Th c tr ng ho t ng t n d ng c a ng n h ng ngo i th ng chi nh nh Ba nh i v i khu v c kinh t t nh n tài liệu, giáo án, bài...
Trang 1http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ án,báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cả mọingười Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp của quýkhách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý khách gửi về
luanvanpro.com@gmail.com
Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/
Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng ngoại thương chi nhánh Ba Đình đối với khu vực kinh tế tư nhân
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong hầu hết sự phát triển về kinh tế của các quốc gia trên thế giới hiện nay và trongtương lai đều có sự tham gia của các khu vực kinh tế thuộc Nhà nước, Tư nhân, và nướcngoài và mỗi khu vực này này đều có những đóng góp nhất định đối với mỗi nền kinh tế cụthể, tuy nhiên theo kinh nghiệm của các quốc gia phát triển trên thế giới thì khu vực kinh tế
tư nhân là khu vực có đóng góp quan trong trong thúc đẩy qua trình phát triển của họ, màkhu vực kinh tế tư nhân thường là những doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngay cả Mỹ một nước
có nền kinh tế hàng đầu thế giới, có các công ty xuyên quốc gia khổng lồ, thì việc đóng gópcho nền kinh tế chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ của khu vực tư nhân Đối với việtnam thì khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp to lớn những cho kinh tế nước nhà.Nhưng khu vực kinh tế này vẫn có những khó khăn trong đó khó khăn về vốn là vấn đề nangiải hiện nay Hiện nay tôi đang thực tập tại VIETCOMBANK _Ba Đình, nên tôi chọn đềtài: "Mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế tư nhân của ngân hàng ngoạithương nội chi nhánh _ Ba Đình", với dung gồm:
Chương I : Tổng quan về tín dụng và khu vực kinh tế tư nhân
Chương II : Thực trạng hoạt động tín dụng của NHNT- CN Ba Đình đối với khu vực
kinh tế tư nhân
Chương III : Một số ý kiến để mở rộng hoạt động tín dụng đối với khu vực kinh tế tư nhân
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG
VÀ KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN
I.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm về tín dụng
Tín dụng là danh từ để chỉ một số hành vi như bán chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấuthương phiếu, kí thác, phát hành giấy bạ
Trang 3Ngày nay khi nói tới tín dụng người ta nghĩ ngay tới ngân hàng, tín dụng là quan hệ vaymượn, gồm cả đi vay và cho vay.Tuy nhiên khi nói tới ngân hàng người ta chỉ nghĩ là ngânhàng cho vay.
Theo luật các tổ choc tín dụng của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam điều 49thì : tín dụng được thể hiện dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính và cáchình thức khác theo quy định của ngân hàng nhà nước
1.1.2.Tính chất pháp lý của các nghiệp vụ tín dụng
xét về tính chất phát lý thì tín dụng được chia làm 3 loại như: cho vay tiền, cho vay, chovay dựa trên việc chuyển nhượng trái quyền và tín dụng qua chữa kí
Là nghiệp vụ tín dụng trong đó người cho vay cam kết hoàn trả một khoản tiền và người
đi vay cam kết trả một khoản tiền lớn hơn khoản ban đầu Khoản chênh lệch này gọi là lãi.lãi phụ thuộc vào thời gian và số lượng khoản vay
Cho vay dựa trên phương án sản xuất kinh doanh của người đi vay và khoản vay cònđược bảo dảm bằng tài sản của người đi vay Đây là loại hình tín dụng gặp rủi ro cao Dokhách hàng có thể sử dụng tiền đúng mục đích như khế ước vay Ngân hàng có thể chuyểnmột lần hay nhiều lần
Loại cho vay này dựa trên ba nguyên tắc cơ bản sau:
+ Tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả gốc lẫn lãi: đây là nguyên tắc quan trọng nhất
vì vốn của ngân hàng phần lớn là vốn huy động Ngân hàng phải tri trả khi khách hàng đếnrút tiền Nếu khoản tín dụng không được hoàn trả đúng hạn điều này có thể làm cho ngânhàng rơi vào tình trạng rủi ro thanh khoản
để tránh điều nay ngân hàng phải quy định kỳ hạn nợ, khi đến hạn thì khác hàng phải trảnếu không thì ngân hàng có thể tự động trích số dư tài khoản tiền gửi của người đi vay hayphát mại tài sản đảm bảo
+ Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích: vì khi cho khách hàng vay thì ngân hàngcòn phải thẩm định phương án sản xuất từ đó mới có phương án giải ngân Nếu trong quátrình nếu phát hiện có vấn đề trong việc sử dụng tiền thì ngân hàng có quyền thu hồi nợtrước thời hạn trong hợp đồng tín dụng, nếu thu không đủ khoản tiền đã cấp thì khoản tiềncòn lại chưa thu được sẽ được chuyển thành nợ quá hạn nguyên tắc này rất quan trọng, khingân hàng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế phải hướng đến mục tiêu và yêu cầu của nềnkinh tế trong những giai đoạn cụ thể Còn khi cung ứng cho các đơn vị sản xuất kinh doanh
Trang 4thì phải đáp ứng các mụch đích trong sản xuất kinh doanh để thúc đẩy các đơn vị hoàn thànhcác mục tiêu của mình.
+ Vốn vay phải có tài sản đảm bảo: trong nền kinh tế thị trường các hoạt động nói chung
và các hoạt động kinh tế nói riêng diễn ra vô cùng đa dạng và phức tạp, không có nhà quảntrị ngân hàng nào có thể đự đoán chính xác những diễn biến có thễ xảy ra trên thị trường, do
đó rủi ro là không thể tránh khỏi, để giảm thiểu rủi ro thì các ngân hàng càng tao ra đượcnhiều khoản thu càng tốt cho các khoản cho vay của mình và đảm bảo chình là nguồn thuthứ hai sau nguồn thu thứ nhất như: vốn lưu động, khấu hao, lợi nhuận, thu nhập …
Đảm bảo tín dụng như là một phương tiện cho người chủ ngân hàng có thêm một nguồnthu khác để thu hồi nợ nếu mục đích cho vay bị phá sản, tài sản đảm bảo có thể tồn tại dướihình thức sau:
- Tài sản đảm bảo hình thành từ vốn vay của ngân hàng
- Tài sản đảm bảo là tài sản của người đi vay
- Tài sản đảm bảo là tín chấp hay bảo lãnh của người thứ ba
Các loại đảm bảo tín dụng:
*Đảm bảo đối vật:
- Thế chấp tài sản: là việc bên vay vốn dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu củamình của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bên cho vay, bên đi vay vẫnđược quyền sử dụng tài sản thế chấp và chỉ phải giao giấy chủ quyển tài sản đó cho bên chovay
- Cầm cố tài sản: là việc bên đi vay có nghĩa vụ phải giao tài sản là động sản thuộcquyền sở hữu của mình cho bên cho vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình
* Đảm bảo đối nhân:
-Là sự cam kết của một người hay nhiều người về việc phải trả nợ cho ngân hàng nếumột khách hàng vay không trả được nợ cho ngân hàng, trong trường hợp này thì nhữngngười bảo lảnh phải có được uy tín hay phải có khả năng về tài chính đủ mạnh đảm bảođược sự tin tưởng của ngân hàng
1.1.2.2 Cho vay dựa trên chuyển nhượng trái quyền
Cho vay dựa trên chuyển nhượng trái quyền là hình thức cho vay dựa trên cơ sở muabán các cộng cụ tài chính như mua bán các hối phiếu lệnh phiếu … từ đó tạo ra nghiệp vụ
Trang 5chiết khấu thương phiếu của ngân hàng, tức là mua nợ dựa trên khoảng thời gian còn lại củacho đến lúc đáo hạn của thương phiếu.
