1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

C c gi i ph p v ki n ngh nh m t ng s c nh tranh c a c c ng n h ng th ng m i Vi t Nam khi tham gia h i nh p kinh t qu c t

41 142 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 262 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+NHTM liên doanh là NH hình thành dựa trên góp vốn của hai hoặc nhiều bên, thường làgiữa NH trong nước với NH nước ngoài để tận dụng các ưu thế của nhau -Căn cứ vào tiêu thức tính chất h

Trang 1

http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ

án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cả mọingười Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp của quýkhách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý khách gửi về

luanvanpro.com@gmail.com

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

Các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng sự cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Namkhi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 2

Đề Tài:

CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂNHÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM ĐỂ THAM GIA HỘI NHẬP KINH TẾ TÀI CHÍNHKHU VỰC VÀ THẾ GIỚI

-Kinh doanh trong lĩnh vực nhạy cảm nhất của nền kinh tế xã hội

-Hoạt động của các tổ chức ngân hàng đều liên quan hết thảy các tác nhân và thể nhân trongnền kinh tế

-Mỗi tổ chức ngân hàng là một đơn vị hữu cơ trong cả hệ thống;

Trước đây, trong suốt một thời gian dài, chúng ta đã không đánh giá đầy đủ vai trò cácquan hệ hàng hóa- tiền tệ Từ đó dẫn đến cách tiếp cận không đúng đối với vai trò của ngânhàng trong nền kinh tế Quan niệm mới về chiến lược phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta hiệnnay đòi hỏi phải thực hiện những biến đổi sâu sắc trong lĩnh vực NH, trong đó đổi mới môhình hệ thống tổ chức và chính sách tiền tệ là những vấn đề cốt lõi

Hiện nay, sự phát triển của hệ thống tài chính đóng vai trò như một yếu tố đầu vào đối vứi

sự tăng trưởng kinh tế Một hệ thống tài chính hoạt động có hiệu qủa thực hiện chức năngkinh tế nòng cốt trong việc dẫn vốn từ những người có tiết kịêm tới những người có nhu cầu

về vốn Trong hệ thống tài chính, các NH là mạch máu vô cùng quan trọng Không thể nóiđến một nền kinh tế mạnh với hệ thống NH yếu kém và ngược lại Qua nhiều thập kỷ nhiềunước công nghiệp, phát triển và đang phát triển đã từng vấp phải nhiều vấn đề liên quan đến

hệ thống NH Những vấn đề này thường gắn với cuộc khủng hoảng kinh tế vĩ mô, gần đâynhất là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, mà một trong những nguyên nhân

cơ bản là do hệ thống NH yếu kém và mắc nhiều sai lầm Trong vòng xoáy đó, hệ thống NHViệt Nam không bị ảnh hưởng trực tiếp song cũng bộc lộ những nhược điểm cần điều chỉnh

Trang 3

Ngày 13 tháng 7 năm 2000 vừa qua hiệp định thương mại song phương Việt-Mỹ được kýkết Đặt dấu ấn cho mối quan hệ kinh tế giữa hai nước Việt-Mỹ.

Theo lộ trình này : Sau 9 năm kể từ khi hiệp định có hiệu lực các NH Mỹ được phép lập NH100% vốn Mỹ tại Việt Nam Trong thời gian 9 năm đó cho phép các NH Mỹ liên doanh đốitác với Việt Nam, trong đó tỷ lệ góp vốn là 30% đến 40% vốn pháp định Các NH Mỹ đượcphép huy động vốn dần đến mức không hạn chế Sau 3 năm các NH Mỹ còn được thực hiệncác nghiệp vụ NH về chiết khấu, mua bán ngoại tệ có kỳ hạn như các NH trong nước, sau 8năm được phép phát hành thẻ tín dụng, được caid đặt máy rút tiền tự động ATM v.v

Đứng trước những thực tế đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải cải cách hệ thống NH Việt Namcần xem xét và giải quyết những vấn đề có liên quan để tạo lập một hệ thống NH vữngmạnh, có được khả năng huy động vốn cao và nhất là có sức cạnh tranh với hệ thống ngânhàng các nước đặc biệt là Mỹ

Trong quá trình học tập, nghiên cứu môn học lý thuyết tiền tệ, và được sự hướng dẫn củathầy giáo THS Nguyễn Văn Lộc Từ đó mà em có cơ sở để tìm hiểu về vấn đề cạnh tranhcủa các NHTM Việt Nam trước xu thế hội nhập kinh tế-tài chính khu vực, và thế giớí thôngqua đề tài;"NHTM với quá trình hội nhập kinh tế- tài chính khu vực và thế giới".Tuy nhiên

do trình độ còn hạn chế, và cùng với sự biến đổi thường xuyên của nền kinh tế thị trường,nên trong bài viết không tránh khỏỉ thiếu sót, về thông tin, số liệu ,cập nhật mới nhất cho bàiviết Vì vậy em rất mong được sự góp ý của quý thầy cô và bạn đọc để giúp em hoàn thiệnhơn Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô và các bạn!

Nội dung đề tài gồm 3 chương:

-Chương I: NHTM với quá trình hội nhập kinh tế-tài chính quốc tế

-ChươngII: Thực trạng cạnh tranh của các NHTM Việt Nam hiện nay.

-Chương III: Các giải pháp và kiến nghị nhằm tăng sự cạnh tranh của các NHTM Việt Nam

khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 4

-CHƯƠNG I

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VỚI QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ- TÀI CHÍNHQUỐC TẾ

1 Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường

1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại.

