhau, tăng cường đốithoại, mở rộng hợp tác và tạo dựng một trật tự chung" với Trung Quốc Trong một cuộcviếng thăm Mỹ tháng 10/1997, Chủ tịch Giang Trạch Dân đã đưa ra nguyên tắc "Tăng
Trang 13cường hiểu biết, mở rộng các lợi ích chung, phát triển hợp tác và làm việc vì một tươnglai chung"
Mâu thuẫn giữa Nam - Bắc đã có từ lâu, sau chiến tranh lạnh vị trí các nước đang pháttriển tương đối giảm, khoảng cách kinh tế Nam - Bắc tiếp tục tăng lên Những cuộc đấutranh kiểm soát và chống kiểm soát, bóc lột và chống bóc lột giữa Nam - Bắc vẫn còntồn tại lâu dài
Kinh tế toàn cầu hoá mang lại lợi ích và cũng đem lại rủi do cho một quốc gia Để tránhmọi rủi do trong khi mở cửa nền kinh tế của mình ra bên ngoài, các nước cũng tăngcường các biện pháp tự bảo vệ mình và càng tích cực thiết lập, phát triển các tập đoànkinh tế khu vực theo quan hệ địa lý Vai trò của cơ chế tập đoàn hoá kinh tế này là điềutiết quan hệ nội bộ tập đoàn, ưu đãi lẫn nhau và cùng có lợi, hai là cùng đối phó với cuộccạnh tranh bên ngoài để thực hiện bảo hộ khu vực Ví dụ : EEC (cộng đồng kinh tế ChâuÂu) đã trở thành một tập đoàn khu vực hùng mạnh, rộng 2,36 triệu Km2, với tổng số dân
346 triệu, giá trị tổng sản phẩm quốc dân khoảng 7.000 tỷ USD Khu vực mậu dịch tự
do Bắc Mỹ (NAFTA- Nouth American Free Trade Area) do Mỹ - Canada - Mêhicôđóng vai trò chính cũng bắt đầu vận hành từ năm 1994 Khu vực Châu Á - Thái BìnhDương vươn lên nhanh tuy khó thực hiện nhất thể hoá kinh tế toàn khu vực nhưng hợptác khu vực nhỏ đã phát triển nhanh như việc thành lập Hiệp hội các quốc gia ĐôngNamÁ - ASEAN (Association of Southeast Asian Nations), Diễn đàn kinh tế Châu Á -Thái Bình Dương- APEC (Asia Pacific Economic Conference) đã thúc đẩy kinh tế pháttriển trao đổi, hợp tác và cạnh tranh trong toàn khu vực
Trong xu hướng quốc tế hoá ngày nay, kinh tế - thương mại trở thành lĩnh vực quantrọng nhất, tiêu điểm tập chung vào hiệp định chung thuế quan và thương mại (GATT)
và bây giờ được thay thế bằng WTO (Tổ chức thương mại thế giới) Ngoài ra, còn có tổchức Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF (International Moneytary Funds) và Ngân hàng thế giới -
WB - (World Bank) Đây là 3 trụ cột lớn điều hoà quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế
Có thể nói, xu hướng quốc tế hoá toàn cầu đã trở thành phổ biến Mọi quốc gia, mọi tổchức quốc tế, mọi khu vực kinh tế đều có xu hướng mở cửa để giao lưu, hợp tác trongcạnh tranh để cùng nhau phát triển Như vậy, các quốc gia vì có cùng mục đích chung làphát triển kinh tế cho nên mới có sự song trùng lợi ích lẫn nhau, tiến tới xu thế toàn cầu
và khu vực hoá
Trang 14Với một quốc gia coi nền kinh tế là hàng đầu thì đối với họ lợi ích quốc gia, lợi ích dântộc là trên hết Mọi hành động của một quốc gia đều xoay quanh việc bảo vệ lợi ích củamình Như một câu nói của Bộ trưởng ngoại giao Áo - Mettenic “Không có bạn bè nào
là vĩnh viễn, không có đồng minh nào là vĩnh viễn, mà chỉ có lợi ích là vĩnh viễn “(2).II.3 Nền kinh tế thế giới chuyển từ đối đầu sang đối thoại, từ biệt
lập sang hợp tác