Về mặt pháp lý ngân hàng không cho vay mà là mua một trái quyền, ngân hàng bỏtiền ra ứng trước giá trị của một thương phiếu chưa đến hạn thanh toán đổi lại ngân hàngđược nắm quyền sở hữu và có quyền truy đòi khi đến hạn thanh toán, thủ tục chiết khấu cũngkhác thủ tục vay va không có hợp đồng tín dụng
+ Chiết khấu thương phiếu: Là một nghiệp vụ tín dụng, vì nó, vì nó đem lại ngay chokhách hàng một số tiền bình thường mà chỉ được chi trả khi nó đến hạn thanh toán trongthương phiếu
Nhưng về mặt pháp lỳ thì không phải là một khoản cho vay, vì ngân hàng không chokhách hàng vay số tiền mà khách hàng sẽ phải trả cho ngân hàng, mà ở đây ngân hàng ứngtrước giá trị của một thương phiếu chưa đến hạn đổi lại ngân hàng nắm quyền sở hữu thươngphiếu đó, vì vậy ngân hàng sẽ được đòi lại khoản ứng trước đây bằng cách truy đòi trái phiếukhi đến hạn
Như vậy chiết khấu là việc ngân hàng ứng trước cho giá trị một thương phiếu đổi lấyviệc chuyển giao quyền sở hữu thương phiếu
+ Mua uỷ nhiệm thu hay bao thanh toán hay còn gọi là cho vay uỷ nhiêm thu: Đây làtrường hợp ngân hàng mua đứt các chứng quyền để đi đòi nợ, bao thanh toán có thể được xácđịnh là một hợp đồng, mà trong đó các ngân hàng mua đứt các trái quyền của người bán đốivới người mua là khách hàng của ngân hàng
1.1.2.3 Tín dụng qua chữ ký
Tín dụng qua chữ ký có thể là kết quả của chữ ký của ngân hàng, trong hình thức nàyngân hàng không phải bỏ tiền ra ngay mà ngân hàng cam kết sẽ trả một khoản nợ của kháchhàng của mình khi mà khách hàng của mình không thực hiện đúng cam kết trả nợ như đãthoả thuận trước, do bảo lãnh bằng uy tín của mình nên bảo lãnh của ngân hàng còn gọi làbảo lãnh qua chữa ký
Về tính pháp lý thì loại tín dụng này dựa vào luật bảo lãnh cũng như các cam kết bảolãnh và tái bảo lãnh,
Bảo lãnh là đưa ra những cam kết dưới hình thức cấp chứng thư và hạch toán theo tài khoảnngoại bảng, các ngân hàng chỉ đưa vào tài khoản nội bẳng khi mà ngân hàng thực hiện chi trảcho khách hàng của mình ,bảo lãnh gồm:
Trang 6+ Bảo lãnh ngân hàng : đây là hình thức rất quan trọng trong thực tế, nó giúp cho ngườimua hàng không phải kí quỹ và được trả chậm tiền hàng, và người bán tin tưởng giao hàngcho người mua.
+ Tín dụng chấp nhận : trong loại hình này ngân hàng chấp nhận một hối phiếu đòi tiềnchính mình, và khách hàng của ngân hàng phải nộp số tiền cần thiết ngay trước khi hối phiếuđến hạn, lúc này chủ nợ có được sự đảm bảo thu được khoản nợ của mình do ngân hàngđứng ra chấp nhận chi trả
1.1.3 Phân loại tín dụng trong các ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Phân loại tín dụng chung
+ Tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn: sự khác nhau giữa tín dụng ngắn hạn và tín dụngtrung và dài hạn chính là thời gian giao vốn cho khách hàng sử dụng, tuỳ theo luật của từngquốc gia và trong từng thời kỳ mà thời gian ngắn hạn, trung và dài hạn được quy định khácnhau, ở Việt Nam hiện nay ngắn hạn là nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng, còn trung và dài hạn làlớn hơn 12 tháng
+ Tín dụng cấp ra kèm theo hoặc không kèm theo cam kết của ngân hàng
- Tín dụng không kèm theo cam kết của ngân hàng: trong hình thức cấp này thường ápdụng cho ngắn hạn và ngăn hàng có thể chấm dứt hợp đồng cho vay bất cứ lúc nào
- Tín dụng phát sinh từ cam kết của ngân hàng: là hình thức mà ngân hàng cam kếtmột khoản tín dụng cụ thể hay một hạn mức tín dụng mà ngân hàng không thể tự do chấmdứt cam kết của mình khi phía khách hàng không có những những vi phạm như đã thoảthuận
+ Tín dụng có thể huy động và không thể huy động
- Tín dụng có thể huy động là những khoản tín dụng mà ngân hàng có thể chuyểnnhượng để thu hồi tiền trước kì hạn đã định
- Tín dụng không thể huy động: là tín dụng mà khi ngân hàng cấp ra là không thểchuyển nhượng để thu hồi vốn trước thời hạn định
1.1.3.2.Tín dụng ngân quỹ
Tín dụng ngân quỹ là để thoả mãn nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp
+ Tín dụng huy động trái quyền: đây là việc huy động các trái quyền đối với khách hàngtrong nước và nước ngoài, khi đó khoản tín dụng này nhằm sử dụng ngay giá trị của các tráiquyền sau khi trừ đi khoản tiền chiết khấu mà lẽ ra đến hạn mới được nhận
Trang 7+ Tín dụng ngân quỹ: nhằm đảm bảo sự cân đối ngân quỹ của doanh nghiệp ngân quỹcủa doanh nghiệp, doanh nghiệp thường xuyên có nhu cầu này vì có sự chênh lệch về thờigian các khoản chi phí và thu nhập của doanh nghiệp.
- Tạm ứng hay vượt chi tài khoản: hình thức này giúp cho doanh nghiệp đối phó vớithiếu vốn lưu động rất ngắn, trong hạn mức và thời gian quy định thì nó đảm bảo cho tàikhoản của doanh nghiệp dư nợ hay vượt chi, hình thức này không có sự đảm bảo nội tại nào
mà chỉ căn cứ vào tình hình tài chính, mức độ và điều kiện hoạt động của tài sản
- Tín dụng ngân quỹ thuần tuý : khi khoản tín dụng có tính chất dài hơn thì ngân hàng
có thể cho vay theo hình thức có thể là vượt chi tài khoản với thời gian dài hơn và kèm theonhững điều kiện đảm bảo cho khoản vay đó hoặc có thể chiết khấu chứng từ có kỳ hạn cốđịnh, các chứng từ này có thể gọi là các chứng từ tài chính Về thời hạn thì có thể là tín dụngtuần hoàn để đáp ứng nhu cầu thường xuyên, hay thời vụ để đáp ứng nhu cầu có tính chấtthời vụ của doanh nghiệp
1.1.1.3 Tín dụng thuê mua
Hoạt động thuê mua bắt nguồn từ việc các doanh nghiệp sản xuất hoặc cung cấp cácthiết bị, nhà cửa lớn, thời gian sử dụng lâu dài, mặt khác do người mua không đủ tiền hay họchỉ cần sử dụng trong thời gian chưa hết thời gian khấu hao của thiết bị, do đó dã nảy sinhnhu cầu thu, để mở rộng tín dụng của mình các ngân hàng thương mại đã mua hoặc thuê cáctài sản theo yêu cầu của khách hàng rồi cho họ thuê lại
Quá trình của nghiệp vụ cho thuê
(1) khách hàng làm đơn gửi ngân hàng nêu yêu cầu về tài sản cần thuê sau khi phân tích dự
án và tình hình tài chính của khách hàng, ngân hàng kí hợp đồng với khách hàng
(2) Ngân hàng tìm kiếm nhà cung cấp để ký hợp đồng hay người thuê chỉ định nhà cung cấp.(3) Khác hàng có thể gặp nhà cung cấp để nêu yêu cầu về quy các, chất lượng tài sản thuê,nhận tài sản, nhà cung cấp có thể phải cam kết bảo hành cho người thuê
(4) Ngân hàng kiểm soát tình hình sử dụng tài sản thuê, thu tiền thuê hoặc thu hồi tài sản nếuthấy người thuê vi phạm
+ Ngân hàng có thể mua tài sản để cho thuê hay mua tài sản của người đi thuê sau đócho chính họ thuê lại hoặc thuê tài sản để cho thuê, trường hợp này được áp dụng khi mà thời
(3)
(4) (1)
Ngân hàng (người cho thuê) (2)
Trang 8gian trong hợp đồng thuê nhỏ hơn thời gian khấu hao của tài sản, hay Ngân hàng có thể muatrả góp để cho thuê trong trường hợp Ngân hàng thiếu vốn.