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tín dụng

tệ-Ngân hàng thương mại còn định nghĩa như là một trung gian tài chính đi vay để cho vay.Như vậy, qua định nghĩa trên, NHTM đã thể hiện như là một doanh nghiệp thực sự Song đó

là loại hình doanh nghiệp dịch vụ tài chính Dịch vụ được thể hiện ở chỗ NHTM đi vay tiềncủa xã hội và rồi lại cho chính xã hội vay lại, qua đó mà thu lời

+NHTM tư là loại hình NHTM do cá nhân thành lập bằng vốn của cá nhân hoặc do sự hùnvốn của các cá nhân dưới hình thức đóng góp cổ phần

+NHTM liên doanh là NH hình thành dựa trên góp vốn của hai hoặc nhiều bên, thường làgiữa NH trong nước với NH nước ngoài để tận dụng các ưu thế của nhau

-Căn cứ vào tiêu thức tính chất hoạt động người ta chia ra;

+Ngân hàng chuyên doanh ,ngân hàng đa năng, NH bán buôn, ngân hàng bán lẻ

Ngân hàng hoạt động theo hướng chuyên doanh: Loại ngân hàng này chỉ chuyên cung cấpmột số dich vụ ngân hàng ,ví dụ như chỉ cho vay đối với xây dựng cơ bản, hoặc đối với ngânhàng nông nghiệp, hoặc chỉ cho vay (không bảo lãnh hoặc cho thuê) Tính chuyên môn hoá

Trang 5

cao cho phép NH có được đội ngũ cán bộ giàu kinh nghiệm, tinh thông nghiệp vụ.Loại ngânhàng này thường gặp rủi ro lớn khi ngành hoặc lĩnh vực mà ngân hàng phục vụ sa sút.

Ngân hàng đa năng :Là ngân hàng cung cấp mọi dịch vụ NH cho mọi đối tượng Ngânhàng bán buôn là ngân hàng chủ yếu cung cấp các dịch vụ cho các ngân hàng, các công ty tàichính, cho Nhà nước, cho các doanh nghiệp lớn

-Căn cứ vào tiêu thức cơ cấu tổ chức,NHTM được chia ra:

+Ngân hàng thuộc sở hữu công ty và ngân hàng không sở hữu công ty:

Ngân hàng sở hữu công ty là NH nắm giữ phần lớn vốn của công ty, cho phép NH đượctham gia quyết định các hoạt động cơ bản của công ty

+Các NH không sở hữu công ty có thể do vốn nhỏ, hoặc quy định của luật pháp không chophép

1.3 Các chức năng của ngân hàng thương mại:

1.3.1.Trung gian tài chính

Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệmthành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân trong nền kinh tế:(1) các cá nhân và tổchức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và

vì thế họ là những người cần bổ sung vốn; và(2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chitiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và dovậy họ có tiền để tiết kiệm

Sự tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng Điều tất yếu

là tiền sẽ chuyển từ nhóm (2) sang nhóm (1) nếu cả hai cùng có lợi Như vậy thu nhập giatăng là động lực tạo mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm Nếu dòng tiền di chuyển với điềukiện phải quay trở lại với một lượng lớn hơn trong một khoảng thời gian nhất định thì đó làquan hệ tín dụng Nếu không thì đó là quan hệ cấp phát vốn hoặc hùn vốn Lấy quan hệ tíndụng làm ví dụ Người có tiền tiết kiệm đòi 1% cho chi phí giao dịch, 2% phòng rủi ro và 3%

là thu nhập ròng từ số tiền tiết kiệm mà anh ta đang phải tạm thời từ bỏ quyền sử dụng Tổng cộng anh ta đòi 6% trên số tiền cho vay Người vay phải chi 1% cho chi phí giao dịch,6% trả cho người có tiền, tổng cộng phí tổn tín dụng là 7% Nếu việc sử dụng tiền vay có thểtạo ra cho anh ta một tỷ suất thu nhập lớn hơn 7% (giả sử là 10%) thì quan hệ tín dụng sẽ

Trang 6

được thiết lập Quan hệ tín dụng trực tiếp (quan hệ tài chính trực tiếp) đã có từ rất lâu và tồntại cho đến ngày nay.

Tuy nhiên, quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do không phù hợp về quy mô, thờigian Điều này cản trở quan hệ tài chính trực tiếp phát triển và là điều kiện nảy sinh trunggian tài chính Do chuyên môn hoá, trung gian tài chính có thể làm chi phí giao dịch ví dụ từ2% xuống còn 1% ở ví dụ trên, chi phí rủi ro từ 2% xuống còn 1% Trung gian có thể trảcho người tiết kiệm 3,5% với cam kết không có rủi ro (lớn hơn 3% thu nhập trước đó).Chênh lệc 6,5%- 3,5% =3% chính là thu nhập của trung gian Như vậy trung gian tài chính

đã làm tăng thu nhập cho người tiết kiệm, từ đó mà làm khuyến khích tiết kiệm,đồng thờigiảm chi phí tín dụng cho người đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu tư) từ đó mà khuyếnkhích đầu tư Trung gian tài chính đã tập hợp những người tiết kiệm và đàu tư, vì vậy mà giảiquyết được mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp Cơ chế hoạt động của trung gian sẽ có hiệu quảkhi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các kỹ thuật nghiệp vụ để hạn chế, phân tán rủi ro vàgiảm chi phí giao dịch

Hầu hết các lý thuyết hiện đại đều giải thích sự tồn tại của ngân hàng bằng sự không hoànhảo trong hệ thống tài chính.Chẳng hạn những khoản tín dụng và chứng khoá không thể chiathành những khoản nhỏ mà mọi người đều có thể mua Ngân hàng cung cấp một dịch vụ cógiá trị trong việc chia chứng khoán đó thành các chứng khoán nhỏ hơn (dưới dạng tiền gửi)phục vụ chop hàng triệu người Trong các ví dụ này,hệ thống tài chính kém hoàn hảo tạo ravai trò cho các ngân hàng trong việc phục vụ những người tiết kiệm

