1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

M t s gi i ph p nh m ho n thi n v ph t tri n c c c ng ty ch ng kho n Vi t Nam giai o n hi n nay

59 192 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 389,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M t s gi i ph p nh m ho n thi n v ph t tri n c c c ng ty ch ng kho n Vi t Nam giai o n hi n nay tài liệu, giáo án, bài g...

Trang 1

http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ

án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cảmọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp củaquý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý kháchgửi về luanvanpro.com@gmail.com

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển các công ty chứng khoán ở Việt Nam giai đoạn hiện nay

Trang 2

MỞ ĐẦU

Nhu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đòi hỏi một khối lượng vốn khổng lồ, nhất làvốn dài hạn, mà trong giai đoạn hiện nay, thị trường tài chính mới chỉ đáp ứng được mộtphần nhỏ nhu cầu về vốn ngắn hạn cho nền kinh tế

Xuất phát từ đòi hỏi ấy, thị trường chứng khoán, với tư cách là kênh huy vốn quan trọngcho công nghiệp hoá, hiện đại hoá trở thành một nhu cầu cấp thiết, khách quan trong điềukiện hiện nay

Tuy nhiên thị trường chứng khoán muốn hoạt động hiệu quả cần phải có hàng hoá cho

nó (cổ phiếu, trái phiếu ) và đồng thời phải có các công ty chứng khoán chuyên mua bán,giao dịch các loại hàng hoá đó

Công ty chứng khoán sẽ là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tếnói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng Nhờ các công ty chứng khoán mà mộtlượng vốn khổng lồ được đưa vào đầu tư từ những nguồn lẻ tẻ trong công chúng tập hợplại

Như vậy, sự ra đời của các công ty chứng khoán trong giai đoạn hiện nay là một nhu cầukhách quan Tuy nhiên để nó đi vào hoạt động có hiệu quả cần tiếp tục có những điềuchỉnh hợp lý

Đề xuất: "Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển các công ty chứng khoán ởViệt Nam giai đoạn hiện nay" sẽ đưa ra những kiến nghị góp phần vào việc hoàn thiện cáccông ty chứng khoán và những giải pháp thúc đẩy hình thành các công ty chứng khoán Đềtài nghiên cứu những lí luận cơ bản về công ty chứng khoán từ đó đề xuất các giải pháphoàn thiện công ty chứng khoán về cơ cấu tổ chức; đội ngũ cán bộ, nhân viên; mô hìnhcông ty; hệ thống tin học trong các công ty chứng khoán, đồng thời đưa ra những giải pháp,kiến nghị nhằm mở rộng và phát triển các công ty chứng khoán

Nội dung đề tài gồm 3 phần:

Chương I: Vai trò của công ty chứng khoán với hoạt động của thị trường chứng khoán.Chương II: Thực tiễn hoạt động của các công ty chứng khoán ở Việt Nam hiện nay.Chương III: Các giải pháp hoàn thiện và phát triển các công ty chứng khoán ở ViệtNam

Trang 3

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của thầy giáo Th.s ĐặngNgọc Đức và cán bộ, công nhân viên Vụ quản lý kinh doanh chứng khoán - UBCKNN đãgiúp em hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này.

Do hạn chế về lý luận, kinh nghiệm thực tế, điều kiện nghiên cứu nên bài viết này của

em còn nhiều thiếu sót, em rất mong được sự góp ý của thầy cô, cán bộ, nhân viên Vụ quản

lý kinh doanh chứng khoán - UBCKNN và tất cả các bạn đọc để các bài viết sau của emđược tốt hơn

Hà Nội, tháng 5 năm 2003Sinh viên TH: Lê Thanh Thái

Trang 4

CHƯƠNG I: VAI TRÒ CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VỚI HOẠT ĐỘNG CỦATHỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.

1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán

1.1.1 Quan điểm khác nhau về thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính, hoạt độngcủa nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nhữngnguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Nhà nước đểphát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư

Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán chứng khoán và các giấyghi nợ trung hoặc dài hạn thường từ 01 năm trở lên Công cụ trao đổi trên thị trường chứngkhoán rất phong phú Vậy thị trường chứng khoán là nơi mua bán các chứng khoán đãđược phát hành và đang lưu hành trên thị trường

Hiện nay tồn tại hai quan điểm đối lập nhau:

Quan điểm một cho rằng: thị trường vốn và thị trường chứng khoán là khác nhau vìcông cụ của thị trường chứng khoán ngoài các chứng khoán dài hạn còn có các giấy ghi nợngắn hạn (các tín phiếu kho bạc nhà nước có thời hạn 03 tháng hoặc 06 tháng)

Quan điểm thứ hai cho rằng: thị trường vốn và thị trường chứng khoán chỉ là các tên gọikhác nhau của cùng một khái niệm: thị trường tư bản

Ngày nay, ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, thị trường chứng khoán đượcquan niệm là một thị trường có tổ chức và hoạt động có điều kiện, là nơi diễn ra các hoạtđộng mua bán các loại chứng khoán trung và dài hạn giữa những người phát hành chứngkhoán và mua chứng khoán hoặc kinh doanh chứng khoán

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau, nhưng nhìn chungmột thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi các hoạt động cơ bản sau

1.1.2 Hoạt động của thị trường chứng khoán

Trên thị trường chứng khoán các hoạt động giao dịch chứng khoán được thực hiện Xét

về mặt hình thức, các hoạt động trao đổi mua bán chuyển nhượng các chứng khoán là việcthay đổi các chủ thể nắm giữ chứng khoán; xét về thực chất đây chính là quá trình vận

Trang 5

động tư bản ở hình thái tiền tệ, tức là quá trình chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinhdoanh Các quan hệ mua bán các chứng khoán trên thị trường chứng khoán phản ánh sựthay đổi các chủ thể sở hữu về chứng khoán.

