1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Gi i ph p n ng cao kh n ng c nh tranh trong ho t ng cho vay ti u d ng t i S Giao D ch Ng n h ng u t v ph t tri n Vi t Nam (1)

77 343 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 580 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng gópcủa quý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quýkhách gửi về luanvanpro.com@gm

Trang 1

http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn,

đồ án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất

cả mọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng gópcủa quý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quýkhách gửi về luanvanpro.com@gmail.com

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Sở Giao

Dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

Trang 2

Cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO, các Hiệp định thương mại giữa Việt Nam

và các nước được ký kết; nền kinh tế nước ta tăng trưởng liên tục với tốc độ cao; đờisống của đại bộ phận dân cư ngày càng được cải thiện Điều đó tạo tiền đề thuận lợi chocác dịch vụ ngân hàng bán lẻ phát triển Chính vì vậy hiện nay các ngân hàng khôngngừng cạnh tranh mở rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ như về dịch vụthẻ ATM, cho vay tiêu dùng…

Khi nền kinh tế nước ta đang phát triển, đời sống người dân được nâng cao, nhu cầu

sử dụng và mua sắm các vật dụng đắt tiền rất lớn, nhưng họ không thể chi trả cho tất cảnhu cầu mua sắm cùng lúc được Vì vậy, nếu người tiêu dùng có thể vay được tiền từngân hàng, thì họ có thể thỏa mãn nhu cầu của họ ngay trong hiện tại, về phía ngân hàngthì có thể thu lợi từ hoạt động cho vay Không chỉ có vậy, với việc cho vay này, ngânhàng gián tiếp thúc đẩy nền kinh tế phát triển do sự tăng tiêu dùng hàng hóa, thúc đẩyhoạt động sản xuất kinh doanh cả về số lượng và chủng loại sản phẩm, góp phần thúc đẩy

sự phát triển kinh tế chung của toàn xã hội

Xuất phát từ thực tiễn đó, cùng với kiến thức thực tiễn thu được trong quá trình

thực tập tại Sở giao dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, em chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Sở Giao Dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam”, làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.

Ngoài phần mở bài, kết luận, chuyên đề được chia làm 3 chương:

Chương I: Những lý luận cơ bản về cho vay tiêu dùng và khả năng cạnh tranh trongcho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại

Trang 3

Chương II: Thực trạng cho vay tiêu dùng và khả năng cạnh tranh trong hoạt độngcho vay tiêu dùng tại Sở Giao Dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.

Chương III: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động cho vay tiêudùng tại Sở Giao Dịch Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam

Trong thời gian thực tập vừa qua tại Sở Giao Dịch Ngân hàng đầu tư và phát triểnViệt Nam, đề tài đã được hoàn thành với sự giúp đỡ của cán bộ, nhân viên Phòng tíndụng và Phòng tổ chức cán bộ và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Thạc sĩ Lê HươngLan

Trang 4

CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG

Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế Các

cá nhân, các tổ chức kinh tế xã hội, doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước đều có thể gửivào món tiền mà mình đang sở hữu Cho nên có thể nói, ngân hàng như là người thủ quỹcủa xã hội Bên cạnh sự an toàn khi gửi tiền vào ngân hàng thì các chủ thể còn đựoc nhậnnguồn thu nhập từ lãi suất tiền gửi

Ngân hàng cung cấp các khoản tín dụng cho hàng triệu hộ tiêu dùng để phục vụ cácnhu cầu trong cuộc sống như du học, mua nhà đất, ôtô Đối với các doanh nghiệp, ngânhàng là một tổ chức tài chính quan trọng cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp khi doanhnghiệp cần thêm vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh, mua sắm trang thiết bị

Bên cạnh các hoạt động cơ bản đó, ngân hàng còn đứng ra cung cấp một loạt cácdịch vụ sản phẩm để đáp ứng những nhu cầu đang phát sinh theo xu hướng phát triển của

xã hội như bảo lãnh, tư vấn tài chính

Ngoài ra, NHTM dưới sự chỉ đạo của ngân hàng trung ương còn tiến hành thực hiệncác chính sách tiền tệ nhằm góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo sự ổnđịnh của xã hội

Tóm lại, Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế Ngânhàng có thể đuợc định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiệntrong nền kinh tế Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đang không ngừng thay đổi Thực tế,

Trang 5

rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môigiới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cungcấp các dịch vụ ngân hàng Ngược lại ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranhbằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ.

Cho nên cách tiếp cận thận trọng nhất chính là xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp, theo PGS.TS Phan Thị Thu Hà, Đại học Kinh tế quốc dân: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”

1.1.2 Chức năng của NHTM

1.1.2.1 Trung gian tài chính

Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiếtkiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế:(1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu

tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và

tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêucho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm

Sự tồn tại của hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng.Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (2) sang nhóm thứ (1) nếu cả hai cùng có lợi.Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính của hai nhóm Nếudòng tiền di chuyển với điều kiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong mộtkhoảng thời gian nhất định thì đó là quan hệ tín dụng Nếu không thì đó là quan hệ cấpphát hoặc hùn vốn Quan hệ tín dụng trực tiếp (quan hệ tài chính trực tiếp) đã có từ rấtlâu và tồn tại cho đến ngày nay

Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp bị giới hạn do sự không phù hợp về quy mô, thời gian,không gian… Điều này cản trở quan hệ trực tiếp phát triển và là điều kiện nảy sinh trunggian tài chính Do chuyên môn hóa, trung gian tài chính có thể làm giảm chi phí giaodịch Như vậy trung gian tài chính đã tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó màkhuyến khích tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn cho người đầu tư (tăng thu nhập cho

Trang 6

người đầu tư) từ đó mà khuyến khích đầu tư Trung gian tài chính đã tập hợp các ngườitiết kiệm và đầu tư, vì vậy mà giải quyết được mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp Cơ chếhoạt động của trung gian sẽ có hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các kĩ thuậtnghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro và giảm chi phí giao dịch.

1.1.2.2 Tạo phương tiện thanh toán

Tiền – vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán Các ngânhàng đã không tạo được tiền kim loại Các ngân hàng thợ vàng tạo phương tiện thanhtoán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng Giấy nhận nợ do ngân hàng phát hànhvới ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều ngườichấp nhận Như vậy, ban đầu các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán thay chotiền kim loại dựa trên số lượng tiền kim loại đang nắm giữ Với nhiều ưu thế, dần dầngiấy nợ của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phươngtiện cất trữ; nó trở thành tiền giấy

Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy nếu

họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hóa

và các dịch vụ theo yêu cầu

1.1.2.3 Trung gian thanh toán

Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia.Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá rị hàng hóa và dịch vụ Đểviệc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho kháchhàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ thu, các loạithẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khikhách hàng cần Các ngân hàng còn thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàngTrung ương hoặc qua các trung tâm thanh toán Công nghệ thanh toán qua ngân hàngcàng đạt hiệu quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng Vì vậy,công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lí tìm cách ápdụng rộng rãi Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhấttrong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngânhàng trên toàn thế giới Các trung tâm thanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu

Trang 7

quả của thanh toán qua ngân hàng, biến ngân hàng trở thành trung tâm thah toán quantrọng và có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho nền kinh tế toàn cầu.

1.1.3 Các dịch vụ của ngân hàng

Ngân hàng là một doanh cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh nghiệp Thànhcông của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội cónhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu quả

1.1.3.1 Mua bán ngoại tệ

Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phídịch vụ Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngânhàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thờiyêu cầu phải yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao

-1.1.3.2 Nhận tiền gửi

Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm mọi cách

để huy động được tiền Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi (thanhtoán và tiết kiệm của khách hàng) Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộngười có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giànhđược các khoản tiền gủi, các ngân hàng đã trả lãi cho tiền gửi như là phần thưởng chokhách hàng về việc sẵn sàng hi sinh nhu cầu tiêu dung trước mắt và cho phép ngân hàng

sử dụng tạm thời để kinh doanh Trong lịch sử đã có những kỷ lục về lãi suất, chẳng hạncác ngân hàng Huy Lạp đã trả lãi suất 16% một năm để thu hút các khoản tiết kiệm nhằmmục đích cho vay đối với các chủ tàu ở Địa Trung Hải với lãi suất gấp đôi hay gấp ba lầnlãi suất tiết kiệm

1.1.3.3 Cho vay

+ Cho vay thương mại

Ngay ở thời kì đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vayđối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân hàng để lấytiền trước) Sau đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp

Trang 8

đối với các khách hàng (là người mua) Giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mởrộng sản suất kinh doanh.