Một đóng góp khác của ngân hàng là do họ sẵn sàng chấp nhận các khoản cho vay nhiềurủi ro trong khi lại phát hành chứng khoán ít rủi ro cho người gửi tiền.Thực tế các ngân hàngtham gia vào kinh doanh rủi ro Ngân hàng cũng thoả mãn nhu cầu thanh toán của nhiềukhách hàng

Một lý do nữa làm cho ngân hàng phát triển thịnh vượng làkhả năng thẩm định thông tin

Sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin được gọi là tình trạng "thông tin không cân xứng" làm giảm tính hiệu quả của thị trường nhưng tạo ra khả năng sinhlợi cho ngân hàng, nơi có chuyên môn và kinh nghiệm đánh giá các công cụ tài chính và cókhả năng lựa chọn những công cụ với yếu tố rủi ro-lợi nhuận hấp dẫn

Trang 7

1.3.2 Chức năng trung gian thanh toán.

Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia.Thay mặt khách hàng, ngân hàngthực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ Để việcthanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàngnhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu các loại thẻ cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và thanh toán tiền giấy khi kháchhàng cần Các ngân hàng còn thực hiện việc thanh toán bù trừ cho nhau thông qua ngân hàngtrung ương hoặc cacs trung tâm thanh toán Công nghệ thanh toán qua NH càng đạt hiệu quảcao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng được mở rộng Vì vậy, công nghệ thanh toánhiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý áp dụng rộng rãi Nhiều hình thứcthanh toán được chuẩn hoá góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa cácngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới Các trung tâmthanh toán quốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả thanh toán qua ngân hàng, biến ngânhàng trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả,phục vụ đắc lực cho nền kinh

tế toàn cầu

1.3.3 Chức năng tạo phương tiện thanh toán

Những hoạt động mà ngân hàng thương mại đã làm hình thành nên một cơ chế tạo tiềntrong toàn bộ hệ thống ngân hàng.Ban đầu, các ngân hàng tạo các phương tiện thanh toán khiphát hành giấy nhận nợ với khách hàng Giấy nhận nợ do ngân hàng phát hành với ưu điểmnhất định đã trở thành phương tiện thanh toán rộng rãi được nhiều người chấp nhận Nhưvậy, ban đầu các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên

số lượng tiền kim loại đang nắm giữ Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ của ngân hàng đãthay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ, nó trở thành tiềngiấy

Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời với nhu cầu có đồng tiền quốc gia duynhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực ophát hanh (in) tiền giấy vào một tổ chứchoặc là Bộ Tài Chính hoặc là Ngân hàng Trung ương Từ đó chấm dứt việc các ngân hàngthương mại taọ ra các giấy bạc riêng của mình

Trang 8

Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy nếu họ

có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán,họ có thể chi trả để có được hàng hoá vàdịch vụ theo yêu cầu Theo quan điểm hiện đại,đại lượng tiền tệ bao gồm nhiều bộ phận Thứnhất là tiền giấy trong lưu thông(Mo), thứ hai là số dư trên tài khoản tiền gửi giao dịch củakhách hàng tại các ngân hàng, thứ ba lầ tiền gửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiềngửi có kỳ hạn

Khi ngân hàng cho vay, số dư tren tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tănglên,khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo tíndụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán(tham gia tạo ra M1)

Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửiđược mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay Khi khách hàng tạimột ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu(tức làm tăng số dưtiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác từ đó tạo ra các khoản cho vaymới Trong khi không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa,toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh toán)gấp bội thông qua hoật động cho vay (tạo tín dụng)

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống ngân hàng tạo ra chịu tác đọngtrực tiếp như tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt bắt buộc, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặtqua ngân hàng, tỷ kệ tiền gửi không phải là tiền gửi thanh toán

Qua chức năng này,ngân hàng thương mại cũng đã góp phần giám sát kỷ luật tài chính,giữ gìn kỷ cương phép nước trong toàn xã hội

1.4 Một số hoạt động chủ yếu của ngân hàng

1.4.1 Hoạt động tạo lập nguồn vốn

-Huy động vốn nhàn rỗi của xã hội: Huy động vốn nhàn rỗi của xã hội là một trong nhữnghoạt động quan trọng hàng đầu của NHTM Nó tạo ra nguồn vốn chủ đạo trong kinh doanhcủa bất kỳ ngân hàng thương mại nào Ngân hàng thương mại thường huy động vốn nhànrỗi của xã hội qua các phương thức nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu ngân hàng

Huy động tiền gửi là hình thức huy động vốn chủ yếu của ngân hàng thương mại Xã hộingày nay phát triển rất nhanh, các nguồn vốn tiền gửi ngày càng phong phú và phức tạp

Trang 9

Song về mặt kỹ thuật ngân hàng, các khoản tiền gửi có thể được chia thành các khoản tiểngửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn

Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào, nó có thể là tiền gửi thanhtoán hoặc tiền gửi thuần tuý Đặc trưng của loại nguồn vốn này đối với ngân hàng thươngmại là biến động thường xuyên Tuy nhiên, đây là nguồn vốn quan trọng đối với kinh doanhngân hàng

Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi được uỷ thác vào ngân hàng mà có sự thoả thuận về thờigian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng Như vậy về mặt nguyên tắc, khách hàng gửi tiềnchỉ được rút ra khi đén hạn thoả thuận Do đó, đây là nguồn vốn tương đối ổn định, phù hợpvới yêu cầu cho vay của ngân hàng thương mại

