1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chi n l c huy ng v ph t tri n ngu n v n t i s giao d ch I ng n h ng u t v ph t tri n Vi t Nam

94 210 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chi n l c huy ng v ph t tri n ngu n v n t i s giao d ch I ng n h ng u t v ph t tri n Vi t Nam tài liệu, giáo án, bài giả...

Trang 1

http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ án,báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cả mọingười Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp của quýkhách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý khách gửi

về luanvanpro.com@gmail.com

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/Chiến lược huy động và phát triển nguồn vốn tại sở giao dịch I ngân hàng đầu tư và pháttriển Việt Nam

Trang 2

Lời mở đầu

Kinh nghiệm của những quốc gia phát triển nhanh trên thế giới đã khẳng định tích tụ vàtập trung vốn đặc biệt là tích tụ và tập trung vốn trong nước có vai trò quan trọng trong sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam, tốc độ tăng trưởng của cả nềnkinh tế nói chung và các nghành công nghiệp nói riêng trong tương lai tất nhiên chủ yếuvẫn phải đựa vào lượng đầu tư lớn Chỉ trên cơ sở có một lượng đầu tư mạnh từ nền kinh

tế, thông qua quá trình quá trình tích tụ và tập trung vốn hay huy động vốn từ các NgânHàng, mới có thể đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trang bị cho các nghành công nghiệp có kĩthuật cao

Trong những năm trước đây do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chi phối, quá trìnhtích tụ và tập trung vốn không được quan tâm đẩy mạnh Bây giờ khi đất nước đã chuyểnsang cơ chế thị trường, có điều kiện để tích tụ và tập trung vốn nhưng thực tế trong nhữngnăm vừa qua cho thấy, vấn đề bức xúc của nền kinh tế nước ta là thiếu vốn để trang bị vàđổi mới những công nghệ hiện đại Nguyên nhân của vấn đề trên là do tình trạng thiếu vốn,

mà cụ thể là thiếu vốn tiền đồng trong hệ thống Ngân Hàng Việt Nam Do đó, các NHTMchưa đáp ứng được nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, các dự án đầu tư

Từ thực tế trên và trong thời gian thực tập tại SGD I NHĐT&PTVN em nhận thấy côngtác huy động vốn trong Ngân Hàng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động NgânHàng nói riêng và trong sự nghiệp thực hiện công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đấtnước nói chung Hơn nữa, SGD I NHĐT&PTVN là một NHTM quốc doanh, có nhiệm vụtrực tiếp kinh doanh với nghiệp vụ chủ yếu là huy động vốn và cho vay đầu tư phát triểnđối với các dự án thuộc nhiều thành phần kinh tế do đó nhu cầu về vốn để đáp ứng chohoạt động đầu tư phát triển và hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng là rất lớn Vì các lí do

đó, em đã mạnh dạn chọn đề tài “Chiến lược huy động và phát triển nguồn vốn tại sở giao dịch I ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam”

Đề tài không đi sâu vào việc đề ra chiến lược và phân tích tất cả các bước chiến lược vềquản lí và huy động vốn, mà chỉ là những phân tích, đánh giá mang tính định tính, kháiquát căn bản dựa trên cơ sở lí thuyết liên quan đến nguồn vốn và thực tiễn tại SGD

Đề tài đã được hệ thống hóa những vấn đề lí thuyết cơ bản về vốn và chiến lược huyđộng vốn của Ngân Hàng Đây là cơ sở để phân tích thực trạng công tác huy động vốn tạiSGD I NHĐT&PTVN Từ đó, em đã rút ra những thành tựu, hạnn chế và nguyên nhân để

Trang 3

đưa ra một số giải pháp, chiến lược nhằm huy động và phát triển nguồn vốn Đồng thời, emcũng đưa ra một số kiến nghị đối với Nhà nước, NHNN cũng như đối với NHĐT&PTVNnhằm đảm bảo tính khả thi của các giải pháp và hỗ trợ cho công tác huy động vốn củaNHTM.

Ngoài lời mở đầu và kết luận, bố cục của chuyên đề gồm 4 chương:

ChươngI: Lí luận chung về vốn Và chiến lược huy động vốn của Ngân Hàng

ChươngII: Những vấn đề cơ bản về Ngân Hàng thương mại và huy động vốn của Ngân Hàng

Chương III: Thực trạng công tác quản lí huy động vốn tại SGD I NHĐT&PTVN Chương IV: Giải pháp tăng cường công tác huy động vốn và chiến lược phát triển nguồn vốn tại SGD I NHĐT&PT

Vấn đề trên là một lĩnh vực nghiên cứu phức tạp, đan xen nhiều yếu tố vĩ mô và vi mô,mang tính khách quan và chủ quan Bản thân em trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu cả

về lí luận lẫn thực tiễn còn có những hạn chế nhất định, không tránh khỏi tiếu sót Em rấtmong được sự tham gia đóng góp ý kiến của thầy giáo hướng dẫn GS TS Cao Cự Bội vàđơn vị thực tập

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn GS TS Cao Cự Bội, các anh chị phòngnguồn vốn kinh doanh SGD I NHĐT&PTVN đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình nghiêncứu đề tài này

Trang 5

hệ đã tích lũy của một cá nhân hay một Quốc gia.

Bài học của các quốc gia phát triển trên thế giới đã khẳng định tích tụ và tập trung vốnđặc biệt là vốn trong nước có một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp hiện đại hóađất nước Từ xa xưa các nhà kinh tế đã đánh giá cao vai trò của vốn đối với sự phát triểnkinh tế của một quốc gia chẳng hạn, luận điểm “ Lao động là cha, đất đai là mẹ” của mọicủa cải vật chất đã được nhà kinh tế học người Anh Uyliam Petty đưa ra từ thế kỉ XVI.Điều đó chứng tỏ rằng, ngay từ khi đó người ta đã nhận thức rõ những yếu tố cơ bản để tạo

ra của cải vật chất cho xã hội Đó là nguồn lực con người và đất đai, tài nguyên thiên nhiên

Kế thừa những tư tưởng của các nhà kinh tế cổ điển, C Mác đã trình bày quan điểm củamình về vai trò của vốn qua các học thuyết: Tích lũy, tuần hoàn và chu chuyển, tái sản xuất

tư bản xã hội, học thuyết địa tô … Đặc biệt Mác đã chỉ nguồn gốc chủ yếu của vốn tích lũy

là lao động thăng dư do những người lao động tạo ra, và nguồn vốn đó khi đem dùng vàoviệc mở rộng và phát triển sản xuất thì nó vận động như thế nào Khi nghiên cứu nền sảnxuất tư bản chủ nghĩa, Mác đã tìm thấy những qui luật vận động của tư bản (Vốn) mà quiluật này nếu ta trìu tượng những biểu hiện cụ thể về mặt xã hội thì sẽ thấy:

Trang 6

quan trọng cho mỗi người sản xuất, mỗi doanh nghiệp phải biết tìm cách cấu trúc một cáchkhôn ngoan các yếu tố của tiền vốn, đầu tư (khi chuyển hóa thành sức lao động và tư liệusản xuất) nhằm tạo ra nhiều của cải nhất cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và cả xã hội.Công thức đó cũng chỉ ra rằng trong dòng chảy liên tục của vốn đầu tư nếu như hình tháinào trong ba hình thái trên chưa đi vào chu trình vận động liên tục của các hoạt động sảnxuất kinh doanh, trong trường hợp như vậy thì đồng vốn đó vẫn đang ở dạng tiềm năng chứ

nó chưa đem lại những lợi ích thiết thực cho mỗi cá nhân mỗi doanh nghiệp và toàn xã hội.Tích lũy vốn theo Mác là “sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản, hay chuyển hóa giá trịthặng dư trở lại thành tư bản …” và Mác đã khẳng định “sự cạnh tranh bắt buộc nhà tưbản nếu muốn duy trì tư bản của mình thì phải làm cho tư bản ngày càng tăng lên và hắnkhông thể nào tiếp tục làm cho tư bản đó ngày một tăng lên được, nếu không có một sự tíchlũy ngày càng nhiều thêm” Mác còn chỉ ra những nhân tố qui định qui mô của tích lũy, baogồm: Khối lượng giá trị thặng dư (lợi nhuận ), năng suất lao động xã hội và qui mô vốn banđầu (lượng tư bản ứng trước)…

Vốn là một nhân tố quan trọng trong ba nhân tố quyết định đến sự tăng trưởng về kinh

tế gồm: Lao động, vốn, công nghệ Đối với nước ta lao động dồi dào nhưng vốn khan hiếm,công nghệ lạc hậu Tất nhiên muốn đổi mới công nghệ thì cần phải có vốn

Tốc độ tăng trưởng của công nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung trongtương lai tất nhiên chủ yếu vẫn phải dựa vào lượng đầu tư lớn Chỉ trên cơ sở có một lượngđầu tư mạnh từ việc tích lũy nội bộ nền kinh tế, thông qua quá trình tích tụ và tập trung vốn

cả các doanh nghiệp cũng như của cả cộng đồng dân cư, mới có thể trang bị cho nghànhcông nghiệp có kĩ thuật cao, sử dụng nhiều nhân công và khai thác một cách hiệu quảnguồn tài nguyên đất nước

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tích tụ và tập trung vốn rất chặt chẽ Sự tăngtrưởng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của tích tụ và tập trung vốn Thực tiễn trongnhững năm qua cho thấy, vấn đề bức xúc của nền kinh tế nước ta là thiếu vốn để trang bị

và đổi mới công nghệ hiên đại Mặt khác, hiệu quả sử dụng đồng vốn cũng chưa cao, đặcbiệt là ở các doanh nghiệp Nhà nước

Vì vậy, con đường tích tụ và tập trung vốn đặc biệt là vốn trong nước có hiệu quả là bàitoán cần phải tháo gỡ để tăng tốc nền kinh tế Việt Nam và Ngân Hàng đóng một vai tròquan trọng để thực hiện vấn đề này

Trang 7

1 2 Vai trò của vốn đối với nền kinh tế:

Chính vì vốn có vai trò quyết định trong việc tạo ra mọi của cải vật chất và những tiến

bộ xã hội, vì thế nó là nhân tó vô cùng quan trọng để thực hiện quá trình ứng dụng tiến bộkhoa học kĩ thuật, phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu và đẩy nhanh tốc độ tăngtrưởng kinh tế Nhờ đó, đời sống của nhân dân ngày một nâng cao các nguồn lực về conngười, tài nguyên và các mối bang giao cũng được khai thác hiệu quả hơn Từ đó tác độngmạnh đến cơ cấu kinh tế của đất nước được chuyển dịch nhanh chóng theo hướng côngnghiệp hóa và hiện đại hóa, làm cho nền kinh tế có các nghành công nghiệp và dịch vụchiếm tỉ lệ cao hướng mạnh về xuất khẩu Cjính điều đó đã dẫn tới nền kinh tế sẽ có tốc độtăng trưởng cao và ổn định