+ Cho vay tiêu dùng

Trong giai đoạn đầu hầu hết các ngân hàng không tích cục cho vay đối với cá nhân

và hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay tiêu dùng rủi ro vỡ nợ tương đối cao

Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc cácngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng Sau chiếntranh thế giới lần thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tíndụng tăng trưởng nhanh nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển

+ Tài trợ cho dự án

Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn hạn, các ngân hàng càng trở lênnăng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành côngnghệ cao Do rủi ro trong loại hình tín dụng này nói chung là cao song lãi lại lớn Một sốngân hàng còn cho vay để đầu tư vào đất

1.1.3.4 Bảo quản vật có giá

Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàngtrong kho bảo quản Ngân hàng giữ vàng và giao cho khách tờ biên nhận (giấy chứngnhận do ngân hàng phát hành) Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho giấy chứng nhận,nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền – dùng để thanh toán các khoản nợ trongphạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành Lợi ích của việc sử dụng phương tiện thanhtoán bằng giấy thay cho bằng kim loại đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngânhàng để đổi lấy giấy chứng nhận của ngân hàng Đó là hình thức đầu tiên của giấy bạcngân hàng Ngày nay, vật có giá được tách khỏi tiền gửi và khách hàng phải trả phí bảoquản

1.1.3.5 Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán

Khi các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận thấy ngân hàng không chỉ bảoquản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của họ Thanh toán qua ngânhàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cầnphải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách (còn được gọi là

Trang 9

séc), khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền Các tiện ích của thanh toánkhông dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rútngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân Khi ngân hàng mởchi nhánh, thanh toán qua ngân hàng được mở rộng phạm vi, càng tạo nhiều tiện ích chocác doanh nhân Điều này đã khuyến khích các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng đểnhờ ngân hàng thanh toán hộ Như vậy, một dịch vụ mới, quan trọng nhất được phát triển

đó là tài khoản tiền gửi giao dịch, cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việcmua hàng hoá và dịch vụ Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được xem là mộttrong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng Cùng với sự pháttriển của công nghệ thông tin, nhiều thể thức thanh toán được phát triển như Uỷ nhiệmchi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng điện, thẻ…

1.1.3.6 Quản lý ngân quỹ

Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và nhiều cánhân Nhờ đó, ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng Do cókinh nghiệp trong quản lí ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đãcung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lí ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý quản lýviệc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặttạm thời vào các chứng khoán sinh lời và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cầntiền mặt để thanh toán

1.1.3.7 Tài trợ các hoạt động của Chính phủ

Khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn của ngân hàng đã trở thành trọngtâm chú ý của các Chính phủ Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khithu không đủ Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngânhàng Trong điều kiện các ngân hàng tư nhân không muốn tài trợ cho Chính phủ vì rủi rocao, Chính phủ thường dùng một số đặc quyền trao đổi lấy các khoản vay của nhữngngân hàng lớn Khi ngân hàng Trung ương thành lập, Chính phủ đều tìm cách tham dự,hoặc trực tiếp can thiệp để có các khoản tín dụng lớn Ngày nay, Chính phủ giành quyềncấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng Các ngân hàng được cấp giấy phép hoạtđộng và kiểm soát các ngân hàng Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điềukiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài

Trang 10

trợ cho Chính phủ Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhấtđịnh trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được; hoặc phải cho vay với điềukiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của Chính phủ.

1.1.3.8 Bảo lãnh

Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân hàngnắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho kháchhàng Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triểnmạnh Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trangthiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác…

1.1.3.9 Cho thuê thiết bị trung và dài hạn

Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt là các thiết bị có giá trị lớn, nhiều hãng sảnxuất và thương mại đã cho thuê (thay vì bán) các thiết bị Cuối hợp đồng thuê, kháchhàng có thể mua (do vậy còn gọi là hợp đồng thuê mua) Rất nhiều ngân hàng tích cựccho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thôngqua hựp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê Hợpđồng cho thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị củatài sản cho thuê Do vậy, cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay,

và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn

1.1.3.10 Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn

Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính các ngân hàng có nhiều chuyên gia về quản lítài chính Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản vàquản lý hoạt động tài chính hộ Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ tháccho vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư… Thậm chí, các ngân hàng đóng vai trò làngười được uỷ thác trong di chúc, quản lý tài sản cho khách hàng đã qua đời bằng cáchcông bố tài sản, bảo quản các tài sản có giá Nhiều khách hàng còn coi ngân hàng nhưmột chuyên gia tư vấn tài chính Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lí tàichính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp

Trang 11

1.1.3.11 Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán

Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép kháchhàng thoả mãn mọi nhu cầu Đầu là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắtđầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổphiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanhchứng khoán Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoánhoặc công ty môi giới chứng khoán

1.1.3.12 Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm

Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó bảođảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hành bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro tronghoạt động, mất khả năng thanh toán

1.1.3.13 Cung cấp các dịch vụ đại lí

Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập chi nhánh hoặc vănphòng ở khắp mọi nơi Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngânhàng đại lí cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiềngửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…

1.2 Cho vay tiêu dùng của NHTM

1.2.1.Khái niệm và phân loại cho vay

1.2.1.1.Khái niệm cho vay

Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạngnhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế như tiết kiệm, dịch vụthanh toán, đặc biệt là hoạt động cho vay

Cho vay là một hoạt động truyền thống và là chức năng kinh tế hàng đầu của Ngânhàng, giúp Ngân hàng chuyển tiết kiệm thành đầu tư

Theo QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tíndụng đối với khách hàng, cho vay được hiểu như sau: “Cho vay là một hình thức cấp tíndụng, theo đó, tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng

Trang 12

vào mục đích và trong thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cảgốc và lãi”.

1.2.1.2.Phân loại cho vay

Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một

số tiêu thức nhất định Việc phân loại cho vay thích hợp và cơ sở khoa học là tiền đề đểthiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.Phân loại cho vay dựa vào các căn cứ sau đây:

+ Theo thời hạn cho vay

Theo căn cứ này cho vay được chia ra làm 3 loại:

- Cho vay ngắn hạn: loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để

bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của

Trang 13

- Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thểlên đến 20 – 30 năm Cho vay dài hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn nhưxây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựn xí nghiệp mới.+ Theo tài sản đảm bảo

- Cho vay không bảo đảm là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sựbảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng

- Cho vay có bảo đảm là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp hoặccầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba

Theo phương pháp hoàn trả

Cho vay có thời hạn là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợpđồng Cho vay có thời hạn bao gồm các loại sau:

- Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ ( hay còn gọi là phí trả góp ) là loại cho vaythanh toán một lần theo thời hạn đã thỏa thuận

- Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là cho vay trả góp: Là loại chovay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ

- Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể, mà việc trả nợphụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay

- Cho vay không có thời hạn cụ thể: đối với loại cho vay có thời hạn thì ngân hàng

có thể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước mộtthời gian hợp lý, thời gian này sẽ được thỏa thuận trong hợp đồng

Theo cách thức tài trợ

Dựa vào căn cứ này cho vay tín dụng chia làm hai loại:

- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thờingười đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng

- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại cáckhế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời gian thanh toán

Trang 14

1.2.2 Cho vay tiêu dùng của NHTM

1.2.2.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng của NHTM

Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu củangười tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình Đây là nguồn tài chính quan trọng giúpnhững người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình và xe cộ…Bên cạnh đó,những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch… cũng có thể được tài trợ bở chovay tiêu dùng

Cho vay tiêu dùng không có một định nghĩa chuẩn, nhưng nó có những đặc điểmsau:

Khách hàng vay: Chủ yếu là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu tiêu dùng

tại thời điểm hiện tại nhưng chưa có khả năng thanh toán

Mục đích vay: Ngân hàng cho vay tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng

cá nhân chứ không phải là nhu cầu kinh doanh

Qui mô khoản vay: Mỗi khoản vay thường có qui mô tương đối nhỏ so với

các khoản cho vay kinh doanh Cho vay bất động sản có thể có giá trị lớn hơn, nhưng giátrị so sánh vẫn nhỏ hơn các món vay khác tại Ngân hàng Nguyên nhân chủ yếu do kháchhàng chỉ vay tiêu dùng khi đã có một lượng vốn tương đối, chỉ vay ngân hàng để bổ sung

số tiền còn thiếu (so với vay kinh doanh, có thể chủ đầu tư vay toàn bộ số tiền cần thiếtcho dự án) Mặt khác, do cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao hơn nên Ngân hàng cũngthường thận trọng hơn trong việc quyết định số tiền cho vay, căn cứ vào khả năng trả nợ

và tài sản đảm bảo của khách hàng

Số lượng các khoản cho vay tiêu dùng lại là rất lớn do đối tượng của loại

hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội với nhu cầu tiêu dùng đa dạng Khi chấtlượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay Ngânhàng để cải thiện và nâng cao mức sống Do đó, nền kinh tế càng phát triển, số lượng cáckhoản vay tiêu dùng sẽ càng nhiều