Huy động vốn thông qua các chứng từ có giá là việc các ngân hàng thương mại phát hànhcác chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu, trái phiếu ngân hàng để huy động Trong hìnhthức huy động này, ngân hàng chủ động đứng ra thu gom vốn trong xã hội nhằm bổ sungnguồn vốn kinh doanh của ngân hàng

-Nguồn vốn đi vay của ngân hàng khác

Nguồn vốn đi vay bởi các ngân hàng khác là nguồn vốn được hình thành bởi các mối quan

hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau, hoặc giữa các tổ chức tín dụng với ngân hàng trungương

Phương thức huy động vốn này thường chỉ mang tính tạm thời, hơn nữa có thể làm cho cácngân hàng thương mại phải chịu chi phí lớn Vì vậy hiệu quả kinh tế mang lại từ nguồn vốnnày không cao.Trong thực tế nguồn vốn này cũng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng sốnguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại

Trang 10

cơ bản Mặt khác chúng cũng phù hợp với khả năng huy động vốn ngày một nhiều của cácngân hàng thương mại.

Hoạt động đầu tư hay còn gọi là hoạt động chứng khoán, giúp ngân hàng thương mại sửdụng và khai thác tối đa nguồn vốn đã huy động Tăng cường khả năng thanh khoản cho dựtrữ của ngân hàng thương mại.Đồng thời nó cũng mang lại nguồn thu nhập ngân hàngthương mại

Tuy nhiên, hoạt động đầu tư chứng khoán ở mức độ nào còn tuỳ thuộc vào mô hình tổ chứcngân hàng thương mại ở mỗi nước Nhưng xu thế chung đều không có sự cách biệt giữa hoạtđộng kinh doanh tiền tệ và kinh doanh chưng khoán

-Hoạt động ngân quỹ là hoạt động phục vụ cho việc chi trả đối với khách hàng, nó bao gồmnghiệp vụ quỹ tiền mặt, tiền gửi ở các nngân hàng khác và ngân hàng trung ương , tiền trongquá trình thu nhận

Mặc dù hoạt động ngân quỹ là hoạt động không sinh lời, nhưng lại rất quan trọng đối với cácngân hàng thương mại bởi nó góp phần tăng cường khả năng thanh toán và chi trả đối vơkhách hàng

1.4.3 Các hoạt động uỷ thác:

Đây là những hoạt động được thực hiện theo sự uỉy thác của khách hàng:Thanh toán hộtiền hàng , dịch vụ quản lý tài sản, cung cấp thống tin và tư vấn về kinh doanh, đầu tư và

Trang 11

quản trị doanh nghiệp Những hoạt động này có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng hoạtđộng tạo lập nguồn vốn kinh doanh, nâng cao hiệu quả của việc khai thác và sử dụng vốn.

1.5 Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường:

+Ngân hàng thương mại giúp các doanh nghiệp có vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh,nâng cao hiệu quả kinh doanh:

Trong nền kinh tế thị trường để mở rộng được quy mô sản suất đòi hỏi doanh nghiệp phải cólượng vốn lớn để đổi mới thiết bị và công nghệ lạc hậu, áp dụng những tiến bộ khoa học hiệnđại Trong điều kiện đó, NHTM một mặt đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn thiếu hụt,cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện tốt

kế hoạch sản xuất kinh doanh

Mặt khác, thông qua các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán ,tiền tệ, các NHTM hỗ trợ các doanhnghiệp nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh

+Các NHTM góp phần phân bổ hợp lý cácnguồn lực giữa các vùng trong quốc gia, tạo điềukiện phát triển cân đối nền kinh tế

Trong điều kiện của nền kinh tế thị ,các ngân hàng thương mại một mặt góp phần hình thànhduy trì và phát triển theo một cơ cấu ngành và khu vực nhất định Mặt khác, các NHTM gópphần điều chỉnh ngành, khu vực khi xuất hiện sự phát triển mất cân đối hoặc khi cần có sựthay đổi cho phù hợp với yêu cầu của thị trường

+NHTM tạo ra môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của NH trung Ương

Việc hoạch định chính sách tiền tệ thuộc về NH trung Ương Để thực thi chính sách tiền tệphải sử dụng các công cụ như lãi suất, dữ trữ bắt buộc, thị trường mở vv chính các NHTM

là chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của những công cụ này và đồng thời đóng vai trò cầu nốitrong việc chuyển tiếp các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế Bởi vì hoạt độngkinh doanh của NHTM gắn chặt với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, các tổchức và các chủ thể kinh tế Mặt khác cũng qua NHTM và các định chế tài chính trung giankhác, tình hình sản lượng, giá cả, công ăn việc làm, nhu cầu tiền mặt, lãi suất, tỷ giá vv củanền kinh tế được phản hồi về cho NH trung ương, để Chính Phủ và NH trung ương có nhữngchính sách điều tiết thích hợp với từng tình hình cụ thể

+NHTM là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia

Trang 12

Với xu hướng phát triển của nền kinh tế là hướng hội nhập vào cộng đồng và nền kinh tế thếgiới, nên việc mở rộng giao lưu kinh tế là một tất yếu, nó giúp cho mỗi quốc gia phát huyđược lợi thế của mình, giữa các nước có sự giúp đỡ thân thiện với nhau để hỗ trợ đắc lực chocác hoạt động kinh tếnày đạt được hiệu quả cao, góp phần khẳng địnhvị trí và tăng sức cạnhtranh cho các doanh nghiệp trên trường quốc tế thì vai trò của NHTM là không thể thiếuđược thông qua các nghiệp vụ tài trợ xuất nhập khẩu, quan hệ thanh toán với các tổ chức tàichính, NH và doanh nghiệp quốc tế, giúp cho việc thanh toán trao đổi mua bán được diễn ranhanh chóng, thuận tiện, an toàn và có hiệu quả.