Xét về nội dung, thị trường vốn thể hiện các quan hệ bản chất bên trong của quá trìnhmua bán các chứng khoán Thị trường chứng khoán là biểu hiện bên ngoài, là hình thứcgiao dịch vốn cụ thể Các thị trường này không thể phân biệt, tách rời nhau mà nó là thốngnhất và cùng phản ánh các quan hệ bên trong và bên ngoài của thị trường tư bản

Do đó hoạt động của thị trường chứng khoán (xét về bản chất) phản ánh quan hệ trao đổimua bán quyền sở hữu về tư liệu sản xuất, vốn, tiền mặt Các hoạt động này được thực hiệnthông qua các thành viên trên thị trường chứng khoán

1.1.3 Các thành viên của thị trường chứng khoán

- Người đầu tư chứng khoán: Là những người mua bán chứng khoán gồm có: các doanhnghiệp, các công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí và lực lượng rộng rãi nhất là tầng lớp dânchúng đầu tư vào

- Người kinh doanh chứng khoán: Là người được pháp luật cho phép thực hiện cácnghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, bao gồm môi giới chứng khoán (nhận mua hộ và bán

hộ để hưởng hoa hồng), bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản

lý quỹ đầu tư chứng khoán, mua và bán chứng khoán cho chính mình để hưởng chênh lệchgiá

- Người tổ chức thị trường: Là người tạo ra địa điểm và phương tiện để phục vụ cho việcmua bán chứng khoán hay còn gọi là Sở giao dịch chứng khoán

- Người quản lý và giám sát các hoạt động của thị trường chứng khoán: Tức là Nhànước, người bảo đảm cho thị trường hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật nhằmbảo vệ lợi ích của người đầu tư, bảo đảm việc mua bán chứng khoán được công bằng, côngkhai, tránh những tình trạng tiêu cực có thể xảy ra

Ngoài các đối tượng trên ra, còn có các đối tượng tương hỗ quan trọng khác như: Các tổchức thanh toán bù trừ và lưu giữ chứng khoán, tổ chức dịch vụ sang tên và đăng ký lạiquyền sở hữu chứng khoán, trung tâm đào tạo người hành nghề chứng khoán, hiệp hội cácnhà đầu tư, hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán

Trang 6

Trong các đối tượng đó thì người kinh doanh chứng khoán (trong đó có các công tychứng khoán) giữ vai trò quan trọng đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động ổnđịnh và có hiệu quả.

1.2 Công ty chứng khoán

1.2.1 Mô hình tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán

1.2.1.1 Các mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán

Vì công ty chứng khoán là một loại hình định chế tài chính đặc biệt nên vấn đề xác định

mô hình tổ chức kinh doanh của nó có nhiều điểm khác nhau ở các nước Mỗi nước đều cómột mô hình tổ chức kinh doanh chứng khoán riêng, phù hợp với đặc điểm của hệ thống tàichính và tuỳ thuộc vào sự cân nhắc lợi hại của những người làm công tác quản lý nhà nước.Tuy nhiên, ta có thể khái quát lên ba mô hình cơ bản hiện nay là: mô hình công ty chứngkhoán ngân hàng hay mô hình ngân hàng đa năng (bao gồm: Ngân hàng đa năng toàn phần,Ngân hàng đa năng một phần) và công ty chuyên doanh chứng khoán

Trong mô hình ngân hàng đa năng toàn phần, một ngân hàng có thể tham gia tất cả cáchoạt động kinh doanh tiền tệ, chứng khoán, bảo hiểm mà không cần thông qua những phápnhân riêng biệt

Khác với mô hình trên, trong mô hình ngân hàng đa năng một phần, một ngân hàngmuốn tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán phải thông qua công ty con là phápnhân riêng biệt

Với mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ

do công ty độc lập, chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàngkhông được tham gia kinh doanh chứng khoán

1.2.1.2 Những nét đặc trưng trong tổ chức của các công ty chứng khoán

Do công ty chứng khoán là một hình thức định chế đặc biệt, có hoạt động nghiệp vụ đặcthù nên về mặt tổ chức nó có nhiều điểm khác biệt so với các công ty thông thường Cáccông ty chứng khoán ở các nước khác nhau, thậm chí trong cùng một quốc gia cũng có tổchức rất khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất công việc của mỗi công ty và mức độ phát triểncủa thị trường Tuy vậy, chúng vẫn có một số đặc trưng cơ bản:

a Chuyên môn hoá và phân cấp quản lí

Trang 7

Công ty chứng khoán có trình độ chuyên môn hoá rất cao ở từng phòng ban, bộ phận,đơn vị kinh doanh nhỏ.

Do chuyên môn hoá cao nên các bộ phận có quyền tự quyết

Một số bộ phận trong công ty có thể không phụ thuộc lẫn nhau (chẳng hạn bộ phận môigiới và tự doanh hay bảo lãnh phát hành )

b Nhân tố con người

Trong công ty chứng khoán, quan hệ với khác hàng giữ vai trò rất quan trọng, đòi hỏinhân tố con người phải luôn được quan tâm, chú trọng

Khác với các công ty sản xuất, ở công ty chứng khoán việc thăng tiến cất nhắc lên vị trícao hơn nhiều khi không quan trọng Các chức vụ quản lí hay giám đốc của công ty nhiềukhi có thể nhận được ít thù lao hơn so với một số nhân viên cấp dưới

c Ảnh hưởng của thị trường tài chính

Thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng có ảnh hưởng lớn tớisản phẩm, dịch vụ, khả năng thu lợi nhuận của công ty chứng khoán Thị trường chứngkhoán càng phát triển thì công cụ tài chính càng đa dạng, hàng hoá dịch vụ phong phú, qua

đó công ty chứng khoán có thể mở rộng hoạt động thu nhiều lợi nhuận

Với các trình độ phát triển khác nhau của thị trường, các công ty chứng khoán phải có

cơ cấu tổ chức đặc thù để đáp ứng những nhu cầu riêng Thị trường càng phát triển thì cơcấu tổ chức của công ty chứng khoán càng phức tạp (chẳng hạn Mỹ, Nhật ) Trong khi đó,thị trường chứng khoán mới hình thành thì cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán giảnđơn hơn nhiều (như Đông Âu, Trung Quốc )

1.2.2 Hình thức pháp lý của các công ty chứng khoán

Có ba loại hình tổ chức công ty chứng khoán cơ bản: công ty hợp danh, công ty tráchnhiệm hữu hạn và công ty cổ phần

a Công ty hợp danh

Là loại hình kinh doanh từ hai chủ sở hữu trở lên.Thành viên tham gia vào quá trình đưa

ra các quyết định quản lý được gọi là thành viên hợp danh Các thành viên hợp danh phảichịu trách nhiệm vô hạn, tức là phải chịu trách nhiệm với các khoản nợ của công ty hợpdanh bằng toàn bộ tài sản của mình Ngược lại thành viên không tham gia vào quá trình

Trang 8

điều hành quản lí công ty được gọi là thành viên góp vốn Họ chỉ chịu trách nhiệm đối vớinhững khoản nợ của công ty trong giới hạn góp vốn của mình.

