1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

M t s bi n ph p nh m g p ph n th c y ho t ng kinh doanh xu t nh p kh u t i c ng ty DETESCO Vi t Nam

78 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 425,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M t s bi n ph p nh m g p ph n th c y ho t ng kinh doanh xu t nh p kh u t i c ng ty DETESCO Vi t Nam tài liệu, giáo án, b...

Trang 1

đồ án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất

cả mọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng gópcủa quý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý

khách gửi về luanvanpro.com@gmail.com

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/Một số biện pháp nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tạicông ty DETESCO Việt Nam

Trang 2

Lời nói đầu

Cùng với việc chuyển sang cơ chế thị trường, nền kinh tế mở cửa và đang từng bước hộinhập với nền kinh tế thế giới Hoạt động xuất nhập khẩu chiếm một vị trí ngày càngquan trọng hơn trong nền kinh tế Việt Nam Nó là hoạt động kinh doanh mang tính chấtquốc tế làm cầu nối kinh tế Việt Nam với kinh tế thế giới Hiện nay hoạt động XNKđang là lĩnh vực sôi động nhất trong nên kinh tế Xuất nhập khẩu là hai hoạt động có tácđộng rất lớn đến nền kinh tế, nó có tính chất quyết định với quá trình phát triển kinh tế,công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước bởi hai hoạt động này đóng vai trò mũi nhọnthúc đẩy nền kinh tế trong nước hội nhập với nền kinh tế thế giới, phát huy những lợi thế

so sánh của đất nước, tận dụng tiềm năng về vốn, công nghệ, khoa học kỹ thuật, kỹ năngquản lý tiên tiến từ bên ngoài, duy trì và phát triển văn hoá dân tộc, tiếp thu những tinhhoa của văn háo nhân loại Chính vì vậy nắm bắt được nó chính là đã nắm bắt được điểmmấu chốt để phát triển sản xuất, phát triển đất nước

Hiện nay trên thị trường các bạn hàng quốc tế hết sức sành sỏi về kinh nghiệm, giỏi vềnghiệp vụ, hiện đại về cơ sở vật chất kỹ thuật trong khi chúng ta còn đang kém về mọimặt thì việc luôn bất bình đẳng, không bị thiệt thòi với họ là rất khó khăn Chính vì vậynghiên cứu hoạt động xuất nhập khẩu để hiểu rõ, nhận thức được các vấn đề hữu ích vàrút ra kinh nghiệm là điều cần thiết

Với nhận thức trên cùng với mong muốn được học tập, tìm hiểu mọi khía cạnh của hoạtđộng kinh doanh xuất nhập khẩu, tôi quyết định chọn đề tài :

"Một số biện pháp nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tạicông ty DETESCO Việt Nam"

Là một đề tài hấp dẫn đối với tôi, bởi vậy kiến thức đã được trang bị trong nhà trườngcũng như sự tìm hiểu qua sách báo vận dạng vào nơi thực tập, tôi mong muốn được tìmhiểu phần nào vấn đề nhằm củng cố mở mang kiến thức của mình trong lĩnh vực này.Nội dung bài viết bao gồm các vấn đề sau:

Phần I: Những vấn đề cơ sở lý luận chung về hoạt động XNK

Phần II: Nghiên cứu hoạt động XNK tại Công ty DETESCO Việt Nam

Phần III: Một số biện pháp nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh xuất nhậpkhẩu tại công ty DETESCO Việt Nam

Trang 3

sử dụng khác nhau làm cho mỗi quốc gia có quỹ hàng hoá phong phú, đa dạng, đời sốngkhá giả, sung túc và thịnh vượng.

Đối với nước ta thương mại quốc tế nhằm thúc đẩy tiềm năng và thế mạnh trongnước và nước ngoài một cách có lợi nhất Trên cơ sở đó, tiến hành phân công lại laođộng, khai thác mọi tiềm năng để sản xuất nhiều dịch vụ hàng hoá xuất khẩu Chính vìvậy, Đảng và nhà nước ta đã nhận thức được vai trò của thương mại quốc tế đối với sựphát triển của đất nước, đã chủ trương phát triển một nền kinh tế mở cửa tăng cườngquan hệ với tất cả các nước trên thế giới trên cơ sở bình đẳng đôi bên cùng có lợi Đây làchủ trương hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thời đại và xu hướng phát triển của thế giớiđưa nền thương mại quốc tế nước ta tiến lên không ngừng trong những năm qua, thúcđẩy nền kinh tế với tốc độ cao Sau đây ta đi sâu nghiên cứu cụ thể hoạt động xuất khẩu

và hoạt động nhập khẩu

1/ Hoạt động xuất nhập khẩu

1.1.Khái niệm về xuất khẩu

Xuất khẩu là hoạt động đưa hàng hoá ở trong nước ra nước ngoài tiêu thụ để thungoại tệ Xét dưới góc độ này xuất khẩu thuộc hành vi hàng-tiền Hàng xuất khẩu đượccoi là điều kiện vật chất hoặc phương tiện cụ thể để kinh doanh còn doanh thu ngoại tệ làmục tiêu hàng xuất khẩu bao gồm: hàng sản xuất trong nước, hàng xuất khẩu tại chỗ(bán cho các tổ chức cá nhân, người nước ngoài đang cư trú trong nước), hàng hoá nhậpkhẩu để tái xuất và các loại hàng hoá liên doanh với nước ngoài để sản xuất và xuất

Trang 4

1.2 Vai trò và chức năng của hoạt động xuất khẩu

Trong hầu hết các quốc gia, vấn đề xuất khẩu thường rất được chú trọng và quantâm trong chiến lược phát triển kinh tế của mình Thực tế chứng minh rằng trong nhữngquốc gia mà việc xuất khẩu hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động ngoại thươngthì quốc gia đó có một nền kinh tế phát triển ổn định và vững mạnh

Xuất khẩu có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tếcó thể thấy ở các mặtsau: Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, xuất khẩu là hoạt động kinhdoanh để đem lại lợi nhuận lớn, xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng kinh tế hướng ngoại, xuất khẩu có vai trò quan trọng trong việc tạo thêm công ănviệc làm và cải thiện đời sống của nhân dân, xuất khẩu thúc đẩy khai thác và sử dụng cóhiệu quả tài nguyên thiên nhiên , Nhà nước ta luôn coi trọng và thúc đẩy các ngànhkinh tế hướng theo xuất khẩu, khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng xuất khẩu

để giải quyết công ăn việc làm và trưng thu ngoại tệ

Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu bởi công nghiệp hoá đất nướcđòi hỏi phải có số vốn rất lớn đển nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật và vật tư, côngnghệ tiên tiến Có một số nguồn vốn để nhập khẩu như nguồn vốn tự có, nguồn vốn từnhập khẩu, đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ Nguồn vốn tự có của một nước đangphất triển như Việt nam là rất hạn chế, vay nợ và viện trợ cũng phải trả bằng cách nàyhay cách khác, do đó để nhập khẩu nguồn vốn quan trọng nhất là từ xuất khẩu Xuấtkhẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu

Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng kinh tế hướng ngoại.Vì: thay đổi cơ cấu sản xuất và tiêu dùng một cách có lợi nhất, đó là thành quả của cáchmạng khoa học và công nghệ hiện đại Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trìnhcông nghiệp hoá ở nước ta là phù hợp với xu hướng phát triển của kinh tế thế giới Sựtác động của xuất khẩu đối với sẩn xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể được nhìnnhận theo các hướng sau:

- Xuất khẩu những sản phẩm của nước ta cho nước ngoài

- Xuất phát từ nhu cầu thực tế của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất và xuấtkhẩu những sản phẩm mà các nước khác cần Điều đó có tác động tích cực đến chuyểndịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuát phát triển

Trang 5

- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành liên quan phát triển thuận lợi Ví dụ: Khiphát triển dệt sẽ tạo điều kiện phát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bông hay thuốcnhuộm Sự phát triển của công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu như dầu thực vật,chè kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị

- Xuất khẩu tạo diều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ cung cấp đầu vào cho sảnxuất, khai thác tối đa sản xuất trong nước

- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế - kỹ thuật nhằm đổi mới thường xuyênnăng lực sản xuất trong nước Nói cách khác, xuất khẩu là cơ sở tạo thêm vốn và kỹthuật, công nghệ tiên tiến từ thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá nềnkinh tế nước ta

- Thông qua xuất khẩu, hàng hoá Việt Nam sẽ tham gia cạnh tranh với hàng hoákhác trên thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi phải tổ chức lại sảnxuất cho phù hợp với nhu cầu thế giới

- Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện côngtác quản lý sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành

Bên cạnh đó, xuất khẩu còn có vai trò quan trọng trong việc tạo thêm công ănviệc làm và cải thiện đời sống của nhân dân Trước hết, sản xuất hàng xuất khẩu thu húthàng triệu lao động, tạo nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụđời sống nhân dân Mặt khác, xuất khẩu còn là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan

hệ kinh tế đối ngoại của nước ta: xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại làm cho nềnkinh tế nước ta gắn chặt với phân công lao động quốc tế Thông thường hoạt động xuấtkhẩu ra đời sớm hơn các hoạt động đối ngoại khác nên nó thúc đẩy các quan hệ này pháttriển Chẳng hạn như xuất khẩu và sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng,đầu tư, vận tải quốc tế đến lượt nó chính các quan hệ đối ngoại lại tạo tiền đề để mởrộng xuất khẩu

Hoạt động xuất khẩu còn kích thích sản xuất trong nước phát triển, trước hết làtrong nông nghiệp và các ngành chế biến qua đó thúc đẩy phân công lao động phát triển.Nhờ có hoạt động xuất khẩu hàng hoá mà một số ngành nghề truyền thống đã được khôiphục, hình thành các vùng chuyên canh trong nông - lâm - ngư nghiệp dựa trên những

ưu thế về điều kiện tự nhiên đất đai, khí hậu, lao động

Trang 6

Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để pháttriển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

Xuất khẩu Việt Nam mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng cả về kimnghạch và cơ cấu cũng như thị trường song còn nhiều vấn đề phải khắc phục Phân tíchhoạt động kinh doanh xuất khẩu thời gian gần đây có thể rút ra một số kết luận:

- Tuy tốc độ xuất khẩu tăng nhanh nhưng quy mô còn rất nhỏ bé, chưa đáp ứngđược nhu cầu cần nhập khẩu của nền kinh tế

- Cơ cấu xuất khẩu thay đổi chậm, phần lớn xuất khẩu nguyên liệu ở dạng sơ chế.Chất lượng hàng hoá xuất khẩu của ta còn thấp nên khả năng cạnh tranh còn thấp