2.Hội nhập kinh tế quốc tế và sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của các NHTM trongquá trình hội nhập

2.1 Hội nhập kinh tế quốc tế.

Những năm gần đây xuất hiện thuật ngữ hội nhập kinh tế quốc tế Thực chất hội nhậpkinh tế quốc tế là các nước tìm kiếm một số điều kiện nào đó mà họ có thể thống nhất đượcvới nhau kể cả dành cho nhau những ưu đãi, tạo ra sự công bằng cho nhau trong sự hợp táckinh tế nhằm khai thác các khả năng của nhau phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế ởphạm vi một quốc gia, hội nhập kinh tế quốc tế là thực hiện mở cửa kinh tế quốc gia, pháttriển kinh tế quốc gia gắn liền với kinh tế khu vực và thế giới, là tham gia ngày càng nhiềuvào các hoạt động kinh tế quốc tế, vào hệ thống thương mại đa phương

2.2 Sự cần thiết phải nâng cao sức cạnh tranh của các NHTM khi tham gia hội nhập kinh tài chính quốc tế.

Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới là quá trình phát triển tất yếu trong thời đạihiện nay Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm rõ ràng về vấn đề này khi thực hịện chínhsách "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệkinh tế đối ngoại"; đã gia nhập ASEAN, gia nhập APEC, có quan hệ tốt với WB, IMF, ADB,

đã phê chuẩn hiệp định thưong mại Việt-Mỹ (có hiệu lực từ 10/12/2001) và đang đàm phán

để có thể gia nhập WTO trong khoảng thời gian hai năm tới vv những đổi mới trong đườnglối phát triển kinh tế trên đã góp phần làm cho Việt Nam trở thành một trong số ít các quốcgia có độ tăng trưởng kinh tế cao trên toàn cầu ở suất thập niên 90

Trang 13

Tuy nhiên, quá trình hội nhập không phải là một con đường bằng phẳng, ít rủi ro tổn thất

mà là một quá trình cạnh tranh gay gắt xâm nhập thị trường lẫn nhau giữa các nền kinh tế,các công ty đa quốc gia các tập đoàn tài chính quốc vv vì thế để chủ động hội nhập, và pháttriển đang là một vấn đề bức thiết hiện nay đối với mọi doanh nghiệp, trong đó có cácNHTM Việt Nam (NHTMVN)

-Có điều kiện chia sẻ thông tin, trao đổi nghiệp vụ, tiếp cận thị trường mới cũng như tranhthủ được công nghệ NH, trình độ quản lý tiên tiến từ các quốc gia có nền kinh tế phát triển.-Thông qua việc hợp tác mà dành cho nhau những ưu đãi trong tín dụng, trong mức phí dịch

vụ NH, trong đào tạo nguồn nhân lực

-NHTM sẽ thuận lợi hơn trong việc tiếp cận các nguồn vốn quốc tế nhất là các nguồn vốn dàihạn và các trợ giúp kỹ thuật quốc tế cần thiết khác

-Hội nhập quốc tế còn là động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới và cải cách hệ thống NHTMphải tiến hành nhanh hơn, quyết liệt hơn,từ đó nâng cao được sức cạnh tranh và hiệu quảhoạt động, nâng cao được năng lực quản trị điều hành tương xứng với chuẩn mực của hệthống NH quốc tế

Bên cạnh những thuận lợi trên NHTM cũng đang phải đối mặt với những thách thức hếtsức lớn cần phải giải quyết cấp bách như:

-Thực trạng tài chính yếu kém thể hịên ở vốn tự có thấp, vốn tự có trên tài sản có có điềuchỉnh theo tỷ lệ rủi ro trong giai đoạn 1996-2001 thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế là8% nên hạn chế khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh-đầu tư, nợ xấu phát sinh từ thời bao

Trang 14

cấp và những năm đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường đã lên tới hàng ngàn tỷ đồng màNHTM không thể tự bản thân mình giải quyết xong trong một thời gian ngắn; trong khi đó lộtrình mở cửa trị trường tài chính-tiền tệ theo các hiệp định quốc tế đã đựoc Chính Phủ thôngqua và theo thời gian, các "rào cản"trong lĩnh vực tài chính-NH sẽ dần được dỡ bỏ Tiềm lựctài chính yếu kém là đặc điểm chung của hệ thống NHTM Việt Nam nhưng đây lại là thếmạnh của hệ thống NH nước ngoài nhất là với các NH Mỹ.

-Nguồn vốn trung, dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nên hạn chế việc thamgia đầu tư vào các công trình trọng điểm của quốc gia, của ngành và địa phương; trong khithực tiễn cho thấy rằng việc đầu tư vào các lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích thì rủỉ ro

sẽ thấp hơn đầu tư thông thường, bởi lẽ các dự án đầu tư này thường có sự hỗ trợ và ưu đãicủa Chính Phủ về thuế và vốn, về kỹ thuật, tiền thuê đất,vv

-NHTM có nguồn vốn tiền gửi ngoại tệ lớn và chủ yếu bằng USD, nhưng vốn để đầu tưtrong nước chiếm tỷ trọng nhỏ, còn đa số là gửi ở NH nước ngoài nên dễ bị tác động bởi cácyếu tố về chính sách tiền tệ tỷ giá hối đoái của nước ngoài mà đặc biệt là của Mỹ Nguồn tiềngửi ngoại tệ lớn nhưng chưa linh hoạt trong chuyển đổi sử dụng nên đã có nhiều lúc xảy ranghịch lý"vốn ngoại tệ thừa" trong khi "tiền đồng Việt Nam " đã làm hạn chế hoạt động kinhdoanh