Thông thường khả năng huy động vốn góp của công ty hợp danh không lớn, nó chỉ giớihạn trong số vốn mà các hội viên có thể đóng góp

b Công ty trách nhiệm hữu hạn

Đây là công ty chỉ đòi hỏi trách nhiệm của các thành viên đối với các khoản nợ của công

ty trong giới hạn số vốn góp của họ, do đó gây tâm lí nhẹ nhàng hơn đối với các nhà đầutư

Về phương diện huy động vốn, nó đơn giản và linh hoạt hơn so với công ty hợp danh.Đồng thời vấn đề tuyển đội ngũ quản lí cũng năng động hơn, không bị bó hẹp trong một sốđối tác như công ty hợp danh

Nhờ những ưu thế đó, hiện nay rất nhiều công ty chứng khoán hoạt động dưới hình thứccông ty trách nhiệm hữu hạn

c Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập với các chủ sở hữu là các cổ đông Đại hội cổđông có quyền bầu ra hội đồng quản trị Hội đồng này sẽ định ra các chính sách của công

ty và chỉ định giám đốc cùng các chức vụ quản lý khác để điều hành công ty

Giấy chứng nhận cổ phiếu không thể hiện món nợ của công ty, mà thể hiện quyền lợicủa chủ sở hữu đối với các tài sản của công ty

* Ưu điểm của công ty cổ phần:

+ Nó tồn tại liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông hoặc cổ đông nghỉ hưuhay qua đời

+ Rủi ro mà chủ sở hữu của công ty phải chịu được giới hạn ở mức nhất định Nếu công

ty thua lỗ, phá sản, cổ đông chỉ chịu thiệt hại ở mức vốn đã đóng góp

+ Quyền sở hữu được chuyển đổi dễ dàng thông qua việc mua bán cổ phiếu

+ Ngoài ra, đối với công ty chứng khoán, nếu tổ chức theo hình thức công ty cổ phần vàđược niêm yết tại sở giao dịch thì coi như họ đã được quảng cáo miễn phí

+ Hình thức tổ chức quản lí, chế độ báo cáo và thông tin tốt hơn hai loại hình hợp danh

và trách nhiệm hữu hạn

Trang 9

Do những ưu điểm này, ngày nay chủ yếu các công ty chứng khoán tồn tại dưới hìnhthức công ty cổ phần thậm chí một số nước (như Hàn Quốc) còn bắt buộc các công tychứng khoán phải là công ty cổ phần

1.2.3 Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán

Các công ty chứng khoán có thể là những công ty chuyên kinh doanh một dịch vụ nhưcông ty chỉ chuyên môi giới, công ty chỉ chuyên thực hiện bảo lãnh phát hành hoặc lànhững công ty đa dịch vụ, hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh doanh chứng khoán Nhìnchung có ba nghiệp vụ kinh doanh chính là:

- Nghiệp vụ môi giới chứng khoán

Bước 3: Chuyển lệnh tới thị trường phù hợp để thực hiện lệnh (3)

Bước 4: Xác nhận kết quả thực hiện lệnh cho khách hàng (4)

Bước 5: Thanh toán và giao hàng

Trang 10

Bước 1: Mở tài khoản.

Công ty chứng khoán yêu cầu khách hàng mở tài khoản giao dịch (tài khoản tiền mặthoặc tài khoản kí quĩ) Tài khoản kí quĩ dùng cho giao dịch kí quĩ còn tài khoản giao dịchdùng cho các giao dịch thông thường

Nếu là lệnh mua, công ty sẽ đề nghị khách hàng mức tiền kí quĩ nhất định trên tài khoản

kí quĩ của khách hàng tại công ty Khoản tiền này thường bằng 40% trị giá mua theo lệnh.Bước 3: Chuyển lệnh tới thị trường phù hợp để thực hiện

Trước đây, người đại diện của công ty gửi tất cả lệnh mua, bán của khách hàng tới bộphận thực hiện lệnh hoặc phòng kinh doanh giao dịch của công ty Ở đây, một người thư kí

sẽ kiểm tra xem chứng khoán được mua bán ở thị trường nào (tập trung, phi tập trung ).Sau đó, người thư kí sẽ gửi lệnh đến thị trường đó để thực hiện

Ngày nay, các công ty chứng khoán có mạng lưới thông tin trực tiếp từ trụ sở chính tớiphòng giao dịch Do vậy, các lệnh mua, bán được chuyển trực tiếp tới phòng giao dịch của

Sở giao dịch chứng khoán mà không cần chuyển qua phòng thực hiện lệnh

Bước 4: Xác nhận cho khách hàng

khoán (4)

(1) (2)

(3)(5)

Trang 11

Sau khi thực hiện lệnh xong, công ty chứng khoán sẽ gửi cho khách hàng một phiếu xácnhận đã thi hành xong lệnh.

