Tuy nhiên có thể hiểu một cách chung nhất: “Năng lực cạnh tranh chính là thựclực và lợi thế mà quốc gia ngành, doanh nghiệp hay sản phẩm dịch vụ có thể huy độngđược để duy trì và cải thi
Trang 1http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn,
đồ án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất
cả mọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng gópcủa quý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý
khách gửi về luanvanpro.com@gmail.com
Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/
Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng An Bình trong bối cảnh
Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1 Khái niệm cạnh tranh
2 Khái niệm năng lực cạnh tranh
3 Kinh nghiệm
3.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
3.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
3.3 Tính đặc thù trong cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại
3.4 Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại 3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại dựa theo mô hình Kim cương của Michael Porter
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG AN BÌNH
1 Khái quát về quá trình hình thành, phát triển và tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng An Bình
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng An Bình
1.2 Cơ cấu tổ chức của ABBANK
1.3 Tình hình hoạt động của ABBANK007 là năm phát triển vượt 36
2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của Ngân hàng ABBANK 39
2.1 Nguồn lực tài chính 39
2.2 Năng lực quản trị, điều hành 54
2.3 Trình độ công nghệ 54
2.4 Uy tín, thương hiệu 56
2.5 Phân tích năng lực cạnh tranh của Ngân hàng ABBANK theo mô hình Kim cương của Michael Porter CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CHƯƠNG DƯƠNG 62
1 Phương hướng , mục tiêu 62
Trang 31.1 Cơ hội đối với NH ABBANK 62
1.2 Thách thức đối với NH ABBANK 64
2 Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng ABBANK 65
2.1 Giải pháp của NH 66
2.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ 69
KẾT LUẬN 72
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thế giới, là điều kiệntiền đề cần thiết để phát triển kinh tế quốc gia đi vào quỹ đạo chung của thế giới thôngqua việc tận dụng được dòng chảy vốn khổng lồ cùng với công nghệ tiên tiến Đẩy mạnhhội nhập ngân hàng, xây dựng hệ thống ngân hàng vững mạnh trở thành kênh dẫn nhậpvốn hàng đầu, là cách tốt nhất cho nền kinh tế đang cần vốn như Việt Nam từng bướcchuyển dịch cơ cấu vốn theo định hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Hộinhập kinh tế quốc tế, thị trường tài chính-tiền tệ Việt Nam sẽ phát triển mạnh hơn cả theochiều rộng và chiều sâu, đặc biệt là sự gia tăng hoạt động của các định chế tài chính nhưcác ngân hàng thương mại cổ phần, các tổ chức tài chính phi ngân hàng và các tổ chức tàichính ngân hàng đa quốc gia Thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam sẽ tiếp tục đượchoàn thiện theo hướng đầy đủ hơn, đồng bộ hơn, minh bạch hơn và bình đẳng hơn giữacác chủ thể tham gia thị trường Rõ ràng là những biến đổi này sẽ tạo ra cho các ngânhàng Việt Nam môi trường kinh doanh mới với nhiều điều kiện thuận lợi, mở ra nhiều cơhội kinh doanh và hợp tác cùng phát triển
Tuy nhiên, chính sức ép của cạnh tranh và hội nhập sẽ buộc các ngân hàng ViệtNam phải nỗ lực đổi mới để có thể tồn tại và phát triển Hiện nay, hệ thống ngân hàngViệt Nam vẫn còn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi can thiệp của các cơ quan chính quyền,tình trạng tài chính yếu kém, khuôn khổ pháp lý chưa hoàn thiện, công nghệ ngân hàngtụt hậu so với các nước, nợ khó đòi cao, môi trường kinh tế vĩ mô chưa ổn định đã đặt hệthống ngân hàng vào tình thế rủi ro khá cao Vì vậy, lĩnh vực ngân hàng cần nhanh chónghội nhập cùng với hệ thống ngân hàng khu vực và thế giới, xây dựng hệ thống ngân hàng
có năng lực cạnh tranh vững mạnh đáp ứng đầy đủ yêu cầu về vốn và cung ứng sản phẩmdịch vụ cho nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập Không nằm ngoài xu thế đó, Chinhánh Ngân hàng Công thương Chương Dương cũng xác định phải chủ động đẩy mạnhquá trình cải cách, tiếp tục đổi mới triệt để và toàn diện hơn để nâng cao năng lực cạnhtranh, vững bước trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế
Dựa trên những phân tích trên, em chọn đề tài : "Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng An Bình trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế" Báo cáo thực tập nghiên cứu tình hình hoạt động và thực trạng năng
Trang 5lực cạnh tranh của Ngân hàng An Bình, trên cơ sở đó tính toán một số chỉ tiêu phân tích,rút ra nhận xét chủ quan, mạnh dạn đưa ra những kiến nghị mong muốn góp một phầnnhỏ trong quá trình không ngừng đổi mới và hoàn thiện của NH.
Mục đích của đề tài nhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của Ngân hàng An Bình ởthời điểm hiện tại; đồng thời xác định các cản trở hạn chế năng lực cạnh tranh của cácsản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao nănglực cạnh tranh của Ngân hàng trong thời gian tới
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu theo 3chương như sau:
Trang 6CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
1 Khái niệm cạnh tranh
Trước đây, khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã đề cập tới vấn đề cạnhtranh của các nhà tư bản Theo C.Mác: "Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sựđấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trongsản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu lợi nhuận siêu ngạch" Ở đây, C.Mác đã đề cập tớivấn đề cạnh tranh trong xã hội tư bản chủ nghĩa, mà đặc trưng của chế độ này là chế độchiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất Do vậy, theo quan niệm này thì cạnh tranh cónguồn gốc từ chế độ tư hữu Cạnh tranh được xem xét là sự lấn át, chèn ép lẫn nhau đểtồn tại Quan niệm đó về cạnh tranh được nhìn nhận từ góc độ tiêu cực
Ở Việt Nam, trong một thời gian dài trước đây, cạnh tranh cũng được nhìn nhậndưới góc độ tiêu cực: cạnh tranh gắn với đổ vỡ, cạnh tranh là tiêu diệt lẫn nhau, là “cálớn nuốt cá bé” Nhận thức không đầy đủ về cạnh tranh đã dẫn tới không thừa nhận cạnhtranh, tạo ra sự độc quyền, nuôi dưỡng độc quyền trong nền kinh tế
Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại hiện nay, cạnh tranh làđộng lực cho sự phát triển của doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế Cạnh tranh thúc đẩycác doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất - kinh doanh (năng lực tổ chức quản lý,trình độ công nghệ, trình độ tay nghề, ), nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sửdụng nguồn lực Cạnh tranh không phải chỉ có tranh giành, mà cạnh tranh luôn đi với hợptác, cạnh tranh trong sự hợp tác và bổ sung, hỗ trợ cho nhau Do đó, ngày nay hầu hết cácnước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh vừa là môi trường vừa làđộng lực của sự phát triển kinh tế - xã hội
Như vậy, cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt,quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hoá cụ thểnào đó nhằm giành giật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiềuhàng hoá và thu được lợi nhuận cao Cạnh tranh là sức mạnh mà hầu hết các nền kinh tếthị trường tự do dựa vào để đảm bảo rằng các doanh nghiệp thoả mãn được các nhu cầu
và mong muốn của người tiêu dùng Khi có cạnh tranh, không một chính phủ nào cần
Trang 7phải quy định các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng gì với số lượng, chất lượng và giá cảthế nào Cạnh tranh trực tiếp quy định những vấn đề đó với các doanh nghiệp
2 Khái niệm năng lực cạnh tranh
Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh (còngọi là sức cạnh tranh, khả năng cạnh tranh) của doanh nghiệp Có quan niệm gắn sứccạnh tranh với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Có quan điểm lạigắn sức cạnh tranh của doanh nghiệp theo thị phần mà nó chiếm giữ, có người lại đồngnghĩa công cụ cạnh tranh với các chỉ tiêu đo lường sức cạnh tranh của hàng hoá, củadoanh nghiệp, và thậm chí có người còn đồng nghĩa sức cạnh tranh với hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp
Tuy nhiên có thể hiểu một cách chung nhất: “Năng lực cạnh tranh chính là thựclực và lợi thế mà quốc gia (ngành, doanh nghiệp hay sản phẩm dịch vụ) có thể huy độngđược để duy trì và cải thiện vị trí của nó so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thịtrường thế giới một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho nềnkinh tế của mình và cho quốc gia (ngành, doanh nghiệp hay sản phẩm dịch vụ) mình.”