+ Đặc điểm của nghiệp vụ này là: Ngân hàng cho thuê thường là tài sản cố định do đó
nó là tín dụng trung và dài hạn, thời hạn thuê có 2 phần đó là thời hạn cơ bản là thời hạn màngười đi thuê không được huỷ ngan hợp đồng do đó tiền mà ngân hàng thu được phải đủ cảgốc và lãi và thời hạn gia hạn thêm là người đi thuê có thể trả lại, mua lại, thuê tiếp…, trongnghiệp vụ thuê mua thì Ngân hang không cam kết bảo dưỡng tài sản, không chịu tráchnhiệm đối với những thiệt hại với tài sản
1.1.3.4.Tín dụng tài trợ cho ngoại thương
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay, hoạt động tài trợ ngoại thương
có vai trò rất quan trọng, nó thúc đẩy thương mại quốc tế, làm giảm rủi ro cho những nhàxuất – nhập khẩu vì những khó khăn như:địa lý, tôn giáo, chính trị …các hoạt động ngoạithương gồm:
+ Tài trợ xuất khẩu gồm có các hình thức:
- Tài trợ trong trường nhờ thu kèm chứng từ: là nhà xuất khẩu chuyển các chứng từ choNgân hàng nhờ thu, ngân hàng sẽ chuyển các chứng từ này tới Ngân hàng cần giao dịch, khiđược chấp nhận thanh toán thì nhà xuất khẩu mới giao hàng
- Nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu: là chiết khấu các hối phiếu kỳ hạn không thể huỷngang khi nó chưa đến hạn và hối phiếu này được bên xuất nhập khẩu không huỷ ngang -Tài trợ trong khuôn khổ chứng từ: là hình thức tín dụng Ngân hàng dựa trên khuônkhổ chiết khấu bộ chứng từ khi chưa đến hạn thanh toán, tỷ lệ thanh toán dựa phương thứcchiết khấu Thứ nhất là chiết khấu truy đòi nghĩa là Ngân hàng có quyền đòi lại nhà xuấtkhẩu nếu đến hạn mà nhà xuất khẩu không thanh toán do đó lãi suất thấp Thứ hai là chiếtkhấu miễn truy đòi nghĩa là Ngân hàng chịu hoàn toàn rủi ro nếu phía đối tác không thanhtoán khi đao hạn do đó lãi suất cao
- Tam ứng cho nhà xuất khẩu: Ngân hàng có thể tài trợ bằng cách tạm ứng một khoảntín dụng cho nhà xuất khẩu trong khuôn khổ Chủ yếu là trong ngắn hạn, nó phụ thuộc chủyếu vào khả năng thanh toán của nhà xuất khẩu và sự nhạy cảm và đảm bảo về giá cả củahàng hoá
- Bao thanh toán: về bản chất đây là chiết khấu các khoản phải thu của nhà xuất khẩu.đối với nghiệp vụ này Ngân hàng mua lại các khoản nợ, thanh toán ngay cho nhà xuất khẩu,
Trang 9cung cấp các dịch vụ như hạch toán sổ sách, uỷ nhiệm thu, các khoản sao kê định kỳ Đây làhình thức tài trợ trong ngắn hạn.
- Chiết khấu nợ dài hạn: đây là hình thức chiết khấu các khoản nợ dài hạn do xuấtkhẩu máy móc thiết bị có giá trị lớn mà nhà xuất khẩu bán dưới hình thức trả góp và Ngânhàng sẽ mua lại khoản nợ này
+ Tài trợ nhập khẩu:
- Tín dụng dành cho người đạt hàng và hiệp định khung tài trợ nhập khẩu, đây là hìnhthức mà Ngân hàng nước xuất khẩu ký hiệp định với Ngân hàng và Chính phủ nước khác vềviệc tài trợ cho Ngân hàng và Chính phủ những khoản tín dụng tài trợ cho việc nhập khẩuhàng hoá, thiết bị công nghệ từ nước tài trợ
- Tín dụng thuê mua vượt qua biên giới: với hình thức này Ngân hàng cấp cho doanhnghiệp một khoản tín dụng bằng cách mua hay thuê tài sản ở nước ngoài về cho thuê lại tàisản tài tại nước mình, do đó người thuê không cần nhiều vốn ngay mà vẫn được sử dụngnhững tài sản mình cần cho qua trình sản xuất
- Cho vay mở L/C: đây là nghiệp vụ mà các nhà nhập khẩu yêu cầu Ngân hàng mởthư tín dụng sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu theo yêu cầu
Của nhà nhập khẩu khi họ đã trình đủ các chứng từ quy định, như vậy khoản tín dụng nàyđược bảo đảm bằng bộ chứng từ hàng hoá, tuy nhiên ngân hàng có thể yêu cầu nhà nhậpkhẩu phải ký quỹ hay không
- Tạm ứng cho nhà nhập khẩu: Ngân hàng có thể tạm ứng cho nhà nhập khẩu khi họthiếu vốn để thanh toán Tuy nhiên chỉ trong thời gian ngắn và được bảo đảm bằng bộ chứng
từ hàng hoá
- Chấp nhận của Ngân hàng: với các hối phiếu có kì hạn sẽ được Ngân hàng phía ngườinhập khẩu đóng dấu và chấp nhận thanh toán, khi người xuất khẩu có nhu cầu về tiền, Ngânhàng nhập khẩu sẽ thanh toán ngay có triết khấu cho bên bán và giữa lại hối phiếu, hối phiếu
có thể được bán hay chiết khấu tại Ngân hàng nhập khẩu khi đến hạn
- Tín dụng chấp nhận hối phiếu dành cho nhà nhập khẩu: theo hình thức này nhà nhậpkhẩu ký hợp đồng với ngân hàng phục vụ mình trên cơ sở hối phiếu tự nhận nợ, hối phiếunày do Ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu phát hành và chuyển đến cho nhà nhập khẩu, vànhà nhập khẩu dùng hối phiếu này để chiết khấu nhận tiền tại Ngân hàng phục vụ mình
Trang 101.2 KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN:
Theo kinh nghiệm của các nước phát triển như Mỹ, Nhật thì khu vực kinh tế tư nhân
có đóng góp vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội cho những quốc gia này,chẳng hạn như Mỹ là một nước mà nỗi tiếng có nhiều công ty đa quốc gia nổi tiếng toàn cầu,nhưng đó chỉ là bề nỗi của nền kinh tế mỹ, còn khu vực kinh tế tư nhân mới là đóng góp lớncho nền kinh tế Mỹ, quay trở về Việt Nam thì khu vực kinh tế tư nhân đã hình thành và pháttriển khá sớm nhưng do nhiều hoàn cảnh của đất nước mà khu vực kinh tế này có những lúc
đã bị lãng quên trong một thời gian dài, nhưng do cũng như những nứơc khác trên thế giới,khu vực này ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong nên kinh tế nước nhà, vàtrong những năm gần đây đã được Đảng và Nhà nước quan tâm tạo nhiều điều kiện cho khuvực kinh tế này phát triển
1.2.1 Chủ trương của Đảng về kinh tế tư nhân
Khu vực kinh tế tư nhân đã xuất hiện từ trước cách mạng tháng 8, nhưng khu vựckinh tế này chỉ phát triển mạnh mẽ từ sau cách mạng tháng 8 và đã có những đóng góp rấtlớn cho miền bắc từ năm1955 – 1957 với chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phầntrong đó co kinh tế cá thể và tư bản tư nhân và thành phần kinh tế này đã có những đóng góprất lớn cụ thể như: năm 1955 có 51688 cơ sở công nghiệp tư nhân và tiểu thủ công nghiệp,với số lượng công nhân làm việc trong các cơ sở đó là 128622 công nhân, và đã tăng 54985
cơ sở và 161241 công nhân trong năm 1957, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 81,9% giá trịcủa toàn xã hội
Từ năm 1958 chuyển sang thời kỳ xây dung chủ nghĩa xã hội, khu vực kinh tế tư nhân bị xoá
bỏ hoàn toàn, tuy nhiên khu vực kinh tế này vẫn tồn tại dưới hình thức ngầm, khi xây dựng