Đất nước chúng ta sau 10 năm đổi mới nền kinh tế đã có nhiều chuyển biến quan trọng

và đạt được những thành tựu lớn lao, nhưng chúng ta vẫn là nước nghèo mức sống vẫn cònthấp, tích tụ và tập trung vốn trong nền kinh tế vẫn còn quá thấp Trong khi đó nhu cầu vốnđầu tư cho cả nền kinh tế nói chung là rất lớn và cấp bách Theo số liệu thông kê cho thấytổng vốn đầu tư phát triển của toàn xã hội năm 1995 ước tính khoảng hơn 62 000 tỉ đồng,trong đó nguồn vốn do Nhà nước đầu tư chiếm khoảng 43% Đẻ thực hiện các chương trìnhkinh tế quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến năm 2010 chúng ta phảihuy động được một số vốn ít nhất là 55 đến 60 tỉ USD trong thời kì 2003 – 2010 trong đónguồn vốn tích lũy từ trong nước từ 25 đến 30 tỉ USD

Vì vậy, trong quá trình tạo các tiền dề cho HĐH cũng như để triển khai HĐH không thể thiếu vai trò của vốn Mặt khác, muốn phát huy nguồn nhân lực, nâng caodân trí, đào tạo bồi dưỡng nhân tài để phát huy tối đa cho công cuộc CNH-HĐH cũng cầnphải có vốn đầu tư cho sự nghiệp giáo dục, đẩy nhanh ứng dụng khoa học kĩ thuật, côngnghệ vào sản xuất, cũng như việc xây dựng cơ sở hạ tầng càng không thể thiếu vai trò củavốn Chính những điều đó có thể rút ra kết luận rằng: Tích tụ và tập trung vốn trong nềnkinh tế nói chung và tích tụ và tập trung vốn trong Ngân Hàng là điều kiện tiên quyêt choquá trình CNH-HĐH, nhịp độ CNH-HĐH nhanh hay chậm chính là do nguồn vốn quyếtđịnh

CNH-2 Chiến lược quản lí, huy động vốn và vai trò của

Trang 8

nó đối với hoạt động Ngân Hàng

2.1 Nhận định chung về chiến lược:

bộ khung để hướng dẫn tư duy và hành động

Việc xây dựng và thông tin về chiến lược là một trong những hoạt động quan trọngnhất của người quản lí Một tổ chức không có chiến lược cũng như giống như đi vào mộtkhu rừng rậm mà không có la bàn hay bản đồ Việc thiếu một chiến lược hay một chiếnlược sai lầm là nguyên nhân của hầu hết các thất bại trong kinh doanh

2.1.2 Chiến lược trong hoạt động Ngân Hàng:

Khi các mục tiêu và chính sách của Ngân Hàng đã hình thành bước tiếp theo là phải đạtđến một chiến lược nhằm đạt đến các mục đích và mục tiêu này Trong khi mục tiêu cho tamột sự lựa chọn khách hàng về chất lượng, phương hướng và bước tiến của Ngân Hàng, thìchiến lược sẽ là kế hoạch, qua đó một Ngân Hàng có thể nhận ra các mục tiêu đã đượchoạch định rõ ràng Nếu mục tiêu của Ngân Hàng là gia tăng thị phần thì chiến lược; sẽ cónhiệm vụ làm sao đạt được vấn đề này Việc gia tăng kêu gọi một nhóm khách hàng mới làchiến lược đa dạng hóa các loại hình khách hàng, …

Trong khi chuyển từ mục tiêu sang chiến lược, các yếu tố cần được xem xét là tiềm lựccủa Ngân Hàng và môi trường tương lai Tiềm lực của Ngân Hàng như qui mô và tổng sốtài sản, các tiện nghi Ngân Hàng, danh tiếng, tiềm lực tài chính và đội ngũ nhân sự… Tất

cả các nhân tố này sẽ ảnh hưởng đến hình thức chiến lược mà Ngân Hàng áp dụng

Trang 9

Các mục tiêu của Ngân Hàng ảnh hưởng đến sự tổng hợp và đánh giá, đến lượt nó sựtổng hợp và đánh giá lại ảnh hưởng đến chiến lược và mục tiêu.

Trang 10

Lập kế hoạch ở một Ngân Hàng

* Chiến lược và mối quan hệ:

Đối với một doanh nghiệp, các chiến lược chủ yếu nhằm đưa ra định hướng tổng thểcho doanh nghiệp bao gồm:

Tổng thể các chiến lược tại một doanh nghiệp

Ngân Hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ nên bên cạnh bên cạnh những chiến lượctrên còn có những chiến lược kinh doanh với một loạt các chiến lược bộ phận mang tínhchất nghiệp vụ như: chiến lược huy động vốn, chiến lược tăng dư nợ quốc doanh, chiếnlược sử dụng vốn vay đầu tư

Chi n lến lược kinh ược kinhc

t i chínhàng

Chi n lến lược kinh ược kinhc quan hệp

xã h iộngChi n lến lược kinh ược kinh ạtc c nh

Trang 11

Như vậy, cùng nhằm hướng đến các mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra mà giữa các mục tiêunày không phải bao giờ cũng dễ thống nhất Do vậy, có thể chỉ có một chiến lược thỏa mãntốt nhất toàn bộ các mục tiêu trong vô số chiến lược chỉ đáp ứng phần nào mục tiêu đề ra

đó Nhìn chung, các chiến lược trong một Ngân Hàng có quan hệ khăng khít với nhau, hỗtrợ nhau phát triển Trong chiến lược kinh doanh của mình Ngân Hàng không thể bỏ quamột chiến lược kinh doanh quan trọng đó là chiến lược huy động và phát triển nguồn vốn

2 2 Các giai đoạn của kế hoạch hóa chiến lược trong Ngân Hàng thương mại:

Kế hoạch hoa chiến lược đó là thành phần cơ bản của quá trình quản lí chiến lược hoạtđộng Ngân Hàng

Kế hoạch hóa chiến lược được hiểu là quá trình ngiên cứu những chiến lược đặc biệtgóp phần đạt được các mục tiêu của tổ chức trên cơ sở duy trì sự phù hợp chiến lược giữacác mục tiêu đó

Nội dung và giai đoạn kế hoạch hóa chiến lược được thể hiện qua các bước sau:

Giai đoạn 1, Quá trình kế hoạch hóa chiến lược bắt đầu từ việc đặt ra các nhiệm vụ

của Ngân Hàng, lựa chọn các mục tiêu …

Giai đoạn 2, Giai đoạn kế hoạch hóa tiếp sau là cụ thể hóa các nhiệm vụ trong các

mục tiêu của Ngân Hàng

Giai đoạn 3, Công việc của giai đoạn này là phân tích tình hình cơ sở của thị trường

và tìm kiếm phát hiện thị trường Nó đòi hỏi việc xác định thị trường phục vụ, đánh giá

các đặc tính sản xuất thị trường của các phân đoạn thị trường và đánh giá mức độ hấp dẫncủa thị trường

Ngoài ra, ở đây còn tìm kiếm, phát hiện các nhu cầu của khách hàng, xác định các sảnphẩm Ngân Hàng thỏa mãn nhu cầu khách hàng, đánh giá khả năng và sự hợp lí đối vớiNgân Hàng trong việc thỏa mãn nhu cầu đó; xác định các phương tiện cần thiết đối vớiNgân Hàng và tìm kiếm các phương tiện đó

Việc đánh giá các đặc điểm sản xuất – thị trường của các phân đoạn thị trường diễn ratheo 4 hướng:

- Đánh giá các đặc điểm của thị trường

- Đánh giá các chỉ tiêu dịch vụ

- Đánh giá các chỉ tiêu cạnh tranh

- Phân tích các đặc điểm môi trường

Trang 12

Trên cơ sở các kết quả phân tích các đặc điểm sản xuất – thị trường mà đánh giá mức

độ hấp dẫn của thị trường thông qua các chỉ tiêu sau: Qui mô thị trường, tốc độ phát triển,tốc độ phát triển dự tính, tổng lượng khách hàng, tần số sử dụng dịch vụ, các đặc điểm tàichính của khách hàng, số lượng và mức độ tập trung đối thủ cạnh tranh, các chỉ tiêu kinh tế

vĩ mô …

Giai đoạn 4, của kế hoạch hóa – đánh giá các yếu tố tác động tới chiến lược của Ngân

Hàng và phân tích các ảnh hưởng của chúng

Có hai loại yếu tố tác động tới chiến lược Ngân Hàng: Đó là các yếu tố vĩ mô và vi mô

Giai đoạn 5, là việc đánh giá các khả năng và nguy cơ, bao gồm 3 khâu:

- Phát hiện các nguy cơ và khả năng

- Phát hiện các mặt mạnh và yếu của Ngân Hàng

- Phân tích ảnh hưởng tương lai của các mặt mạnh và yếu của Ngân Hàng của các khảnăng và nguy cơ

Giai đoạn 6, của kế hoạch hóa chiến lược có 4 phương án đặt ra cho Ngân Hàng, đó là:

Phát triển, phát triển hạn chế, phát triển giảm và kết hợp cả 3 phương án trên

Giai đoạn 7, Những điều kiện thị trường thay đổi cũng như các quá trình cụ thể hóa các

kế hoạch chiến lược bằng các kế hoạch thực hiện đòi hốic những thay đổi chiến lược

Giai đoạn 8, xác định các kết quả tài chính của dự án

2 3 Vị trí chiến lược huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng:

Như chúng ta đã tìm hiểu ở trên, chiến lược quản lí và huy động vốn là một chiến lượclớn, đòi hỏi có sự trợ giúp của nhiều chính sách vệ tinh như chiến lược khách hàng, chiếnlược đa dạng hóa sản phẩm, chiến lược huy động vốn trung, dài hạn, chiến lược công nghệhóa các tiện ích Ngân Hàng …Những chiến lược này cũng biến đổi qua từng thời kì, giaiđoạn cụ thể (3 hay 5 năm) phụ thuộc vào chu kì vận động của nền kinh tế, điều kiện vĩ mô

và bản thân hoạch định của Ngân Hàng Nằm trong chiến lược huy động nguồn có thể làchiến lược huy động nguồn vốn từ dân cư, từ các tổ chức kinh tế, chiến lược gia tăng vốnchủ sở hữu, gia tăng vốn cấp hai …