- Hàng xuất khẩu còn manh mún, chưa có hàng xuất khẩu chủ lực

- Kim ngạch xuất khẩu thấp, nhưng lại có quá nhiều đơn vị tham gia hoạt độngxuất nhập khẩu dẫn đến tăng hàng hoá nhập khẩu và bán rẻ hàng xuất khẩu tạo điều kiệncho thương nhân nước ngoài ép giá

Để khắc phục tình trạng trên, trước hết hoạt động xuất khẩu cần hướng vào thựchiện các nhiệm vụ sau:

- Mở rộng thị trường, nguồn hàng và đối tác kinh doanh xuất khẩu nhằm tạothành cao trào xuất khẩu, coi xuất khẩu là mũi nhọn đột phá cho sự giàu có

- Phải ra khai thác mọi nguồn lực của đất nước như đất đai, nhân lực, tài nguyênthiên nhiên, cơ sở vật chất, kỹ thuật - công nghệ chất xám theo hướng khai thác lợi thếtuyệt đối so sánh

- Nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu để tăng nhanh khối lượng và kimngạch xuất khẩu

- Tạo những mặt hàng, nhóm hàng chủ lực đáp ứng những đòi hỏi của thị trườngthế giới và của khách hàng về chất lượng và số lượng, có sức hấp dẫn và khả năng cạnhtranh cao

Bên cạnh đó cần phải phát triển nguồn hàng xuất khẩu như:

- Căn cứ vào tình hình và xu hướng phát triển của thị trường

- Căn cứ vào nguồn lực bên trong bao gồm dân số và lao động, tài nguyên thiênnhiên

- Căn cứ vào hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh doanh

Trang 7

- Căn cứ vào chiến lược chuyển hướng xuất khẩu nguyên liệu và sản phẩm thôsang hàng hoá có chứa hàm lượng khoa học kỹ thuật.

- Hình thành các vùng chuyên sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu

1.3 Các công cụ quản lý nhà nước về xuất nhập khẩu ở Việt Nam

Việc quản lý xuất khẩu được thực hiện bằng cơ chế giấy phép xuất khẩu, hạnngạch xuất khẩu và bằng các quy chế quản lý ngoại tệ Không phải lúc nào Nhà nướccũng khuyến khích xuất khẩu mà đôi khi vì quyền lợi quốc gia phải kiểm soát một vàidạng xuất khẩu, như sản phẩm đặc biệt-nguyên liệu quý- do nhu cầu trong nước cònthiếu hoặc có ý nghĩa chiến lược đối với quốc gia Nhưng nguyên nhân chủ yếu phảikiểm soát xuất khẩu của nước ta là do: Cấm vận buôn bán, bảo vệ tiềm năng, bảo vệđộng vật và cây trồng, bảo vệ di sản văn hoá và các đồ cổ

1.3.1 Thủ tục hải quan xuất khẩu hàng hoá

Hàng xuất khẩu phải làm thủ tục hải quan khi xuất khẩu theo các quy định chínhthức về xuất khẩu hàng hoá và có khi theo yêu cầu của nước nhập khẩu.Việc làm thủ tụcxuất khẩu hàng hoá liên quan tới các biện pháp quản lý như:

- Hạn chế số lượng ( giấy phép xuất khẩu)

- Hạn chế ngoại tệ (giám sát ngoại hối)

- Hạn chế tài chính (kiểm tra hải quan, thuế quan)

- Nhu cầu thống kê thương mại (báo cáo thống kê)

- Kiểm tra số lượng, chất lượng, kiểm tra vệ sinh y tế

- Kiểm tra áp dụng các biện pháp ưu đãi thuế quan (giấy chứng nhận xuất xứ)Các chứng từ phục vụ cho việc kiểm tra hải quan khi xuất khẩu hàng hoá gồm:

- Giấy phép xuất khẩu

- Tờ khai kiểm tra ngoại hối

- Tờ khai hàng hoá (Khai hải quan)

- Giấy chứng nhận kiểm tra hàng hoá

- Giấy chứng nhận kiểm dịch thực, động vật

- Giấy chứng nhận xuất xứ

- Tờ khai hàng nguy hiểm

- Hoá đơn lãnh sự (nếu có) hoặc hoá đơn thương mại

Trang 8

Khi làm thủ tục hải quan thông thường phải kiểm tra tư cách pháp nhân của ngườixuất khẩu, cũng như kiểm tra các chứng từ có hợp lệ và đúng quy định không.

1.3.2 Thủ tục

Các hình thức hạn chế xuất khẩu được áp dụng tuỳ từng nước, từng mặt hàng.Một số nước chỉ cho phép một số tổ chức có quyền xuất khẩu một số mặt hàng nhấtđịnh Ở Việt Nam, chế độ hạn ngạch xuất khẩu được quy định theo quyết định số96/HĐBT ngày 5/04/1994 của Hội đồng bộ trưởng về quản lý xuất nhập khẩu Hàngnăm Bộ Thương mại công bố danh mục các mặy hàng quản lý bằng hạn ngạch sau khithống nhất với Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ quản lý sản xuất và được Thủ tướng chínhphủ phê duyệt Sau đó, Bộ Thương mại phân bố hạn ngạch cho các ngành, các địaphương

2 Hoạt động nhập khẩu

2.1 Khái niệm nhập khẩu

Nhập khẩu là hoạt động mua hoặc trao đổi hàng hoá của các tổ chức cá nhântrong nước với các tổ chức hoặc cá nhân ngoài nước

Hàng hoá nhập khẩu có thể là : Hàng sản xuất ở nước ngoài, hàng của các tổ chức

và cá nhân nước ngoài nhưng được sản xuất ở trong nước (sản phẩm của các tổ chức và

cá nhân nước ngoài dặt tại nước ta)

2.2 Vai trò và nhiêm vụ của hoạt động nhập khẩu

Trang 9

Nhập khẩu là một bộ phận cấu thành của quan hệ ngoại thương Thực tế đã chứngminh rằng, nhập khẩu không thể thiếu và không thể tách rời đối với nền thương mạiquốc tế Không có quốc gia nào chỉ có xuất khẩu mà không có nhập khẩu Trong nềnkinh tế mở, xuất khẩu có nhiệm vụ khai thác tiềm năng nền kinh tế dưa ra trao đổi, tạođộng lực thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế phát triển Nhập khẩu là tất yếu để thoả mãn nhucầu của nhân dân, đáp ứng nhu cầu máy móc thiết bị cho sản xuất và tiếp thu khoa học

kỹ thuật tiên tiến để công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Có thể nói, điều này làphù hợp với một nền kinh tế đang phát triển có xuất phát điểm thấp như Việt Nam Cóthể thấy được vai trò của nhập khẩu qua các khía cạnh sau:

- Nhập khẩu mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước, cho phép tiêu dùng mộtlượng hàng hoá nhiều hơn khả năng sản xuất trong nước, cải thiện đời sống của nhândân

- Nhập khẩu thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, chuyểndịch kinh tế theo hướng xuất khẩu, từng bước công nghiệp hoá và hiện đại hoá đấtnước.Trên cơ sở quy hoạch phát triển kinh tế, Nhà nước ta bằng công cụ qủn lý củamình tác động đến hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp theo hướng hạn chế nhậpkhẩu hàng xa xỉ, khuyến khích nhập khẩu vật tư phục vụ sản xuất, nhập khẩu các thiết bịcông nghệ mới nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại

- Nhập khẩu khoa học kỹ thuật hiện đại kéo theo sự đổi mới trong đội ngũ cán bộ

kỹ thuật Trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại đòi hỏi phải có một lớp người mới, từ đólàm nảy sinh nhu cầu đào tạo cán bộ thích nghi với trình độ kỹ thuật và quản lý mới

- Nhập khẩu góp phần quan trọng vào việc phát triển các ngành có mối quan hệ

bổ sung với các ngành công nghiệp hoá Chẳng hạn để phát triển ngành luyện kim theohướng hiện đại hoá thì ngành khai khoáng cũng cần được đầu tư trang thiết bị và côngnghệ khai thác mới nhằm đạt năng suất cao hơn, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho ngànhluyện kim

- Nhập khẩu có tác dụng tích cực giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sốngnhân dân Nhập khẩu các máy móc thiết bị, đầu tư xây dựng các nhà máy mới sẽ thu hútnhiều lao động, hạn chế các tệ nạn xã hội do tình trạng thất nghiệp gây ra

- Nhập khẩu có vai trò quan trạng và tích cực đối với xuất khẩu Nhập khẩu hiện

Trang 10

tế để xuất khẩu Bên cạnh đó, nhập khẩu công nghệ mới góp phần nguyên vật liệu đầuvào, giảm hao phí sản xuất qua đó giảm giá thành sản phẩm nâng cao khả năng cạnhtranh trên thị trường thế giới.

- Nhập khẩu cho phép cải tạo hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng, hệ thống thông tinliên lạc làm tiền đề để phát triển kinh tế

Ngoài ra, nhập khẩu còn thể hiện ưu thế của nó trên các mặt:

- Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa hàng nội với hàng ngoại, buộccác nhà sản xuất trong nước cải tiến chất lượng sản phẩm cũng như hạ giá thành hướngtới người tiêu dùng Nó phát huy được tính năng động sáng tạo của mỗi doanh nghiệp, tổchức, cá nhân trong kinh doanh tạo nên một nền kinh tế vững mạnh

- Nhập khẩu làm cho các luồng thông tin được khai thông, đồng thời là cầu nốithông suốt giữa thị trường trong và ngoài nước, thúc đẩy nước ta tham gia vào quá trìnhphân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy ưu thế của đất nước trên cơ sở chuyênmôn hoá

Nhập khẩu với sự tồn tại và phát triển của nó đã góp phần vào việc hoàn thiện cơchế quản lý nhập khẩu của Nhà nước thông qua các đòi hỏi hợp lý của các chủ thể thamgia nhập khẩu

Nói tóm lại, nhập khẩu đang góp phần vào sự ổn định của nền kinh tế, sự pháttriển của đất nước Trong thời kỳ mở cửa của Việt Nam thời gian qua, nhập khẩu đã thểhiện vai trò to lớn của nó Ta có thể thấy được điều này qua tình hình thị trường hànghoá sôi động, sức cạnh tranh mạnh mẽ, sự phát triển nhanh chóng của hệ thống cơ sở hạtầng và thống tin liên lạc, sự hoà nhập của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thếgiới Để tiếp tục phát huy vai trò của nhập khẩu, Đảng và Nhà nước ta đã cụ thể thànhnhững nguyên tắc trong hoạt động xuất nhập khẩu như sau:

- Sử dụng vốn ngoại tệ tiết kiệm đem lại hiệu quả kinh tế cao

- Nhập khẩu thiết bị hiện đại, phù hợp

- Nhập khẩu theo nguyên tắc bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong nước