Bước 5: Thanh toán bù trừ giao dịch

Hoạt động này bao gồm việc đối chiếu giao dịch và bù trừ các kết quả giao dịch

Hiện nay các nước áp dụng việc đối chiếu cố định: Sở giao dịch chứng khoán sẽ tiếnhành bù trừ trên cơ sở nội dung lệnh của các công ty chứng khoán chuyển vào hệ thống.Những sai sót của công ty chứng khoán sẽ do công ty chứng khoán tự sửa chữa

Việc bù trừ các kết quả giao dịch kết thúc bằng việc in ra các chứng từ thanh toán.Chứng từ này được gửi cho công ty chứng khoán Nó là cơ sở để thực hiện thanh toán vàgiao chứng khoán

Bước 6: Thanh toán và giao hàng

Đến ngày thanh toán, người mua sẽ giao tiền thông qua ngân hàng chỉ định thanh toán;người bán sẽ giao chứng khoán thông qua hình thức chuyển khoản tại trung tâm lưu kíchứng khoán Sau khi hoàn tất các thủ tục tại Sở, công ty sẽ thanh toán tiền và chứng khoáncho khách hàng thông qua hệ thống tài khoản khách hàng mở tại công ty chứng khoán.Phí môi giới

Hoạt động với tư cách là nhà đại lí nên công ty chứng khoán được hưởng hoa hồng môigiới Số tiền hoa hồng thường được tính phần trăm trên tổng giá trị một giao dịch Số tiềnmua bán càng nhỏ thì số phần trăm hoa hồng càng lớn

Một số nước hiện nay duy trì tỉ lệ hoa hồng cố định như Thái Lan, Inđônêxia, TrungQuốc, Ấn Độ, Pakistan Theo đó mức hoa hồng cao, thấp tuỳ thuộc vào giá trị hợp đồng.Thông thường, các công ty chứng khoán đều có chế độ hoa hồng của mình và thỉnhthoảng lại điều chỉnh cho thích hợp Các công ty nhỏ thường phải chờ xem các hãng lớncho biết tỉ suất hoa hồng rồi mới công bố tỉ suất của mình

Thuế giao dịch chứng khoán

Các công ty chứng khoán phải nộp thuế đối với hoạt động kinh doanh của mình Doanhthu chịu thuế tuỳ thuộc vào các nghiệp vụ mà công ty tiến hành

Đối với hoạt động môi giới, bảo lãnh, thuế được tính trên mức hoa hồng hay chiết khấu

mà công ty chứng khoán nhận được Đối với hoạt động tự doanh thuế được tính trên chênh

Trang 12

lệch giữa giá mua và giá bán chứng khoán Ngoài ra, công ty chứng khoán còn phải chịuthuế lợi tức trong trường hợp kinh doanh chứng khoán có lãi.

Để khuyến khích mọi người mua Trái phiếu Chính phủ, các nước thường không đánhthuế các khoản lãi nhận được từ đầu tư vào Trái phiếu Chính phủ

1.2.3.2 Nghiệp vụ bảo lãnh

Bản chất bảo lãnh

Bảo lãnh phát hành là việc hỗ trợ đơn vị phát hành huy động vốn bằng cách bán chứngkhoán trên thị trường Có ba hình thức bảo lãnh phát hành mà thế giới thường áp dụng:Một là, bảo lãnh chắc chắn: công ty bảo lãnh phát hành nhận mua toàn bộ số chứngkhoán trong đợt phát hành của công ty phát hành và sau đó sẽ bán ra công chúng Giá muacủa công ty bảo lãnh là giá đã được ấn định, thường là thấp hơn giá thị trường Giá bán củacông ty bảo lãnh là giá thị trường Đây là hình thức công ty bảo lãnh hoạt động cho chính

họ và sẵn sàng chịu mọi rủi ro

Hai là, bảo lãnh cố gắng tối đa: là hình thức mà công ty bảo lãnh phát hành hứa sẽ cốgắng tối đa để bán hết số chứng khoán cần phát hành cho công ty phát hành Nếu khôngbán hết, công ty bảo lãnh sẽ trả lại số chứng khoán không bán được cho công ty phát hành.Người bảo lãnh được hưởng số hoa hồng trên số chứng khoán bán được

Ba là, bảo lãnh bảo đảm tất cả hoặc không: trường hợp này được áp dụng khi công typhát hành chứng khoán cần một số vốn nhất định Nếu huy động được đủ số vốn đó thìthực hiện phát hành, còn không huy động đủ thì sẽ bị huỷ bỏ Ví dụ, một công ty cố gắngbán toàn bộ 100.000.000$ cổ phiếu nó yêu cầu công ty chứng khoán phải bán tối thiểu60% giá trị của đợt phát hành, tức là công ty phải nhận được lượng tiền bán tối thiểu là60.000.000 $ nếu không toàn bộ đợt phát hành sẽ bị loại bỏ

Một số khâu quan trọng trong quy trình bảo lãnh

+ Lập nghiệp đoàn bảo lãnh

Khi số số chứng khoán phát hành vượt quá khả năng bảo lãnh của một công ty chứngkhoán thì một nghiệp đoàn bao gồm một số công ty chứng khoán và các tổ chức tài chính

sẽ được thành lập

Nghiệp đoàn này có ý nghĩa phân tán rủi ro trong hình thức bảo lãnh chắc chắn Trongnghiệp đoàn có một công ty bảo lãnh chính, thường là người khởi đầu cho cuộc giao dịch

Trang 13

này, đứng ra ký kết và giải quyết các giấy tờ với công ty phát hành Nó quyết định công tychứng khoán nào được mời tham gia nghiệp đoàn và sẽ trả chi phí bảo lãnh cho các công tykhác trong nghiệp đoàn.

Nhóm bán:

Để việc bán nhanh hơn, nghiệp đoàn bảo lãnh có thể tổ chức thêm một "nhóm bán".Nhóm này bao gồm một số công ty không nằm trong nghiệp đoàn bảo lãnh, họ chỉ giúp bánchứng khoán mà không phải chịu trách nhiệm về số chứng khoán không bán được Do vậy,thù lao cho họ ít hơn các thành viên trong nghiệp đoàn bảo lãnh

+ Phân tích, định giá chứng khoán

Định giá cho cổ phiếu rất phức tạp Ở đây bắt gặp vấn đề nan giải: một mặt, người pháthành cổ phiếu muốn nhận được càng nhiều tiền càng tốt từ đợt phát hành này; mặt khácngười quản lý muốn định giá sao cho có thể bán được và bán càng nhanh càng tốt Nếu giácao quá công chúng sẽ không mua, nếu giá thấp quá thì giá chứng khoán sẽ mau chóngchuyển lên cao hơn ở thị trường thứ cấp và người phát hành sẽ chịu thiệt Thông thường,việc định giá cổ phiếu căn cứ vào nhiều yếu tố: lợi nhuận của công ty, dự kiến lợi tức cổphần, số lượng cổ phiếu chào bán, tỉ lệ giá cả - lợi tức so với những công ty tương tự, tìnhhình thị trường lúc chào bán