Để cho hoạt động kinh doanh được trôi chảy và đúng hướng một Ngân Hàng cần đề racác chiến lược để có được số vốn cần thiêt sau khi cân nhắc về tác động của những nguồnvốn khác nhau đến chi phí huy động vốn và rủi ro Ngân Hàng

Trang 13

Vì những lí do trên, một chiến lược quản lí huy động và phát triển nguồn vốn sẽ đóngmột vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Việc đưa ra một chiếnlược huy động vốn hợp lí không nhất thiết phải tuân theo đầy dủ 8 giai đoạn của quá trình

kế hoạch hóa chiến lược mà có thể rút ngắn đi một số bước Căn cứ vào tình hình điềukiện hoàn cảnh của từng ngân hàng mà có thể đưa ra chiến lược cụ thể phù hợp

3 Các nhân tố ảnh hưởng đến qui mô và chất lượng

Tuy nhiên, không phải Ngân Hàng cứ đưa ra mức lãi suất cao là có thể thu hút đượcnhiều vốn Vấn đề ở chỗ với mức lãi suất cụ thể do Ngân Hàng đưa ra sẽ đem lại cho ngườigửi tiền mức lợi tức thực tế là bao nhiêu Điều đó có nghĩa là mức lãi suất mà Ngân Hàngđưa ra phải luôn lớn hơn tỉ lệ lạm phát Do đó Ngân Hàng phải dự đoán chính xác tỉ lệ lạmphát của nền kinh tế trong năm để có thể mức lãi suất huy động hợp lí Lãi suất ở mức huyđộng hợp lí cũng phải là mức lãi suất huy động đảm bảo cho sức mua tương đối của giữacác loại tiền không bị thay đổi Có nghĩa là phải cộng thêm vào đó những yếu tố biến độngcủa tỉ giá

Để giải quyết vấn đề này không phải là một việc đơn giản, vừa có tính khoa học vừa cótính nghệ thuật Ngân Hàng phải rất khéo léo mới có thể có được một chính sách lãi suấthợp lí, linh hoạt phù hợp với tình hình thị trường và mong muốn của Ngân Hàng về qui mô

và chất lượng nguồn vốn của Ngân Hàng, vừa đảm bảo lợi ích của người gửi tiền, lợi íchcủa Ngân Hàng, giúp Ngân Hàng đạt hiệu quả cao trong công tác huy động vốn

3.1.2 Các hình thức huy động vốn và các dịch vụ do Ngân Hàng cung ứng:

Một Ngân Hàng có các hình thức và kì hạn huy động vốn phong phú, linh hoạt thuậntiện hơn sẽ thu hút khách hàng mới và duy trì những khách hàng hiện có hơn những NgânHàng khác Trong nền kinh tế thị trường hiện nay ngày càng có nhiều Ngân Hàng tham gia

Trang 14

thị trường, khách hàng có điều kiện thuận lợi để tìm cho mình một sự lựa chọn tốt nhất Vìvậy, dịch vụ Ngân Hàng chính là một yếu tố thu hút khách hàng.

3.1.3 Chiến lược Marketing Ngân Hàng:

Đây là những chính sách nhằm để khách hàng biết đến hoạt động của Ngân Hàng, thấyđược lợi ích khi giao dịch với Ngân Hàng Làm nhiều người biết đến Ngân Hàng gây uy tínvới thị trường gắn bó với khách hàng hiện tại và thu hút thêm khách hàng mới Sự tận tình,chu đáo trong phục vụ khách hàng, thủ tục đơn giản nhanh chóng, chính xác cũng là mộtyếu tố giúp duy trì khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới, tạo nên bộ mặt Ngân Hàng

3.2 Nhân tố khách quan:

3.2.1 Môi trường kinh tế - xã hội:

Các chính sách kinh tế, chính trị – xã hội của Nhà nước, sự tăng trưởng phát triển củanền kinh tế, phong tục tập quán của đất nước đều ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động củaNgân Hàng Vì vậy, nhà quản trị Ngân Hàng phải dự đoán được diễn biến của thị trường,nắm bắt được thời cơ để đưa ra các kế hoạch chiến lược phát triển Ngân Hàng trong từngthời kì, giai đoạn và kế hoạch phát triển lâu dài

3.2.2 Môi trường cạnh tranh:

Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một qui luật tất yếu, Ngân Hàng là mộtnghành có mức độ cạnh tranh cao Trong những năm qua, thị trường tài chính ngày càngtrở nên đông đúc do sự tham gia của nhiều loại hình Ngân Hàng và các tổ chức tài chínhphi Ngân Hàng Hiện nay, ở Việt Nam có 4 Ngân Hàng quốc doanh, 54 Ngân Hàng thươngmại cổ phần, 4 Ngân Hàng liên doanh với nước ngoài, 23 chi nhánh của Ngân Hàng nướcngoài, trên 800 quĩ tín dụng nhân dân … Trong khi đó, nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư vàcác tổ chức kinh tế là có giới hạn và các Ngân Hàng tăng được tối đa thị phần huy độngvốn của mình

Hình thức cạnh tranh không đa dạng như các nghành, các lĩnh vực khác cũng làm chotính cạnh tranh của Ngân Hàng cao hơn Các NHTM chủ yếu cạnh tranh bằng hai hình thức

là lãi suất và dịch vụ Ngân Hàng Hiện nay, ở nước ta các Ngân Hàng chủ yếu cạnh tranhbằng hình thức lãi suất, còn hình thức cạnh tranh bằng dịch vụ thì chưa phổ biến Do đó,mỗi Ngân Hàng phải xác định được mức lãi suất thế nào là hợp lí nhất, hấp dẫn nhất, kếthợp với danh tiếng và uy tín của Ngân Hàng để tăng thị phần huy động vốn của đơn vị

Trang 15

mình Điều này là rất khó khăn vì nếu lãi suất huy động cao thì lãi suất cho vay cũng phảităng lên, lãi suất huy động thấp thì không hấp dẫn khách hàng

Chương II

những vấn đề cơ bản về Ngân Hàng

thương mại và huy động vốn

của Ngân Hàng

1 Tổng quan về Ngân Hàng thương mại (NHTM)

1.1 Khái niệm và một số loại hình Ngân Hàng:

“Ngân Hàng, hợp tác xã tín dụng và công ti tài chính ban hành tháng 5 năm 1990” đã ghi:

“Ngân Hàng là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhậntiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả số tiền đó để cho vay thực hiện nghiệp vụchiết khấu, làm phương tiện thanh toán” “Luật tổ chức tín dụng” được Quốc hội thông quatháng 12 năm 1997 xác định” Ngân Hàng là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ cáchoạt động Ngân Hàng và các hoạt động kinh doanh có liên quan”, trong đó “ hoạt độngNgân Hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ Ngân Hàng với nội dung thườngxuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”

1.1.2 Một số loại hình Ngân Hàng ở nước ta:

Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, Ngân Hàng gồm có các loại hình sau:

- Ngân Hàng thương mại:(còn gọi là Ngân Hàng tiền gửi hay Ngân Hàng tín dụng

với nghiệp vụ truyền thống là huy động vốn phần lớn dưới hình thức ngắn hạn và cho vayngắn hạn dưới hình thức chiết khấu thương phiếu Tuy nhiên do thị trường ngày càng pháttriển, dần dần các Ngân Hàng này đi vào kinh doanh tổng hợp, làm cả nghiệp vụ huy độngvốn và cho vay trung, dài hạn và làm như tất cả các nghiệp vụ, dịch vụ Ngân Hàng

Trang 16

- Ngân Hàng phát triển: Nét đặc trưng nổi bật là những Ngân Hàng tập trung huy

động vốn trung, dài hạn vì sự phát triển (không chỉ duy trì qui mô, chất lượng cũ).Hoạt động của các Ngân Hàng này chủ yếu qua đầu tư trực tiếp các dự án lớn

- Ngân Hàng đầu tư: Hoạt động với mục tiêu đầu tư trung, dài hạn cũng vì sự phát

triển nhưng thông qua các hình thức đầu tư gián tiếp qua giấy tờ có giá Hoạt độngcủa Ngân Hàng này gần gũi với nghiệp vụ chứng khoán Các lọai giấy tờ có giáđược mở rộng thì loại Ngân Hàng này cũng phong phú và phát triển

- Ngân Hàng chính sách: Thông thường là những Ngân Hàng thương mại 100% vốn

Nhà nước hoặc Ngân Hàng thương mại cổ phần Nhà nước (gồm sở hữu Nhà nước

và sở hữu của các tổ chức kinh tế quốc doanh), được lập ra để phục vụ một số chínhsách của Nhà nước như Ngân Hàng người nghèo, Ngân Hàng phát triển nhà ở,Ngân Hàng xuất nhập khẩu ) Loại Ngân Hàng này hoạt động không vì nục tiêulợi nhuận Nó được tạo vốn dưới hình thức đặc thù để cho vay ưu đãi nhưng đượcNhà nước bù phần chênh lệch lãi suất

- Ngân Hàng hợp tác: (Hay gọi rộng ra là những tổ chức tín dụng hợp tác) là những

tổ chức tín dụng thuộc sở hữu tập thể, được các thành viên tự nguyện lập nên khôngphải vì mục tiêu lợi nhuận mà vì mục tiêu tương trợ lẫn nhau nhiệm về vốn và dịch

vụ Ngân Hàng Nó có thể có nhiều hình thức từ thấp đến cao, như hợp tác tín dụng,quĩ tín dụng nhân dân, Ngân Hàng hợp tác Nó có thể là tổ chức tín dụng hợp tácđộc lập ở từng mắt, khâu và có sự liên kết toàn hệ thống (như quĩ tín dụng nhândân)

1.2 Vai trò và chức năng cơ bản của Ngân Hàng thương mại:

Trang 17

Ngân Hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư Trong khi thực hiện chức năng trunggian tài chính, Ngân Hàng thu hút những khoản tiết kiệm trong dân cư để đáp ứng nhu cầu

về vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh, đầu tư mở rộng năng lực hoạt động Hoạt độngcủa Ngân Hàng có hiệu quả sẽ kích thích giảm bớt nhu cầu cao cấp, dành tiền cho việc đầu

tư góp phần tài trợ cho sự phát triển kinh tế xã hội

Ngân Hàng đóng vai trò quan trọng thúc đẩy nâng cao sử dụng các nguồn tài nguyên,tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc luân chuyển vốn và sự di chuyển vốn từ lĩnh vựckinh doanh kém hiệu quả sang lĩnh vực kinh doanh có hiệu quả Bởi vì việc huy động vốn

và sử dụng vốn trên thị trường tài chính diễn ra trên cơ sở quan hệ cung cầu và khi sử dụngbất kì nguồn vốn nào cũng đều phải trả giá nhất định Điều đó buộc người cần vốn phải lựachọn các phương án kinh doanh tối ưu, lựa chọn hình thức và thời điểm thích hợp để giảmchi phí