- Chú ý thích đáng đến nhập khẩu hàng tiêu dùng thiết yếu

- Kết hợp nhập khẩu với xuất khẩu

2.3 Các công cụ quản lý nhập khẩu của Việt Nam

Trang 11

Mở cửa tự do hoá thương mại và bảo hộ kinh tế là hai xu hướng đối lập nhau.Trong bất kỳ một nền kinh tế nào, để bảo vệ cho nền kinh tế trong nước thì biện phápquan trọng nhất là quản lý nhập khẩu Các quốc gia đều có những công cụ quản lý nhậpkhẩu riêng của mình Việt Nam hiện nay đang quản lý nhập khẩu bằng các công cụ sau:2.3.1 Thuế nhập khẩu

Mục đích của việc đánh thuế nhập khẩu là để bảo vệ sản xuất trong nước, hướngdẫn tiêu dùng trong nước và góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách

Hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam được đánh thuế theo luật thuế do Quốc hộinước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 26/12/1994 là những hàng hoá được phépnhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam kể cả hàng từ khu chế xuất đưa vào thịtrường trong nước

Có nhiều cách tính thuế khác nhau như tính và thu một lần một số tiền nào đóhoặc tính theo tỷ lệ  nhất định trên tổng trị giá hàng hoá hoặc kết hợp cả hai phươngpháp này Ở Việt Nam, cách tính thuế là lấy số lượng hàng thực tế nhân với giá tính thuế

do Bộ Tài chính quy định, sau đó nhân với thuế suất theo biểu thuế Có 2 loại thuế:

- Thuế ưu đãi: là loại thuế dành cho cac hàng hoá nhập khẩu từ các nước đượchưởng quyền ưu đãi theo hiệp định MFN đã ký của chính phủ

- Thuế thông thường: là thuế đánh vào hàng hoá nhập khẩu không kể khối lượng,nguồn gốc, công ty kinh doanh thuộc quốc gia nào

Những hàng được miễn thuế nhập khẩu gồm:

- Vốn đầu tư nước ngoài trong trường hợp cần khuyến khích đầu tư theo Luật đầu

tư nước ngoài của Việt Nam

- Hàng là quà biếu tặng trong mức quy định

- Hàng viện trợ không hoàn lại

- Hàng tạm nhập tái xuất

- Hàng là tài sản di chuyển, hàng của công dân Việt Nam đi công tác lao độnghọc tập ở nước ngoài mang về nước theo mức quy định

- Hàng của các tổ chức cá nhân nước ngoài được miễn thuế theo các Hiệp định

mà chính phủ Việt Nam ký kết với các nước này

- Hàng nhập phục vụ an ninh quốc phòng, nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo

Trang 12

- Hàng nhập của các đơn vị xí nghiệp được ưu tiên trong nước

Tuy nhiên khi Việt Nam tham gia vào AFTA một cách đầy đủ thì công cụ này sễkếm hiệu lực hơn do chúng ta phải hạ các mức thuế suất đang áp dụng xuống rất nhiều.2.3.2 Hạn ngạch nhập khẩu

Là quy định hạn chế của Nhà nước về giá trị hoặc số lượng nhập khẩu một mặthàng nào đó trong một thời gian nhất định, từ thị trường nhất định

Mục tiêu áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu bằng hạn ngạch của nhà nướcnhằm bảo vệ sản xuất trong nước, sử dụng có hiệu quả quỹ ngoại tệ, đảm bảo các camkết của chính phủ ta với chính phủ các nước Hạn ngạch có thể biến một doanh nghiệpnhập khẩu thành nhà độc quyền Chính vì lý do trên nên nếu một doanh nghiệp xin đượchạn ngạch nhập khẩu thì có thể sẽ thu lợi cao

Đối với Việt Nam, danh mục các mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch được Chínhphủ phê duyệt trên cơ sở đề nghị của Bộ kế hoạch và đầu tư cho từng thời kỳ với giá trị

và số lượng cụ thể Bộ Thương mại là cơ quan duy nhất có thẩm quyền phân bổ hạnngạch và cũng là cơ quan có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện hạn ngạch đã cấp Theoquy định số 195/TMDL xuất nhập khẩu ngày 09/04/1995 việc mua bán hạn ngạch bịcấm

2.3.3.Giấy phép nhập khẩu

Từ trước 01/01/1999 giấy phép nhập khẩu là biện pháp quản lý được áp dụngrộng rãi trong đó quy định các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải xin giấy phép nhậpkhẩu cho từng chuyến hàng Trên thực tế, giấy phép đã trở thành yếu tố cản trở, rắc rối

về mặt thủ tục đối với hoạt động nhập khẩu Do đó để tạo môi trường kinh doanh thuậnlợi hơn cho các doanh nghiệp, ngày 15/12/1998 Chính phủ đã ra nghị định số 89/CP quyđịnh huỷ bỏ việc xin giấy phép cho từng chuyến hàng cho các doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu đối với các mặt hàng trong giấy phép; còn đối với các mặt hàng ngoài giấy phép thìcác doanh nghiệp vẫn phải xin giấy phép xuất nhập khẩu

2.3.4 Quản lý ngoại tệ

Đối với những nước thiếu ngoại tệ như Việt Nam, việc áp dụng có hiệu quả kiểmsoát ngoại tệ để điều tiết nhập khẩu là rất cần thiết Mục đích của quản lý ngoại tệ làquản lý nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ, kiểm soát việc sử dụng ngoại tệ hợp lý và đúngmục đích của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam quy định doanh nghiệp nhập

Trang 13

khẩu muốn sử dụng ngoại tệ phải chứng minh được tính hợp lý của việc sử dụng ngoại

tệ bằng các biện pháp cần thiết

II/ NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU

Trong thương mại quốc tế, do sự khác biệt về thể chế và khoảng cách địa lý màcác nghiệp vụ xuất nhập khẩu trở nên phức tạp hơn Nó đòi hỏi người tham gia hoạtđộng không những cần có trình độ chuyên môn cao mà còn phải có những hiểu biết nhấtđịnh về phong tục tập quán thương mại và nền văn hoá của các nước bạn hàng Để thựchiện thành công một thương vụ thì nhà kinh doanh phải trải qua một quy trình với cácbước nhất định Một quy trình kinh doanh xuất nhập khẩu thường có các bước sau:1/ Chuẩn bị trước khi ký kết hợp đồng

1.1 Nghiên cứu thị trường

Thị trường là một phạm trù khách quan gắn với sản xuất và lưu thông hàng hoá.Thị trường là tổng thể các quan hệ lưu thông hàng hoá - tiền tệ Mặt khác cũng có thểhiểu là tổng thể khối lượng cầu có khả năng thanh toán và tổng khối lượng cung có khảnăng đáp ứng Thực tế thể hiện thị trường một cách đơn giản là người mua và người bángặp gỡ, chuẩn bị và thực hiện mua bán hàng hóa dịch vụ Nghiên cứu thị trường là mộtphương pháp được tiêu chuẩn hoá có hệ thống và tỷ mỉ để sử lý vấn đề maketing vớimục đích tìm ra những điều cần thiết thích hợp cho các loại hàng hoá nào đó trongkhoảng thời gian và nguồn lực hạn chế

Nghiên cứu thị trường kinh doanh thương mại quốc tế là một loạt các thủ tục và

kỹ thuật được thực hiện bởi các nhà kinh doanh nhằm nhận biết thị trường, quy luật vậnđộng của thị trường từ đó tìm ra thương vụ kinh doanh thích hợp với điều kiện củadoanh nghiệp Nghiên cứu thị trường được thực hiện bằng 2 phương pháp sau:

- Nghiên cứu tại văn phòng: Đây là phương pháp mà các nhà kinh doanh thu thậptài liệu sau đó tổng hợp và sử lý đưa ra được các thông tin cần thiết, quan trọng đối vớiviệc kinh doanh của doanh nghiệp Các tài liệu này có thể từ các nguồn: các bản tin kinh

tế, các bản tin từ đài báo, các tài liệu của các trung tâm thương mại trong và ngoài nước,các tài liệu quảng cáo của các công ty, các tài liệu thống kê của các nước, các tài liệuchuyên đề nghiên cứu, internet

- Nghiên cứu tại hiện trường: Là việc nghiên cứu thị trường mà thông tin thu thập

Trang 14

tiếp Việc này có thể thực hiện bằng các kỹ thuật như: phỏng vấn trực tiếp các nhà kinhdoanh, thăm dò qua thư, kiểm tra kho hàng.

Ngoài 2 biện pháp trên còn có thể sử dụng phương pháp chuyên gia và áp dụngcông cụ máy tính để trợ giúp

Trong việc nghiên cứu thị trường thương mại quốc tế, các nhà kinh doanh thườngthực hiện nghiên cứu các nội dung là: Nghiên cứu dung lượng thị trường - Nghiên cứugiá cả

* Nghiên cứu thị trường và xu hướng biến đổi:

Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên phạm vi thịtrường nhất định, trong khoảng thời gian nhất định Người nghiên cứu thị trường xácđịnh nhu cầu cần thiét của khách hàng (kể cả lượng dự trữ) và xu hướng biến động củanhu cầu

Dung lượng thị trường không cố định, nó thay đổi tuỳ theo chiều hướng của tìnhhình, do tác động của nhiều nhân tố trong những giai đoạn nhất định Các nhân tố ảnhhưởng tới dung lượng thị trường có thể xem xét bao gồm :

- Loại các nhân tố làm cho thị trường biến động mang tính chất chu kỳ gồm: sựphát triển của khoa học công nghệ, các chính sách của nhà nước, chính sách của các tậpđoàn kinh tế lớn, thị hiếu tập quán của người tiêu dùng, ảnh hưởng của khả năng sảnxuất thay thế

- Loại các nhân tố ảnh hưởng tạm thời tới dung lượng thị trường: hiện tượng đầu

cơ, các yếu tố tự nhiên như bão lụt, hạn hán, động đất, các yếu tố thuộc chính trị nhưchiến tranh, đình công

Khi nghiên cứu thị trường cần nắm vững dung lượng và các yếu tố tác động nhằmxác định dung lượng thị trường tại thời điểm nào đó trong tương lai Điều đó có ý nghĩarất quan trọng trong việc ra các quyết định của nhà kinh doanh xuất nhập khẩu