Như vậy, năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, được cấu thành bởi nhiềuyếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô, là kết quả tổng hợp củanhiều yếu tố và chịu tác động của nhiều nhân tố bên trong và bên ngoài của quốc gia( ngành, doanh nghiệp, hay sản phẩm dịch vụ)
3 Kinh nghiệm
3.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Cácngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ mà chúng thực hiện trongnền kinh tế Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đang không ngừng thay đổi Thực tế, rấtnhiều tổ chức tài chính - bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môigiới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cungcấp các dịch vụ của ngân hàng Ngược lại, ngân hàng cũng đang đối phó với các đối thủcạnh tranh (các tổ chức tài chính phi ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấpdịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tưvào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác
Trang 8Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Ngân hàng thương mại Cách tiếp cận thậntrọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ
mà chúng cung cấp
Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện đại: “Ngân hàng thương mại là các tổ
chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tíndụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất
kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”
Ở Hoa Kỳ: Ngân hàng thương mại là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp
các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính
Ở Pháp: Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thường
xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họdùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính
Ở Việt Nam, theo Pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/05/1990 của Hội đồng Nhà nước
xác định: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu vàthường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và được phép sửdụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và là phương tiện thanhtoán.”
Như vậy, Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng thể hiện nhiệm vụ cơ bảnnhất của ngân hàng đó là huy động vốn và cho vay vốn Ngân hàng thương mại là cầu nốigiữa các cá nhân và tổ chức, hút vốn từ nơi nhàn rỗi và bơm vào nơi khan thiếu Hoạtđộng của ngân hàng thương mại nhằm mục đích kinh doanh một hàng hóa đặc biệt đó là
"vốn- tiền", trả lãi suất huy động vốn thấp hơn lãi suất cho vay vốn, và phần chênh lệchlãi suất đó chính là lợi nhuận của ngân hàng thương mại Hoạt động của ngân hàngthương mại phục vụ cho mọi nhu cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, loại hìnhdoanh nghiệp và các tổ chức khác trong xã hội
Qua những khái niệm trên, ta có thể rút ra một số điểm đặc trưng của Ngân hàngthương mại như sau:
Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của côngchúng với trách nhiệm hoàn trả
Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của côngchúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác
Trang 9Hiện nay, ngân hàng thương mại thực sự đóng một vai trò rất quan trọng, vì
nó đảm nhận vai trò giữ cho mạch máu (dòng vốn) của nền kinh tế được lưu thông và cóvậy mới góp phần bôi trơn cho hoạt động của một nền kinh tế thị trường còn non yếu
3.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng thương mại thể hiện ở thực lực và lợithế của Ngân hàng thương mại đó so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhấtcác đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn Như vậy, năng lực cạnh tranhcủa một Ngân hàng thương mại trước hết phải được tạo ra từ thực lực của chính ngânhàng đó Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi ngân hàng, không chỉ được tính bằng cáctiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị … một cách riêng biệt mà cầnđánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùngmột thị trường Năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng thương mại thể hiện ở khả năngcung cấp các sản phẩm và dịch vụ với giá cả thấp hoặc hợp lý, chất lượng cao, uy tín cao,thực hiện tốt các cam kết với các bạn hàng và làm hài lòng khách hàng Trên cơ sở các sosánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, ngoài các yếu tố nội hàm, Ngân hàng thươngmại còn phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình Nhờ lợi thế này, Ngânhàng thương mại có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng nhưlôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh
Nói tóm lại, năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại là sự tổng hợp củacác yếu tố từ công tác chỉ đạo và điều hành, chất lượng đội ngũ cán bộ, uy tín và thươnghiệu của Ngân hàng thương mại Năng lực cạnh tranh của ngân hàng được đo bằng khảnăng duy trì và mở rộng thị phần, khả năng thu lợi nhuận của Ngân hàng trong môitrường cạnh tranh trong và ngoài nước
Để duy trì sự tồn tại và phát triển trong một thời gian dài đòi hỏi Ngân hàngthương mại phải có một năng lực cạnh tranh tốt Năng lực cạnh tranh của Ngân hàngthương mại được cấu thành nên từ những lợi thế cạnh tranh trong từng giai đoạn củaNgân hàng Đó là những lợi thế Ngân hàng có được tạo ra và sử dụng trong cạnh tranh,nhờ đó Ngân hàng có thể tạo ra một số tính trội hơn, ưu việt hơn so với đối thủ trực tiếp.Xem xét dưới góc độ hoạt động cơ bản, các lĩnh vực cạnh tranh chủ yếu của Ngân hàngthương mại được phân như sau:
* Cạnh tranh trong lĩnh vực huy động vốn:
Trang 10Huy động vốn là một trong những hoạt động tạo vốn quan trọng hàng đầu củacác Ngân hàng thương mại Với chức năng và nhiệm vụ của mình, các Ngân hàng thươngmại đã thu hút, tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng của các doanhnghiệp, các tầng lớp dân cư vào Ngân hàng Mặt khác, trên cơ sở nguồn vốn huy độngđược, Ngân hàng sẽ tiến hành hoạt động cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất,cho các mục tiêu phát triển kinh tế của vùng, ngành kinh tế, các thành phần kinh tế, đápứng nhu cầu vốn của xã hội, nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Với hoạt động huy động vốn, các Ngân hàng thương mại đã thực sự huy độngđược sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá Nếunhư không có Ngân hàng thương mại, việc huy động của cải xã hội vào quá trình sảnxuất kinh doanh, tiêu dùng sẽ chậm đi rất nhiều Nhờ hoạt động này của Ngân hàngthương mại, tiền tiết kiệm của cá nhân, đoàn thể, các tổ chức kinh tế được huy động vàoquá trình vận động của nền kinh tế Nó chuyển của cải, tài nguyên xã hội từ nơi chưa sửdụng, còn tiềm tàng vào quá trình sử dụng phục vụ cho sản xuất kinh doanh nâng caomức sống xã hội
Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng ngày càng mở rộng, uy tín và vị thế củaNgân hàng sẽ càng được khẳng định, Ngân hàng sẽ chủ động trong hoạt động kinhdoanh, mở rộng quan hệ với các thành phần kinh tế, tổ chức, dân cư Điều quan trọng làNgân hàng cần phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của từng vùng,từng ngành trong cả nước,… để từ đó đưa ra các loại hình huy động vốn phù hợp, nhằmđáp ứng nhu cầu vốn cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
* Cạnh tranh trong lĩnh vực sử dụng vốn.