Với chức năng làm trung gian thanh toán, Ngân Hàng đã rút ngắn tốc độ lưu thông hàng hóa tiền tệ Hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt làm giảm thời gian và chi phí

thanh toán Thêm vào đó, các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội được Ngân Hàng huy động

và đầu tư trở lại sản xuất kinh doanh, qua đó đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa tiền tệtạo điều kiện cho kinh tế phát triển

Ngân Hàng góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục, không bị đứt quãng thông qua việc cung cấp vốn đầu tư Do tính biến động thường xuyên

của nhu cầu vốn trong kinh doanh, tại một thời điểm luôn luôn tồn tại những doanh nghiệp

cá nhân có vốn nhàn rỗi Ngân Hàng đóng vai trò là cầu nối, thu hút vốn đầu tư từ nhữngnơi thừa vốn chuyển sang những nơi thiếu vốn, từ đó đảm bảo cho quá trình sản xuất, kinhdoanh diễn ra liên tục

Ngân Hàng góp phần thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Nhà nước, điều tiết vàkiểm soát hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn, điều hòa hoạt động kinh tế xãhội Chẳng hạn, Nhà nước có thể thay đổi tiền gửi dự trữ bắt buộc đối với các Ngân Hàng

để thay đổi lượng cung tiền, thực hiện điều hòa lưu thông tiền tệ

1.2.2 Chức năng:

*Chức năng trung gian tài chính:

Đây là chức năng quan trọng, phản ánh rõ nét nhất bản chất của Ngân Hàng thươngmại là tổ chức chuyên nghề kinh doanh tiền tệ Các NHTM, bộ phận chủ yếu của hệ thống

Trang 18

trung gian tài chính là kênh dẫn vốn quan trộng từ những thực thể có vốn nhàn rỗi đến cácthực thể có nhu cầu vốn.

Với chức năng trung gian tài chính, NHTM có khả năng chuyển đổi mức rủi ro, chuyểnđổi kì hạn, giảm chi phí giao dịch, cung cấp thông tin dịch vụ

Nhờ đó mà NHTM đã đáp ứng được những nhu cầu vốn Ngân Hàng cần thiết phải bổsung cho các doanh nghiệp để đảm bảo sản xuất, tái sản xuất được liên tục Mặt khácNHTM đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn giúp cho các doanh nghiệp đầu tư tài sản cố định, đổimới cải tiến công nghệ kĩ nghệ làm tăng năng lực sản xuất kinh doanh

* Chức năng trung gian thanh toán và chủ thể cho các doanh nghiệp trong nềnkinh tế

Khi thực hiện chức năng làm trung gian thanh toán, NHTM cung cấp cho khách hàngcủa các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt như: ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, sécthẻ tín dụng Nhờ đó mà nhu cầu tiền mặt cho chi trả ngày càng giảm, tiết kiệm đượcnhiều thời gian và chi phí cho xã hội

Hệ thống NHTM hiện nay đã thu hút được số lượng lớn các tổ chức, cá nhân mở tàikhoản tại Ngân Hàng, đặc biệt là ở các nước phát triển Qua việc thực hiện các nhiệm vụthanh toán Ngân Hàng trở thành thủ quĩ của khách hàng thực hiện thu, chi theo lệnh củachủ tài khoản Các doanh nghiệp, các cá nhân không còn cần phải dùng tiền mặt để trao đổivới nhau nữa, mà mọi việc thanh toán đều được thực hiện bằng cách mở tài khoản ở NgânHàng và trên cơ sở đó ra lệnh trên các Ngân Hàng thực hiện các khoản chi trả, đồng thời ủynhiệm cho Ngân Hàng thu nhận các khoản tiền thông qua việc trích tiền từ tài khoản ngườinày sang tài khoản người khác Ngày nay, khi hệ thống thông tin liên lạc phát triển cao, cácNHTM đều được tin học hóa, thì công tác thanh toán bù trừ giữa các vùng lãnh thổ, giữacác quốc gia được tiến hành một cách nhanh chóng, chính xác hiệu quả

* Chức năng tạo tiền:

Chức năng này được thực hiện thông qua các hoạt động tín dụng và đầu tư của cácNHTM trong mối quan hệ với NHNN qua vấn đề DTBB Khi NHTM cấp vốn tín dụng chokhách hàng A, lập tức số tiền này có thể chuyển thành tiền gửi của khách hàng B (mở tạimột Ngân Hàng bất kì) NHTM lại dùng nguồn vốn này cho các đối tượng khác vay Nhưvậy, từ một đồng vốn kí thác ban đầu, hệ thống NHTM có thể tạo ra một số vốn tín dụng

Trang 19

lớn hơn nhiều lần đẻ ra bội số tín dụng Đây chính là khả năng tạo tiền của NHTM, để kiểm soát khả năng này, luật pháp cho phép NHNN được quyền, buộc các NHTM phải kí gửi tại NHNN một phần của tổng số tiền họ nhận được từ những khách hàng gửi tiền gọi là

dự trữ bắt buộc

Theo thuyết tạo tiền: khi một khối lượng tiền gửi tăng lên, khả năng cho vay của toàn

bộ hệ thống NHTM sẽ tăng lên nhiều lần Ngược lại khi bớt đi một lượng tiền gửi khả năng cho vay của toàn bộ hệ thống NHTM sẽ giảm đi nhiều lần Cụ thể:

Khả năng mở rộng = Số tiền gửi huy động * Hệ số nhân

tiền gửi của Ngân Hàng ban đầu mở rộng tiền tệ

1

Hệ số nhân mở rộng tiền tệ = -

Tỉ lệ DTBB

Chức năng tạo tiền của hệ thống NHTM liên qua chặt chẽ tới chính sách tiền tệ của NHNN Thông qua hệ thống NHTM, NHNN có thể tăng hoặc giảm lượng tiền cung ứng bằng cách thay đổi tỉ lệ DTBB

* Chức năng khác:

Ngoài các chức năng chủ yếu như trên, NHTM còn tham gia vào nhiều dịch vụ khác:

Tư vấn cho khách hàng trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán, dịch vụ ủy thác, dịch vụ bảo quản an toàn các tài sản có giá, dịch vụ kinh doanh ngoại hối nhằm hỗ trợ và mở rộng hoạt động kinh doanh của NHTM trong thị trường tài chính

1.2.3 Hoạt động cơ bản của Ngân Hàng:

Có thể khái lược hoạt động Ngân Hàng theo ba loại nghiệp vụ chính: nghiệp vụ huy động vốn, sử dụng vốn và nghiệp vụ trung gian

Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM được thực hiện qua hành vi mở tài khoản để

thực hiện thanh toán cho khách hàng, hoặc huy động các loại tiền gửi có kì hạn, không kì hạn của các tổ chức kinh tế, dân cư (huy động vốn một cách bị động), phát hành kì phiếu, trái phiếu, đi vay các tổ chức tín dụng khác, vay NHTW (huy động vốn chủ động) đây là nguồn gốc cơ bản để NHTM phát ra tín dụng vào nền kinh tế, còn phần vốn tự có của

Trang 20

NHTM chủ yếu là phục vụ cho việc xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, mua sắm trang thiết

bị máy móc Như vậy, có thể nói NHTM kinh doanh bằng nguồn vốn huy động là chủ yếutùy theo luật pháp mỗi nước mà NHTM được huy động một tỉ lệ cao hay thấp Thôngthường vốn huy động của NHTM gấp 20 lần vốn tự có hay vốn tự có của NHTM được quiđịnh bằng hay lớn hơn 5% vốn huy động mà NHTM được,phép huy động

Như vậy, bằng nghiệp vụ huy động vốn có thể nói NHTM đã nắm trong tay một bộphận rất lớn của cải xã hội về mặt giá trị, tức là vốn điề lệ Để huy động được số tiền nhưvậy, các NHTM đã phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định, đó là tiền lãi phải trả chongười gửi tiền và các chi phí quản lí khác

Khi đã huy động được nguồn vốn trong tay, để có thể tạo ra lợi nhuận, NHTM phải

tiến hành kinh doanh dưới hình thức sử dụng vốn huy động được nhưng chủ yếu là cấp tín

dụng, các NHTM sử dụng nguồn vốn đó để kinh doanh dưới dạng đầu tư khác như: kinhdoanh ngoại tệ, kinh doanh chứng khoán đầu tư vốn trực tiếp vào các doanh nghiệp dướidạng vốn góp Nghiệp vụ sử dụng có hiệu quả, góp phần mở rộng quan hệ tín dụng vớicác thành phần kinh tế, thu hút được nhiều khách hàng đến quan hệ giao dịch với NgânHàng, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng nghiệp vụ huy động vốn

Bên cạnh đó NHTM cũng có thể tạo ra doanh thu cho mình bằng việc các nghiệp vụđược phép như thanh toán, chuyển hộ tiền, tư vấn khách hàng và thu phí dịch vụ Ngàynay, do nhu cầu phát triển của nền kinh tế, đòi hỏi hoạt động dịch vụ Ngân Hàng ngày càngphải mở rộng về số lượng và chất lượng Các Ngân Hàng phải đầu tư trang thiết bị, cơ sởvật chất, áp dụng các công nghệ tiên tiến vào hoạt động Ngân Hàng để đáp ứng nhu cầucủa khách hàng, đồng thời nâng cao lợi nhuận cho mình

Các hoạt động của Ngân Hàng có quan hệ tác động tới nhau vì vậy Ngân Hàng phảithực hiện đồng bộ thống nhất tất cả các khâu có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu pháttriển của nền kinh tế và của mỗi Ngân Hàng

2 Vốn, công tác quản lí và huy động vốn của Ngân Hàng

2.1 Cơ cấu vốn và các hình thức huy động vốn của Ngân Hàng:

Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, Ngân Hàng muốn hoạt động được trướchết phải có vốn Nhưng Ngân Hàng là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh “tiền tệ” do

Trang 21

đó, nhu cầu về vốn của NHTM là rất lớn và việc tao vốn cho Ngân Hàng là vấn đề quantrọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh Ngân Hàng.