Từ thế kỷ thứ XVIII, tương lai kinh tế của một quốc gia liên quan hết sức chặt chẽ tớikhả năng vũ trang và sự lựa chọn đồng minh Sự năng động của một quốc gia là chìakhoá để giải quyết tất cả các vấn đề trên, sự được thua về kinh tế là sự được thua củamột quốc gia: Buôn bán tay ba, tính hám lợi, bao vây kinh tế của chiến tranh Napoleon.Các cuộc tranh chấp kinh tế thường được giải quyết bằng biện pháp quân sự Ví nhưnước Anh đã trở thành cường quốc thương mại đầu tiên trên thế giới nhờ sức mạnh bấtkhả xâm phạm của Hạm đội Hải quân
Sự tương quan giữa quyền lực kinh tế và sức mạnh quân sự đã trở nên bị lu mờ khi chủnghĩa tự do kinh tế ra đời Sự xuất hiện của Chủ nghĩa tư bản làm mất đi ý nghĩa củacuộc tranh luận về tương quan lực lượng kinh tế giữa các quốc gia Từ nửa sau thế kỷ
XX, các nước phát triển đã hầu như không phải dùng đến giải pháp quân sự để bảo vệquyền lợi kinh tế của mình
Ngày nay, phần lớn các quốc gia phụ thuộc vào nước ngoài để bổ xung nguồn cung ứngnguyên liệu và lương thực, thực phẩm sống còn khác Những thoả thuận của GATT:Xem xét lại các hàng rào thuế quan, là những danh giới kinh tế của một nước, nó kìmhãm và là trở ngại cho sự phát triển thương mại quốc tế Những thách thức chiến lượcchủ yếu lâu dài đã dịch chuyển từ bàn cờ địa lý chính trị sang bàn cờ địa lý kinh tế.Ranh giới về kinh tế giữa các quốc gia xét về tổng thể mà nói đã bị mờ nhạt Nhiều quan
hệ mới về kinh tế nổi lên giữa các nước: Bắc - Nam, Nam - Nam, Bắc - Bắc đan xenchặt chẽ với nhau tạo thành tổng thể của nền kinh tế thế giới Mọi tranh chấp về lợi íchđều được hoá giải bằng “thương lượng kinh tế“.2
Liên hợp quốc (UN) cùng với các tổ chức kinh tế, tài chính khác như IMF, WB, G8(Câu lạc bộ những nước công nghiệp phát triển), London club, Paris club, đã đứng ralàm người “giúp đỡ“ trực tiếp hay gián tiếp tác động đến mọi nền kinh tế của các nước
Trang 15để hướng các quốc gia này về một kiểu kinh tế thị trường toàn cầu nhằm phục vụ lợi íchcho tất cả các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển.
Các quan hệ kinh tế nổi cộm lên vẫn là quan hệ giữa các nước phát triển và đang pháttriển Các nước phát triển vốn có công nghệ và kinh nghiệm quản lý còn các nước đangphát triển có nguồn nhân lực dồi dào, trẻ, có khả năng tiếp thu nhanh, Quan hệ này bổxung cho nhau tạo nên một môi trường kinh tế thế giới mới
II.4 Châu Á - Thái Bình Dương sự ra đời của một trật tự thế giới mới:
Vòng cung Châu Á - Thái Bình Dương vào cuối thế kỷ XX này được nhắc đến rất nhiềukhông phải vì cái tên mang tính địa lý học, mà là do trong bản thân nó (khu vực này )bao bọc nhiều nền kinh tế đang phát triển với tốc độ cao, năng động Chính “vòngcung“ này đã tạo ra một trật tự kinh tế thế giới mới, ngoài những nguyên nhân chủ quantrong nội tại đó là:
- Sức mạnh kinh tế tiềm ẩn
- Sự sụp đổ Chủ Nghĩa Xã hội ở Liên Xô và Đông Âu
- Cuộc cách mạng trong lĩnh vực truyền thông
Đây chính là ba điểm quan trọng tạo nên một trật tự thế giới mới đặc biệt là về kinh tế.Vùng bờ biển Châu Á - Thái Bình Dương được bao quanh bởi 4 trung tâm kinh tế thếgiới: Tokyo - Thượng Hải - Hồng Kông - Singapore Các trung tâm này đã vượt quađược sự thống trị của Atlantic (Đại Tây Dương) với nền văn hoá công nghiệp của NewYork - Paris - London Năm trăm năm trước, nền kinh tế thế giới đã chuyển từ ĐịaTrung Hải sang Atlantic và ngày nay, trung tâm này đang chuyển từ Atlantic sang TháiBình Dương