Thời hạn vay: Các khoản cho vay tiêu dùng thì thời hạn thường là ngắn và

trung hạn do món vay có giá trị nhỏ và độ rủi ro cao đối với Ngân hàng Tuy nhiên, đốivới cho vay bất động sản lại thường có thời hạn dài do người dân phải tích lũy thu nhậpmột thời gian tương đối mới có thể đủ tiền trả Ngân hàng

Trang 15

Nguồn trả nợ: Nguồn trả nợ chủ yếu của khoản vay tiêu dùng chính là thu

nhập của người đi vay, do đó Ngân hàng thường xem xét mức thu nhập thường xuyêncủa khách hàng để quyết định xem có cho vay không Đây cũng là một điểm khác biệt sovới cho vay kinh doanh -nguồn trả nợ chủ yếu của món vay này là lợi nhuận khi thựchiện phương án kinh doanh đó

Lãi suất Khi vay tiền, khách hàng thường kém nhạy cảm với lãi suất mà họ

quan tâm tới khoản tiền phải trả hàng tháng, thời gian được giải ngân và khả năng trả nợcủa mình Nguyên nhân chủ yếu là người tiêu dùng thường coi vay mượn là công cụ đểđạt đươc một cuộc sống thoải mái hơn chứ không phải là một lựa chọn dùng trong tìnhtrạng khẩn cấp hoặc để tạo ra lợi nhuận

Rủi ro Các khoản cho vay tiêu dùng thường có độ rủi ro cao Sau đây là một

số nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này

o Thông tin tài chính của cá nhân và hộ gia đình thường khó đầy đủ và rõ ràngnhư thông tin về doanh nghiệp (công khai thông qua báo cáo tài chính), dẫn đến rủi rođạo đức và rủi ro thông tin không cân xứng Các cá nhân có thể tìm cách trốn tránhkhông trả các khoản vay cho dù có khả năng thanh toán

o Nguồn trả nợ chủ yếu là từ thu nhập ổn định tại thời điểm hiện tại của ngườivay Do vậy, nếu người vay gặp vấn đề về sức khoẻ, mất việc làm hay gặp các biến cốbất ngờ ảnh hưởng đến thu nhập hàng tháng, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong thu hồi

nợ Đây là rủi ro khó lường trước, khác với món vay kinh doanh ta có thể hạn chế đượcthông qua nâng cao chất lượng thẩm định dự án

o Cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kì kinh tế Khi nền kinh tế mởrộng, người dân lạc quan về tương lai thì họ sẽ vay ngân hàng nhiều hơn, và khi nền kinh

tế suy thoái, tình trạng thất nghiệp tăng thì họ sẽ hạn chế vay mượn ngân hàng

Chi phí: Cho vay tiêu dùng là một trong những khoản mục có chi phí lớn nhất

trong danh mục cho vay của Ngân hàng Do trong cho vay tiêu dùng số lượng món vaynhiều, khách hàng đông và đa dạng nhưng mỗi khoản vay số lượng lại nhỏ, ngân hàngphải huy động nhiều nhân lực cho công việc cho vay, từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm địnhkhách hàng, quyết định cho vay, giải ngân cũng như kiểm soát và thu nợ đối với kháchhàng sau khi cho vay Mặt khác, Ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn để quản lý cáckhoản cho vay tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn do đối với khách hàng cá

Trang 16

nhân, thông tin về tình hình tài chính thường không công khai minh bạch như ở các công

ty lớn Tất cả những điều này kiến chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ cho vay cao hơn sovới các loại hình cho vay khác

Lợi nhuận: Lợi nhuận của cho vay tiêu dùng thường cao do cho vay tiêu dùng

có rủi ro cao, chi phí cao và tâm lý người vay “kém nhạy cảm với lãi suất” Các khoảnvay tiêu dùng thường được định giá cao, đến mức mà bản thân lãi suất vay vốn trên thịtrường lẫn tỉ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản tín dụng tiêudùng mới không mang lại lợi nhuận

Tính chu kì: Khác với các khoản vay thương mại, nhu cầu phát sinh theo chu

kì kinh doanh lặp đi lặp lại, trong cho vay tiêu dùng, người vay thường ít vay nhiều lần

1.2.2.2 Vai trò hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM

Đối với ngân hàng

Ngoài hai nhược điểm lớn của cho vay tiêu dùng là rủi ro và chi phí cao, cho vaytiêu dùng có những lợi ích và vai trò quan trọng để ngân hàng thúc đẩy cho vay tiêu dùngnhư:

- Giúp mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động cácloại tiền gửi cho ngân hàng

- Tạo điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, nhờ vậy nâng cao thu nhập vàphân tán rủi ro cho ngân hàng

Đối với người tiêu dùng

Nhờ cho vay tiêu dùng họ hưởng các tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền và đặc biệtquan trọng hơn nó rất cần thiết cho những trường hợp khi cá nhân có các chi tiêu có tínhcấp thiết, cấp bách như nhu cầu chi tiêu cho giáo dục và y tế

Đối với nhà sản xuất

Tạo điều kiện để người tiêu dùng có thể mua hàng hoá nhiều hơn và nhanh hơn là

đã giúp nhà sản xuất bán được sản phẩm, quay vòng vốn nhanh hơn, mở rộng sản xuất,

do đó lợi nhuận cũng tăng lên Đây cũng là nguyên do khiến càng ngày càng nhiều nhàsản xuất mong muốn hợp tác với Ngân hàng để mở rộng cho vay tiêu dùng

Đối với nền kinh tế

Trang 17

Nếu cho vay tiêu dùng được dùng để tài trợ cho các chi tiêu về hàng hóa và dịch

vụ trong nước thì nó có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, tạo điều kiện thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động trong xã hội

Chính vì lợi ích như vậy NHTM một mặt cho vay để tạo nên sự hòa hợp giữa cung

và cầu tiêu dùng, mặt khác lại có thể giải quyết tốt được nhiệm vụ kích cầu tiêu dùng củanền kinh tế

1.2.2.3 Các loại cho vay tiêu dùng của NHTM

Việc phân loại cho vay tiêu dùng được dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau:

a Căn cứ vào mục đích vay

Căn cứ vào mục đích vay, cho vay tiêu dùng được chia ra làm hai loại:

 Cho vay tiêu dùng cư trú: là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu muasắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình

 Cho vay tiêu dùng phi cư trú là các khoản cho vay tài trợ cho việc trang trảicác chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học hành, giải trí du lịch…

b Căn cứ vào tiêu thức hoàn trả

Căn cứ vào tiêu thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng có thể chia làm ba loại:

 Cho vay tiêu dùng trả góp: đây là hình thức cho vay tiêu dùng trong đó người

đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhấtđịnh trong thời hạn vay Phương thức này thường được áp dụng cho các khoản vay có giátrị lớn hoặc thu nhập từng định kỳ của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hếtmột lần số nợ vay

 Cho vay phi trả góp: theo phương thức này tiền vay được khác hàng thanh toáncho ngân hàng chỉ một lần khi đến hạn Thường thì các khoản cho vay tiêu dùng phi trảgóp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài

 Cho vay tuần hoàn: là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng chophép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựatrên tài khoản vãng lai Theo phương thức này, trong thời hạn tín dụng được thỏa thuậntrước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngânhàng cho phép thực hiện vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mứctín dụng

c Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ

Trang 18

Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ, cho vay tiêu dùng gồm:

 Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Cho vay tiêu dùng gián tiếp là hình thức cho vaytrong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịuhàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng

 Cho vay trực tiếp: là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực tiếptiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ người này

1.3 Khả năng cạnh tranh trong cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại

1.3.1 Khái niệm

Cạnh tranh là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá bởi thực chất nó xuấtphát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá Trong sản xuất hàng hoá, sự tách biệttương đối giữa những người sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu dẫn đến sựcạnh tranh để giành được những điều kiện thuận lợi hơn như gần nguồn nguyên liệu,nhân công rẻ, gần thị trường tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật pháttriển nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hộicần thiết để thu được nhiều lãi

Theo M.Porter 1980: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần, bản chất của cạnh tranh làtìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà hãng đang

có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiềuhướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”

Khái quát lại: “Cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nềnsản xuất hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụhoặc tiêu dùng hàng hoá để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình”

Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng (Người sản xuấtmuốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để muađược hàng rẻ hơn, tốt hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơntrong sản xuất và tiêu thụ Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá )hoặc phi giá cả (quảng cáo )

Trong lĩnh vực ngân hàng, khả năng cạnh tranh là một chỉ tiêu rất tổng hợp, cóliên quan chặt chẽ đến việc tạo ra những sản phẩm dịch vụ khác biệt và chỉ rõ lợi thếcạnh tranh của sản phẩm dịch vụ ở thị trường mục tiêu, đồng thời phải làm cho khách

Trang 19

hàng thấy được lợi ích thực tế từ những sản phẩm dịch vụ đó Khả năng cạnh tranh củamột ngân hàng cũng được biểu hiện cụ thể qua thị phần của Ngân hàng đó trên thịtrường.