-Trình độ công nghệ NH còn thấp, việc ứng dụng còn nhiều bất cập, cơ cấu sản phẩm dịch

vụ NH chưa đa dạng

-Trình độ quản trị điều hành chung về các mặt chỉ mới ở mức trung bình nếu so với hệ thống

NH quốc tế

-NHTM chưa có chi nhánh ở nước ngoài trong khi đó nhiều NH nước ngoài đã có chi nhánh

và đang ngày một mở rộng hoạt động tại Việt Nam

2.3 Những nội dung chủ yếu trong cạnh tranh của các NHTM khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI tháng 12 năm 1986 Đảng ta có chủ trương đổimới kinh tế ,phát triển kinh tế thị trường có định hướng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.Đảng ta động viên toàn dân cố gắng phát riển sức mạnh nội lực sẵn có trong nước và đẩymạnh các quan hệ hợp tác kinh tế với bên ngoài , tham gia quá trình toàn cầu hóa và hội nhập

Trang 15

kinh tế quốc tế Từ đó nền kinh tế nước ta đã phát triển mạnh mẽ, nhất là trong thập niên 90.Đại hội ần thứ chín vừa qua lại một lần nữakhẳng định và nhấn mạnh hơn là phải chủ độnghội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế không phải là mục tiêu mà là phương tiệnchúng ta lợi dụng các nguồn lực bên ngoài để xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, đápứng yêu cầu của nước ta trong quá trình phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đưanước ta thàh nước công nghiệp hiện đại giàu mạnh Với chiến lược phát triển kinh tế xã hộitrong 10 năm tới của nước ta là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướngXHCN, xây dựng nền tảng để năm 2010 nứoc ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vớimục tiêu là đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển , nâng cao rõ rệt đời sống vậtchất và văn hóa tinh thần của nhân dân ta.

Nhằm đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế phù hợp với ý tưởng của Đảng, với côngcuộc đổi mới kinh tế của nước ta, toàn bộ hệ thống NH Việt Nam đã được đổi mới cơ cấu lạimạnh mẽ, chuyển từ hệ thống NH một cấp sang hệ thống NH hai cấp, mọi hoạt động kinhdoanh tiền tệ và dịch vụ NH phải tuân thủ luật NH và luật các tổ chức tín dụng cũng như cácquy định khác của quốc tế

Vậy nên hiểu những nội dung chủ yếu trong cạnh tranh của các ngân hàng thương mại làgì?

Việc đầu cần làm là: Cơ cấu lại hệ thống NH Việt Nam nhằm mục đích nâng cao hiệu

quả hoạt động của NH Đó là việc khôi phục lại khả năng trả nợ và khả năng thu lợi nhuận,nâng cao chức năng trung gian tài chính giữa các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế Nóimột cách đơn giản, việc cải cách hệ thống NH là cố gấng khôi phục tính cân đối giữa cácdanh mục của bảng cân đối tái sản của NH Cố gắng từ nay đến năm 2005 giải quyết dứtđiểm các khoản nợ bị rủi ro không đòi được và lhông để phát sinh nợ quá hạn.Bằng mọiphương pháp để nâng cao vốn điều lệ lên ngang tầm mức của ngân hàng khu vực và toàncầu, muốn vậy phải có sự hỗ trợ của Nhà nước.Nâng cao năng lực tài chính, phấn đấu nângchỉ số CAR đạy 6- 8% tổng tích sản vào năm 2005, với tốc độ tăng trưởng nguồn vốn bìnhquân trên 18% năm

Việc thứ hai là: Sắp xếp cơ cấu lại bộ máy tổ chức và nâng cao năng lực bộ máy quản trị

điều hành ngân hàng Phải đổi mới cơ chế điều hành tổ chức, các phòng ban bộ phận cho phù

Trang 16

hợp với ý tưởng một ngân hàng hiện đại Tiến hành từ hội sở chính đến các chi nhánh, nóimột cách khác là kiện toàn cả hệ thống Có như vậy mới đáp ứng được mục tiêu kinh doanh

và hội nhập Xây dựng mô hình quản lý từ trung ương đến cơ sở thoáng do phân cấp quản lýnhưng lại chặt chẽ theo các quy chế và pháp luật Bên cạnh đó mở rộng các mạng lưới đếncác tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế để cân đối được giữa hai nguồn vốn nội tệ và ngoạilệ

Việc thứ ba là: châm lo đội ngũ cán bộ, đào tạo cán bộ đủ trình độ một ncách kịp thời để

hoàn thành các yêu cầu của nhiệm vụ Bên cạnh những cán bộ đã có trình độ chuyên mônnghiệp vụ vững vàng đáp ứng được yêu cầu, cần tiếp tục đào tạo mới và bổ trợ các kiến thức,

kỹ năng vận hành, nghệ thuật kinh doanh nghiệp vụ kinh doanh, sáng tạo các sản phẩm mới