Đây là hoạt động trực tiếp đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng Đối tượng kinhdoanh của Ngân hàng thương mại là tiền tệ và quyền sử dụng tiền tệ, do vậy lợi tức củaNgân hàng có được chủ yếu từ việc đầu tư và cho vay Nếu một Ngân hàng huy độngđược nguồn vốn dồi dào nhưng không có kế hoạch sử dụng vốn hợp lý, hiệu quả thìkhông những không đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng, ngược lại còn không có nguồn bùđắp chi phí từ việc huy động Do vậy, có thể nói sử dụng vốn là hoạt động hết sức quantrọng của mỗi Ngân hàng Hoạt động sử dụng vốn bao gồm các hoạt động ngân quỹ, chovay, đầu tư tài chính,…
Trang 11Một Ngân hàng có hoạt động sử dụng vốn với hiệu quả cao sẽ nâng cao vai trò,
uy tín của Ngân hàng, tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường, từ đó sẽ thu hút đượcnhiều khách hàng đến giao dịch với mình, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng hoạt độnghuy động vốn Vì vậy, nhiệm vụ của mỗi Ngân hàng là phải thường xuyên bám vào cácmục tiêu phát triển kinh tế của vùng, ngành, đất nước,… nhằm đưa ra các hình thức đầu
tư đúng đắn, có hiệu quả cao, thực hiện nghiên cứu thị trường, nghiên cứu của ngânhàng Ở các nước phát triển, Ngân hàng thương mại thực hiện rất nhu cầu sử dụng vốncủa xã hội, thực hiện cho vay theo dự án đầu tư, chương trình phục hồi sản xuất
* Cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ trung gian của ngân hàng
Đó là các hoạt động Ngân hàng cung ứng dịch vụ phục vụ khách hàng Nền kinh
tế ngày càng phát triển, các dịch vụ của Ngân hàng cũng phát triển theo để đáp ứng nhucầu ngày càng phong phú đa dạng của khách hàng, Ngân hàng thực hiện hoạt động trunggian và được hưởng thu nhập từ phí hoặc hoa hồng Các hoạt động trung gian phản ánhmức độ phát triển nhiều hoạt động trung gian và luôn có dịch vụ cung cấp nhiều tiện íchcho khách hàng Thu nhập từ các hoạt động trung gian chiếm khoảng 30-35% tổng thunhập của Ngân hàng
Việc đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ cung ứng sẽ làm tăng thu nhập cho Ngânhàng, tăng uy tín và khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Có thể thấy, xu hướng nguồnthu về dịch vụ trung gian ngày càng tăng và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng doanh thu về kinhdoanh của Ngân hàng Đồng thời với các hoạt động trung gian này, ngân hàng thươngmại góp phần làm tăng khả năng chu chuyển của đồng vốn, giảm lượng tiền mặt tronglưu thông, do đó tiết kiệm được chi phí lưu thông trong xã hội Mặt khác, thực hiện tốtcác hoạt động này, Ngân hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn Điều đó cũng tạođiều kiện phát triển hoạt động huy động vốn và cho vay của Ngân hàng
3.3 Tính đặc thù trong cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại
Giống như bất cứ loại hình đơn vị nào trong kinh tế thị trường, các Ngân hàngthương mại trong kinh doanh luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, không chỉ từcác Ngân hàng thương mại khác, mà từ tất cả các tổ chức tín dụng đang cùng hoạt độngkinh doanh trên thương trường với mục tiêu là để giành giật khách hàng, tăng thị phần tíndụng cũng như mở rộng cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế Tuy
Trang 12vậy, so với sự cạnh tranh của các tổ chức kinh tế khác, cạnh tranh giữa các Ngân hàngthương mại có những đặc thù nhất định Cụ thể:
(1) Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm, chịu
tác động bởi rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống vănhoá… mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng đều tác động rất nhanhchóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung Chẳng hạn: chỉ cần một tin đồnthổi dù là thất thiệt cũng có thể gây nên cơn chấn động rất lớn, thậm chí đe dọa sự tồnvong của cả hệ thống các tổ chức tín dụng Một Ngân hàng thương mại hoạt động yếukém, khả năng thanh khoản thấp cũng có thể trở thành gánh nặng cho nhiều tổ chức kinh
tế và dân chúng trên địa bàn… Chính vì vậy, trong kinh doanh, các Ngân hàng thươngmại tuy phải cạnh tranh để từng bước mở rộng khách hàng, mở rộng thị phần, nhưngcũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật đểthôn tính đối thủ của mình, bởi vì, nếu đối thủ là các Ngân hàng thương mại khác bị suyyếu dẫn đến sụp đổ, thì những hậu quả đem lại thường là rất to lớn, thậm chí dẫn đến đổ
vỡ luôn chính Ngân hàng thương mại này do tác động dây chuyền
(2) Hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại có liên quan đến tất cả
các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, đến từng cá nhân thông qua các hoạt động huyđộng tiền gửi tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình dịch vụ tài chính khác; đồng thời,trong hoạt động kinh doanh của mình, các Ngân hàng thương mại cũng đều mở tài khoảncho nhau để cùng phục vụ các đối tượng khách hàng chung Chính vì vậy, nếu như mộtNgân hàng thương mại bị khó khăn trong kinh doanh, có nguy cơ đổ vỡ, thì tất yếu sẽ tácđộng dây chuyền đến gần như tất cả các Ngân hàng thương mại khác, không những thế,các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng Đây quả là điều mà các Ngânhàng thương mại không bao giờ mong muốn Chính vì vậy, các Ngân hàng thương mạitrong kinh doanh luôn vừa phải cạnh tranh lẫn nhau để dành giật thị phần, nhưng luônphải hợp tác với nhau, nhằm hướng tới một môi trường lành mạnh để tránh rủi ro hệthống
(3) Do hoạt động của các Ngân hàng thương mại có liên quan đến tất cả các chủ
thể, đến mọi mặt hoạt động kinh tế - xã hội, cho nên, để tránh sự hoạt động của các Ngânhàng thương mại mạo hiểm nguy cơ đổ vỡ hệ thống, tất cả Ngân hàng Trung ương cácnước đều có sự giám sát chặt chẽ thị trường này và đưa ra hệ thống cảnh báo sớm để
Trang 13phòng ngừa rủi ro Thực tiễn đã chỉ ra những bài học đắt giá, khi mà Ngân hàng Trungương thờ ơ trước những diễn biến bất lợi của thị trường đã dẫn đến hậu quả là sự đổ vỡcủa thị trường tài chính - tiền tệ làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy,
sự cạnh tranh trong hệ thống các Ngân hàng thương mại không thể dẫn đến làm suy yếu
và thôn tính lẫn nhau như các loại hình kinh doanh khác trong nền kinh tế
(4) Hoạt động của các Ngân hàng thương mại liên quan đến lưu chuyển tiền tệ,
không chỉ trong phạm vi một nước, mà có liên quan đến nhiều nước để hỗ trợ cho cáchoạt động kinh tế đối ngoại, do vậy, kinh doanh trong hệ thống Ngân hàng thương mạichịu sự chi phối của nhiều yếu tố trong nước và quốc tế, như: Môi trường pháp luật, tậpquán kinh doanh của các nước, các thông lệ quốc tế… đặc biệt nó chịu sự chi phối mạnh
mẽ của điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò cực
kỳ quan trọng, có tính chất quyết định đối với hoạt động kinh doanh của các Ngân hàngnày Điều đó cũng có nghĩa là, sự cạnh tranh trong hệ thống các Ngân hàng thương mạitrước hết phải chịu sự điều chỉnh bởi rất nhiều thông lệ, tập quán kinh doanh tiền tệ củacác nước, sự cạnh tranh trước hết phải dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ đáp ứngđược yêu cầu của hoạt động kinh doanh tối thiểu; bởi vì, một Ngân hàng thương mại mở
ra một loại hình dịch vụ cung ứng cho khách hàng là đã phải chấp nhận cạnh tranh vớicác Ngân hàng thương mại khác đang hoạt động trong cùng lĩnh vực, tuy nhiên, muốnlĩnh vực dịch vụ này được thực hiện thì đòi hỏi phải đáp ứng tối thiểu về điều kiện hạtầng cơ sở tài chính mà thiếu nó thì không thể hoạt động được Như vậy, sự cạnh tranhcủa các Ngân hàng thương mại là loại hình cạnh tranh bậc cao, đòi hỏi những chuẩn mựckhắt khe hơn bất cứ loại hình kinh doanh nào khác
3.4 Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, cạnh tranh mang tính tất yếu, khách quan