Vốn kinh doanh của các Ngân Hàng thương mại là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các tàisản có của Ngân Hàng Vốn kinh doanh của NHTM được hình thành từ nhiều nguồn khácnhau là vốn tự có, vốn huy động, các loại vốn khác

2.1.1 Vốn tự có:

Về mặt kinh tế, vốn tự có là vốn do các chủ sở hữu đóng góp và được tạo ra trong quátrình kinh doanh được thể hiện ở dạng lợi nhuận giữ lại Vốn tự có gồm: Vốn điều lệ, cácquĩ dự trữ, các tài sản nợ khác

Vốn là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động Ngân Hàng Qui mô vốn tự có

là yếu tố quyết định qui mô vốn huy động và qui mô các hoạt động Vốn tự có còn là căn

cứ để tính toán các tỉ số hoạt động của nghành Hầu hết ở các nước đều qui định mức tổngtài sản tối đa Ngân Hàng có thể có so với vốn tự có, một số nước còn giới hạn khả nănghuy động vốn tiền gửi, khả năng hùn vốn

ở Việt Nam, theo chế độ kế toán, tài chính hiện hành vốn tự có của NHTM bao gồmcác thành phần:

- Vốn pháp định: Là số vốn tối thiểu phải có để thành lập Ngân Hàng

- Vốn điều lệ: Là vốn do Nhà nước cấp, do các cổ đông đóng góp

Ngoài ra, vốn tự có của NHTM còn bao gồm: lợi nhuận tích lũy, quĩ phát triển kĩ thuậtnghiệp vụ Ngân Hàng, qũi khen thưởng, quĩ phúc lợi, quĩ khấu hao tài sản cố định

2.1.2 Vốn huy động:

* Vốn tiền gửi:

Tiền gửi của các tổ chức kinh tế

Tiền gửi của các tổ chức kinh tế là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong quá trìnhsản xuất kinh doanh được gửi tại Ngân Hàng Nó bao gồm một bộ phận vốn tiền tệ tạm thờinhàn rỗi được giải phóng ra khỏi quá trình luân chuyển vốn Doanh nghiệp chưa có nhucầu sử dụng (vốn lưu động) hoặc sử dụng cho những mục tiêu định sẵn vào một thời điểmnhất định (các quĩ: quĩ đầu tư phát triển, quĩ dự trữ tài chính, quĩ dự trữ tài chính, quĩ phúclợi, quĩ khen thưởng …)

Vốn tiền gửi của các tổ chức kinh tế, Ngân Hàng huy động dưới hai hình thức:

- Tiền gửi không kì hạn (tiền gửi thanh toán)

Trang 22

Tiền gửi thanh toán là loại tiền gửi mà khi gửi tiền vào người gửi có thể rút ra bất kì lúcnào, và Ngân Hàng có trách nhiệm phải thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Khi gửi tiền,khách hàng được hưởng lãi suất và khi có nhu cầu sử dụng thì họ có thể rút tiền ra nên vẫn

có thể thỏa mãn nhu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh Đồng thời, khách hàng còn cóthể sử dụng tiền gửi này để phục vụ cho công tác thanh toán không dùng tiền mặt qua NgânHàng

- Tiền gửi có kì hạn : là loại tiền gửi mà khi gửi tiền có sự thỏa thuận về thời hạn rúttiền

Về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã thỏa thuận Tuynhiện, trên thực tế do quá trình cạnh tranh, để thu hút tiền gửi các Ngân Hàng thường chophép khách hàng được rút tiền ra trước thời hạn nhưng không được hưởng lãi, hoặc chỉđược hưởng một mức lãi suất thấp hơn

- Tài khoản NOW và tài khoản NOW đặc biệt:

Tài khoản NOW là tài khoản tiền gửi séc có hưởng lãi, không có kì hạn và NgânHàng phải chi trả khi khách hàng yêu cầu

Tài khoản NOW đặc biệt tương tự như tài khoản NOW nhưng được trả lãi cao hơn,thường kèm theo đó là số dư tối thiểu cao hơn và một số hạn chế khác

Tiền gửi dân cư:

Tền gửi dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của dân cư gửi tại Ngân Hàng Cócác hình thức:

- Tiền gửi tiết kiệm: đây là hình thức huy động truyền thống của Ngân Hàng Tronghình thức huy động này, người gửi tiền khi gửi được giao được giao cầm sổ tiết kiệm, sổnày coi như giấy chứng nhận gửi tiền vào quĩ tiết kiệm của Ngân Hàng

Việc huy động vốn tiền gửi của khách hàng đem lại cho Ngân Hàng một nguồn vốn đểkinh doanh và nắm bắt được những thông tin tư liệu chính xác về tình hình tài chính củacác tổ chức kinh tế, các cá nhân có quan hệ tín dụng với Ngân Hàng Tạo điều kiện choNgân Hàng có căn cứ để qui định mức vốn đầu tư cho vay với những khách hàng đó Hơnnữa, việc huy động vốn tiền gửi của Ngân Hàng còn có ý nghĩa quan trọng trong việc ổnđịnh lưu thông tiền tệ, góp phần ổn định giá trị đồng tiền thúc đẩy kinh tế phát triển

* Vốn huy động qua các chứng từ có giá:

Trang 23

Đây chính là việc các NHTM huy động vốn qua hình thức phát hành các chứng chỉ tiềngửi CDs, kì phiếu, trái phiếu Ngân Hàng để huy động vốn Đặc điểm chung của loại vốnnày là lãi suất cao hơn tiền gửi tiết kiệm Mục đích huy động là để đầu tư cho các dự ánlớn Đây là khoản tiền Ngân Hàng đi vay, nguồn vốn này được huy động với nhiều kì hạnkhác nhau như: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn Loại vốn thường được huy động dưới hìnhthức phát hành kì phiếu có mục đích và trái phiếu trung, dài hạn

2.1.3 Vốn vay:

Trong trường hợp có khó khăn tài chính, thiếu hụt dự trữ, thiếu hụt thanh khoản… đểđáp ứng nhu cầu này các NHTM có thể vay mượn lẫn nhau trên thị trường liên Ngân Hàngvay các tổ chức tín dụng khác hoặc vay NHNN để giải quyết kịp thời khó khăn về tàichính Các khoản vay này đều phải có thế chấp bằng các chứng tư có giá, số dư tại NHNNhoặc ít nhât cũng phải có được sự bảo lãnh của NHNN Khoản vay này đã trở thành nguồnvốn quan trọng do sự biến động thường xuyên giữa việc huy động và sử dụng vốn Tuynhiên, do tính chất vay nóng của nó nên lãi suất thường khá cao

2.1.4 Nguồn vốn điều hòa trong hệ thống:

Các NHTM hoạt động trên các địa bàn khác nhau nên luôn luôn xuất hiện tình trạng ởNgân Hàng này thừa vốn trong khi ở Ngân Hàng khác lại thiếu vốn Sở dĩ có hiện tượngnày là do: Về phía Ngân Hàng thừa vốn có thể có sự biến động lớn ở đầu ra dẫn đến việckhông mở rộng được hoạt động trong khi vẫn phải duy trì việc huy động vốn Còn về phíaNgân Hàng thiếu vốn do thị trường đầu ra mở rộng trong khi thị trường đầu vào không thể

mở rộng được nữa Lúc này NHNN hoặc các hội sở chính sẽ thực hiện việc điều phốichuyển vốn, từ nơi này sang nơi khác từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn Chính vì thế đây

là nguồn vốn khá quan trọng, nó giúp Ngân Hàng có thể mở rộng được thị trường đầu ratrong khi thị trường đầu vào còn bị hạn chế

Trang 24

tính chất trung gian của NHTM mà qua đó NHTM có thể đáp ứng nhu cầu tín dụng chonền kinh tế Thông thường vốn tài trợ gồm ba khoản: một khoản tài trợ không hoàn lại, mộtkhoản cho vay lãi suất thấp và một thời gian ân hạn Thời gian từ lúc vay cho lúc trả nợ coinhư bằng không Ngân Hàng nhận làm đại lí sẽ trộn ba khoản trên để có một lãi suất hòađồng cộng với phí Ngân Hàng để cho vay lại.

2.1.6 Nguồn vốn trong thanh toán:

Trong quá trình làm trung gian thanh toán NHTM cũng có một khoản vốn gọi là khoảnvốn trong thanh toán như vốn trên tài khoản tiền gửi mở thư tín dụng, tài khoản tiền gửibảo chi séc và các khoản tiền phong tỏa do các Ngân Hàng chấp nhận các hối phiếu thươngmại

2.2 ý nghĩa của việc quản lí nguồn vốn:

Huy động vốn với mức chi phí hợp lí đã trở nên quan trọng trong những năm gần đây.Dẫu rằng sử dụng vốn như thế nào vẫn là yếu tố quan trọng, song trong điều kiện môitrường hiện nay với các điều kiện thay đổi liên tục cạnh tranh gay gắt hơn để thu hút nguồntiết kiệm, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn tăng cao trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triểnnhanh chóng, việc chống đỡ các cuộc khủng hoảng lớn, nhỏ đang đặt các NHTM trướcnhững thách thức lớn Việc quản lí tài sản nợ bao gồm các hoạt động liên quan với việcnhận vốn từ những người gửi tiền, những người cho vay khác và quyết định mức góp vốncủa mình

Việc quản lí nguồn vốn và tài sản đòi hỏi phải cân nhắc các rủi ro phụ cũng như sựchênh lệch giữa chi phí vay vốn (chủ yếu là lãi suất vay) và mức lợi nhuận có thể thu đượckhi đầu tư Khi xem xét việc quản lí nguồn vốn thì phải đồng thời quan tâm đến mối quan

hệ cân đôi giữa nguồn vốn và tài sản Đây là cặp yếu tố quan trọng, ảnh hưởng đến doanhlợi và rủi ro của Ngân Hàng

3 Phương pháp xác định chi phí huy động vốn:

3.1 Vì sao phải xác định chi phí huy động vốn ?

Có ba lí do buộc các doanh nghiệp phải quan tâm đến việc xác định chi phí huy độngvốn

Thứ nhất: Ngân Hàng bao giờ cũng cố gắng tìm kiếm cho mình một tổ hợp các nguồn

vốn khác nhau trên thị trường với mức chi phí thấp nhất Nếu giả thiết coi tất cả các yếu tố

Trang 25

khác là như nhau thì Ngân Hàng nào có mức chi phí huy động vốn thấp nhất mà khôngphải chấp nhận mức rủi ro cao hơn thì Ngân Hàng đó sẽ có mức lợi nhuận cao hơn.