Đối với trái phiếu, việc định giá đơn giản hơn vì trên thị trường đã có sẵn lãi suất chuẩn

và yết giá của những người mua, bán chứng khoán cho những loại trái phiếu tương tự.+ Ký hợp đồng bảo lãnh

Sau khi thành lập nghiệp đoàn và tiến hành một số công việc như phân tích định giáchứng khoán, chuẩn bị cho đợt phân phối chứng khoán , nghiệp đoàn bảo lãnh sẽ ký một

số hợp đồng với công ty phát hành trong đó xác định:

Phương thức bảo lãnh

Phương thức thanh toán

Khối lượng bảo lãnh phát hành

+ Đăng kí phát hành chứng khoán

Sau khi ký hợp đồng bảo lãnh, nghiệp đoàn bảo lãnh phải trình lên cơ quan quản lý đơnxin đăng kí phát hành cùng một bản cáo bạch thị trường có đầy đủ chữ kí của công ty pháthành, công ty luật, công ty bảo lãnh Bản cáo bạch của công ty phát hành trình bày tình

Trang 14

hình tài chính, hoạt động kinh doanh và kế hoạch sử dụng tiền thu được từ việc phát hànhnhằm giúp công chúng đánh giá và đưa ra quyết định mua chứng khoán.

+ Phân phối chứng khoán trên cơ sở phiếu đăng kí

Sau khi tiến hành các thủ tục cần thiết như phân phát bản cáo bạch và phiếu đăng kí muachứng khoán và đợi khi đăng kí phát hành chứng khoán có hiệu lực, công ty chứng khoánhoặc nghiệp đoàn bảo lãnh sẽ tiến hành phân phối chứng khoán

Phân phối chứng khoán ra công chúng có thể được thực hiện dưới các hình thức:

Bán riêng cho các tổ chức đầu tư tập thể (như các quĩ đầu tư, quĩ bảo hiểm, quĩ hưutrí )

Bán trực tiếp cho các cổ đông hiện thời hay những nhà đầu tư có quan hệ với tổ chứcphát hành

Bán ra công chúng

+ Thanh toán

Đến đúng ngày theo hợp đồng, công ty bảo lãnh phát hành phải giao tiền bán chứngkhoán cho công ty phát hành Số tiền thanh toán là giá trị chứng khoán phát hành trừ đi thùlao cho công ty bảo lãnh

Thù lao cho công ty bảo lãnh có thể là khoản phí (đối với hình thức bảo lãnh chắc chắn)hoặc hoa hồng (đối với các hình thức bảo lãnh khác)

Mức phí bảo lãnh tuỳ thuộc vào tính chất của đợt phát hành, tình hình thị trường và dohai bên thoả thuận Nếu là phát hành lần đầu thì phí bảo lãnh cao hơn lần phát hành bổsung Đối với trái phiếu phí và hoa hồng còn tuỳ thuộc vào lãi suất trái phiếu (lãi suất cao

sẽ dễ bán, chi phi sẽ thấp và ngược lại)

Hoa hồng: là tỉ lệ (%) cố định đối với từng loại chứng khoán nhất định Việc tính toán

và phân bổ hoa hồng do các thành viên trong nghiệp đoàn thương lượng với nhau

Phí bảo lãnh: là chênh lệch giữa giá bán chứng khoán trên thị trường và số tiền công typhát hành nhận được

1.2.3.3 Nghiệp vụ tự doanh

Đây là nghiệp vụ kinh doanh trong đó công ty chứng khoán dùng kinh phí của mình đểmua và bán chứng khoán, họ tự chịu mọi rủi ro và có thể làm thêm nhiệm vụ tạo thị trườngcho một loại chứng khoán nào đó

Trang 15

Nhà giao dịch chịu lãi hay lỗ tuỳ thuộc vào chênh lệch giá mua và bán chứng khoán.Hoạt động buôn bán chứng khoán có thể là:

Giao dịch gián tiếp: Công ty chứng khoán đặt lệnh mua và bán của mình trên Sở giaodịch, lệnh của họ được xác định đối với bất kì khách hàng nào không xác định trước

Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch giữa hai công ty chứng khoán hay giữa công ty chứngkhoán với khách hàng thông qua thương lượng Đối tượng của giao dịch trực tiếp thường làcác trái phiếu và cổ phiếu giao dịch ở thị trường OTC

Thông thường các công ty chứng khoán phải dành một tỉ lệ % nhất định cho hoạt độngbình ổn thị trường (ở Mỹ luật qui định là 60%) Các công ty có nghĩa vụ mua vào (khi giáchứng khoán giảm) để giữ giá và phải bán ra khi giá chứng khoán lên để kìm giá chứngkhoán

Ngoài các hoạt động kinh doanh chính: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, công tychứng khoán còn tiến hành các nghiệp vụ phụ trợ

1.2.3.4 Các nghiệp vụ phụ trợ

a Nghiệp vụ tín dụng

Ở các thị trường phát triển thì đây là một hoạt động thông dụng Còn ở những thị trườngchưa phát triển thì hoạt động này bị hạn chế, chỉ các định chế tài chính đặc biệt mới đượcphép cấp vốn vay Một số nước còn qui định không được phép cho vay kí quỹ

Cho vay kí quỹ là hình thức cấp tín dụng của công ty chứng khoán cho khách hàng củamình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làm vật thế chấp cho khoảnvay

Khi thực hiện nghiệp vụ này, công ty chứng khoán phải dàn xếp với ngân hàng và phảichịu trách nhiệm về khoản vay đó

Trong tài khoản kí quỹ, tài sản thực của khách hàng chỉ chiếm một tỉ lệ nhất định 60% tuỳ từng nước), số còn lại là tiền vay của công ty chứng khoán Đến hạn, khách hàngphải trả vốn vay và lãi cho công ty chứng khoán Nếu không trả được nợ, công ty chứngkhoán sẽ bán chứng khoán trên tài sản kí quỹ để thu hồi khoản vay