và đó cũng là động lực cho sự phát triển Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường nhưhiện nay, cạnh tranh sẽ không chỉ là tạo động lực để phát triển mà còn phải đối mặt vớinhững yếu tố không lành mạnh nhằm chiếm lĩnh ưu thế trên thương trường, để thu lợinhuận cao hơn và đương nhiên nảy sinh sự thôn tính, sáp nhập, phá sản, giải thể và cảnhững rủi ro về đạo đức…
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và Ngân hàng thương mại nóiriêng được biểu hiện bằng tiềm năng về tài chính, quản trị điều hành, chất lượng đội ngũ,
Trang 14chất lượng và hiệu quả hoạt động, tốc độ đổi mới về công nghệ và sản phẩm… Năng lựctài chính của một Ngân hàng thương mại là khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốnphát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thể hiện ở quy mô vốn tự
có, chất lượng tài sản, chất lượng nguồn vốn, khả năng sinh lời và khả năng đảm bảo antoàn trong hoạt động kinh doanh
Một Ngân hàng thương mại có năng lực tài chính tốt phải là Ngân hàng thươngmại luôn duy trì được hoạt động bình thường và phát triển một cách ổn định, bền vữngtrong mọi điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước và trên thế giới Ngân hàngthương mại có khả năng cung cấp tín dụng có hiệu quả và các dịch vụ tài chính cho nềnkinh tế Ngân hàng thương mại luôn đáp ứng đầy đủ yêu cầu khách hàng về vốn và cácdịch vụ ngân hàng phù hợp với quá trình phát triển kinh tế, xã hội trong nước và thế giới.Ngân hàng thương mại còn phải bảo đảm được sự tồn tại và phát triển của mình một cách
an toàn, không xảy ra những đổ vỡ hay phá sản Năng lực tài chính của một Ngân hàngthương mại đóng vai trò vô cùng quan trọng Năng lực tài chính của một Ngân hàngthương mại càng được đảm bảo thì mức độ rủi ro trong hoạt động ngân hàng càng thấp
và năng lực cạnh tranh của Ngân hàng thương mại trên thị trường càng cao Do vậy, nănglực tài chính của Ngân hàng thương mại phải không ngừng được nâng cao và hoàn thiện
và là điều kiện không thể thiếu được bất cứ một Ngân hàng thương mại nào
Năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại được đánh giá dựa trên các yếu tốđịnh lượng và các yếu tố định tính
+ Các yếu tố định lượng thể hiện nguồn lực tài chính hiện có, bao gồm: quy mô
vốn, chất lượng tài sản, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời…
+ Các yếu tố định tính thể hiện khả năng khai thác, quản lý, sử dụng các nguồn
lực tài chính được thể hiện qua trình độ tổ chức, trình độ quản lý, trình độ công nghệ,chất lượng nguồn nhân lực…
Như vậy, năng lực cạnh tranh của một Ngân hàng thương mại có thể được đánhgiá qua các tiêu chí sau:
(1) Nguồn lực tài chính: bao gồm yếu tố vốn, chất lượng tài sản, khả năng
thanh toán và khả năng sinh lời…
* Yêú tố vốn
Trang 15Nguồn vốn của Ngân hàng được hình thành theo nhiều kênh dẫn khác nhau,trong đó tiền gửi của khách hàng là nguồn tiền quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn trongtổng nguồn tiền của Ngân hàng Nguồn vốn đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng rất lớntới chất lượng hoạt động của Ngân hàng Nó cung cấp năng lực tài chính cho quá trìnhtăng trưởng, mở rộng quy mô, phạm vi hoạt động cũng như cho sự phát triển của các sảnphẩm dịch vụ mới của Ngân hàng thương mại; giúp Ngân hàng thương mại chống lại rủi
ro phá sản, bù đắp những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ; bảo vệ người gửi tiền khi gặprủi ro trong hoạt động kinh doanh, đồng thời nâng cao uy tín của Ngân hàng thương mạivới khách hàng, các nhà đầu tư Vì vậy có thể khẳng định: Vốn là yếu tố quan trọng tạođối với Ngân hàng thương mại, vì nó nói nên sức mạnh và khả năng cạnh tranh của Ngânhàng thương mại trên thị trường trong nước Đồng thời, đó cũng là cơ sở để Ngân hàngthương mại mở rộng hoạt động tới các thị trường tài chính khu vực và quốc tế Do đó,quy mô vốn có thể coi là tiêu chí hết sức quan trọng khi đánh giá năng lực cạnh tranh củamột ngân hàng thương mại, thể hiện năng lực tài chính vốn có của chính bản thân Ngânhàng thương mại
Đối với yếu tố vốn của Ngân hàng, ta sẽ tập trung đánh giá theo hai chỉ tiêu sau:
Quy mô và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, đặc biệt là tiền gửi thanh toán,
tiền gửi tiết kiệm và vay: Đây là chỉ tiêu đánh giá khối lượng vốn huy động Nó có ảnhhưởng đến quy mô phát triển hoạt động ngân hàng bởi hoạt động kinh doanh cơ bản củangân hàng là huy động để cho vay và các hoạt động thanh toán khác Nếu nguồn vốnkhông ổn định và có chất lượng không tốt sẽ dễ làm cho ngân hàng mất khả năng thanhtoán và đưa đến thua lỗ, phá sản Vậy mặt chất lượng biểu hiện trong tính hiệu quả về tácdụng thực tiễn và mức độ ảnh hưởng của quá trình thực hiện kế hoạch kinh doanh trong
từng giai đoạn cụ thể.
Cơ cấu nguồn vốn và sự thay đổi cơ cấu: Cơ cấu vốn, sự biến động về cơ
cấu vốn sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu cho vay, đầu tư, bảo lãnh và kéo theo là rủi ro, biếnđộng về thu nhập, vì vậy cơ cấu vốn cần phải có sự ổn định và phù hợp với hoạt độngcủa ngân hàng
* Chất l ư ợng tài sản:
Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là tìm kiếm các khoản vốn để sửdụng nhằm thu lợi nhuận Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản
Trang 16khác nhau của Ngân hàng Do Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệnên phần lớn tài sản của Ngân hàng là các tài sản tài chính, bao gồm các hợp đồng chovay, hợp đồng thuê - mua, các chứng khoán, các khoản tiền gửi ( tài sản sinh lời), mộtphần nhỏ trong khối tài sản của Ngân hàng là tài sản cố định như nhà cửa, trang thiết
bị ( tài sản không sinh lời), trong đó cho vay và đầu tư là hai loại tài sản lớn và quantrọng của Ngân hàng Mỗi loại tài sản được hình thành theo các cách thức khác nhau, vìnhững mục tiêu khác nhau song đều tập trung đảm bảo an toàn và sinh lợi cho Ngânhàng
Một danh mục tài sản nếu bao gồm phần lớn các tài sản rủi ro cao sẽ làm giảm
uy tín, hạn chế thu nhập của Ngân hàng, hạn chế Ngân hàng mở rộng quy mô trong môitrường kinh doanh đầy biến động, khả năng mở rộng thị trường nguồn vốn của Ngânhàng sẽ bị giảm sút Nguồn tiền suy giảm nhanh và mạnh có thể đẩy Ngân hàng đến phásản Như vậy, chất lượng tài sản của Ngân hàng thương mại là một chỉ tiêu tổng hợp nóilên khả năng bền vững về tài chính, năng lực quản lý của một tổ chức tín dụng
* Khả n ă ng thanh toán ( Tính thanh khoản):
Tính thanh khoản của Ngân hàng là khả năng của Ngân hàng trong việc đáp ứngnhu cầu thanh toán của khách hàng Thực hiện chức năng trung gian tài chính, trung gianthanh toán, Ngân hàng thường xuyên phải duy trì khả năng thanh toán, tức duy trì thanhkhoản của Ngân hàng Việc đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng một cách thươngxuyên và trong những trường hợp đặc biệt khẩn cấp là yêu cầu cấp thiết và là nội dungquan trọng trong công tác quản lý của Ngân hàng nhằm hạn chế rủi ro Nó liên quan tới
sự tồn tại và phát triển của mỗi Ngân hàng và của cả hệ thống
Tính thanh khoản của Ngân hàng được tạo lập bởi tính thanh khoản của tài sản
và tính thanh khoản của nguồn Do vậy, một Ngân hàng có tính thanh khoản cao khi cónhiều tài sản thanh khoản hoặc có khả năng mở rộng nguồn nhanh với chi phí thấp hoặc
cả hai, phù hợp với nhu cầu thanh khoản
* Khả n ă ng sinh lời:
Sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng chủ yếu dựa vào khả năng sinh lời củaNgân hàng Cách an toàn tuyệt đối là không làm gì cả Tuy nhiên đối với Ngân hàng, giữtiền trong két cũng không phải là giải pháp an toàn Tăng khả năng sinh lời có thể coi làcách đảm bảo an toàn nhất Nó là cách tốt nhất để có thể trả lương cao cho người lao
Trang 17động, để tăng năng suất và tính liêm khiết rất cần thiết đối với cán bộ Ngân hàng Đồngthời, nó là biện pháp quan trọng để Ngân hàng tăng quỹ tích luỹ ( tăng vốn của chủ), thiếtlập quỹ dự phòng lớn, đủ sức chống đỡ rủi ro.
Khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại gắn liền với chất lượng tài sản vàhiệu quả sử dụng tài sản của Ngân hàng thương mại Nâng cao chất lượng tài sản, chấtlượng nguồn vốn cũng chính là nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàngthương mại Khả năng sinh lời là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức
độ phát triển của một Ngân hàng thương mại Để đánh giá khả năng sinh lời của Ngânhàng thương mại, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên tài sản có(ROA), chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE) hoặc chỉ tiêu lợi nhuận ròng trêndoanh thu
Chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên tài sản có (ROA):
ROA = Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản
Ý nghĩa của chỉ tiêu này một đồng tài sản có tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.Chỉ tiêu này cho thấy chất lượng của công việc quản lý tài sản có - tài sản có sinh lờicàng lớn thì hệ số này càng lớn
Chỉ tiêu lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE):
ROE = Lợi nhuận sau thuế
Tài sản sinh lãi
Ý nghĩa của chỉ tiêu này là một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợinhuận Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại,khả năng sinh lời trên một đồng vốn của Ngân hàng Hệ số này càng lớn thì khả năngsinh lời tài chính càng lớn
(2) Chất lượng sản phẩm dịch vụ:
Chất lượng sản phẩm dịch vụ luôn là vấn đề quan tâm của mọi khách hàng vàcủa mọi ngân hàng Chất lượng sản phẩm dịch vụ ngày nay trở thành một lợi thế cạnhtranh mang ý nghĩa sống còn đối với mọi Ngân hàng thương mại
Trang 18Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, cung cấp các sảnphẩm dịch vụ cho khách hàng Trong xu hướng phát triển ngân hàng tại các nền kinh tếphát triển hiện nay, ngân hàng được coi như một siêu thị dịch vụ, một bách hoá tài chínhvới hàng trăm, thậm chí hàng nghìn dịch vụ khác nhau tuỳ theo cách phân loại và tuỳtheo trình độ phát triển của ngân hàng Ngân hàng cung ứng các sản phẩm dịch vụ là đểđáp ứng nhu cầu của khách hàng Nếu như chất lượng của các sản phẩm dịch vụ ngàycàng hoàn hảo, có chất lượng cao thì khách hàng sẽ gắn bó lâu dài và chấp nhận ngânhàng Không những vậy, những lời khen, sự chấp nhận, thoả mãn về chất lượng củakhách hàng hiện hữu họ sẽ thông tin tới những người khác có nhu cầu dịch vụ tìm đếnngân hàng để giao dịch Điều này góp phần nâng cao uy tín, thương hiệu của Ngân hàng,tạo điều kiện để Ngân hàng mở rộng mạng lưới hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranhtrên thị trường.
Như vậy, chất lượng sản phẩm dịch vụ luôn được đánh giá theo quan điểm củakhách hàng Nó thể hiện qua sự tin tưởng, cảm tình, ưa thích của khách hàng đối với dịch
vụ ngân hàng Chất lượng sản phẩm dịch vụ phụ thuộc rất lớn vào chất lượng nhân viêntrực tiếp cung ứng dịch vụ Ngoài ra, đối tượng kinh doanh của các Ngân hàng thươngmại là tiền tệ, nên chất lượng dịch vụ không chỉ được đánh giá thông qua chất lượngphục vụ của nhân viên Ngân hàng mà còn được đánh giá thông qua độ an toàn chính xáctrong xử lý nghiệp vụ, tính đơn giản, thuận tiện trong giao dịch và khoảng thời gian cầnthiết để có thể hoàn tất một giao dịch
Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng thương mạibao gồm:
Chất lượng nhân viên trực tiếp cung ứng dịch vụ
Độ an toàn, chính xác
Thủ tục giao dịch
Tốc độ xử lý giao dịch
(3) Chất lượng nguồn nhân lực:
Sự phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính ngân hàng đòi hỏi nguồn cungcấp nhân lực rất lớn, nhất là nguồn nhân lực có kinh nghiệm làm việc và đáp ứng đượcnhu cầu mới Bởi vì theo nguyên lý, con người là yếu tố quyết định
Trang 19Về mặt quản lý: Nếu ngân hàng quản lý tốt về mặt nhân sự, tài sản, nguồn vốn,
phòng tránh rủi ro tốt nhất, quản lý các danh muc đầu tư hiệu quả thì hoạt động của ngânhàng sẽ đảm bảo an toàn và tăng trưỏng, tăng uy tín, thu hút khách hàng
Về mặt nghiệp vụ: Với trình độ nghiệp vụ cao, mọi thao tác nghiệp vụ thực hiện
chính xác, hiệu quả, tác phong làm việc nhiệt tình, cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi chokhách hàng sẽ gây ấn tượng tốt đối với khách hàng Khách hàng là người có quyền lựachọn, vì vậy họ sẽ chọn nơi làm họ hài lòng nhất để gửi tiền, vay tiền tiền và sử dụng cácdịch vụ khác của ngân hàng cung cấp
Chính vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh trước yêu cầu của hội nhập, cácNgân hàng thương mại cần hết sức quan tâm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cóchiến lược lâu dài phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao
Chất lượng nguồn nhân lực có thể được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:
(4) Năng lực quản trị, điều hành:
Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vựctiền tệ - tín dụng và dịch vụ Ngân hàng Cũng như các doanh nghiệp khác, các Ngânhàng thương mại hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời Trong hoạt động kinhdoanh Ngân hàng có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan mang lại rủi ro, nhiều yếu tốbất khả kháng nên không tránh khỏi rủi ro Từng nghiệp vụ cụ thể của ngân hàng nếukhông được quản lý theo những qui trình chặt chẽ cũng có nhiều khả năng rủi ro Ví dụ:các nghiệp vụ tín dụng, bảo lãnh, thanh toán, kinh doanh ngoại tệ, tiền tệ kho quỹ, huyđộng và sử dụng vốn, Vì vậy công tác quản trị trong hoạt động kinh doanh Ngân hànggiữ vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa, hạn chế và xử lý rủi ro, đảm bảo hiệu quảkinh doanh của Ngân hàng
Quản trị ngân hàng là điều hành những quan hệ liên quan đến việc xây dựngchiến lược, chiến thuật, phân tích, nghiên cứu, điều chỉnh, kiểm tra, quản lý tài chính,hoạt động marketing, quản lý nhân sự và điều hành các nghiệp vụ ngân hàng Quản trị
Trang 20ngân hàng tác động đến giá trị và hoạt động của Ngân hàng, đồng thời quản trị ngân hàngcũng tác động đến khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng và rủi ro của khủng hoảngtài chính, cả đối với các ngân hàng cá thể và toàn bộ hệ thống ngân hàng của nền kinh tế.Quản trị ngân hàng tốt là một trong những cơ sở tạo niềm tin của công chúng vào ngânhàng Do vậy, việc quản trị trong Ngân hàng thương mại có vai trò quyết định đến sựtăng trưởng và phát triển của nó
(5) Trình độ công nghệ:
Ngày nay các Ngân hàng thương mại cạnh tranh với nhau theo hướng phát triển
đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng đi kèm với việc nâng cao chất lượng dịch vụ, mà chấtlượng dịch vụ ngân hàng luôn phụ thuộc và trình độ công nghệ ngân hàng Nếu trình độcông nghệ ngân hàng không tiên tiến, hiện đại thì chất lượng dịch vụ cũng không thểnâng cao được Do đó, một xu thế tất yếu là các Ngân hàng thương mại phải ứng dụngcông nghệ tiên tiến để phát triển và nâng cao chất lựong dịch vụ ngân hàng Việc ứngdụng và phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại là vấn đề tất yếu, vấn đề sống còn củacác Ngân hàng nhằm nâng cao năng lực hoạt động, năng lực cạnh tranh của các Ngânhàng trong quá trình hội nhập Nó giúp cho Ngân hàng thoả mãn hơn trước các nhu cầungày càng cao của khách hàng Nếu một ngân hàng ứng dụng và sử dụng công nghệ cóhiệu quả thì Ngân hàng đó sẽ mở rộng không giới hạn về không gian hoạt động, thời gianphục vụ và cung cấp những dịch vụ Ngân hàng mới tối đa hoá tiện ích cho khách hàng
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, việc thu thập thông tin là rất cầnthiết Nhờ có hệ thống tin học hiện đại, Ngân hàng có thể thu thập thông tin về kháchhàng, về thị trường tốt hơn, qua đó có thể xác định được thị trường đầu tư vốn có hiệuquả, phát triển nghiệp vụ và dịch vụ của mình, hạn chế rủi ro trong kinh doanh, tạo điềukiện mở rộng vốn tự có
Như vậy, xác định đúng tầm quan trọng của công nghệ và việc hiện đại hoá côngnghệ là một trong những điều kiện cơ bản để hướng tới việc đảm bảo các chuẩn mựcquốc tế của các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình cạnh tranh và hội nhập.Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng là điều tất yếu phù hợp với tiềm lực tài chính củangân hàng, phù hợp với mặt bằng chung về công nghệ của đất nước, đảm bảo xu thếchung của khu vực và quốc tế
Trang 21Trình độ công nghệ của Ngân hàng được thể hiện qua những dịch vụ mà ngânhàng đã và đang áp dụng để nâng cao hiệu quả hoạt động.
(6) Uy tín thương hiệu của Ngân hàng:
Thương hiệu là tài sản vô cùng quý giá đối với doanh nghiệp nói chung và ngânhàng nói riêng Thương hiệu là yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất tạo nên khả năng nhậnbiết, gợi nhớ, phân biệt và định hướng cho khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ Ngàynay, thương hiệu càng có ý nghĩa rất quan trọng và việc xây dựng thương hiệu là cả mộtquá trình khó khăn Bởi lẽ, các đối thủ cạnh tranh cũng sẽ có những phản ứng rất nhanh
và khách hàng yêu cầu cao hơn đối với một sản phẩm Do đó, phải xem việc xây dựngthương hiệu là một quá trình đầu tư dài hạn và phải có đường đi nước bước thích hợp.thương hiệu không phụ thuộc hoàn toàn vào thời gian xuất hiện trên thị trường, mà cònnhiều yếu tố khác như thông tin, chất lượng về sản phẩm, sự truyền tải những thông tin,thương hiệu đó v.v đến với người tiêu dùng một các chính xác và nhanh nhất Trong thờiđại ngày nay, với hệ thống mạng internet toàn cầu thì mọi ngăn cách về địa lý coi nhưkhông có Các doanh nghiệp sử dụng hệ thống Internet, Website làm kênh truyền thôngtrực tiếp truyền tải các chiến lược quảng bá, xây dựng thương hiệu một cách hữu hiệu.Đối với một ngân hàng thương mại, việc xây dựng thương hiệu còn khó khăn hơn do tínhđặc thù của các sản phẩm Đó là tính chất vô hình và thường có nhiều điểm giống nhaugiữa các sản phẩm, dịch vụ của các ngân hàng Do đó, thương hiệu đối với một Ngânhàng thương mại không chỉ đơn thuần là một nhãn hiệu, một cái tên mà nó bao gồm cả
uy tín, chất lượng, giá cả sản phẩm dịch vụ, phong cách giao dịch và văn hoá của mỗingân hàng
Thương hiệu được coi như một tài sản có giá trị rất lớn bởi nó có khả năng tácđộng đến thái độ và hành vi của khách hàng Nó đảm bảo uy tín của Ngân hàng với tưcách như là một thể nhân ra vào thị trường, đồng thời là một công cụ đảm bảo tính cạnhtranh cao của Ngân hàng trên thị trường Đặc biệt, trong xu thế của toàn cầu hoá thìthương hiệu ngày càng trở lên quan trọng đối với sự sống còn của Ngân hàng Thươnghiệu có thể cam kết một tiêu chuẩn hay đẳng cấp chất lượng của một sản phẩm dịch vụ
và đáp ứng mong muốn của khách hàng, giúp họ tìm kiếm, lựa chọn sản phẩm một cách
dễ dàng, thuận tiện Lòng trung thành với thương hiệu của khách hàng cho phép Ngânhàng dự báo và kiểm soát thị trường Hơn nữa, nó tạo nên một rào cản, gây khó khăn cho
Trang 22các Ngân hàng khác muốn xâm nhập thị trường Như vậy, thương hiệu có thể được coinhư một cách thức hữu hiệu để Ngân hàng đảm bảo lợi thế cạnh tranh.
Để xây dựng và chiếm lĩnh lòng tin đối với người tiêu dùng, đòi hỏi sản phẩmcủa ngân hàng đó cần phải có những điểm phù hợp,đồng thời phải có sự khác biệt đối vớisản phẩm của ngân hàng khác Sự phù hợp trong sản phẩm là khả năng thuơng hiệu đápứng nhu cầu của người tiêu dùng Còn sự khác biệt là để thể hiện sự vượt trội của thươnghiệu đó Điều này đòi hỏi ngân hàng phải phải thường xuyên có những sản phẩm, dịch vụmới hoặc gia tăng chức năng vượt trội so với sản phẩm, dịch vụ cùng loại Và việc truyểntải sự phù hợp và sự khác biệt trong từng sản phẩm đến với khách hàng là một quá trìnhliên tục thông qua nhiều phương thức Đó có thể là quảng cáo trên các phương tiện thôngtin đại chúng, bằng tờ rơi hay từ việc trực tiếp trong việc giao tiếp, quan hệ với kháchhàng và công chúng
Như vậy, uy tín thương hiệu của Ngân hàng được thể hiện ở:
Cở sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật
Thâm niên hoạt động
Mạng lưới hoạt động
Chất lượng dịch vụ
Tình hình tài chính của ngân hàng
Hình thức sở hữu của ngân hàng
3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại dựa theo mô hình Kim cương của Michael Porter
Mô hình Kim cương là một trong những sáng kiến rất nổi tiếng của M Porter
Nó là một công cụ rất tốt để phân tích, chẩn đoán các lợi thế, bất lợi trong xây dựng nănglực cạnh tranh của một ngành, một địa phương hay sản phẩm nào đó Theo mô hình
“Kim cương” về năng lực cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của một ngân hàng thương mạiphụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố:
(1) Các điều kiện về cầu:
Khách hàng trong một nền kinh tế càng khắc khe đối với nhà sản xuất thì khảnăng nâng cao cạnh tranh của sản phẩm càng lớn Nếu trong nước có nhu cầu lớn về mộtsản phẩm hay dịch vụ nào đó, thì nghành đó sẽ có lợi thế trong cạnh tranh toàn cầu
Trang 23Những ngành phải cạnh tranh mạnh ở trong nước thì mới có khả năng cạnh tranh quốc tếtốt hơn Thị trường trong nước với số cầu lớn, có những khách hàng đòi hỏi cao và môitrường cạnh tranh trong ngành khốc liệt hơn sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn Đối vớicác ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, phân tích về cầu nhằm xácđịnh tính phức tạp của cầu trong ngành ngân hàng, để từ đó nhằm định hướng khả năngcạnh tranh, sự đa dạng của các loại hình dịch vụ và mức độ công nghệ của ngành.