để khi hội nhập quốc tế không bị động

Việc thứ tư là: Hoàn thiện khuân khổ pháp lý, quản lý và giám sát; các quy chế an toàn

cùng vơi sự giám sát hiệu quả phù hợp với các quy định đó là rất cần thiết để đảm bảo vậnhành hệ thống NH hoạt động một cách có hiệu quả trong tương lai có rất nhiều các quy định

về việc gửi tiền, giao dịch ngoại tệ, bảo hiểm tiền gửi, về các điều kiện cho phép can thiệpvào các NH( bao gồm việc xác định phạm vi và trách nhiệm của ban thanh tra của NH Nhànước đã được ban hành tuy nhiên còn nhiều việc cần làm, như về lĩnh vực phân loại cáckhỏan vay trích lập rủi ro để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và tính công khai, chính xác của báocáo tài chính tại các NH tăng cường khả năng giám sát của các NHTƯ là yếu tố quan trọngđẩy mạnh các NH hoạt động hiệu quả Các tiêu chuẩn kế toán phản ánh trung thực tình hìnhtài chính của NH là điều kiện tiên quyết để giám sát mọi cách có hiệu quả Việc giám sát cầndựa trên các rủi ro và thanh tra tại chỗ cũng như kiểm tra gián tiếp thông qua hệ thống kếtoán và kiểm toán Để đảm bảo việc này các tiêu chuẩn kế toán Việt Nam cần phù hợp vớicác tiêu chuẩn kế toán quoóc tế (IAS) để đảm bảo thông tin trung thực và chính xác về tìnhhình tài chính của NH Đặc biệt, việc phân loại các khoản vay và trích lập quỹ dự phòng rủi

ro của các NH cần phản ánh rủi ro Tín dụng cho các khoản vay nhưng quy định về kế toánhiện hành không cho phép đìêu đó Việc cải thiện hơn nữa khung pháp lý cũng lên kế hoạch

để giải quyết các khoản nợ có vấn đề

Việc thứ tư là tạo môi trường bình đẳng cho tất cả các NH: các chương trình cải

Trang 17

cách của chính Phủ nhằm tăng khả năng cạnh tranh giữa các NH, nhưng dự kiến sẽ tiến hành

từ từ và có quản lý điều tíêt các NH đã thực hiện được phép cạnh tranh qua giá cho vay bởilãi suất đã được thả nổi trong thời gian cho phép

Qua thực tế cần khẳng định rằng: Việt Nam đẫ đứng vững trước những ảnh hưởng của cáccuộc khủng hoảng khu vực Điều đó có được là nhờ Việt Nam trong tiến trình thực hiện cơcấu lại hệ thống NH đã luôn thận trọng, xây dựng được kế hoạch ngắn hạn và dài hạn chocuộc cải cách, phát huy mọi chính sách kinh tế tầm vi và vĩ mô, không mạo hiểm để đạt đượcmức tăng trưởng cao nên đã tránh được khủng hoảng về cán cân thanh toán, ngân sách và

NH Nó là điều kịên thuận lợi cho Việt Nam trong tiến trình cải cách hệ thống NH, là bài họckinh nghiệm quá báu để chúng ta có thể vạch ra được hướng đi tốt cho hệ thống NH quốcgia

Trang 18

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAMHIỆN NAY

1.Thực trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam hiện nay

Hệ thống NH Việt Nam đã được đổi mới một cách đáng kể trong quá trình chuyển đổi

từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có điều tiết vĩ mô của Nhà nước

Từ mô hình hệ thống NH của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang mô hình

NH của nền kinh tế thị trường, mô hình tổ chức có sự thay đổi căn bản đó là cách biệt chứcnăng quản lý hoạt động tiền tệ, Tín dụng với chức năng kinh doanh tiền tệ, đa dạng hóa cácloại hình NH, từng bước xoá bỏ độc quyền chuyển sang cạnh tranh có sự quản lý của Nhànước Kể từ đầu năm 90 hệ thông các NHTM đã không ngừng phát triển về loại hình vànghiệp vụ, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước

Bên cạnh hai NH Ngoại thương và NH Đầu tư phát triển được hình thành từ trước đã cóthêm hai NH chuyên doanh NH Nông nghiệp và Ngân hàng công thương Việt Nam, có bốnNHTM quốc doanh; ngan hàng Ngoại thương, Ngân hàng công thương, NH Đầu tư và pháttriển, NH Nông nghiệp và phát triển nông thôn Đây là những NHTM lớn của VIệt Nam.Trong giai đoạn đầu, các NHTM quốc doanh phải hoạt động trong môi trường khó khăn:gánhchịu việc xử lý các tồn đọng nặng nề của cơ chế cũ, tình hình tài chính mất cân đối nợquá hạn, khê đọng khó đòi cao do các tổ chức kinh tế làm ăn thua lỗ, lạm phát cao, lãi suấtthực âm, tỷ giá ngoại tệ còn bao cấp

Đến đầu năm 1990, cả nước đã có tới 15 NHTM cổ phần và các hợp tác xã Tín dụng do cáccấp chính quyền thành lập ở cả thành thị và nông thôn Trong môi trường chưa ổn định, cáctổi chức tín dụng này đều còn non nớt, tình trạng mất khả năng chi trả của nhiều tổ chức tíndụng đã làm mất lòng tin của dân chúng Đến quý I 1990 với 791 tỷ đồng đã cho vay thì 510

tỷ đồng quá hạn và đến quy III năm 1990 hầu hết các tổc chức tín dụng lâm vào tình trạngmất khả năng chi trả

Trang 19

Tháng 5 năm 1990, hai pháp lệnh NH( phấp lệnh NHNN, pháp lệnh NH hợp tác xã Tín dụng

và công ty tài chính) ra đời là bước ngoặt quan trọng trong hoạt động của hệ thống NH.Hai pháp lệnh NH đã khẳng định hệ thống NH là NH hai cấp bao gồm NH NN và NHTM,hợp tác xã tín dụng, công ty tài chính vv pháp lệnh đã khẳng định tính đa hình thức sởhữu, đa loại hình đa thành phần và kinh doanh đa năng của hệ thống NHTM Pháp lệnh đã

mở đường cho quả trình phát triển các loại hình NH tại Việt Nam, bao gồm NH quốc doanh,NHTM cổ phần, NH liên doanh giữa Việt Nam và nước ngoài, chi nhánh NH nước ngoài tạiViệt Nam