xã hội chủ nghĩa thì tư bản tư nhân bị quan niệm là thành phần bóc lột do đó bị liệt vào dạng
bị cải tạo tuy nhiên về thực tế thì thì thành phần này vẫn tồn tại ngầm dù họ vẫn tham gia vàohợp tác xã, nhưng khi về nhà thì họ vẫn làm riêng tính về thu nhập của họ thì khi họ tham giavào hợp tác chỉ thu được 30 %– 40% thu nhập của họ Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ
và mô hình kinh tế hợp tác không hiệu quả thì đến đại hội VI của đảng thì khu vực nàychính thức được công nhận trở lại và nó đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho đất nước
và hiện nay khu vực nay đang được sự quan tâm đặc biệt của đảng và nhà nước Và điều nàyđược thể hiện qua đại hội đảng IX của Đảng, đại hội khẳng định:’’ Kinh tế cá thể , tiểu chủ
cả ở nông thôn và thành thị có vị tri quan trọng lâu dài Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ
Trang 11để phát triển … Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngànhnghề mà pháp luật không cấm, tạo môi trương kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý đểkinh tế tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của nhà nước … xây dựng tốt quan
hệ giữa chủ doanh nghiệp và người lao động”
1.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Trải qua nhiều thăng trầm cùng với những khó khăn của đất nước, khu vực kinh tế tưnhân có những lúc được thừa nhận rồi không rồi lại được thưa nhận, nhưng với định hướngcủa đảng được khẳng đinh trong đại hội IX của Đảng thì trong những năm ngần đây khu vựckinh tế này đã có những bước phát triển về mọi mặt, khu vực kinh tế này đã, đang và sẽ cónhững đóng góp không nhỏ vào các mặt kinh tế xã hội của Việt Nam Và ngày càng khẳngđịnh được chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế của Việt Nam, và điều này được thể hiệnqua những mặt sau:
1.2.2.1 Phát triển về số lượng
Với sự khuyến khích mạnh mẽ và tạo nhiều điều kiện thuân lợi của Nhà nước thì khuvực kinh tế tư nhân đã có nhưng đáng kể về số lượng
Về hộ kinh doanh cá thể: số hoạt động từ 1498611 hộ năm 1992 và tăng lên 2016259
hộ vào năm 1996, tốc độ tăng bình quân hàng năm là 7, 68%/ năm, mỗi năm tăng 129412 hộ,
từ năm 1996 đến 2000 số lượng hộ kinh doanh các thể hoạt động tăng châm, từ 1996 là
2016259 lên 213731 hộ năm 2000, tăng bình quân 1,47% /năm, mỗi năm tăng30364 hộ vàđến cuối năm 2003 cả nước có khoảng 2,7 triệu hộ kinh doanh, 130000 trang trại và 10 triệu
hộ nông dân sản xuất hàng hoá, sở dĩ có sự giảm về số lượng hộ cá thể là vì nhiều hộ đãchuyển lên thành lập công ty sau khi đã tích luỹ được trong một thời gian dài và những nămgần đây lại gặp nhiều điều kiện thuận lợi trong thành lập doanh nghiệp
Về doanh nghiệp: số lượng các doanh nghiệp tăng được thể hiện qua các năm như sau:năm 1991 cả nước có khoảng 414 doanh nghiệp, đến năm 1992 là 5189 doanh nghiệp và đến
1995 là 15276 doanh nghiệp, năm 1999 là 28700 doanh nghiệp, từ khi luật doanh nghiệp đivào hoạt động 1/1/2000 thì đã tao ra một bước đột phá trong tăng số lượng các doanh nghiệp,tính từ năm 2000 đến tháng 5- 2004 cả nước có khoảng 93208 doang nghiệp đang ký thànhlập mới,gấp hơn hai lần số doanh nghiếp được thành lập trong thời gian trước đó từ 1991-
1999 chỉ có 45000 doanh nghiệp được thành lập, tính đến cuối 2004 cả nước có khoảng
138208 doanh nghiệp đang ký thành lập theo luật doanh nghiệp, trung bình hàng năm tăng
Trang 123,75 lần so với trung bình của những năm trước 2000, vể cơ cấu thì tỷ trọng doanh nghiệp tưnhân trong tổng số doanh nghiệp đang ký giảm từ 64% trong giai đoạn 1991 – 1999 xuốngcòn 34% giai đoạn 2000 – 2004 Trong khi đó cùng thời gian trên thì tỷ trong của công tytrách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần tăng từ 36% đến 66%, trong 4 năm qua có khoảng
7165 công ty cổ phần thành lập gấp 10 lần so với giai đoạn 1991 -1999 tỷ trong doanhnghiệp tư nhân giảm vì số lượng vố của đa số các doanh nghiệp thuộc khu vự này là nhỏ, do
đó loại hình này thường không được tin tưởng bằng các loại hình khác hơn nữa các loại hìnhdoanh nghiệp khác có thể hợp vốn của nhiều người có vốn nhỏ lại thành vốn lớn hơn và sẽ
có nhiều vốn hơn để hoạt động
1.2.2.2 Phát triển về quy mô vốn, lao động, lĩnh vực và địa bàn
Với sự ra đời của luật doanh nghiệp đã tạo điều kiện rất nhiều trong việc đăng ký thànhlập mới doanh nghiệp, do đã giảm rất nhiều về giấy tờ cũng như thời gian Do đó số lượngdoanh nghiệp không những đã tăng lên về số lượng mà số lượng vốn đang ký kinh doanhcũng tăng lên như thời kỳ 1991 – 1999 vốn đang ký bình quân/1 doanh nghiệp là gần 0.57 tỷđồng, năm 2000 là 0.96 tỷ đồng, năm 2001 là 1.3 tỷ đồng, năm 2002 là 1.8 tỷ đồng và đếntháng 7 năm 2003 là 2.12 tỷ đồng, doanh nghiệp có vốn thấp nhất cũng là 5 triệu đồng vànhiều nhất là 200 tỷ đồng, như vậy là số lượng vốn đang ký kinh doanh không ngừng tănglên qua các năm, số lượng vốn đang ký mới và mở rộng quy mô tăng mạnh mẽ, cụ thể nhưsau: năm 2000 số vốn đăng ký mới và bổ sung là 1,3 tỷ đồng ,năm 2001 là 2,3 tỷ đồng, năm
2003 là 3,6 tỷ đồng, và đến hết tháng 5 – 2004 là khoảng 1.8 tỷ đồng
Về lao động thì số lượng lao động trong khu vực kinh tế tư nhân liên tục tăng lên từ năm
1996 chỉ giảm vào năm 1997 còn lại đều tăng , so sánh với tổng lao động toàn xã hội thì khuvực này chiếm tỷ lệ khoảng 11% qua các năm năm 2000 số lượng lao động làm việc trongkhu vực kinh tế tư nhân là 4.643.844 người tăng so với năm 1996 được 778.681 người, từnăm 1996 đến năm 2000 tố độ tăng trung bình là 24,5%/năm trong khi đó ở hộ kinh doanh cáthể chỉ tăng bình quân là 2,01%/năm, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp tăng
487459 tăng 137,57%, trong khi đó các hộ kinh doanh cá thể tăng thêm được 291.222 ngườităng 8,29% Trong khu vực kinh tế tư nhân thì lao động trong công nghiệp chiếm tỷ trọngcao nhất 2.121.228 người chiếm 45,6%, lao động trong ngành thương mại và dịch vụ là
1753824 người, chiếm tỷ trọng 37,37%, lao động trong các ngành khác là 786.792 ngườichiếm 16,94% Trong những năm gần đây tốc độ tăng vế số lượng doanh nghiệp tăng nhanh
Trang 13do đó số lượng trong các doanh nghiệp đã tăng, còn tốc độ tăng lao động trong các hộ kinhdoanh cá thể thấp hơn của các doanh nghiệp đó là do số lượng các hộ kinh doanh cá thể tăngchậm so với các doanh nghiệp.