S
ơ đ ồ 1.1: Mô hình kim cương
(Nguồn: http://www.vccimekong.com/VCCIMEKONG/KTDP/baocaotongket)
(2) Các điều kiện về yếu tố đầu vào:
Các điều kiện về yếu tố đầu vào là khả năng cung ứng nguồn nguyên liệu, nguồnnhân công có trình độ hay cơ sở hạ tầng cho sản xuất kinh doanh Tuy nhiên trong mộtdoanh nghiệp nếu các điều kiện đó chưa sẵn có thì cũng không được xem là bất lợi, thậmchí nó còn khuyến khích tính cạnh tranh Với điều kiện bất lợi đó, buộc các doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh, chiến lược, cơ cấu và đối thủ cạnh tranh
Những ngành công nghiệp liên quan và
Trang 24phải hành động một cách sáng tạo Chất lượng lao động, vốn và lao động rẻ, cơ sở hạtầng mạnh và công nghệ cao sẽ ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của ngành, của các doanhnghiệp nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng
Việc phân tích các điều kiện về các yếu tố đầu vào nhằm xem xét tới tính hiệuquả, chất lượng và sự chuyên môn hoá của những yếu tố này mà các tổ chức tài chính sửdụng trong quá trình cạnh tranh để có nguồn nhân lực, nguồn vốn, cơ sở vật chất, cơ sởkhoa học công nghệ
(3) Môi trường kinh doanh, chiến lược, cơ cấu của ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh:
Ổn định môi trường kinh doanh trong nước đóng vai trò quan trọng trong việctạo điều kiện cho các Ngân hàng thương mại xác định tầm nhìn, xây dựng chiến lượckinh doanh dài hạn Điều này đồng nghĩa với việc tăng cường khả năng đáp ứng nhu cầuthị trường và thích ứng với thay đổi của môi trường bên ngoài ngày càng khó dự đoánđối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam
Bên cạnh đó, những ngân hàng có chiến lược và cơ cấu phù hợp với các định chế
và chính sách cuả quốc gia, hoạt động trong môi trường có cạnh tranh trong nước căngthẳng hơn sẽ có tính cạnh tranh quốc tế mạnh hơn Mặt khác, nếu ngân hàng tập trungnghiên cứu và thu thập được đầy đủ những thông tin cần thiết về các đối thủ cạnh tranh,hiểu rõ đối thủ cạnh tranh của ngân hàng mình thì ngân hàng đó có thể xây dựng đượcchiến lược kinh doanh hiệu quả Như vậy, một điều chắc chắn xảy ra là những quyết địnhchiến lược của các ngân hàng có tác động ảnh hưởng đến tính cạnh tranh trong tương laicủa họ Một cơ cấu lành mạnh của ngân hàng và mức độ tập trung cao của các đối thủcạnh tranh trong ngành sẽ quyết định mức lợi thế cạnh tranh của ngân hàng nói riêng vàcủa cả ngành nói chung Khả năng cạnh tranh tổng hợp sẽ hỗ trợ các ngân hàng nói riêng
và ngành ngân hàng trong nước nói chung cạnh tranh với các đối thủ từ bên ngoài trongbối cảnh hội nhập
(4) Những ngành công nghiệp liên quan và phụ trợ:
Tính cạnh tranh của một ngành phụ thuộc vào sức mạnh của các nhà cung cấpcác nhập lượng và các dịch vụ hỗ trợ Các ngành này rất có ích trong việc hỗ trợ cho việc
Trang 25trao đổi thông tin và thúc đẩy việc trao đổi ý kiến và sáng kiến đổi mới, đồng thời cũngphải chấp nhận cạnh tranh quốc tế Các nhà cung cấp nhập lượng có khả năng cạnh tranhtrên toàn cầu có thể mang lại cho doanh nghiệp - khách hàng của họ lợi thế về chi phí vàchất lượng Các ngành có quan hệ ngang cũng mang lại lợi thế cạnh tranh thông qua sựlan truyền công nghệ Sự hiện diện cụm công nghiệp tạo ra cho doanh nghiệp lợi thế kinh
tế theo quy mô Không nằm ngoài quy luật đó, những ngành công nghiệp liên quan vàphụ trợ cũng có tác động tới lợi thế cạnh tranh của các dịch vụ ngân hàng do nhữngngành này cung cấp đầu vào cho ngành ngân hàng Sự có mặt và phát triển của nhóm cácngành kinh tế liên quan như viễn thông, công nghệ thông tin, dịch vụ kiểm toán sẽ làmtăng năng suất cũng như sức cạnh tranh của các dịch vụ ngân hàng
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG AN BÌNH
1 Khái quát về quá trình hình thành, phát triển và tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng An Bình
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng An Bình
Ngân hàng An Bình (ABBANK) là một trong các ngân hàng cổ phần hàng đầu và
là một trong mười ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam
Sau hơn 15 năm phát triển và trưởng thành từ năm 1993, ABBANK đã có sự bứtphá mạnh mẽ trong 3 năm gần đây, với sự liên kết từ những tập đoàn kinh tế lớn mạnhtrong và ngoài nước như:
- Tập đoàn Điện lực Việt nam (EVN) - cổ đông chiến lược của ABBANK với tỉ
lệ góp vốn điều lệ khoảng 27%
- Maybank, ngân hàng lớn nhất Malaysia - cổ đông chiến lược nước ngoài, hiện
đang sở hữu 15% cổ phần của ABBANK
Với vốn điều lệ trên 2.700 tỉ đồng, mạng lưới gần 70 điểm giao dịch tại 20 tỉnhthành trên toàn quốc vào cuối năm 2008, ABBANK đang phục vụ hàng ngàn khách hàngdoanh nghiệp và hàng vạn khách hàng cá nhân Tổng tài sản, doanh thu và lợi nhuận củaABBANK đã tăng trưởng liên tục hơn 300% trong hai năm gần đây
Trang 26Các nhóm khách hàng mục tiêu hiện nay của ABBANK bao gồm: nhóm kháchhàng doanh nghiệp, nhóm khách hàng cá nhân và nhóm khách hàng đầu tư
Đối với khách hàng Doanh nghiệp: ABBANK sẽ cung ứng sản phẩm – dịch vụ
tài chính ngân hàng trọn gói như: sản phẩm cho vay, sản phẩm bao thanh toán, sản phẩmbảo lãnh, sản phẩm tài trợ xuất nhập khẩu, sản phẩm tài khoản, dịch vụ thanh toán quốctế
Đối với các khách hàng cá nhân: ABBANK cung cấp nhanh chóng và đầy đủ
chuỗi sản phẩm tín dụng tiêu dùng và các sản phẩm tiết kiệm linh hoạt Ví dụ: Cho vaytrả góp mua nhà, đất, xây sửa nhà; cho vay trả góp mua nhà, đất 30 năm và có bảo hiểmnhân thọ cho người vay; cho vay trả góp mua ô tô; cho vay tiêu dùng tín chấp; cho vaysản xuất kinh doanh trả góp; cho vay bổ sung vốn lưu động; cho vay tiêu dùng thế chấplinh hoạt.; các sản phẩm tiết kiệm YOUsaving: tiết kiệm theo thời gian thực gửi, tiếtkiệm bậc thang, và các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền trong và ngoài nước
Với các khách hàng đầu tư: ABBANK thực hiện các dịch vụ ủy thác và tư vấn
đầu tư cho các khách hàng công ty và cá nhân Riêng với các khách hàng công ty,ABBANK cũng cung cấp thêm các dịch vụ tư vấn tài chính, tư vấn phát hành và bảo lãnhphát hành trái phiếu, đại lý thanh toán cho các đợt phát hành trái phiếu Định vị và sựkhác biệt của ABBANK với các ngân hàng khác là việc cung ứng các giải pháp tài chínhlinh hoạt, hiệu quả và an toàn với dịch vụ thân thiện, lấy nhu cầu và sự hài lòng củakhách hàng là trọng tâm của mọi mô hình kinh doanh và cơ cấu tổ chức, bảo đảm chấtlượng phục vụ tốt và đồng nhất trên nền tảng công nghệ, quy trình chuẩn, và sự chuyênnghiệp của nhân viên
Các hoạt động chính:
Cho vay tài trợ, uỷ thác theo chương trình: Đài Loan (SMEDF); ViệtĐức (DEG, KFW) và các hiệp định tín dụng khung