(50%-Rủi ro đối với công ty chứng khoán xảy ra khi chứng khoán thế chấp giảm giá và giá trịcủa chúng thấp hơn giá trị khoản vay kí quỹ Vì vậy, công ty chứng khoán không nên tậptrung quá mức vào một khách hàng hay một loại chứng khoán

b Tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính công ty

Trang 16

Đây là việc cung cấp các thông tin về đối tượng chứng khoán, thời hạn, các vấn đề mangtính quy luật của hoạt động đầu tư chứng khoán Nó đòi hỏi nhiều kiến thức, chuyên môn

kỹ năng và yêu cầu vốn không cao Tính trung thực của cá nhân hay công ty tư vấn có ýnghĩa quan trọng

c Nghiệp vụ quản lí danh mục đầu tư

Đây là một dạng tư vấn đầu tư nhưng ở mức độ cao hơn vì khách hàng uỷ thác cho công

ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo những nguyên tắc mà khách hàngyêu cầu Thông thường nghiệp vụ này tuân thủ theo bốn bước cơ bản:

Bước 1: Công ty chứng khoán và khách hàng tiếp xúc tìm hiểu khả năng của nhau.Bước 2: Công ty và khách hàng tiến hành kí hợp đồng quản lí

Bước 3: Thực hiện hợp đồng quản lí Khi có phát sinh ngoài hợp đồng, công ty chứngkhoán phải xin ý kiến của khách hàng rồi mới được phép quyết định Công ty chứng khoánphải tách rời hoạt động này với hoạt động môi giới và tự doanh để tránh mâu thuẫn lợi ích.Bước 4: Khi đến hạn kết thúc hợp đồng công ty phải cùng khách hàng bàn bạc, quyếtđịnh xem gia hạn hay thanh lí hợp đồng Khi công ty bị phá sản, tài sản uỷ thác của kháchhàng phải được tách riêng và không được dùng để trả nghĩa vụ nợ cho công ty chứngkhoán

Khoản phí mà công ty chứng khoán nhận được dựa trên số lợi nhuận thu về cho kháchhàng

d Nghiệp vụ quản lí thu nhập chứng khoán (quản lí cổ tức)

Nghiệp vụ này xuất phát từ nghiệp vụ lưu kí chứng khoán Công ty phải thực hiện hoạtđộng theo dõi tình hình thu lãi chứng khoán khi đến hạn để thu hộ rồi gửi báo cáo chokhách hàng Trên thực tế, các công ty chứng khoán không trực tiếp quản lí mà sẽ lưu kí tạitrung tâm lưu giữ chứng khoán

Ngoài các nghiệp vụ trên, công ty chứng khoán còn có thể tiến hành một số hoạt đôngkhác như: cho vay chứng khoán, quản lí quỹ đầu tư, quản lí vốn, kinh doanh bảo hiểm

Vì là một định chế tài chính đặc biệt nên công ty chứng khoán phải tuân thủ một sốnguyên tắc nhất định

Trang 17

1.2.4 Nguyên tắc đạo đức và tài chính đối với công ty chứng khoán.

1.2.4.1 Nguyên tắc đạo đức

Hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán ảnh hưởng nhiều tới lợi ích công chúng

và biến động của thị trường tài chính Vì vậy, luật pháp các nước qui định rất chặt chẽ đốivới hoạt động của công ty chứng khoán Nhìn chung có một số nguyên tắc cơ bản sau:+ Công ty chứng khoán có nghĩa vụ bảo mật cho khách hàng, chỉ được tiết lộ thông tinkhi cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép

+ Công ty chứng khoán phải giữ nguyên tắc giao dịch công bằng, không được tiến hànhbất cứ hoạt động lừa đảo phi pháp nào

+ Công ty chứng khoán không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính đểkinh doanh

+ Công ty chứng khoán phải tách biệt tài sản của mình với tài sản của khách hàng và tàisản của khách hàng với nhau; không được dùng tài sản của khách hàng làm vật thế chấp,trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản

+ Công ty chứng khoán khi thực hiện tư vấn phải cung cấp đầy đủ thông tin cho kháchhàng, đảm bảo thông tin chính xác, tin cậy

+ Công ty chứng khoán không được nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài các khoản thùlao thông thường cho hoạt động dịch vụ của mình

+ Ở nhiều nước, công ty chứng khoán phải đóng tiền vào quĩ bảo vệ nhà đầu tư chứngkhoán để bảo vệ lợi ích cho khách hàng trong trường hợp công ty chứng khoán bị mất khảnăng thanh toán

+ Ngoài ra, các nước còn có qui định chặt chẽ nhằm chống thao túng thị trường; cấmmua bán khớp lệnh giả tạo với mục đích tạo ra trạng thái "tích cực bề ngoài"; cấm đưa ralời đồn đại, xúi dục hoặc lừa đảo trong giao dịch chứng khoán; cấm giao dịch nội gián sửdụng thông tin nội bộ mua bán chứng khoán cho chính mình làm thiệt hại tới khách hàng 1.2.4.2 Nguyên tắc tài chính

a Vốn

Vốn của công ty chứng khoán phụ thuộc vào loại tài sản cần tài trợ Nhìn chung, số vốncần có để thực hiện nghiệp vụ chứng khoán được xác định bằng việc cân đối giữa vốn phápđịnh và nhu cầu vốn kinh doanh của công ty

Trang 18

b Cơ cấu vốn: Nợ và Có.

Cơ cấu vốn là tỉ lệ các khoản nợ và vốn cổ đông hoặc vốn góp của các thành viên màcông ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình Việc huy động vốn đượctiến hành thông qua việc góp vốn của các cổ đông, thông qua hệ thống ngân hàng, thịtrường vốn

Việc huy động vốn và cơ cấu vốn của công ty chứng khoán có các đặc điểm chung:

 Các công ty phụ thuộc khá nhiều vào các khoản vay ngắn hạn

 Các chứng khoán đem ra mua bán, trao đổi trên thị trường chiếm phần lớn tổng giá trịtài sản của công ty chứng khoán (40%-60%)

 Ở các nước đang phát triển, thông thường các công ty chứng khoán không được vayvốn của nước ngoài trong khi ở những nước phát triển điều này được phép thực hiện

 Tỉ lệ nợ tuỳ thuộc vào công ty chứng khoán nhưng phải tuân theo qui định của các cấpquản lí

c Quản lí vốn và hạn mức kinh doanh

* Quản lí vốn khả dụng: các công ty chứng khoán thường phải duy trì một mức vốn khảdụng để đảm bảo khả năng thanh toán