* Nghiên cứu giá cả

Giá cả là biểu hiện bằng tiền của hàng hoá, biểu hiện các mối quan hệ tổng hợptrong nền kinh tế Trong buôn bán quốc tế, giá cả thị trường ngày càng trở nên phức tạp

do việc mua bán trên thị trường xảy ra cùng lúc Mặt khác lại có nhiều yếu tố tác độnggây nên thay đổi giá cả Giá cả bao gồm giá trị của hàng hoá, bao bì, chi phí vận chuyển,bảo hiểm và các chi phí khác Xác định giá cả tại một thời điểm cụ thể, tại thị trường xác

Trang 15

định với các điều kiện xác định Ngoài ra còn phải nghiên cứu xu hướng biến động củagiá cả dựa vào việc nghiên cứu các yếu tố tác động làm thay đổi giá cả Các yếu tố nàybao gồm:

- Nhân tố chu kỳ: tức là sự vận động có tính chu kỳ của nền kinh tế Đây là yếu tố

cơ bản ảnh hưởng tới giá cả của các loại hàng hoá Với nhân tố này, khi nền kinh tế suythoái thì giá cả có xu hướng giảm và ngược lại Nguyên nhân là do sự vận động có tínhquy luật của nền kinh tế ảnh hưởng tới cung cầu làm thay đổi giá cả

- Nhân tố lũng đoạn của các công ty đa quốc gia: Đây là nhân tố ảnh hưởng tới sựhình thành và biến động của giá cả rất mạnh mẽ trong thời kỳ hiện nay Lũng đoạn làmxuất hiện nhiều loại giá khác nhau đối với cùng một loại hàng hoá, thậm chí ngay trêncùng một thị trường Lũng đoạn giá cả thường có hai loại: lũng đoạn giá cả cao và lũngđoạn giá cả thấp

- Nhân tố cạnh tranh: cạnh tranh có thể làm giá cả biến động theo các xu hướngkhác nhau phụ thuộc vào đối tượng tham gia cạnh tranh là người mua hay người bán.Cạnh tranh giữa những người bán làm giá cả giảm xuống và cạnh tranh giữa nhữngngười mua làm giá cả tăng lên

- Nhân tố lạm phát: giá cả của hàng không những phụ thuộc vào giá trị hàng bán

mà còn phụ thuộc vào giá trị tiền tệ Trên thị trường thế giới, giá cả được biểu hiện bằngđồng tiền của các nước có vị trí quan trọng trong mậu dịch quốc tế, do đặc điểm pháttriển của những đồng tiền này thay đổi ảnh hưởng tới giá cả hàng hoá

- Nhân tố thời vụ cũng có ảnh hưởng tới giá cả hàng hoá, đặc biệt là các hàng hoátiêu dùng hoặc sản xuất thời vụ

* Giá cả quốc tế

Trong nghiên cứu giá cả, vấn đề quan trọng là xác định giá cả quốc tế Giá quốc

tế là giá có tính chất đại diện cho một loại hàng hoá nhất định trên thị trường quốc tế.Giá đó phải là giá những giao dịch thông thường không kèm theo một điều kiện đặc biệtnào và thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi Trong thực tế thương mại quốc tế, cóthể gọi các giá sau đây là giá quốc tế:

- Đối với các hàng hoá không có trung tâm giao dịch truyền thống trên thế giới thì

có thể lấy giá của những nước xuất khẩu hoặc nhập khẩu chủ yếu biểu hiện bằng ngoại

Trang 16

- Đối với các hàng hoá luôn bán ở sở giao dịch, trung tâm tiến hành đấu giá thì cóthể tham khảo giá ở các trung tâm giao dịch đó.

- Đối với các loại máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ thì căn cứ vào giá củacác hãng sản xuất cung ứng đóng vai trò chủ yếu trên thị trường

Trong quá trình nghiên cứu tiến hành chuẩn bị cho việc thực hiện một thương vụkinh doanh, nghiên cứu các yếu tố liên quan tới kinh doanh hàng hoá như vận tải, ngânhàng thì các quy định của các quốc gia là vô cùng quan trọng để đạt được thành côngtrong mỗi thương vụ Nghiên cứu điều tra các vấn đề này có tác dụng tạo cho doanhnghiệp xác định được chi phí phải bỏ ra khi kinh doanh một cách đầy đủ đồng thời cũngcho thấy các khó khăn có thể gặp phải để có phương pháp xử lý

Tóm lại, trong quá trình điều tra doanh nghiệp phải xác định được một số vấn đềsau:

- Thị trường đang cần hàng gì ? (cụ thể về tên, quy cách, chủng loại, bao bì, nhãnhiệu, số lượng toàn bộ, số lượng từng loại)

- Thị trường có thị hiếu như thế nào? Xu hướng thay đổi trong tương lai? Mức độtiêu thụ, kênh phân phối ?

- Mức độ cạnh tranh của các công ty trong nước, và quốc tế đối với mặt hàng đó;mặt hàng thay thế ? Mặt hàng bổ sung ?

- Sản phẩm đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống ? Hiện nay công ty đang thamgia vào thị trường nào?

- Tình hình sản xuất và cung cấp mặt hàng như thế nào? Hàng hóa có phù hợp vớinhu cầu thị trường không ? Những nhà sản xuất nào cung cấp mặt hàng đó ? Giá cả vàđiều kiện của mỗi nhà cung cấp ?

- Tình hình vận tải mặt hàng đó, chi phí vận tải, điều kiện thanh toán, chi phí chongân hàng, chi phí môi giới

Đưa ra được các thông tin doanh nghiệp cần phân tích, xử lý để nhận ra được mộtthương vụ có tính khả thi đối với doanh nghiệp hay không Thương vụ này có tính cụ thểcao và phải mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp

1.2 Lập kế hoạch xuất nhập khẩu

Trang 17

Dựa trên các thông tin thu thập được trên thị trường trong và ngoài nước, công tyxem xét khả năng về vốn và nhân lực từ đó lập ra kế hoạch kinh doanh xuất nhập khẩucho từng giai đoạn Đó là kế hoạch ngắn-trung-dài hạn.

Về kế hoạch phát triển dài hạn, công ty đưa ra quy mô cơ cấu xuất nhập khẩu chotừng thời gian dài Đây là các định hướng mục tiêu để công ty vươn tới, các xu hướngthay đổi cơ cấu xuất nhập khẩu cần thực hiện để thực hiện một mục đích nhất định chonền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng Các công ty có kế hoạch phát triển dàihạn khác nhau, có định hướng kinh doanh khác nhau nhưng kế hoạch phát triển dài hạncho xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam thường là: xác định mặt hàng xuấtnhập khẩu chiến lược và thị trường xuất nhập khẩu trọng điểm trong thời gian đó, kimngạch cần đạt được, các tỷ lệ về cơ cấu xuất nhập khẩu cần thực hiện Quan trọng nhấttrong chiến lược phát triển dài hạn là phải xác định được mục tiêu của công ty trong giaiđoan đó như lợi nhuận, phát triển thị trường, tăng vốn kinh doanh

Trên cơ sở chiến lược dài hạn, công ty chi tiết hoá thành kế hoạch cho một thờigian ngắn hơn với mức độ cụ thể chi tiết cao hơn Các kế hoạch ngắn hạn thường đượclập trong 1 năm Kế hoạch này đưa ra các mặt hàng nhập khẩu, thị trường nhập khẩu vàthị trường tiêu thụ trong nước Các chỉ tiêu về thị trường và mặt hàng phải thể hiện mốiquan hệ lôgíc, chặt chẽ Hệ thống các chỉ tiêu về kim ngạch cơ cấu, chỉ tiêu chi phí lợinhuận, thuế nộp ngân sách trong kế hoạch ngắn hạn, đồng thời đưa ra các biện pháp,giải pháp cần thực hiện để đạt chỉ tiêu đó

1.3 Lựa chọn đối tượng giao dịch

Việc lựa chọn đối tượng giao dịch dựa trên cơ sở các vấn đề:

- Tình hình sản xuất kinh doanh của hãng, lĩnh vực và phạm vi kinh doanh nhằmxác định được khả năng cung cấp, tiêu thụ lâu dài thường xuyên, khả năng liên kết kinhdoanh và đặt hàng sản xuất

- Khả năng về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật cho phép ta thấy được những ưu thếtrong thoả thuận giá cả, điều kiện thanh toán Doanh nhân có vốn lớn cho thấy khả năngvững chắc trong cung cấp, tiêu thụ đồng thời cũng là cơ hội cho Việt nam có được mộtkhoản tín dụng, giải quyết tình trạng thiếu vốn tạm thời

- Quan điểm thái độ kinh doanh Không phải mọi doanh nhân đều có thái độ,

Trang 18

các doanh nghiệp Việt Nam vẫn lựa chọn các bạn hàng là các công ty có uy tín, hoạtđộng lâu dài trên thị trường thế giới, óc quan điểm kinh doanh theo hướng hợp tác lâudài hai bên cùng có lợi, lấy chữ tín làm tôn chỉ hoạt động.

- Ngoài ra để lựa chọn đối tượng giao dịch phù hợp thì các vấn đề như khoảngcách địa lý giữa hai nước, điều kiện vận tải của tuyến đường, tập quán thương mại vàquy chế chính sách quản lý thương mại của nước có đối tượng giao dịch cũng cần đượcquan tâm

Lựa chọn thương nhân giao dịch tốt nhất nên chọn những người xuất nhập khẩutrực tiếp hạn chế các hoạt động trung gian Nhưng trong một số trường hợp thì trunggian được sử dụng với tư cách là môi giới, đại lý rất có hiệu quả, đặ biệt khi công ty mớithâm nhập thị trường mới Cũng có một số mặt hàng do đặc tính kinh doanh hay truyềnthống kinh doanh nếu sử dụng trung gian sẽ được nhiều ưu thế trong nắm bắt thông tin

Lập kế hoạch cụ thể để tiến hành hoạt động nhập khẩu thường bao gồm nhiều chitiết, trong đó có thể kể đến một số vấn đề sau:

- Lựa chọn mặt hàng kinh doanh

- Xác định nguồn cung cấp, thị trường tiêu thụ ( Cụ thể tới tên công ty, người giaodịch )

- Xác định số lượng hàng xuất nhập khẩu tối ưu cho từng đợt nhập-xuất hàng

- Lựa chọn thông tin khách hàng, phương thức giao dịch

- Thực hiện các biện pháp hỗ trợ như quảng cáo, tiếp thị, đầu tư xây dựng cơ sởvật chất kỹ thuật, đào tạo các cán bộ kinh doanh

- Xây dựng luận chứng cho mục tiêu đề ra, dự đoán chất lượng công việc qua cácchỉ tiêu:

Trang 19

p

Tỷ suất lợi nhuận p= 100

c

cThời gian hoàn vốn T = + k + r

2 Giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng

Trên thị trường thế giới đang tồn tại nhiều phương thức giao dịch như giao dịchthông thường-giao dịch qua trung gian-đầu tư quốc tế-đấu giá quốc tế-đấu thầu quốc tế-giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá-giao dịch tại hội chợ triển lãm Mỗi phương thứcgiao dịch có đặc điểm và cách thức tiến hành riêng