Vậy khả năng cạnh tranh của ngân hàng là gì, theo TS Hà Thị Ngọc Oanh tạiViện nghiên cứu thành phố Hồ Chí Minh thì: “ Năng lực cạnh tranh của ngân hàng được

đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của ngân hàng trong môitrường cạnh tranh trong và ngoài nước Vì vậy năng lực cạnh tranh NHTM là sự tổnghợp của các yếu tố từ công tác chỉ đạo và điều hành, chất lượng đội ngũ cán bộ uy tín vàthương hiệu của ngân hàng”

1.3.2 Sự cần thiết năng cao khả năng cạnh tranh trong cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại

Ngân hàng cho vay tiêu dùng thu được lợi ích rất lớn vì khoản lãi thu được cao,chính vì thế các ngân hàng không ngừng mở rộng và nâng cao hoạt động cho vay tiêudùng của mình, dẫn đến có quá nhiều ngân hàng cùng tham gia vào một thị trường chovay tiêu dùng, nếu các ngân hàng không ngừng nâng cao chất lượng về sản phẩm, dịch

vụ cho vay tiêu dùng thì sẽ không thu hút được khách hàng, chính vì vậy cạnh tranh buộcNgân hàng phải năng động, nhạy bén, tích cực nâng cao nguồn nhân lực, cải tiến kỹthuật, áp dụng khoa học kỹ thuật, hoàn thiện tổ chức quản lý để nâng cao năng suất laođộng, hiệu quả kinh tế Từ những khái niệm trên có thể nhận thấy cạnh tranh có vai tròrất quan trọng và là một trong những động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy các ngân hàngphát triển

1.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh trong cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại

Có nhiều chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh trong kinh doanh của một ngânhàng, trong đánh giá về khả năng cạnh tranh cho vay tiêu dùng người ta sử dụng 4 chỉtiêu chính sau:

Trang 20

1.3.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng trong hoạt động cho vay tiêu dùng

- Tỷ trọng dư nợ cho vay tiêu dùng trong tổng dư nợ: Đây là một trong những chỉtiêu cơ bản quan trọng trong việc đánh giá mức độ phát triển hoạt động cho vay tiêu dùngcủa Ngân hàng so với các hoạt động cho vay khác Khi tìm hiểu về cho vay tiêu dùng,nếu chỉ chú ý đến dư nợ cho vay tiêu dùng riêng mà không đặt trong mối tương quan vớitổng dư nợ thì sự đánh giá sẽ không được chính xác

Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:

Tỷ trọng dư nợ cho vay tiêu dùng =

- Tỷ trọng thu lãi từ cho vay tiêu dùng so với thu lãi từ hoạt động cho vay nóichung: cho biết hoạt động cho vay tiêu dùng đóng góp bao nhiêu vào tổng lãi từ hoạtđộng cho vay Nó phản ánh hiệu quả trong hoạt động cho vay tiêu dùng Nếu dư nợ chovay tiêu dùng tăng rất khả quan, nhưng thu lãi từ cho vay tiêu dùng lại có xu hướng tăngchậm hoặc giảm sút thì NH phải xem xét lại chính sách lãi suất của mình Tỷ trọng nàycòn giúp việc xây dựng định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng

Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:

Tỷ trọng thu lãi cho vay tiêu dùng =

- Thị phần cho vay tiêu dùng của Ngân hàng so với các ngân hàng khác cùng thịtrường: Chỉ tiêu này cho biết sức cạnh tranh về cho vay tiêu dùng của ngân hàng so vớicác ngân hàng khác, khả năng chiếm lĩnh thị trường mục tiêu cũng như hướng phát triểntrong tương lai

1.3.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng

- Mức độ sử dụng vốn vay trên tổng vốn huy động: chỉ tiêu này cho phép xác địnhkhả năng cho vay nói chung và khả năng cho vay tiêu dùng nói riêng trong tương lai củaNgân hàng, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trong hoạt động này

Mức độ sử dụng vốn để cho vay =

- Tỉ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay tiêu dùng: Như đã phân tích ở trên,cho vay tiêu dùng là hình thức cho vay có nhiều rủi ro, do đó cũng có tỉ lệ nợ quá hạn caohơn so với tỉ lệ nợ quá hạn chung của toàn Ngân hàng Hoạt động cho vay tiêu dùng củamột Ngân hàng được coi là phát triển và hiệu quả khi tỉ lệ nợ quá hạn nằm trong giới hạn

Trang 21

cho phép và có xu hướng giảm so với các năm trước hoặc đã thu hồi được nhiều khoảnquá hạn của kỳ trước Tỷ trọng này cho thấy chất lượng tín dụng của ngân hàng.

Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:

=

- Mức độ đa dạng các hình thức cho vay tiêu dùng: Số lượng sản phẩm cho vaytiêu dùng ngân hàng cung cấp càng đa dạng thì ngân hàng càng đáp ứng và thoả mãn tốthơn nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng mạnh

mẽ hơn

- Chất lượng dịch vụ cho vay: Đây là tiêu chí dựa trên những nhân tố vô hình như:thái độ phục vụ của nhân viên khách hàng, thời gian xét duyệt khoản vay, mức độ hàilòng của khách hàng đối với dịch vụ được cung cấp

1.3.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tính đổi mới trong hoạt động cho vay tiêu dùng của Ngân hàng

Với tốc độ phát triển kinh tế cũng như thu nhập bình quân đầu người tăng lên thìnhu cầu về các sản phẩm cho vay tiêu dùng không ngừng phát triển Một ngân hàng khó

có thể cạnh tranh với các ngân hàng khác nếu không biết đổi mới, phát triển, đa dạng cácsản phẩm cho vay tiêu dùng của mình Sự đổi mới có thể đo lường qua các con số sau:

- Chiến lược cho vay ngân hàng nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng, thịtrường mục tiêu: Chiến lược cho vay là một phương tiện mà theo đó Ngân hàng có thểgia tăng lợi nhuận, quản lý rủi ro tín dụng trong giới hạn có thể và tiếp tục đáp ứng cácnhu cầu tài chính của khách hàng Chiến lược cho vay của Ngân hàng phải phù hợp vớichiến lược chung của Ngân hàng đó, phù hợp với khách hàng và thị trường mục tiêu, phùhợp với qui trình quản lý rủi ro tín dụng

- Chiến lược xây dựng sản phẩm mới: Thông thường mỗi Ngân hàng sẽ có mộtban riêng để xây dựng phát triển các sản phẩm Ngân hàng mới cho toàn hệ thống Bannày sẽ kết hợp với các phòng ban nghiệp vụ (ví dụ như phòng bán lẻ) nhằm tìm ra sảnphẩm mới cho Ngân hàng mình dựa trên qui trình phát triển sản phẩm mới đã được quiđịnh Một chiến lược phát triển sản phẩm mới tốt với qui trình phù hợp sẽ giúp Ngânhàng có thể xây dựng nhiều sản phẩm mới tốt hơn, phù hợp hơn với nhu cầu khách hàng

Trang 22

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trong cho vay tiêu dùng của ngânhàng thương mại

Ngân hàng thương mại chịu mọi tác động của môi trường cạnh tranh như mộtdoanh nghiệp Theo lý luận về quản trị và cạnh tranh trong doanh nghiệp thì các nhân tốảnh hưởng đến cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể đến từ nhiều phía của môi trườngkinh doanh mà ta có thể chia làm 2 loại: Môi trường vĩ mô, môi trường vi mô Ta cũng

có thể gọi là nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan

1.4.1 Nhân tố khách quan

Nhân tố khách quan là những nhân tố nằm ngoài sự quản lý của Ngân hàng nhưnglại ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới toàn bộ hoạt động của Ngân hàng Những thayđổi và xu thế của những nhân tố này có thể tạo ra những cơ hội hoặc gây ra những rủi rođối với Ngân hàng

Tóm lại, có 7 nhân tố khách quan chính sau:

Dân số:

Với tỉ lệ tăng dân số, những thay đổi về cấu trúc dân số, xu hướng di chuyển dân

cư, chính sách dân số của vùng, khu vực hay quốc gia Đây là một nhân tố quan trọng,bởi nó không chỉ tạo thành nhu cầu và kết cấu nhu cầu của dân cư về dịch vụ ngân hàng,cho phép ngân hàng xác định được thị trường tiềm năng của hoạt động cho vay tiêudùng, là căn cứ trong việc hình thành hệ thống phân phối của ngân hàng một cách hiệuquả để có thể nâng cao năng lực của ngân hàng so với các đối thủ cạnh tranh để chiếmlĩnh thị phần

Môi trường địa lý:

Các vùng địa lý khác nhau có những đặc điểm rất khác nhau về điều kiện giaothông, sông núi, tài nguyên,…điều này hình thành những tụ điểm dân cư, trung tâmthương mại, sản xuất khác nhau Vì vậy, nó sẽ ảnh hưởng tới việc mở rộng mạng lướiNgân hàng (như việc mở chi nhánh, phòng giao dịch…) Ngân hàng sẽ phải xem xét việc

mở rộng mạng lưới ở đâu là tốt nhất, thuận tiện nhất, chi phí thấp, người dân có thu nhậptốt để đặt chi nhánh Như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh củangân hàng nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng

Môi trường kinh tế:

Trang 23

Môi trường kinh tế bao gồm: tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế, sự ổn định

về kinh tế, chính sách đầu tư, tiết kiệm của Chính phủ, thu nhập bình quân đầu người, tỷ

lệ xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, lãi suất cũng có tác động mạnh mẽ đếnhoạt động kinh doanh của ngân hàng

Khi nền kinh tế suy thoái, thu nhập giảm sút, lạm phát và thất nghiệp tăng cao,

môi trường kinh doanh không thuận lợi cũng làm ảnh hưởng tới các kế hoạch kinh doanhcủa ngân hàng, do người dân có xu hướng giảm chi phí tiêu dùng, gia tăng tiết kiệm để

đề phòng bất chắc trong tương lai, chính vì vậy nhu cầu vay tiêu dùng sẽ giảm

Mặt khác khi nền kinh tế hưng thịnh, hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển sẽ

là cơ hội tốt để thực hiện các hoạt động kinh doanh ngân hàng Người dân sẽ kỳ vọngvào nền kinh tế nhiều hơn, họ cũng kỳ vọng vào thu nhập trong tương lai có thể đáp ứngnhu cầu chi tiêu hiện tại của họ nên họ sẽ gia tăng hoạt động vay tiêu dùng

Môi trường văn hoá - xã hội:

Hành vi tiêu dùng bị chi phối bởi các yếu tố văn hóa, do đó nó cũng ảnh hưởng tớicác nhu cầu về sản phẩm dịch vụ ngân hàng Yếu tố văn hóa – xã hội được biểu hiện quatrình độ dân trí, trình độ văn hóa, lối sống, thói quen sử dụng, cất trữ tiền tệ cũng như sựhiểu biết của dân chúng về hoạt động Ngân hàng Những nhân tố này ảnh hưởng lớn tớihành vi và nhu cầu sản phẩm dịch vụ Ngân hàng

Môi trường luật pháp:

Do đặc thù của ngành Ngân hàng luôn mang tính rủi ro cao và gây đổ vỡ có tínhchất dây chuyền, kinh doanh Ngân hàng luôn phải chịu sự giám sát chặt chẽ của phápluật Môi trường pháp lý sẽ đem đến cho Ngân hàng những cơ hội mới và cả những tháchthức mới Do vậy, một Ngân hàng luôn luôn cần chủ động điều chỉnh hoạt động kinhdoanh sao cho phù hợp với những qui định mới, phân tích và dự báo được những xuhướng thay đổi của môi trường pháp luật như xu hướng toàn cầu hóa thị trường tài chínhngân hàng… từ đó đưa ra những quyết sách phù hợp nhất với xu thế chung, nâng cao khảnăng cạnh tranh của Ngân hàng

Môi trường công nghệ:

Sự ra đời và phát triển của công nghệ hiện đại đã làm thay đổi bộ mặt của ngànhNgân hàng Công nghệ mới cho phép Ngân hàng đổi mới không chỉ qui trình nghiệp vụ

mà còn đổi mới cả cách thức phân phối, đặc biệt là phát triển sản phẩm dịch vụ mới như

Trang 24

sự phát triển của mạng lưới máy tính cho phép Ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng24/24 Phương thức trao đổi giữa khách hàng và ngân hàng cũng rất nhạy cảm đối vớicác tiến bộ công nghệ Trong cạnh tranh, người quản lý ngân hàng phải tìm ra những lợithế về công nghệ của ngân hàng, đánh giá, xác định rõ khoảng cách về công nghệ giữangân hàng mình và các ngân hàng đối thủ trong và ngoài nước Công nghệ Ngân hàngcàng tốt, khả năng bảo mật càng cao, tốc độ giao dịch nhanh, chính xác thì càng nâng caokhả năng cạnh tranh, đáp ứng càng tốt nhu cầu của khách hàng

Đối thủ cạnh tranh:

Các đối thủ này quyết định tính chất và mức độ tranh đua hoặc thủ thuật giành lợithế trong ngành Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào các yếu tố như số lượng các ngânhàng tham gia, mức độ tăng trưởng của ngành, cơ cấu chi phí cố định, mức độ đa dạnghóa sản phẩm của mỗi ngân hàng Những hoạt động của đối thủ cạnh tranh cũng có ảnhhưởng không nhỏ tới hoạt động của Ngân hàng, nhất là khi các Ngân hàng cùng cung cấpmột sản phẩm, cùng hướng vào một đối tượng khách hàng mục tiêu trên cùng địa bànhoạt động Thị trường ngân hàng càng sôi động, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng càngtrở nên gay gắt Kết quả là ngân hàng càng ngày càng chi nhiều tiền cho các hoạt độngnghiên cứu cấu trúc thị trường và hành vi của các ngân hàng trên thị trường, nghiên cứuhành vi cụ thể của từng đối thủ cạnh tranh (đối thủ cạnh tranh trực tiếp, đối thủ cạnhtranh tiềm ẩn ) nhằm có thể chủ động đưa ra một chiến lược cạnh tranh năng động vàhiệu quả

1.4.2 Nhân tố chủ quan

Nhân tố chủ quan bao gồm những yếu tố mà ảnh hưởng của nó có liên quan trựctiếp tới Ngân hàng Nhân tố chủ quan bao gồm:

Các yếu tố nội lực của Ngân hàng:

- Qui mô vốn và khả năng phát triển của ngân hàng: đây là một nhân tố rất quantrọng của ngân hàng vì ngân hàng nào có qui mô vốn càng lớn, thì khả năng đáp ứng nhucầu cho vay sẽ càng lớn, cùng với các chỉ tiêu tài chính càng lành mạnh thì sẽ tạo đượctâm lý yên tâm cho khách hàng Hơn nữa, việc phát triển các sản phẩm dịch vụ cho vaytiêu dùng mới, ứng dụng công nghệ vào hoạt động cho vay tiêu dùng ngân hàng luôncần một lượng vốn lớn để đầu tư về mặt công nghệ, các ngân hàng nhỏ sẽ rất khó thực

Trang 25

hiện, vì vậy với qui mô vốn lớn ngân hàng không những tạo cho mình thế chủ động trượcmọi hoạt động mà còn tạo cho mình khả năng đứng vững trước các đối thủ cạnh tranh

- Hệ thống thông tin, mạng lưới phân phối: với mạng lưới các chi nhanh rộngkhắp trên toàn quốc thì ngân hàng sẽ có lợi thế trong việc tìm kiếm khách hàng, tìm kiếmthông tin một cách chính xác hơn về khách hàng điều ấy sẽ giúp khách hàng vừa có nhiềukhách hàng, vừa ít gặp rủi ro hơn trong việc cho vay

- Bộ phận marketing ngân hàng: với thông tin thu thập được, bộ phận này sẽ tổnghợp, phân tích, đưa ra hướng giải quyết nhằm đạt mục tiêu thu hút ngày càng nhiềukhách hàng, chiếm lĩnh được thị phần cao trên thị trường, đạt lợi nhuận cao, tăng khảnăng cạnh tranh

- Trình độ đội ngũ cán bộ: Cán bộ tín dụng cần phải có chuyên môn giỏi, khả năngphân tích, phán đoán, là người chịu trách nhiệm đầu tiên về khả năng cạnh tranh củangân hàng