* Quản lí quĩ bù đắp rủi ro: Các công ty chứng khoán thực hiện hoạt động tự doanhthường phải duy trì một tỉ lệ dự trữ trên mức lợi nhuận ròng, còn các công ty môi giới duytrì tỉ lệ dự trữ tính trên tổng doanh thu với mục đích bù đắp các khoản lỗ kinh doanh trongnăm đó

* Quản lí quĩ bổ sung vốn điều lệ: công ty chứng khoán phải trích tỉ lệ phần trăm lãiròng hàng năm để lập quĩ bổ sung vốn điều lệ cho tới khi đạt một tỉ lệ phần trăm nào đócủa vốn điều lệ Quĩ này dùng bù đắp những thâm hụt trong tương lai

* Quản lí hạn mức kinh doanh: hạn mức kinh doanh được qui định khác nhau tuỳ từngquốc gia Thông thường nó tuân theo một số qui định sau:

Hạn chế mua sắm tài sản cố định theo tỉ lệ % trên vốn điều lệ

Đặt ra hạn mức đầu tư vào mỗi loại chứng khoán

Qui định hạn mức đầu tư vào một số tài sản rủi ro cao

d Chế độ báo cáo

Các thông tin tài chính được thể hiện qua các báo cáo Các báo cáo này, theo qui địnhmột số nước, phải nộp cho Uỷ ban chứng khoán (hoặc cơ quan quản lý tương đương) và

Trang 19

một tổ chức tự quản làm cơ quan kiểm tra các báo cáo tài chính thường niên đã được kiểmtoán Báo cáo tài chính được kiểm toán bao gồm:

- Bảng cân đối kế toán

- Báo cáo lỗ lãi

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Ngoài báo cáo thường niên, công ty chứng khoán phải gửi một báo cáo quản lý toàndiện về tình hình tài chính theo quý như quy định của Uỷ ban chứng khoán

Ngoài ra công ty phải gửi báo cáo hàng tháng cho tổ chức tự quản có thẩm quyền đểkiểm tra tình hình tài chính và việc tuân thủ các trách nhiệm tài chính

Nếu công ty chứng khoán không đáp ứng được một số tiêu chuẩn kinh doanh và tàichính thì có thể phải gửi nhiều báo cáo hơn (báo cáo tuần)

1.2.5 Điều kiện thành lập công ty chứng khoán

Hoạt động của công ty chứng khoán có ảnh hưởng nhiều tới lợi ích của công chúng nên

nó phải đáp ứng một số điều kiện nhất định Nhìn chung, qui định về điều kiện thành lập,cấp phép hoạt động cho công ty chứng khoán được thể hiện ở hai khía cạnh sau:

Điều kiện về vốn: Công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn phápđịnh Vốn pháp định được qui định cụ thể cho từng loại nghiệp vụ Một công ty càng thamgia vào nhiều loại hoạt động nghiệp vụ thì yêu cầu về vốn càng nhiều Mức vốn qui địnhcho hoạt động môi giới, tư vấn thường không nhiều Trong khi đó, nghiệp vụ tự doanh haybảo lãnh phát hành đòi hỏi mức vốn pháp định tương đối cao

Điều kiện nhân sự: Những người quản lí hay nhân viên của công ty chứng khoán phải cóđầy đủ kiến thức, kinh nghiệm và độ tín nhiệm Thông thường, các nhân viên của công tychứng khoán phải có giấy phép hành nghề Muốn có giấy phép hành nghề, ngoài việc đápứng một số qui định như tuổi tác, trình độ học vấn, lí lịch tốt phải trải qua những kì thi kiếnthức chuyên môn chứng khoán Những người nắm giữ các chức năng quản lí trong công tychứng khoán phải có giấy phép đại diện Yêu cầu để được cấp giấy phép đại diện cao hơn

so với giấy phép hành nghề về các mặt học vấn kinh nghiệm công tác

Trong điều kiện thành lập công ty chứng khoán cần chú ý tới tính điều kiện và tínhđương nhiên Tính điều kiện có nghĩa là giấy phép thực hiện hoạt động này có thể lại chính

là điều kiện xin cấp giấy phép hoạt động kia Chẳng hạn muốn thực hiện hoạt động bảo

Trang 20

lãnh thì bắt buộc phải có giấy phép hoạt động tự doanh Tính đương nhiên có nghĩa là đượcthực hiện hoạt động này thì đương nhiên thực hiện hoạt động kia Ví dụ: nếu đã có giấyphép quản lí quĩ đầu tư thì đương nhiên được thực hiện nghiệp vụ tư vấn đầu tư.

Riêng đối với quản lí quĩ đầu tư ở một số nước trên thế giới có những điểm khác biệt.Chẳng hạn một số nước như Thái Lan, Hàn Quốc cho phép công ty chứng khoán thành lập

và quả lí quĩ đầu tư trong khi điều này không được Inđônêxia chấp nhận

Như vậy, điều kiện thành lập công ty chứng khoán có sự khác nhau ở các nước trên thếgiới Tùy theo đặc thù mỗi quốc gia, các công ty chứng khoán cũng được tổ chức theonhiều mô hình khác nhau

1.3 Công ty chứng khoán ở một số nước trên thế giới

Trên thế giới có ba mô hình công ty chứng khoán cơ bản:

Thứ nhất: là mô hình ngân hàng đa năng toàn phần Trong mô hình này không có sựtách biệt nào giữa hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng khoán Các ngânhàng thương mại cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm trongmột pháp nhân duy nhất Đây là phương thức hoạt động ngân hàng đa năng cổ truyền màđiển hình được áp dụng ở CHLB Đức, Hà Lan, Thuỵ Sỹ, các nước Bắc Âu

Thứ hai: là mô hình đa năng một phần (đa năng kiểu Anh), được áp dụng ở Anh và một

số nước có quan hệ gần gũi với Anh như Canada, Australia Ngân hàng khi tham gia kinhdoanh chứng khoán phải thành lập công ty con, có tư cách pháp nhân độc lập Các công tycon ít khi nắm giữ cổ phần của ngân hàng và thường không có sự kết hợp giữa các công tybảo hiểm và ngân hàng