Thấu chi, cho vay tiêu dùng
Hùn vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức tín dụng và các địnhchế tài chính trong nước và quốc tế
Đầu tư trên thị trường vốn, thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế
* Bảo lãnh :
Trang 27Bảo lãnh, tái bảo lãnh (trong nước và quốc tế): Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnh thựchiện hợp đồng; Bảo lãnh thanh toán
* Thanh toán và Tài trợ thương mại:
Phát hành, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu; thông báo, xác nhận,thanh toán thư tín dụng nhập khẩu
Nhờ thu xuất, nhập khẩu (Collection); Nhờ thu hối phiếu trả ngay(D/P) và nhờ thu chấp nhận hối phiếu (D/A)
Chuyển tiền trong nước và quốc tế
Chuyển tiền nhanh Western Union
Thanh toán uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc
Chi trả lương cho doanh nghiệp qua tài khoản, qua ATM
Chi trả Kiều hối…
* Ngân quỹ:
Mua, bán ngoại tệ (Spot, Forward, Swap…)
Mua, bán các chứng từ có giá (trái phiếu chính phủ, tín phiếu khobạc, thương phiếu…)
Thu, chi hộ tiền mặt VNĐ và ngoại tệ
Cho thuê két sắt; cất giữ bảo quản vàng, bạc, đá quý, giấy tờ có giá,bằng phát minh sáng chế
* Thẻ và ngân hàng điện tử:
Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng nội địa, thẻ tín dụng quốc tế(VISA, MASTER CARD…)
Dịch vụ thẻ ATM, thẻ tiền mặt (Cash card)
Internet Banking, Phone Banking, SMS Banking
* Hoạt động khác:
Khai thác bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ
Tư vấn đầu tư và tài chính
Cho thuê tài chính
Môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư, tưvấn, lưu ký chứng khoán
Trang 28 Tiếp nhận, quản lý và khai thác các tài sản xiết nợ qua Công ty Quản
lý nợ và khai thác tài sản
Để hoàn thiện các dịch vụ liên quan hiện có nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng caocủa khách hàng, đồng thời tạo đà cho sự phát triển và hội nhập với các nước trong khuvực và quốc tế, ABBANK đang hướng đến trở thành một ngân hàng TMCP hàng đầuViệt Nam, hoạt động đa năng theo mô hình một Tập đoàn Tài chính – Ngân hàng, hoạtđộng chuyên nghiệp theo những thông lệ quốc tế tốt nhất với năng lực hiện đại, đủ nănglực cạnh tranh với các ngân hàng trong nước và quốc tế hoạt động tại Việt Nam
1.2 Cơ cấu tổ chức của ABBANK
Bộ máy quản lý của chi nhánh Ngân hàng Công thương Chương Dương được tổchức theo cơ cấu trực tuyến chức năng, nghĩa là các phòng ban của công ty có mối liên
hệ chặt chẽ với nhau và cùng chịu sự quản lý của giám đốc
Chi nhánh bao gồm 10 phòng ban:
* Phòng khách hàng doanh nghiệp: Phòng khách hàng doanh nghiệp là phòng
nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh nghiệp để khai thác vốn bằngViệt Nam đồng ( VNĐ) và ngoại tệ, thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản
lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của Ngânhàng Công thương Việt Nam, trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sảnphẩm dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp
* Phòng khách hàng cá nhân: Phòng khách hàng cá nhân là phòng nghiệp vụ
trực tiếp giao dịch với khách hàng là các cá nhân để khai thác vốn bằng VNĐ và ngoại tệ,thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợpvới chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng Công thương Việt Nam, trựctiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các kháchhàng cá nhân
* Phòng/ Tổ quản lý rủi ro: Phòng quản lý rủi ro có nhiệm vụ tham mưu cho
giám đốc chi nhánh về công tác quản lý rủi ro của chi nhánh; quản lý giám sát thực hiêndanh mục cho vay, đầu tư đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng.Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấp tín dụng Thực
Trang 29hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ các hoạt động ngân hàng theo chỉđạo của Ngân hàng Công thương Việt Nam.
* Phòng quản lý nợ có vấn đ ề: Phòng quản lý nợ có vấn đề chịu trách nhiệm về
quản lý và xử lý các khoản nợ có vấn đề ( bao gồm các khoản nợ: cơ cấu lại thời hạn trả
nợ, nợ quá hạn, nợ xấu); quản lý, khai thác và xử lý tài sản đảm bảo nợ vay theo quy địnhcủa Nhà nước nhằm thu hồi các khoản nợ gốc và lãi tiền vay; quản lý, theo dõi và thu hồicác khoản nợ đã được xử lý rủi ro
* Phòng kế toán: Phòng kế toán là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch với
khách hàng; các nghiệp vụ và công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêunội bộ tại chi nhánh; cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán,
xử lý hạch toán các giao dịch Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịchtrên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo đúng quy định của Nhà nước
và Ngân hàng Công thương Việt Nam; thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sửdụng các sản phẩm của Ngân hàng
* Phòng/ Tổ Thanh toán xuất nhập khẩu: Phòng Thanh toán xuất nhập khẩu là
phòng nghiệp vụ về thanh toán xuất nhập khẩu và kinh doanh ngoại tệ tại chi nhánh theoquy định của Ngân hàng Công thương Việt Nam
* Phòng Tiền tệ kho quỹ: Phòng Tiền tệ kho quỹ là phòng nghiệp vụ quản lý an
toàn kho quỹ, quản lý quỹ tiền mặt theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và Ngânhàng Công thương Việt Nam; ứng và thu tiền cho các Quỹ tiết kiệm, các Điểm giao dịchtrong và ngoài quầy, thu chi tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi tiền mặt lớn
* Phòng Tổ chức hành chính: Phòng Tổ chức hành chính là phòng nghiệp vụ
thực hiện công tác tổ chức cán bộ và đào tạo tại chi nhánh theo đúng chủ trương chínhsách của Nhà nước và quy định của Ngân hàng Công thương Việt Nam; thực hiện côngtác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh tại chi nhánh, thực hiện công tácbảo vệ, an ninh an toàn chi nhánh
* Phòng/ Tổ Thông tin đ iện toán: Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống
thông tin điện toán tại chi nhánh; bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạtđộng của hệ thống mạng, máy tính của chi nhánh
Trang 30* Phòng/Tổ tổng hợp: Phòng Tổng hợp là phòng nghiệp vụ tham mưu cho Giám
đốc chi nhánh dự kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình hoạtđộng kinh doanh, thực hiện báo cáo hoạt động hàng năm của chi nhánh
Trang 311.3 Tình hình hoạt động của ABBANK007 là năm phát triển vượt
HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN
Trong năm 2007, tổng huy động từ tổ chức kinh tế và dân cư của ABBANK đãtăng 350% đạt 6.981 tỷ đồng trong đó huy động từ các tổ chức kinh tế chiếm 72% và từdân cư chiếm 28%
Hoạt động huy động vốn từ các tổ chức kinh tế là một trong các hoạt động khởisắc nhất của ABBANKtrong năm 2007 đạt 5.501 tỷ tăng 323% Huy động vốn từ các hộ