Trong các phương thức giao dịch thì giao dịch thông thường được sử dụng rộngrãi nhất Đó là giao dịch mà người bán và người mua thoả thuận, bàn bạc trực tiếp hoặcthông qua thư từ điện tín về hàng hoá, giá cả, thanh toán Trong giao dịch thông thường

có một số nghiệp vụ sau:

- Hỏi giá -Inquiry- là việc người mua đề nghị người bán cho biết các điều kiệnbán hàng như giá cả, thời hạn giao hàng, điều kiện thanh toán, vận tải Đây là bướcthăm dò tìm hiểu thông tin để thực hiện thương vụ

- Báo giá-Quotation-là nghiệp vụ mà người bán đưa ra điều kiện mua bán để trảlời người mua Có hai loại báo giá: Báo giá tham khảo và báo giá cam kết Trong báo giácam kết nếu người mua đồng ý các điều kiện trong báo giá thì hợp đồng được ký kết

Trang 20

- Chào hàng-offer-là đề nghị của người bán/mua cho bên kia hiểu họ muốnbán/mua một số hàng nhất định dựa trên các điều kiện xác định Có các loại chào hàngsau:

+ Chào hàng tuỳ thuộc vào sự chấp nhận của người bán Đây là loại chào hàng

mà nếu người được chào hàng chấp nhận thì phải có sự xác nhận của người chào mới cógiá trị pháp lý

+ Chào hàng xác định là loại chào hàng mà nếu người được chào chấp nhận thìngười chào không thể từ chối

+ Chào hàng ngược lại là việc một bên căn cứ đơn chào hàng của bên kia để đặtđiều kiện ngược lại về giá cả, thanh toán, giao hàng Thực chất đây là đơn đặt hàng vớicác điều kiện do bên được chào đặt ra

- Chấp nhận-Acceptance-là việc người được chào hàng đồng ý với đơn chào hànghoặc đơn báo giá

- Xác nhận- Cofirmation-là giấy khẳng định những cam kết mua/bán giữa haibên

Các giao dịch trên đây thường được thực hiện qua các phương tiện thông tin nhưE-mail, telex, fax Tuy nhiên giao dịch này có thể được thực hiện thông qua trao đổitrực tiếp giữa bên bán-bên mua.Cách làm này tuy đạt hiệu quả cao, tiết kiệm thời giansong chi phí đàm phán tương đối cao

Giao dịch đàm phán nhằm đạt được sự thoả thuận giữa hai bên song các bên cần

đi tới đích cuối cùng là việc ký kết hợp đồng.Hợp đồng được coi là có giá trị pháp lýtrong các trường hợp sau:

- Người mua chấp nhận bằng văn bản đối với chào hàng xác định của người bántrong thời gian quy định

- Người bán xác nhận bằng văn bản đơn đặt hàng của người mua trong thời gianquy định

- Đại diện của bên mua và bên bán cùng ký vào bản hợp đồng.Nếu có ba bên thìcác bên phải cùng ký vào văn bản hoặc các bên ký hợp đồng tay đôi có đẫn chiếu tới cáchợp đồng khác

- Người bán xác nhận bằng văn bản là người mua đã chấp nhận các điều khoảntrong đơn đặt hàng tự do

Trang 21

Hợp đồng có giá trị pháp lý nếu các bên ký có đủ tư cách pháp nhân, là đại diện

- Hợp đồng đấu thầu, đấu giá

3 Thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu

Sau khi hợp đồng đã được ký kết, các bên cùng thực hiện hợp đồng trên cơ sởtinh thần trách nhiệm và thiện chí.Việc hực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu theo trình tựsau:

Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu:

Ký h p ợp đồng đồng ng

xu t kh u ất khẩu ẩu Ki m tra L/ ểm tra L/ C Xin gi y phép xu t kh u ất khẩu ất khẩu ẩu h ng hoá XK àng hoá XK Chu n b ẩu ị

U thác ỷ thác thuê t u àng hoá XK

b o hi m ải quan ểm tra L/

Trang 22

Trình tự thực hiện hợp đồng nhập khẩu:

4 Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh

4.1 Chỉ tiêu lợi nhuận

Lợi nhuận là chỉ tiêu hiệu quả kinh tế có tính tổng hợp phản ánh kết quả cuốicùng của hoạt động sản xuất kinh doanh Nó là tiền đề đê duy trì để tái sản xuất mở rộngcủa doanh nghiệp, để cải thiện và nâng cao mức sống của người lao động Doanh nghiệp

có lợi nhuận thì đất nước mới giàu có phát triển Ngược lại làm ăn kém sẽ dẫn đến thua

Lợi nhuận là một chỉ tiêu cơ bản nhất cần thiết phải tính toán khi đánh giá hiệuquả kinh doanh thương mại quốc tế Tuy nhiên nếu chỉ tính chỉ tiêu lợi nhuận không thì

Gi i quy t khi u ải quan ết ết

n i v h ng hoá ại ề hàng hoá àng hoá XK (n u có) ết

L m th t c àng hoá XK ủ tục ục thanh toán

Mua b o ải quan

hi m h ng ểm tra L/ àng hoá XK

hoá

Trang 23

chưa phản ánh hết được hiệu quả của hoạt động kinh doanh Trong thực tế, người ta cònphải xác định chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi ngoại thương Trong hoạt động kinh doanh xuấtnhập khẩu người ta sử dụng chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi xuất khẩu và doanh lợi nhập khẩu a- Tỷ suất doanh lợi xuất khẩu

Lx

Cx

Dx : Tỷ suất doanh lợi xuất khẩu

Lx : Lợi nhuận về bán hàng xuất khẩu tính bằng ngoại tệ được chuyển đổi ra tiền

VN theo giá công bố của ngân hàng nhà nước

Cx : Tổng chi phí thực hiện hoạt động xuất khẩu

b- Tỷ suất doanh lợi nhập khẩu

Ln

Cn

Dn : Tỷ suất doanh lợi nhập khẩu

Ln : Lợi nhuận về bán hàng nhập khẩu

Cn : Tổng chi phí nhập khẩu bằng ngoại tệ được chuyển đổi theo đồng VN theo

tỷ giá công bố của ngân hàng Nhà nước

c- Tỷ suất doanh lợi ngoại thương

Dnt = Dx Dn

Dnt : Tỷ suất doanh lợi ngoại thương

Dx: Tỷ suất doanh lợi xuất khẩu

Dn : Tỷ suất doanh lợi nhập khẩu

Trang 24

4.3 Chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp

Tsd

H =

TsxH: Hiệu quả tổng hợp của KD thương mại quốc tế

Tsd : Thu nhập quốc dân sử dụng

Tsx : Thu nhập quốc dân sản xuất

Chỉ tiêu này cho biết kinh doanh thương mại quốc tế làm tăng hay giảm thu nhập quốcdân

III/ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬPKHẨU CỦA DOANH NGHIỆP

Trong cơ chế thị trường, hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp đều phảichịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố tác động Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp hoặcgián tiếp đến kết quả kinh doanh của công ty Nếu kinh doanh thành công thì người lãnhđạo của công ty cũng như toàn bộ cán bộ phải nắm bắt và hiểu rõ những yếu tố tác độngcũng như cơ chế của nó để điều chỉnh hoặc thích ứng cho phù hợp nhằm nâng cao hiệuquả của kinh doanh

Với một doanh nghiệp xuất nhập khẩu, vì kinh doanh trong môi trường rộngmang tính quốc tế nên doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhấn tố tác động quátrình kinh doanh Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình hoạt động kinh doanh xuất nhậpkhẩu có thể chia ra như sau:

1/ Các yếu tố trong doanh nghiệp

Đây là các yếu tố thuộc phạm vi doanh nghiệp quyết định trực tiếp Lãnh đạocông ty có thể từng bước điều chỉnh, tăng cường các hoạt động tích cực và hạn chế cáchoạt động tiêu cực

1.1 Uy tín, quy mô và sự phát triển của doanh nghiệp

Một công ty có quy mô lớn thì có thể thực hiện một khối lượng công việc lớn vàngược lại Công ty có vốn kinh doanh lớn được huy động vào đầy đủ vào kinh doanh sẽgiảm được chi phí kinh doanh, luôn chủ động trong hoạt động kinh doanh của mìnhgiảm bớt phụ thuộc vào các tổ chức tài chính khác; do đó đạt hiệu quả kinh doanh caohơn

Trang 25

Uy tín là vấn dề vô cùng quan trọng trong hoạt động kinh doanh Uy tín cao trênthương trường sẽ đem lại cho công ty nhiều cơ hội kinh doanh, nhiều khách hàng trong

và ngoài nước, thu hút được nhiều nhân viên có trình độ cao, giảm bớt các chi phí vềbảo lãnh Uy tín của công ty phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: quy mô sự phát triển củacông ty, đội ngũ cán bộ công nhân viên, thị phần công ty chiếm giữ, sự tín nhiệm trongquan hệ với bạn hàng

Lãnh đạo là người định hướng cho sự phát triển của công ty, hướng dẫn việc thựchiện các công việc kinh doanh của cấp dưới Một công ty có lãnh đạo tồi thì không thểtạo ra hiệu quả kinh doanh khả quan cho công ty Kinh doanh trong môi trường quốc tếđòi hỏi người lãnh đạo phải có đủ trình độ kiến thức chuyên môn ngoại thương cũng nhưtrình độ ngoại ngữ, am hiểu luật pháp trong nước và quốc tế Có như vậy người lãnh đạomới thực sự chỉ đạo, định hướng cho công ty phát triển

Trên đây là một số nhân tố thuộc phạm vi doanh nghiệp Người chủ doanh nghiệp

có thể tác động điều chỉnh các yếu tố này theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp

Ngoài ra còn các yếu tố thuộc phạm vi ngoài doanh nghiệp cũng ảnh hưởng tớihoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp

2/ Các yếu tố ngoài phạm vi doanh nghiệp

Đây là các yếu tố tác động đến doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp không thể tựđiều chỉnh theo ý chủ quan được mà doanh nghiệp phải thích nghi nhằm tối thiểu hoácác tác động tiêu cực đến hoạt động của mình Các yếu tố này bao gồm:

Trang 26

thực hiện chính sách đóng cửa, hoạt động xuất nhập khẩu bị tê liệt hoàn toàn làm chonền kinh tế bị kiệt quệ, trì trệ Từ khi thực hiện chính sách đổi mới (1986) hoạt độngxuất nhập khẩu trở nên sôi động kéo theo sự tăng trưởng của nền kinh tế Trong môitrường kinh doanh chung, doanh nghiệp xuất nhập khẩu chịu sự quản lý của nhà nước.Chính sách của nhà nước sẽ có tác động làm thu hẹp hay thúc đẩy tăng trưởng của hoạtđộng xuất nhập khẩu.