Về lĩnh vực và địa bàn: khu vực kinh tế tư nhân phần đông là các doanh nghiệp, đã vàđang hoạt động trong hầu hết các ngành nghề mà pháp luật không cấm, không chỉ hoạt độngtrong nông nghiệp mà còn trong cả các ngành công nghiệp, dịch vụ cao cấp như công nghiệpsản xuất tư liệu sản xuất, chế biến, công nghệ thông tin, ngân hàng tài chính, bảo hiểm , tưvấn Sở dĩ khu vực này có khả năng hoạt động rộng vì một mặt là có số lương đông và tiềmlực về tài chính ngày càng được cải thiện do đã tích luỹ quay nhiều năm, một mặt là khu vựcnày có mặt ở hầu hết trên lãnh thổ cả nước do đó có thể phát hiện rất nhanh các nhu cầu ởcác địa bàn trên cả nước
1.2.3 Đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân
1.2.3.1 tạo công ăn việc làm
Sự đóng góp lớn nhất của khu vực kinh tế tư nhân cho xã hội đó là giải quyết việc làmcho người lao động, khu vực kinh tế này hàng năm thu hút lao động mới và từ các doanhnghiệp nhà nước và kinh tế tập thể chuyển sang, năm 2000 số lượng lao động làm việc trongkhu vực kinh tế tư nhân là 9,616733 triệu lao động, chiếm 79,89% tổng lao động, trong năm
2003 khu vực nhà nước có 3,858 triệu lao dộng chỉ chiếm gần 10% lực lượng lao động xãhội và với xu hướng ngày càng giảm số lao động trong khu cực kinh tế này Do đó có tới hơn90% lao động đang làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân, mặt khác hàng năm nước ta cókhoảng 1,4 -1,5 triệu người gia nhập thị trường lao động đó là một sức ép rất lớn đến thịtrường lao động của nước ta, hơn nữa để đầu tư cho một suất lao động ở khu vực tư nhân tốn
35 triệu đồng, còn ở doanh nghiệp nhà nước là 87,5 triệu đồng như vậy khu vực kinh tế tưnhân có lợi thế tương đối so với khu vực nhà nước trong việc tao việc làm Sự phát triển củakinh tế tư nhân làm tăng sự lựa chọn cho người lao động và người sử dụng lao động do đólàm tăng sự canh tranh cho thị trường lao động, vì có sự cạnh tranh nên mỗi một lao độngmuốn tham gia vào thì trường mà được nhiều người thuê và có thể thực hiện được mục đíchcủa mình qua việc làm thì họ phải năng cao trình độ, còn đối với người sử dụng lao độngmuốn chọn được những lao động như mong muốn của họ thì họ cũng phải đáp ứng đượcnhững yêu cầu của ngươì lao động đặc biệt là những người lao động có tay nghề cao Từ đâycũng đặt ra vấn đề đối với quản lý Nhà nước đối với lao động cũng như đối với các doanh
Trang 14nghiệp trong việc quản lý lao động ở doanh nghiệp mình, để năng cao năng xuất lao động vàtránh hiện tượng chảy máu chất xám đang xảy ra cả ở phương diện đất nước lẫn các doanhnghiệp, sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân tạo nên sự thay đổi cơ cấu xã hội đó là việchình thành giới chủ doanh nghiệp, những người này nếu làm ăn có hiệu quả, thuê nhiều laođộng va không vi phạm pháp luật thì sẽ được nhà nước tôn trọng Chính phủ cũng đã chọnngày 13 tháng 10 hàng năm là “Ngày doanh nhân Việt nam”, mặt khác khu vực kinh tế tưnhân phát triển cũng làm thay đổi quan hệ lao động, trước kia quan hệ lao động chỉ chủ yếu
là quan hệ giữa nhà nước và người lao động mà đại diện cho nhà nước là những nhà lãnh đạo
do Nhà nước bỏ nhiệm các vấn đề về lương bổng do nhà nước quy định, khi kinh tế tư nhânphát triển thì quan hệ lao động được xác lập là giữa người lao động và người sử dụng laođộng, xét về quanh hệ lao động thì trong khu vực kinh tế tư nhân mang tính chất thực tế hơn,
vì các quan hệ lao động đều phải tuân thủ theo luật lao động mà luật lao động lại do Nhànước quy định
1.2.3.2 Đóng góp vào GDP và thúc đẩy phát triển kinh tế
Sự phát triển ngày càng lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân từ khi thực hiện luậtdoanh nghiệp, kinh tế tư nhân đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, vốn đầu tư, quy môhoạt động, các ngành nghề, góp phần vào việc phục hồi và phát triển đất nước, tốc độ tăngtrưởng công nghiệp qua các năm từ 2000 – 2004 là 20%, như năm 2001 là 20,3%, năm 2002
là 19%, doanh nghiệp tư nhân đang chiếm một phần lớn trong các ngành công nghiệp, trongnông nghiệp đã có những đóng góp nhất định trong trồng trọt và chăn nuôi, đặc biệt là chếbiến thuỷ sản, cơ cấu nông nghiệp đang chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá góp phầnđẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tỷ trọng đónggóp trong GDP năm 2001 là 47,85%, năm 2002 là 42% và năm 2004 là 38,5% tỷ trọng có xuhướng giảm do năng suất lao động trong khu vực này giảm trong khi các khu vực khác tănglên
1.2.3.3 Về xuất khẩu
Khu vực kinh tế tư nhân đã có những đóng góp đáng kể vào xuất khẩu của việt nam,
số lượng đang ký tham gia xuất khẩu tăng mạnh năm 1995 có 156 doanh nghiệp đến 2002 la
13774 doanh nghiệp, khu vực tư nhân tham gia xuất khẩu nhiều mặt hàng như may mặc, càphê, cao su, hạt điều, hạt tiêu … tuy nhiên hoạt động xuất khẩu của khu vực tư nhân phân bốkhông đồng đều, chỉ tập trung ở những thành phố lớn, thành phố trực thuộc Trung ương, điều
Trang 15này đựơc cụ thể là thành phố hà nội xuất khẩu chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của hànội và chiếm 7% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, thành phố HồChí Minh là 12%, một sốtỉnh có tỷ trọng khá cao như Hà Giang là 60%, Bình Thuận là 45%, khu vực kinh tế tư nhân
đã làm tăng thêm sư đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu và đã tìm kiếm được nhiều thịtrường để phát triển, năm 2002 khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 48% tổng kim ngạch xuấtkhẩu của Việt Nam, hiện nay thì khu vực kinh tế tư nhân đã vượt khu vực kinh tế nhà nước
về xuất khẩu
1.2.3.4 Đóng góp vào ngân sách
Đóng góp của các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân vào ngân sách đang có
xu hướng tăng lên, từ khoảng 6,4% năm 2001 lên 7,4% năm 2002 tỷ lệ này tương đương vớiđầu tư trực tiếp nước ngoài là 5,2% và 6% , khoản thu từ thuế công thương nghiệp và dịch vụdân doanh là năm 2002 đạt 103,6% kế hoạch và tăng 13% so với năm 2001, doanh số thu từdoanh nghiệp dân doanh chiếm 15% tổng số thu, tăng 29,5% so với các năm trước
Đóng góp vào ngân sách của địa phương của các doanh nghiệp danh doanh lớn hơnnhiều so vớ trung ương, như thành phố Hồ Chí Minh chiếm 15% tổng ngân sách, Bnh Định
là 33%, Thái Nguyên là 17%
Ngoài ra hiệp hội các doanh nghiệp còn tham gia xây dựng các công trình phúc lợi xãhội như trường học, đường nông thôn ở các địa phương
1.2.3.5.Thu hút nguồn vốn đầu tư xã hội
Với sự ra đời và đi vào hoạt động cảu luật doanh nghiệp thì số lượng các doangnghiệp đăng ký mới và đang ký mở rộng quy mô sản xuất, từ đó đã huy động được lượng lớntiềm lực của nhân dân vào phát triển kinh tế, trong đó năm 2000 đạt 1,3 tỷ USD, năm 2001
là 2,3 tỷ USD, năm 2002 là 3 tỷ USD, năm 2003 là 3,6 tỷ USD, riêng giai đoạn từ 2000 –
2004 đã cao gấp 4 lần so với thời kỳ 1991- 1999, trong đó có những tỉnh tăng gấp 10 lần,thậm chí có những tỉnh tăng cao đến 20 lần như tỉnh Hưng Yên, Quản Ninh…
Từ tốc độ tăng số vốn hoạt động thì tỷ trọng đầu tư của khu vực này cũng tăng dần quacác năm, cụ thể như tỷ trọng đầu tư của khu vực tư nhân trong tổng đầu tư của xa hội tăng từ20% năm 2000 lên 23% năm 2001 và 25,3% năm 2002 và tỷ trọng này là 27% năm2003 vànăm 2004 là 32%, như vậy tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân đã ngày càng tăng và
đã vượt qua tỷ trọng của nhà nước
Trang 16Theo dự đoán của bộ trưởng bộ kế hoạch và đầu tư thì đến giai đoạn 2006 – 2010 tổngnhu cầu đầu tư là 130-140 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế tư nhân gồm cả doanh nghiệp cóvốn nước ngoài là khoảng 53%, hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn của khư vực kinh tế tư nhâncao hơn của khu vực Nhà nước, trong khi một đồng vốn của khu vực tư nhân tạo ra được1,66 đồng doanh thu, thì một đồng vốn của các doanh nghiệp nhà nước chỉ tao ra được 0,71đồng doanh thu Mặt khác vốn của khu vực kinh tế tư nhân còn là vốn đầu tư chủ yếu của địaphương chẳng hạn ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2002 chiếm 38% tổng số vốn toàn xã hộitrong khi đó vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm 36,5%.