Thứ hai: Việc tính toán chính xác chi phí huy động vốn được coi là mọt yếu tố cơ bản

để xác định mức lợi nhuận mà Ngân Hàng sẽ thu được,và căn cứ vào đó Ngân Hàng sẽđịnh giá cho mỗi sản phẩm dịch vụ của mình

Thứ ba: Loại hình nghiệp vụ mà Ngân Hàng sử dụng cũng như việc sử dụng các loại

nghiệp vụ này ảnh hưởng đáng kể đến rủi ro thanh toán, rủi ro lãi suất và rủi ro vốn

3.2 Phương pháp xác định chi phí huy động vốn:

3.2.1 Phương pháp chi phí trung bình theo nguyên giá:

Đây là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất, có ưu điểm là đánh giá được nguồnvốn trong quá khứ

Chi phí trả lãi lãi Chi phí trả lãi

gia quyền = -

Tổng các khoản tiền gửi và vay

- Để bù đắp được chi phí trả lãi:

Chi phí trả lãi

Chi phí đặt ra = -

Tài sản có sinh lời

- Để đạt được mức lãi cổ phần a% (với mức thuế T%)

% ROE trước thuế * vốn cổ phần Thu nhập để đảm bảo ROE = -

Tài sản sinh lời

a VCC

= - *

1-T% Tài sản có sinh lời

3.1.2 Phương pháp xác định chi phí huy động vốn biên:

Cơ sở của phương pháp này là Ngân Hàng sẽ căn cứ vào chi phí huy động vốn biên củamình (là chi phí bỏ ra để có thêm một đơn vị vốn sử dụng được) để xác định mức lợi nhuậntối thiểu cần đạt được từ các khoản tài sản có thêm nhờ nguồn vốn này Đồng thời, NgânHàng cũng cố gắng tìm kiếm nguồn vốn đòi hỏi chi phí thấp nhất

Trang 26

Cách tiến hành: Xác định một nghiệp vụ duy nhất mà Ngân Hàng muốn sử dụng sau đótính chi phí biên của nghiệp vụ này và sử dụng kêt quả tính được làm cơ sở định giá chocác loại tài sản có mới Kết quả là nguồn vốn được chọn này là nguồn rẻ nhất mà NgânHàng có thể huy động được.

Thu nhập biên từ một Chi phí trả lãi + chi phí khác

nguồn riêng lẻ = -

1 - % dùng vào tài sản không sinh lời

Chi phí huy động biên tập hợp:

Chi phí biên =

Tổng số tiền

c) Phương pháp chi phí dự kiến bình quân gia quyền:

Phương pháp này sử dụng chi phí dự kiến bình quân gia quyền của tất cả tất cả các loạinguồn vốn làm kết quả ước đoán chi phí biên Với giả thiét rằng: Ngân Hàng đã tài trợđược với mức chi phí huy động chung thấp nhất thì chi phí huy động biên phải bằng với chiphí dự kiến bình quân gia quyền

Chi phí huy động bình quân Tổng chi phí bằng tiền

gia quyền dự kiến =

Số lượng huy động

3.3 Đánh giá các phương pháp:

Tùy theo mục đích sử dụng của con số huy động vốn tính toán được mà người ta lựachọn phương pháp tíng toán Chi phí huy động trung bình theo nguyên giá có tác dụngđánh giá được tình hình hoạt động trước đó của Ngân Hàng, từ đó làm căn cứ định giá đốivới các sản phẩm của Ngân Hàng trong tương lai Chi phí biên của mội loại nghiệp vụ cụthể được sử dụng khi Ngân Hàng muốn quyết định nên huy động loại nguồn vốn nào trongmột tập hợp các sản phẩm, dịch vụ mà nhà hoạch định dự đínhẽ huy động

Ngoài việc hàng ngày theo dõi tính toán chi phí huy động vốn, các nhà làm Ngân Hànghiện đại cũng theo dõi sát xao xu hướng vận động của các nguồn vốn riêng lẻ thông qua sự

Trang 27

trợ giúp của công nghệ tin học hiện đại để có thể kịp thời đưa ra các quyết định đúng đắn

Mục tiêu quản lí nguồn vốn là cơ sở và tiền đề cho việc đề ra các kế hoạch và chiếnlược về nguồn vốn của Ngân Hàng Bất kì một Ngân Hàng nào cũng hướng tới ba mụctiêu:

kì hạn ngắn hơn và do đó không ổn định bằng các nguồn dài Ngân Hàng phải cân nhắcnguồn rẻ và kì hạn ổn định để từ đó chọn ra một phương pháp huy động riêng phù hợp vớiđơn vị

4.2 Tạo nguồn vốn ổn định:

Tiêu chí nguồn ổn định gắn liền với kì hạn thực càng dài, càng tốt và, lượng khách hàngđông đảo, đa dạng

4.2.1 Kì hạn danh nghĩa và kì hạn thực tế:

- Kì hạn danh nghĩa: Là kì hạn ghi trên sổ của khách hàng, là những cam kết về mặt

thời gian mà người gửi tiền hay người cho vay đã hứa

Trang 28

- Kì hạn thực tế: Là kì hạn thực mà toàn bộ số tiền gửi của khách hàng nằm trong

quĩ của Ngân Hàng

Ông A gửi tiền tiết kiệm trong Ngân Hàng với kì hạn 2 năm (đây thuộc loại tiền gửitrung hạn) lãi suất 6% năm Do cần tiền chi tiêu nên chỉ sau 3 tháng ông đã rút trước hạn vàchịu phạt ( một số Ngân Hàng cho phép ông hưởng lãi suất không kì hạn) Vậy khoản tiền

mà ông A gửi có kì hạn danh nghĩa ghi sổ là 2 năm nhưng kì hạn thực tế là 3 tháng, Điều gì

sẽ xảy ra nếu có vô số người như ông A đến rút tiền trước kì hạn ? Việc ông A rút tiềntrước kì hạn có nhiều lí do Có thể ông nghe đồn rằng Ngân Hàng ông đang gửi tiền cónguy cơ bị phá sản, có thể ông cần tiền cho chi tiêu mua sắm hay đầu tư, mcũng có thể ông

đã có cách cất trữ tiền ở một nơi khác có độ sinh lời và an toàn cao hơn …Đây chính là cácgiả định mà nhà quản trị Ngân Hàng phải tính trước

4.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến kì hạn thực tế:

Kì hạn thực tế là kì hạn thực mà Ngân Hàng có thể sử dụng số tiền gửi Có nhiều yếu tố

tác động đến vấn đề này Vì vậy, Ngân Hàng phải tính toán, hoạch định một cách chặt chẽ

để đảm cho hoạt động của Ngân Hàng

- Kì hạn danh nghĩa

- Tình hình kinh tế xã hội

- Tâm lí của khách hàng

- Thói quen tiêu dùng

- Các chính sách của Nhà nước, của NHTW

- Các cơ hội đầu tư

Trong những điều kiện nhât định, kì hạn thực tế có thể dài hơn kì hạn kì hạn danhnghĩa Trong ví dụ trên, nếu sau 2 năm ông A không rút tiền mà gửi tiếp thì kì hạn thực tế

sẽ dài hơn kì hạn danh nghĩa Khi kì hạn yhực tế càng dài thì sự ổn định của nguồn vốn huyđộng càng cao Sự tăng trưởng của số dư tiền gửi chính là cơ sở để đo lường tính ổn địnhcủa kì hạn Chúng ta có thể có được một hình ảnh về tính ổn định của nguồn tiền mà khôngphụ thuộc vào kì hạn danh nghĩa

4.3 Xây dựng qui mô và cơ cấu nguồn vốn phù hợp:

Có hai trường phái chính quan tâm đến việc quản lí qui mô theo hai cách tiếp cận khácnhau:

4.3.1 Bắt nguồn từ nhu cầu:

Trang 29

Theo trường phái này, để xây dựng qui mô và cơ cấu nguồn vốn phù hợp thì phải dựdoán chính xác được nhu cầu (ở đây là nhu cầu sử dụng bên tài sản) Các Ngân Hàng tậptrung vào các nguồn truyền thống gắn liền với các công cụ và thị trường truyền thống.Trước tiên, họ ưu tiên vào các nguồn rẻ chi phí huy động thấp, lãi suất thấp và ổn định.Nếu thấy vẫn không phù hợp với nhu cầu về vốn thì Ngân Hàng mới khai thác các nguồnkhác như: Vay NHNN, vay các tổ chức tín dụng, phát hành các giấy tờ có giá.

4.3.2 Bắt nguồn từ thị trường nguồn vốn, các chính sách của thị trường nguồn để huy động:

Theo trường phái này thì thị trường bên nguồn đã sẵn có và dồi dào, cái mà họ quantâm là đi tìm kiếm các khách hàng bên tài sản thông qua các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu,cho vay, bảo lãnh, cho thuê… Tuy nhiên, trong điều kiện các nguồn huy động khan hiếmnhư hiện nay cùng với sự cạnh tranh gay gắt về việc thu hút các nguồn vốn rẻ đã khiến chochính sách nay trở nên lỗi thời Ngày nay hầu hết các Ngân Hàng thương mại đều vậndụng chính sách bắt nguồn từ nhu cầu

5 Các rủi ro gắn liền với việc huy động vốn

Các nguồn vốn khác nhau sẽ ảnh hưởng đến rủi ro của Ngân Hàng theo những cáchkhác nhau Với mục tiêu đem lại lợi nhuận cao nhất với một mức rủi ro có thể chấp nhậnđược, nhà quản trị Ngân Hàng sẽ phải xem xét rủi ro cũng như chi phí của các nguồn vốnkhác nhau của Ngân Hàng Chúng ta sẽ tập trung và nghiên cứu các nguồn vốn của NgânHàng có tác động như thế nào tới đến rủi ro tài chính của hoạt động Ngân Hàng: Rủi rothanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng và rủi ro vốn

5.1 Rủi ro thanh khoản:

Rủi ro thanh khoản gắn liền với các nguồn vốn Ngân Hàng khác nhau Trước hết là rủi

ro khi người gửi tiền muốn rút tiền của họ Rủi ro này rát khác nhau tùy theo từng loại hìnhtiền gửi và dường như nó cũng thay đổi khi điều kiện kinh tế thay đổi Tiền gửi tiết kiệm vàtiền gửi có kì hạn được coi là nguồn tương đối ổn định, nguồn vốn không phải tiền gửichiếm một lượng không đáng kể trong tổng nguồn vốn của các Ngân Hàng Do vậy áp lực

thanh khoản chủ yếu đối với các Ngân Hàng là từ sự biến động về số dư tiền gửi không kì

hạn

Có hai yếu tố để xác định nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản liên quan đến việc rúttiền gửi ở Ngân Hàng

Trang 30

Thứ nhất, Ngân Hàng có tạo được nguồn thu nhập để trả lãi suất cạnh tranh hay không ?Thứ hai, Ngân Hàng có khả năng sử dụng vốn vay và chứng khoán của mình mỗi khicần hay không ?