2.2 Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ so sánh giữa giá trị của đồng tiền của quốc gia này so vớiquốc gia khác Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường xuyên sử dụng ngoại tệ trongquan hệ thanh toán quốc tế của mình Do vậy, tỷ giá hối đoái có tầm quan trọng đối vớicác doanh nghiệp xuất nhập khẩu Sự thay đổi tỷ giá hối đoái có tác động mạnh tới hoạtđộng của doanh nghiệp Trước hết sự tăng lên của tỷ giá hối đoái làm giá hàng nhậpkhẩu tăng lên làm giảm lợi nhuận của nhập khẩu, đồng thời thusc đẩy xuất khẩu Ngượclại tỷ giá hối đoái giảm sẽ mở rộng nhập khẩu và hạn chế xuất khẩu Chính vì vậy chínhphủ sử dụng tỷ giá hối đoái như một công cụ rất quan trọng để điều chỉnh hoạt động xuấtnhập khẩu Mặt khác, sự thay đổi tỷ giá đột ngột sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinhdoanh của từng thương vụ và kết quả kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp

2.3 Ảnh hưởng của hệ thống tài chính ngân hàng

Hiện nay hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh, can thiệpđến tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế Với vai trò quan trọng cung cấp vốn, thựchiện các nghiệp vụ thanh toán cho doanh nghiệp ngân hàng có vai trò đặc biệt đối vớicác doanh nghiệp thiếu vốn Nhờ các quan hệ và nghiệp vụ liên ngành, hoạt động xuấtnhập khẩu được đảm bảo về mặt lợi ích cho cả hai bên Hoạt động xuất nhập khẩu diễn

ra thông suốt cũng là nhờ hệ thống tài chính ngân hàng Nhiều thường hợp, nhờ uy tíncủa ngân hàng mà các doanh nghiệp được bảo lãnh, được trả chậm tạo cho doanhnghiệp khả năng kinh doanh rộng hơn

2.4 Ảnh hưởng của hệ thống giao thông và thông tin liên lạc

Hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động giữa các thương nhân ở các quốc giakhác nhau Đó chính là đặc điểm nổi bật trong thương mại quốc tế hiện nay Vì vậy nóiđến hoạt động xuất nhập khẩu thì không thể tách rời giao thông vận tải và thông tin liênlạc Khi yêu cầu cung ứng hàng hoá đầy đủ, chính xác về thời gian ngày càng trở thành

Trang 27

vấn đề quan trọng, là cơ sở tạo niềm tin, uy tin cho doanh nghiệp Do đó doanh nghiệpphải luôn quan tâm đến vấn đề này Sự phát triển của một đội tàu biển, một tuyến đườngđường sắt mới là điều kiện thuận lợi cho xuất nhập khẩu Hiện đại hoá các phương tiệnvận chuyển, bốc xếp, bảo quản, hệ thống kho tàng, bến bãi góp phần nhanh chóng vào

an toàn cho quá trình xuất nhập khẩu của doanh nghiệp

Thời đại thông tin càng tiến bộ vượt bậc của các phương tiện kỹ thuật thông tinnhư: fax, chuyển phát nhanh, mobil phone, computer giúp cho doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu nhanh chóng nắm bắt các loại thông tin về hàng hoá và thị trường Nâng cao hiệusuất sử lý thông tin, đơn giản hoá quá trình giao dịch, đàm phán đã tạo ra một hiệuquả cao trong kinh doanh của các doanh nghiệp

Ngoài các yếu tố cơ bản đã kể trên, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu cònchịu sự tác động của nhiều yếu tố khác như sự cạnh tranh, hệ thống phân phối, sự thayđổi của thị trường trong và ngoài nước, sự phát triển của nền kinh tế, luật pháp và thông

lệ quốc tế

Trang 28

PHẦN II

NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY DETESCOVIỆT NAM

I KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY DETESCO

1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty:

Trước tiên ta phải nói đến đó là do hội sinh viên Việt nam muốn có một quĩ hỗtrợ tài năng trẻ, cấp học bổng, phần thưởng cho những sinh viên, học sinh suất sắc củacác trường đại học và cao đẳng

Do đó cùng với ý tưởng của hội sinh viên Việt nam, Ban lãnh đạo trung ươngĐoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là mầm mống phôi thai cho sự thành lập và pháttriển của Công ty Với ý tưởng đó trung ương Đoàn đã giao nhiệm vụ này cho ôngNguyễn Duy Phương giám đốc công ty, ông Phạm Anh Linh và ông Lê Anh Tuấn phógiám đốc công ty và một số cán bộ khác đứng ra thành lập công ty và trực tiếp điều hànhcông ty

Công ty này được thành lập vào ngày 02 tháng 9 năm 1993 theo nghị định 268(công ty đoàn thể do Nhà nước qui định)

Đến ngày 03 tháng 4 năm 1996 theo quyết định thành lập Doanh nghiệp đoàn thể

số 1398 QĐ/UB của ủy ban nhân dân thành phố Hà nội thành lập lại công ty phát triểnkinh tế kỹ thuật Việt nam (viết tắt là: DETESCO Việt nam) Công ty DETESCO Việtnam là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh Niên cộng sản

Hồ Chí Minh, có con dấu riêng, có tài khoản tại hai ngân hàng :

- Ngoại tệ : Ngân hàng Công thương

- Nội tệ : Ngân hàng Đầu tư và phát triển

Năm 1996 ngành nghề kinh doanh của công ty là: ngành xây dựng dân dụng vàcông nghiệp, xuất nhập khẩu và cung ứng hàng xuất nội thương, kinh doanh tư liệu sảnxuất và tư liệu tiêu dùng, đại lý ký gửi hàng hoá, ngành du lịch lữ hành, tổ chức dịch vụ

và đào tạo lao động ngoài nước Công ty có số vốn là: 875.354.000 đồng Sau đó đếnnăm 1997 công ty đã bổ sung thêm ngành kinh doanh nhà cửa, dịch vụ cho thuê ô tô, xemáy, xe đạp Đến giữa năm 1999 công ty đã bổ sung thêm ngành kinh doanh lữ hành,

Trang 29

khách sạn, ăn uống, vui chơi giải trí, các dịch vụ phục vụ khách du lịch Đến cuối năm

1999, Công ty bổ sung thêm kinh doanh xuất nhập khẩu các mặt hàng: máy móc, thiết

bị, vật tư, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng, phương tiện vận tải, đồđiện, điện tử và các quang học nguyên chiếu Cho đến nay, Công ty đã từng bước pháttriển các ngành nghề kinh doanh đa dạng nhưng nổi trội nhất vẫn là ngành kinh doanhxuất nhập khẩu thuộc trung tâm thương mại và hợp tác đầu tư quản lý Do đó nó làm đờisống cán bộ công nhân viên trong công ty được nâng cao và hàng năm công ty đã đóngcho ngân sách nhà nước từ 20 đến 30 tỷ đồng

2 Chức năng, nhiệm vụ và hệ thống tổ chức bộ máy của công ty DETESCO Việt Nam

* Chức năng:

Công ty có chức năng sản xuất kinh doanh tạo ra lợi nhuận để tạo nguồn kinh phíxây dựng: Quĩ học bổng của sinh viên, tài trợ cho những công trình nghiên cứu khoa họctrẻ, giúp đỡ học sinh, sinh viên nghèo gặp khó khăn

- Kinh doanh du lịch lữ hành và du lịch quốc tế

- Tổ chức dịch vụ và đào tạo lao động nước ngoài

Ngoài ra công ty còn có nhiệm vụ quan trọng đó là quản lý và sử dụng tốt tiềnvốn, tài sản theo chế độ quản lý kinh tế tài chính của nhà nước, quản lý tốt đội ngũ cán

bộ, nhân viên của công ty, giáo dục và bồi dưỡng cán bộ nhân viên vững về chính trị,thông thạo nghiệp vụ nhằm phục vụ tốt cho công tác kinh doanh

* Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty:

Bộ máy quản lý của công ty được tổ chức theo mô hình quản lý trực tuyến chứcnăng, thực hiện nghiêm chế độ một thủ trưởng giám đốc là người có quyền quyết địnhtối cao trong công ty, nguyên tắc quản lý là “ Tập trung dân chủ" Sau đây là sơ đồ bộmáy quản lý của công ty:

Trang 30

Biểu 1: Sơ đồ bộ máy quản lý của công ty DETESCO Việt Nam.

Đứng đầu công ty là giám đốc công ty do ban thường vụ trung ương đoàn TNCSHCM bổ nhiệm Giám đốc công ty có nhiệm vụ tổ chức điều hành mọi hoạt động củacông ty và chịu trách nhiệm hoàn toàn công việc của công ty trước ban thường vụ trungương Đoàn và tập thể lao động của công ty Trong công ty giám đốc lãnh đạo tình hìnhchung của công ty về công tác tài chính, kế toán, tổ chức, lao động, ký kết các hợp đồngkinh tế là người quyết định phương án kinh doanh của công ty

Phó giám đốc công ty do giám đốc đề nghị và ban thường vụ trung ương Đoàn raquyết định bổ nhiệm

Các phó giám đốc là người giúp việc cho giám đốc, được phân công theo dõi một

số công việc cụ thể và được uỷ quyền điều hành những công việc của công ty, ký thaygiám đốc khi giám đốc đi vắng

Trong công ty Detesco Việt Nam có hai phó giám đốc Một phó giám đốc phụtrách phòng tài chính kế toán đồng thời làm giám đốc trung tâm thương mại và hợp tác

v h p àng hoá XK ợp đồng tác

u t đầu tư ư

Trung tâm du

l ch ị

Trung tâm o

đàng hoá XK

t o v ại àng hoá XK

XK lao ng động

Chi nhánh

t i TP ại HCM

Chi nhánh

t i ại

H i ải quan Phòng

Chi nhánh

t i ại Đôn đốc bênàng hoá XK

N ng ẵng

Trang 31

đầu tư Còn một phó giám đốc phụ trách phòng tổ chức đồng thời làm giám đốc trungtâm du lịch.