1.2.3.6 Tạo môi trường kinh doanh
Sự phát triển ngày càng lớn và mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân, tham gia vàohầu như tất cả các ngành nghề và moi lực vực, thì khu vực này đã và đang đóng góp rất lớntrong việc tao ra môi trường kinh kinh doanh, thúc đẩy phát triển cơ chế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh quá trình hội nhập
Sự tham gia ngày càng nhiều vào tất cả các ngang nghề đã tao ra sự cạnh tranh giữa cácthành phần kinh tế, phá bỏ dần tính độc quyền của một số doanh nghiệp Nhà nước, làm chocác doanh nghiệp phải cải thiện môi trường làm việc, công nghệ… để nâng cao năng suất laođộng, cải tiến sản phẩm …, sự phát triển của kinh tế tư nhân thì các thị trường bắt đầu hìnhthành và phát triển mạnh, như là thị trường hoá dịch vụ, thị trường vốn, thị trường lao động,thị trường bất động sả, thị trường hàng khoa học và công nghệ, thúc đẩy quá trình hội nhậpkinh tế của nước ta
1.2.4 Hạn chế của khu vực kinh tế tư nhân
Tuy đã phát triển rất nhanh và phát triển ở mọi nơi và mọi ngành nghề nhưng do xuấtphát điểm thấp, từ các những khó khăn do lịch sử để lại, do điều kiện hoàn cảnh chung của
cả nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân cũng còn có nhiều hạn chế
1.2.4.1 Quy mô vốn
Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân và các hộ kinh doanh cá thể có nhiềukhó khăn về vốn hoạt động, các loại hình doanh nghiệp cá thể có vốn rất nhỏ, 80,26% cácloại hình doanh nghiệp có mức vốn nhỏ hơn 5 tỷ đồng, trông khi đó đối với doanh nghiệpNhà nước là 23,03% Do vốn nhỏ bé nên điều này đã gây rất nhiều khó khăn cho doanhnghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân có thể mở rộng sản xuất kinh doanh và có thể thực hiệnđược kế hoạch sản xuất của mình, có rất nhiều doanh nghiệp thuộc khu vực này có nhiều ý
Trang 17tưởng sản xuất tốt nhưng một phần do thiếu vốn do đó họ không thể thực hiện được kế hoạchcủa mình, do hạn chế về vốn nên họ chỉ tham gia vào các ngành không cần nhiều vốn như làcác hoạt động thương mại ít đầu tư vào sản xuất, vì kinh doanh các hoạt động thương mạicần ít vốn hơn rất nhiều so với các ngành sản xuất, điều này cũng làm giảm sự phát triển củacác ngành sản xuất, cơ cấu vốn của các doanh nghiệp thuộc khu vực này là 25 – 30 % trongtổng vốn là đàu tư vào tài sản cố định còn 70 – 75% là vốn lưu động Để đảm bảo cho hoạtđộng kinh doanh của mình các chủ doanh nghiệp hay chủ hộ phải đi thuê tài sản từ các tổchức, cơ quan … do đo cơ sở vật chất của họ không ổn định, do thiếu vốn nên họ thườngkhông có được sự tin tưởng của các đối tác của mình, và làm ăn theo kiểu manh muốn chộpgiật, không có những chiến lược dài hơi vì thiêu vốn Chỉ có 1/3 doanh nghiệp là được vayvốn ngân hàng, trong số những doanh nghiệp được vay vốn thì họ chỉ vay được 20 % trongtổng số vốn của họ còn lại 80% là huy động từ bạn bè, gia đình, vốn bản thân và sử dụng tíndụng thương mại đối với đối tác kinh doanh, thậm chí là nguồn vốn có mức lãi suất rất cao,đối với nguồn vốn huy động do sử dụng thì thường các họ phải chi phí “ngầm” cao hơn chiphí thực tế khi họ thoả thuận, làm tăng chi phí sản xuất.
có chăng chỉ là các khoa ngắn hạn, do đó họ kho tiếp thu được những tiến bộ khoa học, cũngnhư kỹ năng của họ không cao do đó năng xuất lao động không cao, còn đối với những nhânlực giỏi thì học lại không mặn mà với những doanh nghiệp này do doanh nghiệp không đápứng được những tham vọng của họ, có những doanh nghiệp mà lao động không qua đào tạochiếm tới 100%
Đối với các hộ kinh doanh cá thể và tiểu chủ thì họ sử dụng lao động trong gia đình vàchỉ thuê rất ít công nhân, phần lớn là không qua đào tạo
1.2.4.3 Trình độ khoa học công nghệ
Trong thời đại hiện nay khoa học công nghệ vô cùng quan trọng đối vối mọi mặt đờisống xã hội, các nước phát triển trên thế giới đã áp dụng thành công những công nghệ hiện
Trang 18đại vào các hoạt động của mình và đã đạt được những thành quả rất lớn, xét về mặt băngchung thì trình độ công nghệ của nước ta so với trên thế giới thì trình độ công nghệ của nước
ta có trình độ trung bình thấp, và khu vực kinh tế tư nhân cũng không là ngoại lệ Hầu hếtcác loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân đang sử dụng các trang thiết bị cótrình độ công nghệ trung bình và lạc hậu so với thế giới, chẳng hạn như ở tỉnh Đồng Nai tỷ lệ
là 93%, thành phố Hồ Chí Minh là 37,7% đang sản xuất bằng thủ công , 43,2% đang sảnxuất bằng bán cơ khi, bán tự động Trình độ khoa học lạc hậu một phần do mặt bằng chungmột phần do sự thiếu vốn của các doanh nghiệp thuộc khu vực này, họ không có đủ vốn đểmua những công nghệ tiến tiến, mà công nghệ không cao dẫn đến năng suất lao động khôngcao dẫn đế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường là không lớn, kể cả thịtrường trong và ngoài nước, mà cạnh tranh là yếu tố cơ bản để đảm bảo tồn tại và phát triểncủa một doanh nghiệp, và là yếu tố sống còn của các doanh nghiệp, sản phẩm họ sản xuất ra
có bán được thì họ mới có doanh thu để mà trang trải phí và có lợi nhuận, hơn nữa các doanhnghiệp đang tồn tại trong một môi trường cạnh tranh rất khốc liệt như hiện nay
1.2.4.4 Trình độ quản lý
Trình độ quản lý của các chủ doanh nghiệp còn thấp Đa số các chủ doanh nghiệp, trưởngthành từ thực tiễn và học hỏi qua bạn hàng, ước tính khoảng trên 80% trưởng thành từ kinhnghiệm thực tiễn chỉ có một số được đào tạo qua trường lớp chính quy về quản trị doanhnghiệp hay quản lý về kinh tế chung Khoảng 85% các doanh nghiệp tư nhân được phát triểntrên cơ sở hộ cá thể, 285 chủ doanh nghiệp là cán bộ nhà nước đã nghỉ theo chế độ.Chính vìquản lý và điều hành dựa vào kinh nghiệm được tích luỹ, chưa qua đào tạo và không có bằngcấp chuyên môn nên khó khăn trong việc cạnh tranh, hơn nữa trong điều kiện hội nhập nhưhiện nay.kiểu kinh doanh trên sẽ không còn phù hợp do hiện nay nó là rào cản sự phát triểncủa doanh nghiệp, chẳng hạn là làm ăn theo lối chộp giật, khó có khẳ năng tiếp thu những cáimới
Trang 191985 hoạt động trên một địa bàn là trung tâm tài chính của cả nước, và để đáp nhu cầu sửdụng các dịch vụ ngân hàng ngày càng tăng, do sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của cảnước nói chung và của thủ đô nói riêng, cùng với xu hướng ngày càng nhiều các tổ chức tíndụng quốc tế đã, đang và sẽ vào việt nam, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang chuẩn bị vàoWTO, thì việc mở rộng và phát triển mạng lưới là bước đi quan trọng cho sự phát triển củangân hàng, chính vì lẽ đó mà ngân hàng ngoại thương chi nhánh Ba Đình được thành lậpngày 15/9/2004 theo quyết định số 480/QĐ NHNT – TCCB – DT ngày 23/8/2004 là chinhánh cấp II hạch toán phụ thuộc vào chi nhánh cấp I Hà Nội.