Được xây dựng từ năm đầu chuyển đổi cơ chế, pháp lệnh đã không thể đáp ứng yêu cầuphát triển của hệ thống tài chính ở Việt Nam trong giai đoạn nửa sau của những năm 90.Trước tình hình đó, Quốc hội đã thông qua luật về NHNN và luật về các tổ chức tín dụng.Luật các tổ chức tín dụng đã tạo mội trường pháp lý mới cho sự phát triển của các NH

Các NHTM mở rộng đối tượng phục vụ cho mọi thành phần kinh tế, mở rông thị trường.Nhiều nghiệp vụ NH mới bước đầu được thực hiện như nghiệp vụ cầm đồ, chiết khấu cácgiấy tờ có giá , tài trợ bán hàng trả góp, Tín dụng thuê mua, đấu thầu tín phiếu kho bạc, hùnvốn mua cổ phần các doanh nghiệp vv

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, các NHTM bỏ giần các cấp trung gian, tách biệt giàncác hoạt động chính sách và hoạt động thương mại, tăng tính độc lập tương đối cho các chinhánh, mạnh giạn đổi mới công nghệ phù hợp với yêu cầu quản lý kinh doanh nâng cao chấtlượng phục vụ khách hàng, bước đầu tạo lập các công ty con triển khai nhiệm vụ mới

Từ năm 1994 trở về trước, NHTM vừa làm nhiệm vụ kinh doanh, vừa làm công tác cấpphát , cho vay ưu đãi vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là không hợp lý

Bắt đầu từ năm 2000, thực hiện nghị định43/1999/NĐ-CP, để đảm bảo thống nhất về cơ chếcho vay, đầu mối cho vay được tập truntg tại Qỹu hỗ trợ phát triển Nhưng thực tế, hiện nayvẫn tồn tại 5 đầu mối cho vay là: Quỹ hỗ trợ phát triển và 4 ngân hàng thương mại Nhà nước.Điều này đã làm cho cơ chế vay trả không hoàn toàn giống nhau, dẫn đến việc không có mộtđầu mối nào tổng hợp, phân tích, định hướng phát triển trong quá trìng thực hiện bên cạnh

đó hệ thống NHTM Việt Nam cũng có một số mặt hạn chế khác nữa:

Trang 20

1.1 Quy mô vốn của các NHTM Việt Nam.

Một cách khái quát có thể đánh giá về tình hình tài chính của các NHTM Việt Nam nhưsau:

Thứ nhất: Năng lực tài chính bị hạn chế.

Năng lực tài chính của các NHTM trước hết phải thể hiện ở các điều lệ của các ngân hàng.Nhưng ở các NHTM Việt Nam ,kể cả ở các ngân hàng NHTM quốc doanh, vốn này còn quánhỏ so với tổng tài sản của từng ngân hàng so với" thông lệ quốc tế" Tính đến năm 1999,NHTM quốc doanh kớn nhất của Việt Nam là ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nôngthôn, vốn điều lệ chỉ có 2200 tỷ VND, còn các NHTM QD khác chỉ kà 1100 tỷ VND Nếulấy tỷ giátại thời điểm này 1USD = 14000VND thì vốn điều lệ của NHTM trên chỉ tươngđương với 157,14 triệu USD và 78,57 USD, còn các NHTMCP thì vốn điều lệ chỉ tươngđương 3 triệu USD Dó là một số vốn qua nhỏ so với một vài NHTM trung bình của cácnước trong khu vực và thế giới Vốn tự có của một số NHTM trung bình trên thế giới: PublicBank Malayxia

964 triệu USD ; Hôngkông Shanghai Banking Corporation 25,78 tỷ USD Citibank 21 tỷUSD (Nguồn :NHVN qua các giai đoạn lịch sử-TL hội thảo khoa học- việnNCKHNH/2001)

Theo thông lệ quốc tế, để đánh giá sự an toàn về tài chính của NH, người ta so sánh giữa vốn

tự có với tổng tài sản có Tỷ trọng này phải đạt tối thiểu là 8% Nhưng ổ Việt Nam tỷ trọngnày là rất thấp

TT Các Ngân Hàng Thương Mại Quốc

doanh

%Vốn tự có/tổng TScó

1 Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển

nông thôn

5,5

2 Ngân hàng Đầu tư và Phát triển 2,6

Ngày đăng: 20/10/2017, 04:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Một cách khái quát có thể đánh giá về tình hình tài chính của các NHTM Việt Nam như sau: - C c gi i ph p v  ki n ngh  nh m t ng s  c nh tranh c a c c ng n h ng th  ng m i Vi t Nam khi tham gia h i nh p kinh t  qu c t
t cách khái quát có thể đánh giá về tình hình tài chính của các NHTM Việt Nam như sau: (Trang 19)
Bảng 1: Kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng,1990-2000 (%)     - C c gi i ph p v  ki n ngh  nh m t ng s  c nh tranh c a c c ng n h ng th  ng m i Vi t Nam khi tham gia h i nh p kinh t  qu c t
Bảng 1 Kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng,1990-2000 (%) (Trang 27)
Bảng: Thị phần của các Ngân hàng Việt Nam. - C c gi i ph p v  ki n ngh  nh m t ng s  c nh tranh c a c c ng n h ng th  ng m i Vi t Nam khi tham gia h i nh p kinh t  qu c t
ng Thị phần của các Ngân hàng Việt Nam (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w