- Mức độ đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ cung cấp: Ngân hàng có càng nhiều sảnphẩm, dịch vụ thì sẽ càng thu hút khách hàng vì khách hàng sẽ có nhiều cơ hội lựa chọnnhững sản phẩm phù hợp như là cách thức tiếp cận dịch vụ, quy trình tín dụng đơn giản,phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng

Các đơn vị hỗ trợ cho hoạt động của Ngân hàng:

Các đơn vị hỗ trợ cho hoạt động của Ngân hàng như là: cơ quan quản lý đất, ủyban nhân dân thành phố, công ty xây dựng, các doanh nghiệp sản xuất ô tô, hay một sốtrung tâm tư vấn du học Việc tìm kiếm và thiết lập mối quan hệ tương hỗ giữa Ngânhàng và các đơn vị liên quan góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng vàhình ảnh Ngân hàng

Trang 26

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI SỞ GIAO DỊCH

NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

2.1 Khái quát về SGD I

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Thành lập vào ngày 28/3/1991 theo quyết định số 70 QĐ/TCCB của Tổng giámđốc BIDV, SGD I là đơn vị trực tiếp kinh doanh của hội sở chính ngân hàng đầu tư vàphát triển Việt Nam (tên tiếng giao dịch quốc tế: Bank for Investment and Development

of Vietnam) và cũng theo quyết định này, SGD I là đơn vị trực thuộc, là đại diện phápnhân của BIDV, thực hiện hạch toán nội bộ, có bảng cân đối tài khoản riêng, có con dấuriêng và trực tiếp giao dịch với khách hàng SGD I là đơn vị chủ lực trong việc xây dựng

và phát triển quan hệ hợp tác, là đơn vị đi đầu trong việc triển khai thành công hệ thốngcông nghệ hiện đại thực hiện xuất sắc kế hoạch hàng năm, có đội ngũ lao động có trình

độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có phong trào đoàn, Đảng trong sạch vững mạnh

Từ năm 1991 đến 1998 SGD I có trụ sở tại 194 Trần Quang Khải, năm 1998 SGD

I được chuyển về 53 Quang Trung Và hiện nay, trụ sở được chuyển về 191 Bà Triệu

Cùng với sự phát triển của BIDV, SGD I có truyền thống kinh doanh đối ngoại,thanh toán quốc tế, các dịch vụ tài chính, ngân hàng quốc tế khác

Từ khi thành lập, giai đoạn đầu từ năm 1991 đến 1995, SGD I có 2 phòng và 1 tổnghiệp vụ; chủ yếu làm nghiệp vụ cấp phát SGD I đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quản

lý cấp phát vốn ngân sách và giám sát kiểm tra sử dụng vốn tiết kiệm đúng mục đích,đúng địa chỉ cho các dự án

Đến giai đoạn 1996-2000, SGD I đã có 12 phòng NV, 1 CNKV, 2 phòng GD, và 7QTK Đây là giai đoạn chuyển hướng sang hoạt động kinh doanh kinh tế chủ động tựtrang trải và bằng việc mở rộng mạng lưới các phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm và thựchiện tất cả các nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, mở rộng khách hàng SGD I cũng là nơithử nghiệm thành công các sản phẩm huy động vốn dài hạn của BIDV thông qua các đợtphát hành trái phiếu, kì phiếu và cũng là đơn vị chuyên tài trợ vốn cho các tổng công ty

90, 91, các dự án lớn trọng điểm của nhà nước và cung ứng các dịch vụ ngân hàng chấtlượng cao như thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế, bảo lãnh…

Trang 27

P Tiền tệ kho quỹ

Giai đoạn 2001-2005, SGD I thực hiện tách 4 chi nhánh cấp 1:

 Chi nhánh Bắc Hà Nội năm 2002

 Chi nhánh Hà Thành năm 2003

 Chi nhánh Đông Đô năm 2004

 Chi nhánh Quang Trung năm 2005

Với tổng tài sản của mỗi đơn vị trên 1000 tỷ đồng và hàng trăm cán bộ lãnh đạo

và cán bộ nghiệp vụ Cơ cấu lại hoạt động cùng với cơ cấu lại tổ chức, các nghiệp vụ bán

lẻ, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ được chuyển giao cho các chi nhánh mới tách

ra SGD I tập trung vào 3 mục tiêu chính: Huy động vốn đáp ứng nhu cầu kinh doanh tạichỗ và góp phần tăng nguồn vốn cho toàn ngành, phục vụ khách hàng lớn tổng công ty,phát triển dịch vụ ngân hàng hiện đại Tiếp tục phấn đấu lớn mạnh về mọi mặt, đến naySGD I có 300 cán bộ nhân viên công tác tại 20 phòng nghiệp vụ và mạng lưới 14 phònggiao dịch, điểm giao dịch tại 3 quận Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng

2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ

2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch được thể hiện qua sơ đồ sau:

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

Trang 29

o Trực tiếp thực hiện yêu cầu nghiệp vụ về công tác thẩm định, tái thẩm định

o Chịu trách nhiệm quản lý thông tin phục vụ công tác thẩm định đầu tư,thẩm định tín dụng

- Phòng quản lý tín dụng: Thực hiện công tác quản lý tín dụng, quản lý rủi ro tíndụng tại SGD I

- Phòng dịch vụ khách hàng cá nhân: Trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giao dịch, xử

lý, tác nghiệp và hạch toán kế toán các giao dịch với khách hàng cá nhân , …

- Phòng tiền tệ kho quỹ: Thực hiện các nghiệp vụ về quản lý kho tiền và quỹnghiệp vụ Trực tiêp thực hiện các nghiệp vụ về quỹ

Khối quản lý nội bộ:

- Phòng kế hoạch – nguồn vốn:

o Quản lý cân đối nguồn vốn, quản lý tài sản nợ, tài sản có, …

o Đầu mối tham mưu giúp việc cho giám đôc tổng hợp, xây dựng kế hoạchkinh doanh,…

- Phòng tổ chức cán bộ:

Trang 30

o Thực hiện các chế độ đối với người lao động.

o Tham mưu trong công tác tổ chức cán bộ

o Tham gia ý kiến trong việc phát triển mạng lưới

- Phòng hành chính quản trị:

o Thực hiện công tác quản lý hành chính văn phòng

o Quản lý và sử dụng con dấu

o Thực hiện công tác hậu cần, bảo đảm vật chất

- Phòng tài chính kế toán:

o Thực hiện, kiểm tra công tác hạch toán kế toán

o Thực hiện công tác hậu kiểm

o Quản lý tài chính

- Phòng điện toán:

o Quản lý mạng, quản trị hệ thống phân quyền truy cập, kiểm soát

o Vận hành hệ thống tin học

Khối đơn vị trực thuộc

- Phòng kiểm tra nội bộ: Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiên quychế, quy trính nghiệp vụ,… Kiểm tra việc chấp hành quy chế điều hành của lãnh đạo

Ban giám đốc: Tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng quản trị,

kế hoạch kinh doanh của SGD I, xây dựng quy chế huy động vốn, sử dụng vốn… trìnhHội Đồng quản trị phê duyệt các báo cáo về việc trích lập và sử dụng các quỹ hàng nămcủa SGD I; kiến nghị về số lượng và cơ cấu phòng ban của SGD I; đề xuất các biện phápnâng cao hiệu quả kinh doanh và quản lý SGD I; chuẩn bị các báo cáo tài chính

Trang 31

2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của SGD I

(Nguồn: Báo cáo thường niên của SGD I năm 2007)

Qua chỉ tiêu này có thể thấy hoạt động huy động vốn của SGD I rất khảquan Cụ thể như sau:

Năm 2006, SGD I đạt mức huy động vốn 10111 tỷ đồng, tổng vốn huy

động tăng so với năm 2005 là 33,57%, cụ thể là:

- Tiền gửi không lỳ hạn tăng 94.76 % so năm 2005

- Tiền gửi có kỳ hạn tăng 58,26% so năm 2005

Tuy nhiên, các khoản huy động vốn từ trái phiếu, kỳ phiếu và huy động khác giảmđáng kể nhưng so về tỷ trọng thì tiền gửi của tổ chức kinh tế vẫn chiếm tỷ trọng cao vàkhông làm ảnh hưởng nhiều đến tổng vốn huy động của SGD I

Năm 2007, công tác huy động vốn của SGD I trong năm 2007 lại tiếp tục

tăng cao theo sự đi lên của nền kinh tế Việt Nam, tốc độ tăng tỷ trọng tiền gửi của tổchức kinh tế ngày càng nhiều chiếm hơn 90% so với tiền gửi dân cư, trong khi tiền gửitiết kiệm trong dân cư ngày một giảm Cụ thể là:

- Tiền gửi của tổ chức kinh tế tăng so năm 2006 là 62,27% và đạt đến 11821 tỷ

- Tiển gửi tiết kiệm dân cư giảm 36,78% so năm 2006 và chỉ đạt với con số khiêmtốn là 1764 tỷ

Có thể thấy từ năm 2005 đến năm 2007 là giai đoạn chuyển mình của SGD I t ừhuy động vốn chủ yếu từ nguồn tiết kiệm trong dân cư thì nay chuyển sang chủ yếu huyđộng nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế lớn đạt tỷ trọng cao hơn và ổn định hơn

Trang 32

(Nguồn báo cáo thường niê ncủaSGD I năm 2007)

Công tác tín dụng của SGD I tiếp tục mở rộng với kết quả:

- Năm 2006, tổng dư nợ tín dụng đạt 5000 tỷ đồng, tăng 3,88% so với năm 2005

- Năm 2007, tổng dư nợ tín dụng đạt 5185 tỷ đồng, tăng 3,69% so với năm 2006

Có thể nhận thấy với lợi thế về vốn huy động tăng qua các năm, SGD I chủ động

mở rộng hoạt động tín dụng với phương châm “an toàn và hiệu quả”, kiểm soát rủi ro chặt chẽ và tốc độ tăng dư nợ tín dụng ổn định 3.75% qua các năm

2.1.3.3 Một số chỉ tiêu khác đạt được trong 3 năm gần đây

Bảng 2.3: Kết quả kinh doanh 3 năm gần đây:

2005, năm 2007 cũng đánh dấu sự gia tăng doanh thu của hoạt động dịch vụ với tổng

Trang 33

doanh thu là 58.397 triệu đồng, tăng 17,95% so với năm 2006 Hoạt động dịch vụ đã cónhững thành tích đáng chú ý.

Có được sự tăng trưởng này là nhờ SGD đã đa dạng hoá và nâng cao chất lượngcủa các sản phẩm dịch vụ, đặc biệt là năm 2006 SGD đã được đảm nhận cung cấp dịch

vụ phục vụ hội nghị APEC

- Về lợi nhuận trước thuế:

Lợi nhuận trước thuế cũng có sự tăng trưởng trong các năm, năm 2007 lợi nhuậntrước thuế đạt được 271.730 triệu đồng, tăng 46,99% so với năm 2006, năm 2006 lợinhuận trước thuế tăng tới 93,97% so với năm 2005, tăng gần gấp đôi so với năm 2005, cóthể thấy năm 2006 là năm SGD I có những bước phát triển nhảy vọt với việc mở rộngcác dịch vụ sản phẩm và tạo tiền đề cho năm 2007 phát triển

- Về tổng tài sản

Nhờ có những sự tăng trưởng của các chỉ tiêu trên mà tổng tài sản của SGD cũngkhông ngừng gia tăng qua các năm, năm 2007 tổng tài sản của SGD đạt 17.461.602 triệuđồng tăng so với năm 2006 là 23,48% Năm 2006 tăng so với năm 2005 là 26,48%

2.2 Thực trạng cho vay tiêu dùng tại SGD I

2.2.1 Các hình thức cho vay tiêu dùng áp dụng tại SGD I

2.2.1.1 Cho vay mua ô tô

Mục đích: Cho vay mua ô tô phục vụ nhu cầu đời sống (không phục vụ

mục đích kinh doanh) đối với khách hàng là cá nhân tại Ngân hàng Đầu tư và phát triểnViệt Nam

Đối tượng vay vốn: khách hàng các nhân đang sinh sống thường xuyên và

làm việc, kinh doanh trên cùng địa bàn với Chi nhánh cho vay

Đối tượng cho vay: Các chi phí khách hàng (bên mua ô tô) phải trả cho

bên bán ô tô theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán ô tô, phù hợp với quy định củapháp luật, nhưng không bao gồm: chi phí đăng ký (lệ phí trước bạ, phí đăng lý, đăngkiểm) và phí bảo hiểm

Điều kiện vay vốn:

- Khách hàng vay vốn phải đảm bảo các điều kiện vay vốn theo quy định tại Quychế cho vay của tôt chức tín dụng đối với khách hàng bàn hành kèm theo Quyết định số

Trang 34

1627/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 và các văn bản sửa đổi bổ sung của Ngân hàng Nhànước, các văn bản hướng dẫn của BIDV Ngoài ra, khách hàng vay phải đáp ứng các điềukiện sau:

+ Phải đứng tên chủ thể sở hữu xe ô tô được Ngân hàng cho vay

+ Có mức thu nhập bảo đảm khả năng trả nợ trong suốt thời hạn vay vốn

+ Trong trường hợp khách hàng vay vốn và bảo đảm bằng tài sản hình thành từvốn vay thì phải có mức vốn tự có tham gia bằng tiền và/hoặc tài sản bảo đảm được xácđịnh trên cơ sở tỷ lệ với giá trị xe ô tô, như: Đối với xe ô tô mới mang nhãn hiệu của cácnước G7 (Mỹ, Đức, Nhật, Canada, Anh, Pháp, Italia) mức vốn tự có tối thiểu bằng 30%giá trị xe Đối với xe ô tô mới mang nhãn hiệu của các nước khác và xe ô tô cũ nhậpkhẩu thì mức độ tự có tối thiểu bằng 40% giá trị xe

+ Cam kết bổ sung tài sản đảm bảo khi thu nhập của khách hàng bị giảm sút ảnhhưởng đến khả năng trả nợ vay ngân hàng hoặc theo yêu cầu của BIDV

- Điều kiện đối với ô tô:

Mức cho vay: trên cơ sở nguồn gốc xuất xứ, chất lượng, chủng loại đối với

từng loại xe ô tô, Chi nhánh căn cứ vào mức ủy quyền cho vay hiện hành của BIDV,nguồn thu nhập ổn định, khả năng trả nợ của khách hàng để xác định mức cho vay, cụthể:

- Trường hợp khách hàng vay vốn và đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vaythì mức cho vay được xác định như sau:

+ Đối với xe ô tô mới mang nhãn hiệu của các nước G7 mức cho vay tối đa bằng70% giá trị xe

+ Đối với xe ô tô mới mang nhãn hiệu của các nước khác và xe ô tô cũ nhập khẩuthì mức cho vay tối đa bằng 60% giá trị xe

Trang 35

- Trường hợp khách hàng vay vốn và bảo đảm bằng tài sản của khách hàng (cácloại tài sản theo quy định của BIDV) thì Chi nhánh xem xét quyết định mức cho vay trên

cơ sở giá trị tài sản bảo đảm và tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản bảo đảm theo đúng quyđịnh của BIDV

- Trường hợp khách hàng kết hợp hình thức thế chấp, cầm cố tài sản của kháchhàng hoặc tài sản của bên thứ ba với hình thức bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốnvay (bao gồm cả trường hợp khách hàng tham gia vốn tự có bằng tài sản bảo đảm) thìmức cho vay có thể cao hơn, mức cho vay phải tương ứng với giá trị tài sản thế chấp,cầm cố thuộc sở hữu hợp pháp của khách hàng hoặc của bên thứ ba và tỷ lệ cho vay trêngiá trị tài sản bảo đảm, nhưng tổng số tiền cho vay tối đa cũng không quá 90% giá trị xe

Thời hạn cho vay: Căn cứ vào nguồn thu nhập ổn định và khả năng trả nợ

của khách hàng để xác định thời hạn cho vay phù hợp, cụ thể:

- Đối với xe ô tô mới mang nhãn hiệu của các nước G7, thời hạn cho vay tối đa 5năm

- Đối với xe ô tô mới mang nhãn hiệu của các nước còn lại và ô tô cũ nhập khẩuthì thời hạn vay tối đa 4 năm

Lãi suất cho vay:

- Lãi suất cho vay do Chi nhánh và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy địnhcủa BIDV và chính sách lãi suất của Chi nhánh trong từ thời kỳ

- Trường hợp thời hạn cho vay trên 1 năm (cho vay trung hạn), Chi nhánh áp dụnglãi suất cho vay theo nguyên tắc cố định hoặc thả nổi, được xác định bằng lãi suất huyđộng tiết kiệm 12 tháng trả sau cộng (+) phí ngân hàng

2.2.1.2 Cho vay du học

Mục đích: Cho vay đối với khách hàng cá nhân người đi du học hoặc

người thân nhân của người đi vay đi du học, nhằm đáp ứng nhu cầu trang trải các chi phícủa du học sinh ở trong nước hoặc ở nước ngoài tại Ngân hàng đầu tư và phát triển ViệtNam

Đối tượng vay vốn:

- Trường hợp đi du học nước ngoài: khách hàng vay là cha đẻ, mẹ đẻ, anh chị emruột, cha nuôi, mẹ nuôi, vợ hoặc chồng của người đi du học và hiện đang sinh sốngthường xuyên, làm việc, kinh doanh trên cùng địa bàn với chi nhánh cho vay

Trang 36

- Trường hợp đi du học theo hình thức tại chỗ: khách hàng vay vốn là người đi duhọc và các đối tượng nêu ở trên.