Địa bàn hoạt động của chi nhánh là trên địa bàn quận Ba Đình và các vùng lân cận, đây
là khu vực tập trung dân cư đông đúc, là một trong các quận trung tâm của Thủ Đô với cáchoạt động kinh tế sôi động là điều kiện thuận lới cho chi nhánh hoạt động và phát triển.2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Theo quyết định số 525/QĐ/ TCCB – DDT ngày 31/10/2001 của chủ tịch hội đồngquản trị Ngân hàng ngoại thương Việt Nam, ban phân cấp, uỷ quyền của chi nhánh cấp I đốivới chi nhánh cấp II ngày 19/12/2001 của giám đốc chi nhánh Ngân hàng ngoại thương HàNội, gồm có các phòng sau
Trang 20Mỗi phòng đều do một trưởng phòng và một phó phòng điều hành và giúp việc đốivới mỗi trưởng phòng có nhiệm vụ và quyền hạn sau:
-Tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm trước giám đốc chi nhánh Ba Đình về mọi mặthoạt động của phòng mình
- Xây dựng chương trình kế hoạch và biện pháp thực hiện chức năng, nhiệm vụ củaphòng mình
- Có nhiệm vụ tham mưu giúp cho giám đốc trong việc thực hiện các chức năng nhiệm
vụ của chi nhánh Đề xuất những kiến nghị với chi nhánh ngân hàng ngoại thương Hà Nội,Ngân hàng ngoại thương trung ương, Ngân hàng Nhà Nước thành phố,chính quyền địaphương trong quá trình thực hiện các chế độ, chính sách có liên quan đến phòng mình chiệutrách nhiệm
- Có trách nhiệm phối hợp với các phòng ban khác của chi nhánh khi sử lý các vấn đềnghiệp vụ có liên quan
- Ký trên các giấy tờ, chứng từ , văn bản giao dịch
- Phối hợp với các tổ chức Đảng, đoàn thể của cơ quan trong việc thự hiện các chế độ,chính sách quản lý đối với công chức, viên chức Động viên công chức viên chức tích cựchưởng ứng các phong trào thi đua của cơ quan, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, chuyênmôn
- Bố trí và sắp xếp cán bộ của phòng mình cho phù hợp, xây dựng nội quy làm việc vàphương thứ điều hành, có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao
- Phân công trách nhiệm cho các phó trưởng phòng và các thành viên trong phòng -Bảo quản các tài liệu và tài liệu mật theo quy định hiện hành
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi ban giám đốc chi nhánh giao
Phòng kế toán dịch
vụ ngân hàng
BanGiám Đốc
Phòng quan hệ
Trang 21* Nhiệm vụ và quyền hạn của phó trưởng phòng
- Giúp trưởng phòng điều hành, chỉ đạo một số công việc do Trưởng phòng giao và chịutrách nhiệm trước trưởng phòng và ban giám đốc chi nhánh về công việc được phân công
- Ký thay trưởng phòng trên các giấy tờ, chứng từ, văn bản giao dịch thuộc trách nhiệmphụ trách, trình ban giám đốc theo sự uỷ quyền của trưởng phòng và theo đúng sự phân cấp
uỷ quyền của giám đốc chi nhánh
- Khi trưởng phòng đi vắng được thay mặt trưởng phòng giải quyết các cộng việc chungcủa phòng và chịu trách nhiệm về các công việc mà mình đã giải quyết
- Tham gia ý kiến với trưởng phòng trong việc thực hiện các mặt công tác của phòngtheo nguyên tắc tập trung dân chủ
* Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban
- Dự thảo các báo cáo sơ kết tổng kết quý, sáu tháng và năm của chi nhánh Ba Đình đểbáo cáo chi nhánh Ngân hàng ngoại thương Hà Nội, giúp ban giám đốc xây dựng chươngtrình công tác quý, sáu tháng và năm của chi nhánh
- Giúp giám đốc về công tác pháp chế cảu chi nhánh Ba Đình và thực hiện thông tin tíndụng và thanh toán quốc tế
-Thực hiện nghiệp vụ cho vay và nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch
vụ với các thành phần kinh tế theo luật của Ngân hàng và luật các tổ chức tín dụng, mở tàikhoản cho vay, theo dõi hợp đồng tín dụng, hồ sơ thanh toán xuất nhập khẩu và tính lãi theođịnh kỳ, thanh toán với nước ngoài theo đúng quy định của Ngân hàng ngoại thương ViệtNam
- Thẩm định và xem xét bảo lãnh đối với những dự án có mức ký quỹ dưới 100%, pháthành thư bảo lãnh đối với nước ngoài kể cả việc mở L/C và thanh toán L/C trả chậm với mức
ký quỷ 100%
- Quản lý và kiểm tra mẫu dấu đối với các ngân hàng nước ngoài
Trang 22- Phối hợp với các phòng xây dựng kế hoạch vốn theo quý, năm.
- Thông báo và lưu giữ tỷ giá mua bán hàng ngày, tỷ giá thống kê tháng, lãi suất huyđộng, cho vay bằng VND và bằng ngoại tệ
- Mua bán ngoại tệ cho các tổ chức kinh tế và cá nhân được phép mua bán ngoại tệ
- Thực hiện các báo cáo của phòng do chi nhánh cấp I quy định
- Thực hiện một số nghiệp vụ khác do ban giám đốc giao
+ Phòng kế toán nghiệp vụ ngân hàng
++ Bộ phận thông tin khách hàng
- Tiếp nhận và mở các hồ sơ khách hàng mới
- Tiếp nhận quản lý và giải quyết các yêu cầu thay đổi về: chủ tài khoản, địa chỉ, kế toántrưởng, mẫu dấu, chữ ký…
- Tiếp nhận và trả lời các thông tin tài khoản khách hàng: số dư tài khoản, hoạt động và
ra chi tiết liên quan đến tài khoản thông qua nhiều hình thức bao gồm giao dịch trực tiếp vàthông qua các phương tiện thông tin liên lạc
- In, chấm và trả sao kê, sổ phụ bảng phiếu tính lãi, cấp ấn chỉ cho khách hàng
- Giải đáp thắc mắc hướng dẫn quy trình nghiệp vụ cho khách hàng, phản ánh tình hìnhgiao dịch và đề xuất chính sách thu hút khách hàng
++ Bộ phận dịch vụ khác hàng
- Xử lý toàn bộ các giao dịch liên quan đến tài khoản tiền gửi cả bằng ngoại tệ và nội tệcủa mọi đối tượng khách hàng với các loại tiền và băng mọi hình thức: tiền mặt, chuyểnkhoản, séc
- Xử lý các nghiệp vụ liên quan đến các tài khoản tiền gửi, tiết kiệm,hỳ phiếu, trái phiếu
cả bằng nội tệ và bằng ngoại tệ
-Xử lý các nghiệp vụ thanh toán thẻ và phát hành séc Vietcombank
- Xử lý nghiệp vụ mua, chuyển đổi ngoại tệ, séc du lịch bằng mọi hình thức và bán ngoại
tệ theo hộ chiếu
- Chi trả kiều hối chuyển tiền nhanh
- Quản lý các đại lý uỷ nhiệm thu hồi
- Tiếp nhận và kiểm tra tính pháp lý các chứng từ nhờ thu trong nước, nước ngoài, sécđích danh
Trang 23- Trực tiếp thu chi tiền mặt, séc du lịch liên quan đến các nghiệp vụ trên theo hạn mứcgiám đốc giao cho.
- Phát hành thư bảo lãnh ( dự thầu hay đấu thầu ) cho khách hàng trong nước ký quỹ100% và các hồ sơ bảo lãnh của phòng tín dụng – tổng hợp thẩm định chuyển tiền đến.++ Nghiệp vụ chuyển tiền và quản lý tài sản
- Tạo các bảng sao kê trả lương tự động, thực hiện các giao dịch chuyển tiền tựđộng(AFT), các giao dịch đầu tư tự động
- Hạch toán và quản lý hồ sơ tiền vay do phòng tín dụng chuyển xuống
- Sau khi kiểm tra, đối chiếu và tính lãi theo định kỳ cho khách hàng trên các tài khoảntiền gửi, tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu, tài khoản tiền vay, chuyển kết quả đến cho bộ phậnquản lý thông tin khách hàng để thông báo cho khách hàng
- Quản lý toàn bộ tài sản khách hàng ( các tài khoản nội bảng và tài khoản ngoại bảng liênquan, banrg kê tiết kiệm trái phiếu, kỳ phiếu)
- Tạo diện, bảng kê, tạo file đi nước ngoài, đi liên hàng bù trừ
- Tạo thư nhờ thu, thanh toán báo cáo nhờ thu
- Đóng và lưu nhật ký chứng từ
- Thực hiện báo cáo thống kê theo quy định của Ngân hàng ngoại thương Hà Nội
++ Bộ phận quản lý chi tiêu nội bộ
- Quản lý thu nhập chi phí của khách hàng
- Thực hiện chế độ chi tiêu hành chính có hạn mức tối đa do chi nhánh quay định
- Thực hiện một số nhiệm vụ do ban giám đốc giao cho
- Thực hiện công tác lễ tân, công tác phục vụ các hợp đồng của chi nhánh
- Thực hiện bảo vệ cơ quan bằng cách phối hợp với các phường có liên quan
Trang 24- Tham mưu cho ban giám đốc về chế độ chính sách đối với cán bộ công nhân viêntrong cơ qua, tổng hợp công tác thi đua trong cơ quan.