5.2 Rủi ro lãi suất trong huy động vốn:

Rủi ro lãi suất liên quan đến nguồn vốn của Ngân Hàng phụ thuộc rất nhiều vào độnhạy cảm lãi suất của các tài sản được tài trợ bằng các nguồn vốn nào Một kĩ thuật quản líphù hợp là phải so sánh độ nhạy cảm lãi suất theo thời gian của tất cả các nguồn vốn với độnhạy cảm lãi suất theo thời gian của các tài sản được tài trợ bằng các nguồn vốn này Lưu ý

là đối với các nguồn vốn khác nhau thì rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất cũng có thểkhác nhau, ngoài ra mức độ nhạy cảm với lãi suất của các nguồn này cũng rất đa dạng.Việc Ngân Hàng lựa chọn trong những nguồn vốn sẵn có dường như sẽ phụ thuộc vào phítổn về lãi suất của nguồn vốn đó vào trạng thái cân bằng về thanh khoản và độ nhạy cảm vềlãi suất của Ngân Hàng

5.3 Tác động qua lại với rủi ro tín dụng:

Nguồn vốn của một Ngân Hàng không có tác động trực tiếp đến rủi ro tín dụng củaNgân Hàng đó vì người gửi tiền và người cho vay phải chịu rủi ro, Ngân Hàng không thểtrả lại tiền cho họ Tuy nhiên, ở đây vẫn có hai tác động gián tiếp: chi phí huy động vốncao chỉ là tác động phụ, làm cho người gửi tiền và chủ nợ của Ngân Hàng cảm thấy lo lắng

về khả năng trả đúng hạn của Ngân Hàng Tiếp nữa là nếu chi phí huy động vốn cao thìNgân Hàng sẽ có động cơ để chấp nhận rủi ro tín dụng cao hơn trong nỗ lực duy trì chênhlệch lợi nhuận như trước Vì vậy bảo hiểm tiền gửi nhằm phần nào giảm nhẹ hậu quả củahai tác động gián tiếp này

5.4 Tác động qua lại với rủi ro vốn:

Cuối cùng, nguồn vốn của một Ngân Hàng luôn có tác động trực tiếp đến rủi ro vốn vàđòn bẩy của Ngân Hàng đó Vốn cổ phần của Ngân Hàng đăt hơn nhiều so với nguồn tiền

gửi và nguồn tiền vay bởi vì cổ đông ngày càng cảm thấy không chắc chắn về hệ số lãi

trên số vốn cổ phần và bởi thu nhập từ vốn cổ phần này không phải là một khoản chi phíđược miễn trừ thuế, cho dù lợi nhuận là lợi nhuận hay cổ tức trả bằng tiền mặt Như vậy,Ngân Hàng có thể hạ chi phí bằng cách tăng mức vay nợ (tăng đòn bẩy) Tuy nhiên khi rủi

ro vốn trở nên rủi ro hơn thì lợi ích này là hoàn toàn không thực tế Chi phí của các nguồnvốn khác của Ngân Hàng có thể tăng lên khi rủi ro vốn tăng

Trang 31

Đối với các NHTM quốc doanh,với số vốn tự có nhỏ bé và các khoản nợ quá hạn lớnthì khó có thể chống đỡ được những rủi ro cho bên nguồn Giải pháp hữu hiệu đó là tăngvốn tự có của Ngân Hàng đồng thời cổ phần hóa một phần vốn tự có.

ChươngIII

Thực trạng công tác quản lí và

huy động vốn của sở giao dịch I

Ngân Hàng đầu tư & phát triển Việt Nam

A Tổng quan về Ngân Hàng Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam:

Trang 32

- Ngân Hàng kiến thiết Việt Nam từ ngày 26/4/1957

- Ngân Hàng Đầu Tư và xây dựng Việt Nam từ 24/6/1981

- Ngân Hàng Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam từ ngày 14/11/1990

 Ngân Hàng Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam là một doanh nghiệp đặc biệt, được tổ chứctheo mô hình tổng công ty nhà nước (tập đoàn) mang tính hệ thống thống nhất bao gồmhơn 112 chi nhánh và các công ty trong toàn quốc, có ba đơn vị liên doanh với nướcngoài (2 Ngân Hàng và 1 công ty), hùn vốn với 5 tổ chức tín dụng

 Trọng tâm hoạt động và nghề nghiệp truyền thống của NHĐT PTVN là phục vụ đầu tưphát triển, các dự án thực hiện các chương trình phát triển kinh tế then chốt của đấtnước Thực hiên đầy đủ các mặt nghiệp vụ của Ngân Hàng phục vụ các thành phần kinh

tế, có quan hệ hợp tác chặt chẽ với các doanh nghiệp, tổng công ty NHĐT&PTVNkhông ngừng mở rộng quan hệ đại lí với hơn 400 Ngân Hàng và quan hệ thanh toán vớihơn 50 Ngân Hàng trên thế giới

 NHĐT&PTVN là một Ngân Hàng chủ lực thực thi chính sách tiền tệ quốc gia và phục

vụ đầu tư phát triển Quá trình 43 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển luôn gắnliền với các giai đoạn lịch sử của đất nước

1 1957 - 1975: Thời kì khôi phục kinh tế và thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, thời kì này xây dựng và bảo vệ tổ quốc:

Từ năm 1957 đến năm 1960, thời kì khôi phục kinh tế và thực hiên kế hoạch 5 năm lầnthứ nhất NHĐT&PTVN đã cung ứng 1.483 tỉ đồng (theo giá năm 1960) tương đương 1480

tỉ đồng (theo giá năm 1995) cho kiến thiết cơ bản, góp phần hàn gắn vết thương chiếntranh, khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, tạo đà bước vào kế hoạch 5 năm lầnthứ nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

2 1976 -1989 thời kì khôi phục và phát triển kinh tế sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội:

NHĐT&PTVN đã góp phần thực hiện đường lối phát triển kinh tế, xã hội của Đại HộiĐảng lần thứ IV, V,VI và phương hướng đầu tư để khôi phục kinh tế sau chiến tranh tạonhững tiền đề để đầu tư phát triển kinh tế

3 1990 - 1999 : thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước:

Trang 33

Bước vào thời kì thực hiện chủ trương đổi mới kinh tế của Đảng và nhà nước, hoạtđộng của NHĐT&PTVN cón những thuận lợi cũng như những khó khăn, thử thách Vềthuận lợi: Có các nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI, VII, IIX soi đường và được sự chỉđạo trực tiếp của Chính Phủ, ban cán sự Đảng, ban lãnh đạo NHNN Song NHĐT & PTcũng gặp không ít khó khăn, thử thách như:

- Là một Ngân Hàng giữ vai trò chủ lực trong đầu tư , phát triển nhưng nguồn vốncủa NHĐT&PTVN còn ít, cơ cấu nguồn vốn chưa hợp lí

- Nhiều hoạt động của Ngân Hàng còn sơ khai, chưa được ứng dụng các công nghệhiện đại

- Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ còn nhiều bất cập

- Đặc biệt từ năm 1995, khi chuyển nhiệm vụ cấp phát vốn từ NHĐT&PTVN sangTổng cục đầu tư (thuộc bộ tài chính), NHĐT&PTVN thực sự hoạt động như mộtNgân Hàng thương mại nên chưa có nhiều kinh nghiệm Tuy vậy, toàn bộ hệ thốngNHĐT&PTVN đã phát huy động vốn những thuận lợi, nhận thức rõ những khókhăn, thử thách ; với truyền thống đoàn kết, sáng tạo, tự tin và tinh thần không chùnbước trước mọi khó khăn NHĐT&PTVN luôn quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm

vụ chính trị được giao

B Sở Giao Dịch I Ngân Hàng Đầu Tư & Phát Triển Việt Nam

1 Quá trình hình thành và phát triển của SGD I (BIDV)

SGD I được thành lập theo thông báo số 572 TCCB/ĐT ngày 26/12/1990.Của Vụ Tổchức cán bộ Ngân Hàng Nhà nước về tổ chức bộ máy của NHĐT&PTVN và Quyết Địnhsố76 QĐ/TCCB ngày 28/3/1991 của Tổng giám đốc NHĐT&PTVN Theo QĐ này, SGD I

là đơn vị trực thuộc, là đại diện pháp nhân của NHĐT&PTVN, thực hiện hoạch toán nội

bộ, có bảng cân đối tài khoản riêng, có con dấu riêng và trực tiếp giao tiếp với khách hàng.Trụ sở theo qui định đặt tại Hà Nội (hiện nay tại tòa nhà số 53 Quang Trung).Là một đơn

vị thành viên lớn nhất của hệ thống NHĐT&PTVN.Là NHTM quốc doanh hoạt động đanăng trong mọi lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt là trong đầu tư phát triển Là đơn

vị xuất sắc trong hệ thống NHĐT&PTVN, liên tục đi đầu trong một số lĩnh vực như huyđộng tiền gửi và cho vay phục vụ đầu tư phát triển Năm 2002 đơn vị đã được cấp chứngchỉ ISO 9001

Trang 34

SGD NHĐT&PTVN là một Ngân Hàng thương mại trực thuộc NHĐT&PTVN trực tiếpkinh doanh với nhiệm vụ chủ yếu là huy động vốn và cho vay đầu tư đối với các dự ánthuộc các thành phần kinh tế có địa điểm xây dựng trải dài qua nhiều tỉnh Thành Phố Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, trong từng giai đoạn, tùy tình hình cụ thể

mà các cấp quản lí giao cho NHĐT&PTVN (hoạt động thông qua SGD I ) những chứcnăng, nhiệm vụ cụ thể Do vậy mà chức năng, nhiệm vụ của SGD I trong từng giai đoạncũng thay đổi Quá trình phát triển của SGD I có thể chia thành hai giai đoạn như sau:

- Giai đoạn I từ 1991- 1995: Nhiệm vụ chính trong giai đoạn này là cấp phát vốnngân sách cho đầu tư XDCB

Giai đoạn này (từ khi thành lập tháng 1/1990 đến năm 1995): Ngân Hàng hoạt động nhưmột Ngân Hàng phát triển SGD nhận cấp phát vốn từ TW và thực hiện các dự án đượcChính Phủ chỉ định, để thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội Tuy nhiên Ngân Hàng chỉtham gia với tư cách là nguời cấp phát, quản lí vốn, Ngân Hàng không được từ chối các dự