Phòng tổ chức hành chính: Trưởng phòng chịu trách nhiệm chính về mọi côngviệc của phòng, phụ trách công việc nhân sự, tham mưu cho giám đốc quản lý và bố trílực lượng lao động cho toàn công ty, quản lý và lưu trữ hồ sơ, văn bản, tài liệu của toàncông ty, lập kế hoạch hàng tháng của công ty, chịu trách nhiệm trực tiếp cung ứng cácphương tiện làm việc cho công ty khi được giám đốc phê duyệt

Phòng tài chính - kế toán: Kế toán trưởng kiêm trưởng phòng tài vụ được giámđốc công ty đề nghị và ban thường vụ trung ương đoàn bổ nhiệm Phòng tài chính - kếtoán có nhiệm vụ hạch toán kế toán, đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động kinh doanh củacông ty trong từng kỳ kế hoạch ( tháng, quí, năm ) lo toan toàn bộ vốn phục vụ cho việchoạt động của các phòng ban ( điều tiết vốn để nhằm mục đích kinh doanh có hiệu quả ),quyết toán với cơ quan cấp trên và các cơ quan hữu quan

Đặc điểm lao động của công ty:

Cơ cấu lao động của công ty được thể hiện qua biểu sau:

Biểu 2: Cơ cấu lao động của công ty

( Nguồn: Sổ theo dõi cán bộ của phòng tổ chức cán bộ )

Nhìn vào biểu trên ta thấy số cán bộ CNV trực tiếp tăng lên không ngừng qua cácnăm Khi mới thành lập công ty chỉ có 5 người Trong đó trình độ đại học là 2 người.Nhưng cho đến nay công ty đã có 79 người trong đó:

Số cán bộ có trình độ trên đại học là một người chiếm 1,3%

Số cán bộ có trình độ đại học là 57 người chiếm 72,2%

Nói chung công ty luôn khẳng định vị trí trung tâm là con người, tôn trọng conngười Doanh nghiệp là công cụ để con người phát huy tài năng và sáng tạo Công ty

Trang 32

quả kinh tế Công ty luôn coi trọng công tác xây dựng, đoàn kết, hợp tác trong khuônkhổ nguyên tắc, qui chế tạo được “đội hình" có sức mạnh tổng hợp, có qui hoạch và liêntục đổi mới phát triển Hầu hết cán bộ trong công ty có phong cách làm việc tự giác,nhanh nhẹn, tính độc lập cao, thái độ tác phong sống hoà nhã với tất cả mọi người trongcông ty.

Trên đây là khái quát chung về tổng thể công ty Nhưng trong đề tài này chỉ chủyếu đi sâu nghiên cứu về vấn đề xuất nhập khẩu do trung tâm thương mại và hợp tác đầu

tư phụ trách quản lý

3 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Trung tâm thương mại vàhợp tác đầu tư thuộc công ty DETESCO Việt Nam:

a Khái quát về trung tâm thương mại và hợp tác đầu tư:

Trung tâm thương mại và hợp tác đầu tư trực thuộc công ty kinh tế kỹ thuật Việtnam là đơn vị được thành lập theo quyết định số 09 QĐTW ĐTNCSHCM ngày 13 tháng

9 năm 1996 của thủ trưởng cơ quan trung ương Đoàn

Trung tâm thương mại và hợp tác đầu tư có nhiệm vụ:

- Tìm hiểu thị trường, bạn hàng trong nước và ngoài nước, nắm bắt và phân tíchcác thông tin thương mại, các qui định pháp luật có liên quan, tham mưu cho giám đốccông ty ký kết các hợp đồng kinh tế

- Nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến hợp tác đầu tư, tìm kiếm các Doanhnghiệp trong và ngoài nước để trình giám đốc công ty xem xét quyết định việc liêndoanh

- Tổ chức triển khai các hợp đồng kinh tế đã ký kết và phối hợp với các đơn vịchức năng của công ty thanh toán kịp thời các hợp đồng

- Do biến động về qui mô tổ chức công ty và việc mở rộng địa bàn kinh doanhtrung tâm còn phải thực hiện một số chức năng khác như lo các kế hoạch về hạn nghạch

bổ sung ngành hàng và những thủ tục nghiệp vụ hành chính phục vụ mục đích sản xuấtkinh doanh của công ty và các đơn vị khác thuộc công ty

Bộ phận kinh doanh của trung tâm có nhiệm vụ tổ chức hoạt động kinh doanhXNK, chịu trách nhiệm trước công ty về sử dụng và bảo toàn vốn Khi xác định đượcmột thương vụ thì bộ phận kinh doanh phải xây dựng phương án kinh doanh trình lêngiám đốc trung tâm duyệt sau đó trình lên giám đốc công ty quyết định

Trang 33

Bộ phận chức năng phải trực tiếp giao dịch với ngân hàng để mở L/C, chuyển tiềntrực tiếp theo bộ chứng từ được phòng kế toán chuẩn bị Phòng chức năng XNK phải tựtìm đối tác, thực hiện giao dịch, ký hợp đồng nếu được giám đốc công ty uỷ quyền.

Tóm lại: Cơ cấu chức năng của trung tâm thương mại nói riêng và của công ty nóichung thể hiện một điều là trung tâm và công ty vì mục tiêu kinh doanh lên trên hết Các

bộ phận trong công ty tồn tại là để phục vụ kinh doanh một cách tốt nhất Mặt khác nócũng thể hiện một hệ thống thông tin hai chiều giữa giám đốc và các bộ phận để tạo rahiệu quả kinh doanh cao

b Đặc điểm kinh doanh xuất nhập khẩu của Trung tâm Thương Mại thuộc công tyDETESCO Viện nam

Công ty Detesco là một công ty mới được thành lạpp có lịch sử phát triển chưalâu nhưng đã trải qua giai đoạn đầy khó khăn vói những thay đổi của nền kinh tế chínhtrị của cả nước Mặc dù vậy nhưng công ty vẫn đang ngày một phát triển trong đó chiếmchủ yếu là hoạt động kinh doanh XNK thuộc trung tâm thương mại Đây là hoạt độngnổi bật của công ty Công ty có quan hệ rộng rãi với các Doanh nghiệp trong và ngoàinước, các cơ quan chức năng cũng như cảng, hải quan, các hãng giao nhận, ngân hàng Công ty có một cơ cấu tổ chức gọn nhẹ làm việc có hiệu quả với qui mô lớn, điều kiệnkinh doanh khó khăn nhưng công ty đã thực hiện được một kim ngạch lớn, mang lạimức lợi nhuận cao trong kinh doanh của công ty

Điều kiện thuận lợi trong kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty:

Trong hoạt động công ty thường xuyên được sự chỉ đạo và tạo điều kiện thuận lợi

từ trung ương Đoàn

Công ty có ban lãnh đạo có năng lực, sáng suốt, có đội ngũ nhân viên có khả năng

và có sự sáng tạo, cố gắng trong công việc

Công ty có hệ thống khách hàng quen thuộc

Nội bộ có sự đoàn kết nhất trí cao giữa Đảng, chính quyền và các đoàn thể trongcông ty só sự phối hợp hành động

Bên cạnh những thuận lợi đó công ty cũng gặp phải không ít khó khăn đó là:

Là một công ty mới được thành lập với thời gian chưa lâu do đó cơ sở vật chất kỹthuật còn yếu kém không đáp ứng yêu cầu kinh doanh

Trang 34

Lượng vốn kinh doanh của công ty còn ít, khách hàng không đáp ứng nổi hoạtđộng kinh doanh, công ty phải vay vốn ngân hàng dẫn đến chi phí kinh doanh cao.

Hoạt động trong cơ chế thị trường, công ty phải chịu sự cạnh tranh mãnh liệt từnhiều phía, đặc biệt là các đợ vị kinh doanh XNK trong nước

Sự thay đổi chính sách quản lý của Nhà nước thường xuyên ảnh hưởng tới quátrình thực hiện và kết quả kinh doanh XNK

Đội ngũ nhân viên tuy đã có kinh nghiệm kinh doanh trong thị trường nhưng vẫncòn hạn chế về trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ

Trên đây là những đặc điểm chung về công ty trong hoạt động kinh doanh XNKhàng hoá, chúng ta sẽ đi sâu vào phân tích các đặc điểm của hoạt động kinh doanh XNKcủa công ty do Trung tâm Thương mại thực hiện

Các hoạt động kinh doanh của trung tâm thương mại bao gồm XNK trực tiếp, ủythác, nhập khẩu trực tiếp, nhập khẩu ủy thác, liên doanh liên kết XNH, kinh doanhthương mại trong nước

Về mặt hàng kinh doanh, trung tâm khai thác mặt hàng nhập khẩu truyền thốngnhư thép, kính các loại, điện lạnh, xe máy Ngoài ra còn mở rộng các mặt hàng như:bánh kẹo, nước trái cây, tã giấy, Công ty cũng phát triển xuất khẩu một số mặt hàngnông sản như: cà phê, hạt điều, hạt tiêu, cao su, gốm,

Công ty thực hiện kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp với các mặt hàng đa dạng

về chủng loại do đó khách hàng của công ty rất phong phú Hiện nay công ty đã có một

hệ thống khách hàng thường xuyên, có quan hệ tin tưởng lẫn nhau Hiện nay công ty tiếptục khai thác hệ thống khách hàng này, phục vụ nhu cầu của họ trên cơ sở hợp tác kinhdoanh hai bên cùng có lợi Công ty tiếp tục phát triển quan hệ với các công ty khác cónhu cầu Ngoài ra công ty còn đặt mối quan hệ với các Doanh nghiệp thương mại khác

để phát triển kinh doanh Về khách hàng nước ngoài công ty có mối quan hệ với cácnước như: Nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng của Thái Lan, Italia, Anh, Đài Loan, HồngKông, Đức, Pháp, Nga, Trung Quốc, Malayxia xuuất khẩu sang các thị trường là: thịtrường EU, thị trường Châu Á, thị trường Đông Âu

Hiện nay công ty đã có hệ thống khách hàng trong và ngoài nước ổn định có quan

hệ thường xuyên đây là cơ sở quan trọng cho công ty phát triển thị trường xuất nhậpkhẩu và nguồn hàng xuất nhập khẩu trong tương lai

Trang 35

II HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU CỦA CÔNG TY

1 Quá trình kinh doanh xuất nhập khẩu:

Có thể nói quá trình kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty DETESCO Việt Namngày càng trở nên sôi động bởi đây là hoạt động kinh doanh chủ lực của công ty Trongmấy năm đầu mới thành lập do vốn còn hạn chế hơn nữa là công ty trẻ mới thành lập(1996) nên chưa có kinh nghiệm do đó hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của công

ty chưa có chỗ đứng trên thương trường Nhưng vài năm trở lại đây, hoạt động kinhdoanh xuất nhập khẩu của công ty đã có những bước phát triển đáng kể đã đứng vững,tồn tại và phát triển Cụ thể nó được thể hiện qua bảng kết quả hoạt động kinh doanhxuất nhập khẩu của công ty

2 Kết quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty DETESCO Việt Nam

a Phân tích cơ cấu xuất nhập khẩu:

Để phân tích sự thay đổi cơ cấu xuất nhập khẩu, ta phân tích bảng sau đây:

Biểu 3: Bảng kim nghạch xuất nhập khẩu của công ty từ năm 1998 - 2001

Kimngạch

Tỷtrọng

Kimngạch

Tỷtrọng

Kimngạch

Tỷtrọng

87,32

X.khẩu 965406 15,73 1195472 17 1327425 17,57 1012573

KH1700000

100%

Trang 36

Trước hết về kim nghạch xuất khẩu của công ty trong giai đoạn từ năm 1998 đếnnăm 2000 đã tăng lên hơn 1,37 lần Con số này nói lên tuy rằng mức độ tăng lên khôngcao nhưng nó cũng đã chứng tỏ cho ta thấy rằng kim ngạch xuất khẩu của công ty cótăng lên nhưng với tốc độ chậm.