Đối tượng và đồng tiền cho vay:

- Đối tượng cho vay:

+ Các chi phí mua vé máy bay (một chiều đi và một chiều về), tiền học phí theothông báo của trường học, tiền bảo hiểm theo yêu cầu nước sở tại, tiền ăn ở, tiền tài liệuhọc tập của du học sinh trong thời gian đi học (không bao gồm tiền làm visa, hộ chiếu, lệphí tư vấn…)

Trường hợp du học sinh theo hình thức tại chỗ và toàn bộ thời gian học tập ởtrong nước thì Chi nhánh chỉ cho vay để trả học phí theo thông báo của trường học

+ Tiền vay để mở sổ tiết kiệm chứng minh năng lực tài chính theo yêu cầu của cơquan cấp visa

- Đồng tiền cho vay: Căn cứ vào từng loại chi phí cụ thể nêu trên và theo yêu cầucủa bên cung cấp dịch vụ, Chi nhánh xem xét, quyết định cho vay bằng đồng Việt Nam.Trường hợp, khách hàng vay có nhu cầu chuyển đổi thành ngoại tệ, chi nhánh xem xét ưutiên bán ngoại tệ theo đúng quy định về quản lý ngoại hối

Điều kiện cho vay:

- Đối với khách hàng vay vốn phải đảm bảo các điều kiện vay vốn theo quy địnhtại Quy chế cho vay của tôt chức tín dụng đối với khách hàng bàn hành kèm theo Quyếtđịnh số 1627/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 và các văn bản sửa đổi bổ sung của Ngânhàng Nhà nước, các văn bản hướng dẫn của BIDV Ngoài ra, khách hàng vay phải đápứng các điều kiện sau:

+ Có nguồn thu nhập đảm bảo khả năng trả nợ đầy đủ, đúng hạn

+ Thực hiện bảo đảm tiền vay theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn củaBIDV

- Điều kiện đối với người đi du học nước ngoài:

+ Đi học theo một trong các chương trình thuộc bậc học sau đây: cao đẳng, đạihọc hoặc sau đại học

+ Có thư chấp thuận đủ điều kiện nhập học của trường mà du học sinh dự địnhhọc ở nước ngoài

+ Du học sinh thuộc diện tự túc một phần hoặc toàn bộ chi phí

Trang 37

Mức cho vay:

o Căn cứ vào mức ủy quyền phán quyết cho vay hiện hành của BIDV, giá trị tàisản bảo đảm, tỷ lệ cho vay/ giá trị tài sản bảo đảm theo quy định của BIDV và nhu cầuvay vốn của khách hàng, Chi nhánh xác định mức cho vay, cụ thể như sau:

- Đối với cho vay chi phí du học: Chi nhánh cho vay trên cơ sở giá vé máy bay tớitừng nước, các chi phí học tập do trường học ở nước ngoài thông báo, mức phí ăn ở trungbình của từng nước, từng địa danh nơi có trường học, thời gian học tương ứng với cấpđào tạo và khả năng trả nợ của khách hàng, nhưng:

+ Tiền vé máy bay không vượt quá thông báo của Đại lý bán vé

+ Tiền bảo hiểm mua ở mức tối thiểu theo quy định của nước sở tại

+ Chi phí học tập không vượt quá thông báo của trường học

+ Trường hợp không có thông báo về chi phí học tập của trường thì mức cho vayvới chi phí học tập và chi phí ăn ở tối đa như sau:

Bảng 2.4: Mức cho vay du học tại SGD I

Đơn vị: ngoại tệ

Chi phí học tập

Chi phí ăn ở

Cao đẳng Đại học Sau đại học

1 Úc (AUD) 8.000/năm 15.000/năm 26.000/khóa 14.000/năm

2 Mỹ (USD) 10.000/năm 20.000/năm 26.000/khóa 10.000/năm

3 Singapore (SGD) 7.000/năm 12.000/năm 21.000/khóa 10.000/năm

4 NewZealand (NZL) 8.000/năm 15.000/năm 26.000/khóa 12.000/năm

(Nguồn: Quyết định số 9466/QĐ-TD3 của TGĐ BIDV)

- Đối với cho vay mở sổ tiết kiệm: mức cho vay tối đa bằng mức thường yêu cầucủa cơ quan cấp visa

o Mức cho vay tương ứng với thời gian học tập của các cấp đào tạo được quyđịnh như sau:

- Học bậc cao đẳng: tối đa 3 năm

- Học bậc đại học: tối đa 4 năm

- Học bậc cao học: tối đa 2 năm

- Học bậc tiến sỹ: tối đa 3 năm

Trang 38

Lãi suất cho vay: Chi nhánh xem xét, xác định mức lãi xuất cho vay đối

với khách hàng phù hợp với cơ chế lãi suất của NHNN, hướng dẫn của NH ĐT & PTVNtrong từng thời kỳ

Thời hạn cho vay: Chi nhánh căn cứ vào nguồn thu nhập thường xuyên,

khả năng trả nợ của khách hàng để xác định thời hạn cho vay cho phù hợp, cụ thể:

- Cho vay các chi phí đi du học tối đa 5 năm Trường hợp thời gian học tập của duhọc sinh ở nước ngoài của cấp đào tạo từ 4 năm trở lên thì thời gian cho vay tối đa cũngkhông quá 7 năm

- Cho vay mở sổ tiết kiệm: phù hợp với quy định của cơ quan cấp visa của từngnước nhưng tối đa không quá thời gian học của du học sinh

2.2.1.3 Cho vay mua nhà

Mục đích: Cho vay để mua nhà đất ở, xây dựng mới, sửa chữa và mua sắm

trang trí nội thất nhà ở phục vụ nhu cầu đời sống (không phục vụ mục đích kinh doanh)đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình tại NHĐT&PTVN

Đối tượng vay vốn:

- Khách hàng là cá nhân, hộ gia đình mà các thành viên đang sinh sống thườngxuyên và làm việc, kinh doanh trên cùng địa bàn với chi nhanh cho vay

Điều kiện vay:

o Điều kiện đối với khách hàng:

Khách hàng vay vốn phải đảm bảo các điều kiện vay vốn theo Quy chế cho vaycủa tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/QD-NHNN ngày 31/12/2001 và các văn bản sửa đổi bổ sung của Ngân hàng Nhà nước, cácvăn bản hướng dẫn của BIDV Ngoài ra, khách hàng phải đáp ứng các điều kiện sau:

- Khách hàng là người đứng tên (hoặc sẽ đứng tên) chủ sở hữu nhà, quyền sử dụngđất ở được ngân hàng cho vay, xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, trang trí nội thất

- Có mức thu nhập đảm bảo khả năng trả nợ trong suốt thời gian vốn vay

- Trường hợp khách hàng vay vốn và đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vaythì phải có mức vốn tự có tham gia bằng tiền và/hoặc tài sản đảm bảo khách tối thiểubằng 30% giá trị nhà đất ở

- Cam kết bổ sung tài sản đảm bảo khi thu nhập khách hàng bị giảm sút ảnh hưởngđến khả năng trả nợ vay ngân hàng hoặc theo yêu cầu của BIDV

Ngày đăng: 20/10/2017, 04:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Webside: http://www.thuvienphapluat.com, http://www.sbv.gov.vn, http://www.saga.vn Link
1. Đại học kinh tế quốc dân, Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Thống kê, 2004 Khác
2. Đại học kinh tế quốc dân, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Thống kê, 2003 Khác
3. Peter Rose, Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính, năm 2004 Khác
4. Học viện Ngân hàng, Giáo trình tín dụng ngân hàng, NXB Thống kê, năm 2003 5. Báo cáo thường niên BIDV các năm 2005 – 2006 Khác
6. Báo cáo thường niên của Sở giao dịch ngân hàng đầu tư và phát triển việt Nam 2005 – 2007 Khác
7. Quyết định 1627 – Quy chế cho vay các TCTD đối với khách hàng 8. Tạp chí Ngân hàng Khác
10. Báo cáo thường niên SCB 2005 – 2007 11.Báo cáo thường niên ACB 2005 – 2007 12. Các văn bản pháp luật Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w