++ Công tác ngân quỹ
- Thu chi đồng Việt Nam và ngân phiếu
- Thu chi các loại ngoại tệ: tiền mặt, séc du lịch, giám định tiền thật, tiền giả
- Quản lý kho tiền, tài sản thế chấp,chứng từ có giá
- Thực hiện điều chuyển tiền mặt, đảm bảo định mức tồn quỹ VND, ngoại tệ, ngânphiếu, séc
- Thực hiện các báo cáo của phòng theo quy định của chi nhánh cấp I
++ Thực hiện một số công việc khác do giám đốc giao
2.1.3.Nhiệm vụ và phương hướng phát triển
Chi nhánh được thành lập và đi vào hoạt động nhằm mở rộng lượng khách hàng giaodịch, cung cấp các dịch vụ ngân hàng theo các yêu cầu của Ngân hàng ngoại thương chinhánh cấp I hà nội và của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam như: Cho vay, thanh toán xuấtnhập khẩu, mở tài khoản giao dịch cho khách hàng, phát hành và thanh toán thẻ, mua báncác loại ngoại tệ… để phục vục các khách hàng trong và ngoài nước hoạt động trên địa bàn
Ba Đình và các vùng lân cận Đối với hoạt đông tín dụng chi nhánh tập trung vào khách hàng
là khu vực kinh tế tư nhân Chi nhánh chỉ tập trung vào việc phát triển khách hàng là cácdoanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân và các khách hàng là thể nhân với các hình thứccho vay cầm cố, thế chấp tài sản là chứng từ có giá, các hoạt động tín dụng của chi nhánhđảm bảo tăng trưởng thận trọng, và ngày càng nâng cao chất lượng tín dụng
Sang năm 2006 thực hiện chủ chương tăng cường hoạt động cho vay bán lẽ của Ngân hàngngoại thương Việt Nam nhằm đa dạng hoá khách hàng và các sản phẩm tín dụng, chi nhánh
Ba Đình sẽ chú trọng hơn nữa vào mảng khách hàng là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh
tế tư nhân và đối tượng khách hàng là thể nhân trên địa bàn quận và các vùng lân cận trên cơ
sở an toàn, bền vững, góp phần vào sự phát triển hoạt động tín dụng nói chung và hoạt độngkinh doanh nói riêng
2.2 KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN HÀ NỘI
Cùng với sự phát triển của kinh tế tư nhân nói chung Khu vực kinh tế tư nhân hà nộicũng có sự phát triển rất nhanh chóng và mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng, nhất là từ
Trang 25khi có luật doanh nghiệp ra đời và đi vào đời sống từ 1/1/2000 Và Nhà nước đã tạo điềukiện dễ dàng cho việc thành lập doanh nghiệp do đó đã có sự tăng đột biến.
Số lượng giai đoạn 2000-2002 bình quân mỗi năm có 3320 doanh nghiệp thành lập mơi.gần 276doanh nghiêp/tháng, trong năm 2003 bình quân mỗi tháng có khoảng gồm 500 doanhnghiệp được thành lập
Về vốn cùng với tốc độ tăng của các doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đang kýcũng tăng mạnh mẽ Từ năm 2000 – 2003 số doanh nghiệp mới đang ký với tổng số vốn là
24000632 triệu đồng Bình quân vốn đang ký kinh doanh của mỗi doanh nhgiệp giai đoạn
2000 – 2003 là 1,66 tỷ đồng
Loại hình doanh nghiệp được lựa chọn nhiều nhất là công ty trách nhiệm hữu hạn, tính từnăm 2000 đến nay, tiếp đó là công ty cổ phần cũng trong giai đoạn này số lượng doanhnghiệp thay đổi nội dung là tương đối lớn và cũng làm tăng đáng kể lượng vốn đang ký bổsung Giai đoạn từ 2000 – 2003 có 3244 lượt đang ký bổ sung với tổng số vốn tăng đang kýtăng là 7236 tỷ bằng 1/3 số vốn của đang ký mới, số doanh nghiệp đang ký giảm vốn và giảithể không còn hoạt động là rất thấp
Đối với hộ kinh doanh cá thể và tiểu chủ thì chủ yếu tham gia vào hoạt động trong lĩnhvực thương mại – dịch vụ là hệ buôn bán nhỏ, nhận hàng của doanh nghiệp bán buôn bán lẻhoặc làm đại lý Do đó đã tạo thành một hệ thống bán lẽ và dịch vụ phục vụ tiêu dùng rộngkháp trên địa bàn
Với sự phát triển ngày một mạnh mẽ, khu vực kinh tế tư nhân Hà Nội đã và đang có sựđóng góp rất tích cực vào kinh tế hà nội nói riêng và cả nước nói chung
2.2.1 Những đóng góp
2.2.1.1 Vào GDP
Khư vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định được vai trò trong phát triển xã hội củathủ đô, các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp trên 20% tổng sảnphẩm quốc nội của thành phố và đang phát triển khá tốt trong các ngành kinh tế, khu vựckinh tế tư nhân hà nội cũng có sự đóng góp quan trọng vào ngân sách của thành phố Và sựđóng góp ngày càng tăng theo thời gian, cụ thể trong 5 năm từ 1996 – 2000 tổng số nộng gânsách 24683 tỷ đồng chiếm 4,3% ngân sách thành phố Năm 2001 đóng góp 528,2 tỷ đồngchiếm 3,35 ngân sách thành phố, năm 2002 là 650 tỷ đồng chiếm 3,6%
2.2.1.2.phát triển công nghiệp
Trang 26Khu vực kinh tế tư nhân hà nội có những đóng góp to lớn trong phát triển công nghiệp,giai đoạn 1996 – 2002 giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 15,53% /năm, năm 2001-
2005 giá trị công nghiệp tăng bình quân là19,67%, khư vực kinh tế tư nhân tăng cao hơn khuvực kinh tế nha nước: giai đoạn 1991 đến 2000 là 10,05%, giai đoạn 2001 đến 2002 là17,46%
Công nghiệp thuộc khư vực kinh tế tư nhân phát triên rất đa dạng và phong phú và thamgia vaò hầu hết các ngành Tập trung nhiều cào các ngành như chế biến lương thực thựcphẩm, đồ uống dệt may …qua các số liêu trên ta thấy rằng giá trị công nghiệp của khu vựckinh tế tư nhân hà nội tăng qua các năm và hầu như chỉ tập trung vào các ngành công nghiệp
có trình độ công nghệ không cao do đó giá trí trị sản phẩm không cao
Trong đó đóng góp trong các ngành công nghiệp chủ lực của thành phố hà nôị như sau:ngành cơ khí và kim khí tỷ trọng giá trị sản xuất cơ khí khu vực tư nhân năm 1995 chiếm10,35%, năm 2002 là 10,08%, tốc độ tăng giai đoạn năm 1991 – 2000 là 21% và từ 2001-
2002 là 10%
+ ngành dệt may khu vực kinh tế tư nhân có tốc độ tăng trưởng cao hơn mức trung bìnhcủa toàn thành phố Giai đoạn 1986 – 2000 là khoảng 20%/năm, năm 2001 – 2002 là 15,6%/năm, tỷ trọng của khu vực kinh tế tư nhân trong các ngành nay tăng từ 7,4% năm 1995 lên10,4% năm 2002
+ về điện tử tốc độ phát triển giai đoạn 1996 – 2000 là 76%/ năm, giai đoạn 2001 –
2002 là 25,3% trên/năm, trong khi đó khu vực kinh tế nhà nước có tốc độ tăng tương ứng là12,4%/năm và 18,9%/năm nhưng tỷ trọng còn thấp năm 1995 chiếm 5,84%, năm2002chiếm 3,85%
+ngành chế biế lương thực thực phẩm giai đoạn 1996 - 2000 khu vực kinh tế tư nhântăng 9,11%/ năm, giai đoạn 2001- 2002 là 24,93%/năm trong khi đó tốc độ tăng trung bìnhcủa thành phố là 9,87%/ năm giai đoạn 1996 – 2000, là 13,48%/năm giai đoạn 2001- 2002
Tỷ trọng của khu vực kinh tế tư nhân tăng 15,1% năm 1995 lên 17,67% năm 2002
+ về vật liệu xây dựng số lượng doanh nghiệp trong ngành này giảm mạnh giá trị sảnsuất khu vực kinh tế tư nhân tăng trung bình là 2,44%/năm giai đoạn 1996 – 2000, trong giaiđoạn 2001 – 2002 là 11,5% thấp hơn nhiều so với khu vực kinh tế nhà nước
+ về xây dựng các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân gặp nhiều khó khăn.trong đó lớn nhất là vốn đầu tư để nâng cấp, cải tạo, đổi mới trang thiết bị, áp dụng công