án này cũng không được tham gia thẩm định các dự án

- Giai đoạn II từ 1995 – nay: Thực hiện kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ thanh toán,

tự cân đối nguồn, tìm dự án cho vay

Giai đoạn này hệ thống NHĐT&PTVN chuyển dần sang hoạt động như một Ngân Hàngthương mại (với mốc đánh dấu là tháng 10 năm 1994 khi NHĐT&PTTW nói chung vàSGD nói riêng thực hiện phát hành kì phiếu) Tuy nhiên, SGD vẫn còn mang dáng dấp củamột Ngân Hàng phát triển với việc thực hiện các dự án mang tính chất phát triển Kinh tế –

Xã hội do Chính Phủ chỉ định (nhưng lúc này chỉ mang tính chất định hướng), SGD xemxét các dự án và quyết định có thực hiện các dự án này hay không Nguồn vốn cho các dự

án này hoặc lấy từ nguồn vốn ủy thác hoặc từ nguồn thu nợ của các dự trước hoặc lấy từnguồn huy động của SGD và được Nhà nước cấp bù chênh lệch lãi suất (quan hệ thuần túy

là quan hệ vay-trả)

Trang 35

1.1 Cơ cấu tổ chức của SGD I:

Sơ đồ cơ cấu tổ chức Sở Giao Dịch I NHĐT&PTVN

BAN GIÁM ĐỐC

Phòng ngu n v n kinh ồn lực ốn kinh

doanh

Phòng qu n lý ản lý khách hàng

Phòng t i chính k àng ến lược kinhtoán

Phòng i n toánđ ệp

Phòng t ch c h nhổng hợp và đánh giá ức hành àngchính v kho qu àng ĩ

Phòng giao d ch ịch trung tâm Tr ngàng

ti n Plaza ền PlazaPhòng giao d ch 1ịch

Phòng giao d ch 2ịch

Chi nhánh khu v cự báoGia Lâm

Chi nhánh

tr c ự báothu cộng

Trang 36

Cơ cấu tổ chức của SGD được tổ chức xắp xếp theo quyết định số 210 QĐ/TCCT củatổng Giám Đốc NHĐT&PTVN ra ngày 18/12/1998 về việc thành lập bộ máy của SGD.Ban Giám Đốc hiện nay bao gồm một Giám Đốc và hai phó Giám Đốc, Giám Đốc hiện nay

là một phó tổng Giám Đốc NHĐT&PTVN Giúp việc cho ban Giám Đốc là các trưởngphòng, giúp việc cho trưởng phòng là các phó phòng SGD gồm 12 phòng ban, hai phònggiao dịch tại trung tâm thương mại Tràng Tiền Plaza và ở Hàng Vôi, một chi nhánh GiaLâm, 10 quĩ tiết kiệm Đội ngũ cán bộ công nhân viên được đào tạo ở trình độ cao của đơn

vị không ngừng tăng trưởng, hiện nay sở có khoảng 200 người, tăng 20% so với cuối nămtrước, đa số là cán bộ trẻ, có trình độ, nhiệt tình phấn đấu vì sự phát triển của đơn vị

1.2 Chức năng và quyền hạn của Sở Giao Dịch:

Theo quyết định số 76 QĐ/TCCB, Sở Giao Dịch được quản lí, sử dụng vốn, tài sản vàcác nguồn lực khác của NHĐT&PTVN và các nguồn vốn huy động, tiếp nhận và đi vaytheo qui định của pháp luật và hướng dẫn của NHĐT&PTVN để thực hiện các nhiệm vụđược giao

Sở Giao Dịch có nghĩa vụ sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển nguồn vốn, tài sản

và các nguồn lực khác được giao để thực hiện các nhiệm vụ được giao để thực hiện cácmục tiêu kinh doanh và các nhiệm vụ do NHĐầu Tư &Phát Triển giao.Sở Giao Dịch cónghĩa vụ thực hiện :

- Hoàn trả đầy đủ và đúng hạn tiền vốn cho khách hàng gửi tiền theo thỏa thuận

- Các khoản nợ, phải thu, phải trả trong bảng tổng kết tài sản trong phạm vi số vốn

do Sở Giao Dịch quản lí

Trang 37

- Hoàn trả các khoản tín dụng do Sở Giao Dịch trực tiếp vay hoặc thực hiện nghĩa

vụ thay cho khách hàng được Sở Giao Dịch bảo lãnh nếu khách hàng

- không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình

1.3 Các nghiệp vụ hoạt động tại Ngân Hàng:

SGD là một pháp nhân có tính độc lập cao trong hệ thống NHĐT&PTVN, có quyền tổ

chức, ra các quyết định quản lí, kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật và điều lệ hoạt độngcủa NHĐT&PTVN

1.3.1 Nhận tiền gửi và thanh toán :

- Sở Giao Dịch BIDV nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam và đồng ngoại tệ của các tổchức tín dụng và các cá nhân dưới mọi hình thức:

Nhận tiền gửi thanh toán có kì hạn, không kì hạn;

Nhận tiền gửi tiết kiệm với nhiều kì hạn đa dạng, phong phú;

Huy động trái phiếu, kì phiếu với các loại kì hạn;

- Gửi tiền và thanh toán qua Sở Giao Dịch:

1.3.2 Nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn:

Sở Giao Dịch không chỉ là đơn vị hoạt động tronglĩnh vực đầu tư phát triển mà còn làNgân Hàng cung cấp nhiều loại hình tín dụngngắn hạn phong phú

Các loại cho vay:

Cho vay bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh theo hạn mức tín dụngthường xuyên hoặc theo món

Cho vay hỗ trợ vốn trong khi chờ thanh toán của chủ đầu tư

Cho vay chờ nguồn vốn đầu tư theo kế hoạch Nhà nước

Cho vay ngoại tệ phục vụ nhập khẩu nguyên liệu, vật tư cho sản xuất, thi công

Cho vay đối ứng bằng tiền gửi

Cho vay theo hạn mức tín dụng để dự phòng mở L/C

Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, chiết khấu bộ chứng từ

Cho vay thiếu hụt tài chính tạm thời

Cho vay tiêu dùng đối với CBCNV

Cho vay cầm cố bằng các chứng từ có giá

1.3.3Nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn:

Các loại cho vay:

Trang 38

Cho vay trung, dài hạn phục vụ đầu tư phát triển.

Cho vay thiết bị theo hình thức cho thuê tài chính

Cho vay hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ

Cho vay ứng dụng các đề tài nghiên cứu khoa học vào sản xuất

Cho vay kết hợp với quĩ phát triển

Cho vay đồng tài trợ cho các dự án

Cho vay tiêu dùng

Các loại cho vay trung, dài hạn khác

1.3.4 Nghiệp vụ bảo lãnh:

Các loai bảo lãnh :

Bảo lãnh dự thầu

Bảo lãnh thực hiện hợp đồng

Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước

Bảo lãnh bảo hành chất lượng sản phẩm

Bảo lãnh nộp thuế

Bảo lãnh mua thiết bị trả chậm

Bảo lãnh vay vốn nước ngoài

Bảo lãnh thanh toán

Nhờ thu đến (thanh toán hàng nhập khẩu)

Nhờ thu đi (đòi tiền hàng xuất)

Nhờ thu séc

1.3.8 Giao dịch chuyển tiền đi

Chuyển tiền thanh toán hàng hóa

Chuyển lợi nhận

Chuyển tiền cho các mục đích khác

Chuyển tiền trả nợ vay, lãi vay

Trang 39

Chuyển lương và các khoản khác

1.3.9 Các dịch vụ khác

Dịch vụ rút tiền tự động

Dịch vụ HOME - BANHKING

Các loại dịch vụ khác

1.3.10 Dịch vụ bảo hiểm (phối hợp cùng công ty liên doanh bảo hiểm Việt-úc)

1.3.11 Dịch vụ chứng khoán (phối hợp cùng công ty chúng khoán NHĐT&PTVN – BSC)

Quản lí danh mục đầu tư

2 Thực trạng một số hoạt động tại SGD I trong thời gian qua

2.1 Công tác nguồn vốn, huy động vốn:

Công tác nguồn vốn đã trở thành một công cụ điều hành quan trọng giúp ban giám đốcquản lí sử dụng nguồn vốn hợp lí, hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo an toàn, sinh lợi Bước đầuthực hiện việc kinh doanh tiền tệ nhằm tăng thêm thu nhập cho Ngân Hàng

Tổng nguồn vốn huy động cuối năm 2000 đạt 5.339.002 triệu đồng, tăng 67.76% sovới năm 1999 Trong đó tiền gửi khách hàng và phát hành kì phiếu, trái phiếu đạt3.727.046 triệu, chiếm 70.4% nguồn vốn của sở

Năm 2001, nhờ có chính sách huy động vốn tương đối nhạy bén, linh hoạt tổngnguồn vốn huy động của sở đạt 6.650.865 triệu, tăng 24.5% so với năm 2000, Trong đó,tiền gửi tiết kiệm của dân cư chiếm 66% Trong năm, cùng với toàn hệ thống, Sở GiaoDịch đã thực hiện phát hành trái phiếu đợt 3 năm 2001 theo chỉ định của NHĐT&PTVNvới tổng số huy động được gần 397 tỉ đồng (USD là 93%) chiếm gần 30% số trái phiếu huyđộng đợt 3 của toàn nghành, đưa số dư huy động trái phiếu đạt hơn 1265 tỉ VND (bao gồm

Trang 40

cả ngoại tệ qui đổi), tăng 5.2% so với đầu năm, cải thiện cơ cấu kì hạn của nguồn vốn huyđộng.

Đến 31/12/2002, nguồn vốn huy động là 7.626.796 triệu, tăng 14.7% so với năm

2001, trong đó huy động vốn dân cư tăng 20.4%, tiền gửi khách hàng tăng 19.7% giữ vữngđược thị phần huy động vốn của sở, góp phần tạo một nền vốn tương đối ổn định cho hoạtđộng Ngân Hàng

2.2 Công tác tín dụng:

Sở Giao Dịch I luôn dẫn đầu toàn hệ thống, khẳng định được vị trí của mình trongviệccung ứng vốn cho nền kinh tế nói chung và cho hoạt động đầu tư phát triển nói riêng Vớidoanh số cho vay tăng đều đặn trong đó tập trung chủ yếu cho đầu tư phát triển các nghànhcông nghiệp và xây dựng

Đến 31/12/2002, dư nợ tín dụng là 5 660 368 triệuVND, tăng trưởng 8.36% so với31/12/2001, về số tuyệt đối tăng 436 542 triệu VND

Biểu 1: Hoạt động tín dụng tại Sở Giao Dịch I

Phân theo kì hạn cho vay (31/12/2001)

Hoạt động tín dụng tại SGD I NHĐT&PTVN

(Trong đó dư nợ cho vay

trung, dài hạn thương

Ngày đăng: 20/10/2017, 04:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w