Trên thực tế, vấn đề này đã được giải thích, nền kinh tế Atlantic: Mỹ và EU đang tụt hậu
về tốc độ phát triển kinh tế Một Châu Âu già cỗi đang tự lôi cuốn mình với thị trườngchung Châu Âu và bản thân nước Mỹ cũng đang bận tâm tới Châu Âu - tranh giành ảnhhưởng với Liên Xô, mở rộng NATO,
Những hoạt động kinh tế thực sự đã chuyển sang vùng Châu Á - Thái Bình Dương - mộtkhu vực phát triển nhanh - với khả năng chi tiêu lớn, sự lan truyền công nghệ mới, sự
Trang 16lớn mạnh về vốn tích tụ và sự gia tăng buôn bán nội khu vực đã đạt đến mức tới hạn của
sự tăng trưởng kinh tế tự lực và ảnh hưởng ra bên ngoài
Châu Á với thị trường sản xuất bùng nổ nhanh tróng mạnh mẽ đã kéo theo khu vực tiêudùng của nó mặc dù mới chỉ hé mở so với Mỹ và Châu Âu
Ví dụ: Nhu cầu tiêu thụ sắt của Châu Á (Trừ Nhật) đã lớn hơn cả Mỹ và EC Nhu cầuchất bán dẫn của Châu Á lớn hơn EU, vận tải container và đường hàng không của Châu
Á lớn hơn Mỹ lẫn EC
Một trong những yếu tố để đạt được mức tới hạn cho sự phát triển trong khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương là sự tăng trưởng của khối lượng vốn trong vùng Mỹ và sau làChâu Âu chính là động lực cho sự tăng trưởng đó Bởi vì họ cung cấp thị trường choxuất khẩu từ Châu Á và họ cũng là người cung cấp phần lớn vốn và công nghệ cho cácnước ở khu vực này trong giai đoạn đầu của sự phát triển
Ngày nay, các nước Châu Á - Thái Bình Dương đang nắm lấy vai trò mới trong cộngđồng thế giới, với con số ước tính khoảng 2 tỉ dân, chiếm 40% GNP toàn thế giới, tàinguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng cộng thêm vào đó là một nền văn minh xưarực rỡ của nhân loại, Châu Á - Thái Bình Dương rất xứng đáng là trung tâm kinh tế thếgiới trong giai đoạn tới
Theo tính toán của các nhà kinh tế học John Naisbitt thì: Tổng sản phẩm của Châu Ácộng với Nhật Bản vượt Bắc Mỹ năm 1996 và nếu không kể Nhật Bản thì Châu Á sẽvượt Bắc Mỹ vào năm 2018 và EEC (Cộng đồng kinh tế Âu Châu) vào năm 2022 Thêmvào đó, Châu Á (trừ Nhật) sẽ chiếm 57% nền kinh tế thế giới vào năm 2050; 24 nướcOECD (Tổ chức kinh tế các nước phát triển) gồm có cả Mỹ, Nhật và hầu hết các nướcChâu Âu, sẽ chỉ chiếm 15% So sánh với năm 1990 các nước OECD chiếm 75% kinh tếthế giới trong khi các nước Châu Á chỉ chiếm 9% 3
Liệu trong vòng 60 năm (Từ 1990 đến 2050) các nước Châu Á có thể khẳng định được
vị trí và vai trò nền kinh tế của mình như trên đề cập hay không ?
Trên khía cạnh kinh tế, Châu Á đã nhận biết được vai trò mới lớn hơn và quan trọng hơncủa mình trong nền kinh tế thế giới Các nước còn lại cũng đã nhận biết được vai tròtiềm ẩn của Châu Á Nhưng có một tiềm năng rất lớn, một cơ hôi rất lớn cho Châu Á
3 Ngu n t p chí t i chính s 10 (396) - 1997 B i ngh ch lý to n c u “Châu Âu còn ph i i nh ng b ài phác thảo trang 10 ài phác thảo trang 10 ài phác thảo trang 10 ầu “Châu Âu còn phải đi những bước dài” ảo trang 10 đ ững bước dài” ưới năm 2000 - Một vài phác thảo trang 10 c d i” ài phác thảo trang 10