Năm 1998 các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của công ty là cà phê, hạt điều, cao

su, gốm với thị trường xuất khẩu chính là Nhật, Nga (SNG), Trung Quốc, Úc, Ấn Độ.Kim ngạch đạt 965406 USD Năm 1999 đạt 1195472 USD tăng so với năm 1998 là

230066 USD tức tăng 23,83% Sang năm 2000 kim ngạch xuất khẩu đạt 1327425 USDtăng so với năm 1006 là 131953 hay tăng 11,04% So sánh trong 3 năm 95 - 96 - 97 thì

ta thấy năm 1999 là năm công ty đạt tốc đọ tăng trưởng cao nhất trong xuất khẩu và đâycũng là lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu của công ty vượt qua mức 1 triệu USD Năm

2001 công ty đặt ra kế hoạch mức kim ngạch xuất khẩu là 1700000USD Trong 8 thángqua công ty đã đạt được mức kim ngạch xuất khẩu là 1012573 USD đạt 59,6% soo với

kế hoạch cả năm Nói chung ta thấy đầu năm công ty dự kiến đặt ra kế hoạch cao khó cóthể đạt được vì vừa qua do khủng hoảng kinh tế của các nước châu Á Trong mấy thángcòn lại công ty cần phải cố gắng hết sức

Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu bình quân trong 3 năm ( 95-96-97 ) là 17,43%.Hai con số cho thấy tỷ trọng của xuất khẩu tăng dần lên trong tổng kim ngạch xuất khẩu,nhập khẩu trong tổng kim ngạch thể hiện là:

Năm 1998 nhập khẩu chiếm 84,27%, xuất khẩu chiếm 15,73%

Năm 1999 nhập khẩu chiếm 83%, xuất khẩu chiếm 17%

Năm 2000 nhập khẩu chiếm 82,43%, xuất khẩu chiếm 15,57%

8 tháng năm 2001 nhập khẩu chiếm 87,32%, xuất khẩu chiếm 12,68%

Ta thấy từ năm 1998 đến năm 2000 ta thấy tỷ trọng xuất khẩu tăng đều, tăngchậm Còn tỷ trọng nhập khẩu giảm chậm Nhưng tám tháng năm 2001 ta thấy xuất khẩulại có chiều hướng giảm, còn tỷ trọng nhập khẩu lại tăng lên cụ thể 8 tháng năm 2001 tỷtrọng nhập khẩu chiếm 87,32% tăng hơn so với năm 2000 4,89% Tỷ trọng nhập khẩutăng lên như vậy là do từ đầu năm 2001 tới nay công ty chủ yếu là nhập khẩu do đó tỷtrọng nhập khẩu tăng còn tỷ trọng xuất khẩu giảm

Nói chung giá trị kim ngạch xuất khẩu của công ty DETESCO Việt Nam là rấtnhỏ bé so với thị trường thượng mại quốc tế nước ta và so với kim ngạch nhập khẩu

Trang 37

Chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu rất lớn và ngày càngdoãng ra bởi tỷ trọng lớn của nhập khẩu.

Năm 1998 chênh lệch này là 4208719,2 USD

Năm 1999 chênh lệch này là 4638547,3 USD

Năm 2000 chênh lệch này là 4903679,48 USD

8 tháng năm 2001 chênh lệch này là 5961595,53 USD

Hiện tượng thân hụt thương mại của công ty phát triển kinh tế kỹ thuật Việt Nam

là điều bình thường bởi các lý do:

Thứ nhất đâylà tình hình chung của một nước đang phát triển như Việt Nam, nhucầu nhập khẩu vật tư thiết bị để công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước và hàng tiêudùng phục vụ cho nhu cầu của nhân dân là rất lớn, điều đó dẫn đến thâm hụt thương mại

Cơ cấu XNK với tỷ trọng NK chiếm ưu thế còn cho thấy hoạt động nhập khẩu có

Trang 38

thương mại thuộc Công ty phát triển kinh tế kỹ thuật Việt Nam Vai trò này thể hiện quamột số khía cạnh sau đây:

- Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh chính trong việc kinh doanh XNK củaTrung tâm thương mại thuộc công ty Nó tạo ra mức kim ngạch lớn đảm bảo cho sự tồntại của trung tâm thương mại thuộc công ty, tạo ra uy tín của công ty trên thương trường

- Nhập khẩu mang lại mức lợi nhuận cao đảm bảo cho sự tăng trưởng, phát triểnliên tục của trung tâm thương mại thuộc công ty Đây là nguồn đảm bảo thu nhập chongười lao động, nâng cao mức sống cho cán bộ công nhân viên

- Nhập khẩu là tiền đề, nền tảng cho hoạt động kinh doanh XNK của công tytrong việc kinh doanh XNK thì nhập khẩu tạo ra nhiều lợi nhuận để đóng góp cho ngânsách Nhà nước và tạo ra lợi nhuận để đóng góp vào quĩ học bôngr của học sinh, sinhviên nghèo vượt khó

- Nhập khẩu và việc mở rộng thị trường tăng cường các mối quan hệ của công ty

là các vấn đề có mối quan hệ hữu cơ làm tiền đề thúc đẩy lẫn nhau

- Nhập khẩu là môi trường tốt cho cán bộ làm công tác kinh doanh XNK tự đàotạo và tích luỹ kinh nghiệm

b Kết quả kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu của công ty

Từ khi thành lập cho đến nay cán bộ làm công tác XK tại công ty đã nghiên cứuthị trường trong nưóc để nhập một số mặt hàng Những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu củacông ty là sắt thép, văn phòng phẩm, xe máy, kính xây dựng, tã giấy

Ta thấy các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của công ty có cả vật tư lẫn hàng tiêudùng, tuy nhiên các mặt hàng đã đóng góp vào kim nhach nhập khẩu chung khác nhau

Có mặt hàng kim ngạch lớn, nhỏ, có mặt hàng tương đối ổn định về kim ngạch, tốc độtăng trưởng nhưng cũng có những mặt hàng biến đổi không đều Sau đây ta phân tíchkim ngạch và sự biến đổi một số mặt hàng quan trọng của công ty

Sắt thép: Đây là mặt hàng nhập có tính truyền thống của công ty trong 3 năm 96-97 thì kim ngạch mặt hàng này giảm chậm Năm 1998 kim ngạch đạt 1712374 USD,năm 1999 kim ngạch đạt 1672320 USD, năm 2000 kim ngạch đạt 1527567 USD Mặc

95-dù trong 3 năm kim ngạch mặt hàng này giảm, tỷ trọng cũng giảm nhưng nói chung làgiảm ít Nhưng mặt hàng này vẫn là mặt hàng chính của công ty, nó là mặt hàng chiếm

tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu hơn nữa nó có nguồn hàng ổn định từ nước

Trang 39

ngoài, với thị trường trong nước và các xí nghiệp, công ty thương mại có quan hệ tốt vớicông ty Tám tháng năm 2001 công ty đạt 1472722 USD chiếm tỷ trọng 21,1%, dự đoánđến hết năm 2001 kim ngạch mặt hàng này sẽ cao hơn năm 2000.

Văn phòng phẩm ( Máy vi tính )

Đây là mặt hàng mới của công ty Công ty mới nhập mặt hàng này từ năm 1999.Cho đến nay, mặc dù mặt hàng này mới được nhập nhưng mức kim ngạch tăng lên rấtnhanh và chiếm tỷ trọng rất cao

Cụ thể năm 1999 kim ngạch nhập khẩu chỉ đạt 213772 USD chiếm tỷ trọng3,66% so với tổng kim ngạch nhập khẩu của công ty Sang đến năm 2000 kim ngạch đãtăng lên mức chóng mặt vượt qua mức 1 triệu USD cụ thể mức kim ngạch đạt 2182486USD tăng lên gầp hơn mười lần so với năm 1999 Lúc này nó chiếm tỷ trọng 35%, đây

là mặt hàng đạt mức kim ngạch cao nhất trong tổng mức kim ngạch nhập khẩu của công

ty Và chỉ trong 8 tháng năm 2001 mặt hàng này đã đạt mức kim ngạch 2880390 USDtăng so với cả năm 2000 là 697922 USD và nó chiếm tỷ trọng 41,3% so với tổng kimngạch Đây là mức tỷ trọng cao, dự kiến đến hết năm 2001 mức kim ngạch còn cao nữa

Mặt hàng này đạt được mức kim ngạch cao như vậylà do năm 1999 công ty đãnắm bắt được nhu cầu của thị trường và cho đến nay đây vẫn là mặt hàng được tiêu thụmạnh ở trên thị trường trong nước bởi mặt hàng này tiện lợi trong công việc Ngày naymáy vi tính không chỉ có trong các cơ quan xí nghiệp mà nó còn là vận dụng trong giađình

Hiện nay ta thấy đây là mặt hàng nhập khẩu chủ lực của công ty nó đạt mức kimngạch cao nhất trong tất cả các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của công ty Và có thể nóiđây là mặt hàng trong tương lai vẫn còn phát triển do đó công ty cần cố gắng duy trì mặthàng này bởi mặt hàng này đem lại lợi nhuận cao cho công ty và mặt hàng này thịtrường nước ngoài cũng ổn định Còn trong nước chưa sản xuất và lắp ráp được

Xe máy

Đây cũng là mặt hàng có tính truyền thống của công ty Kim ngạch mặt hàng nàythay đổi thường xuyên Cụ thể năm 1998 kim ngạch đạt 1457623 USD chiếm 28,2%trong tổng kim ngạch nhập khẩu Sang năm 1999 kim ngạch mặt hàng này đạt 1624967USD tăng so với năm 1998 là 167344 USD Sang năm 2000 kim ngạch đạt 1219300

Ngày đăng: 20/10/2017, 04:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w