Thứ ba: là mô hình chuyên doanh Nó được áp dụng ở nhiều nước như Mỹ, Nhật.v.v.Theo mô hình này các công ty chứng khoán là các công ty chuyên doanh độc lập Các ngânhàng không được phép tham gia vào kinh doanh chứng khoán

Dưới đây là mô hình công ty chứng khoán ở một số nước trên thế giới

1.3.1 Mô hình Mỹ

Nét nổi bật của mô hình này là sự tách rời hoạt động của ngành ngân hàng và ngànhchứng khoán Đạo luật Glass-Steagall chỉ cho phép ngân hàng thương mại tiến hành chàobán các loại chứng khoán Chính phủ mới phát hành lần đầu nhưng cấm các tổ chức nàybảo lãnh phát hành chứng khoán doanh nghiệp hoặc tham gia vào hoạt động môi giới

Trang 21

Do thị phần các ngân hàng thương mại giảm xuống, năm 1997 Cục Dự trữ Liên bang đã

áp dụng điều luật 20 của Đạo luật Glass-Steagall cho phép các công ty mẹ thuộc ngân hàngbảo lãnh phát hành một số chứng khoán nhất định.Và tới tháng 7/1988 Cục Dự trữ Liênbang tiến hành thí điểm công ty mẹ thuộc ngân hàng thương mại J.P Morgan được bảolãnh phát hành trái phiếu công ty và bảo lãnh phát hành cổ phiếu, dần dần mở rộng chophép đối với các ngân hàng thương mại khác

Các tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán tại Mỹ bao gồm các ngân hàngđầu tư và các công ty môi giới Việc thành lập các công ty chứng khoán được thực hiệntheo chế độ đăng kí Các công ty môi giới và tự doanh muốn tham gia kinh doanh chứngkhoán chỉ cần đăng kí với SEC (Uỷ ban Giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ) và phải tham giamột tổ chức tự quản phù hợp (như NASD) hoặc xin trở thành một thành viên của Sở giaodịch

Một tiêu chuẩn quan trọng mà công ty chứng khoán ở Mỹ phải tuân thủ là tiêu chuẩn vềvốn Mức vốn yêu cầu cho hoạt động kinh doanh được xác định bằng sự kết hợp giữa yêucầu về vốn của pháp luật và mức vốn cần thiết của công ty Ở Mỹ không có sự phân biệttrong qui định giữa công ty chứng khoán trong nước và các tổ chức nước ngoài tham giakhinh doanh chứng khoán tại Mỹ

1.3.2 Mô hình Nhật

Trước đây, mô hình kinh doanh chứng khoán của Nhật là mô hình chuyên doanh, ngânhàng không được phép tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán Theo Luật cảicách các định chế ban hành 4/1993, các tổ chức ngân hàng được phép tham gia vào thịtrường chứng khoán thông qua các công ty chứng khoán con Đồng thời các công ty chứngkhoán lại được phép thành lập công ty con làm dịch vụ ngân hàng

Kinh doanh chứng khoán Nhật Bản được chia thành 4 loại hình và mỗi loại hình lại cógiấy phép kinh doanh riêng biệt, đó là nghiệp vụ: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành,chào bán chứng khoán ( hay tham gia vào hệ thống bán lẻ các chứng khoán phát hành racông chúng) Ngoài ra, các công ty chứng khoán chuyên doanh được phép cung cấp cácdịch vụ khác liên quan tới chứng khoán như tư vấn đầu tư, làm đại lí thu tiền mua các tráiphiếu phát hành ra công chúng, thanh toán gốc và lãi trái phiếu, đại lí trả lợi nhuận, mua lạihoặc huỷ từng phần tiền mua chứng chỉ quĩ đầu tư, lưu kí chứng khoán

Công ty xin tham gia kinh doanh chứng khoán phải đáp ứng được các tiêu chuẩn:

Trang 22

 Có nguồn tài chính lành mạnh.

 Nhân sự phù hợp với hoạt động kinh doanh

 Chứng minh được việc xin tham gia kinh doanh chứng khoán là thiết thực đối vớicông ty

Vốn điều lệ tối thiểu đối với công ty chứng khoán thay đổi tuỳ theo loại hình kinh doanh

mà công ty đó tham gia:

 Đối với các công ty không phải là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán:

+ Tokyo hoặc Osaka SE : 300 triệu Yên

+ Nagoya SE : 150 triệu Yên

+ Các Sở khác : 100 triệu Yên

 Đối với các công ty không phải là thành viên: 100 triệu Yên

 Đối với công ty bảo lãnh phát hành:

+ Công ty tham gia 3 loại hình môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành: 10 tỷ Yên

+ Công ty chuyên bảo lãnh phát hành hoặc là người quản lí cho tổ hợp bảo lãnh pháthành: 3 tỷ Yên

+ Các loại hình khác: 500 triệu Yên

Cho tới năm 1972 Nhật Bản mới cho phép công ty chứng khoán nước ngoài mở chinhánh tại Nhật Bản Theo luật hiện hành, các công ty chứng khoán nước ngoài khi mở chinhánh tại Nhật Bản phải được sự cho phép của Bộ tài chính Nhật

1.3.3 Mô hình Đức

Các ngân hàng đa năng được tham gia vào tất cả các loại hình kinh doanh chứng khoán

mà không phải chịu sự ràng buộc nào Các ngân hàng thường tiến hành các nghiệp vụ tựdoanh và môi giới các chứng khoán được phép giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán.Các thành viên của Sở giao dịch chứng khoán, ngoài các ngân hàng và tổ chức tín dụng,còn bao gồm những người được Nhà nước cử ra để lập giá và nhóm các nhà lập giá tự do

Số lượng các ngân hàng và người lập giá tự do không bị hạn chế, chỉ hạn chế số lượngngười do Nhà nước đề cử để lập giá

Chức năng của các thành viên này được thể hiện: chỉ có ngân hàng mới được nhận lệnhmua và bán chứng khoán của khách hàng rồi chuyển tới Sở giao dịch chứng khoán Chi

Trang 23

nhánh của các công ty chứng khoán nước ngoài tại Đức cũng phải có giấy phép kinh doanhchứng khoán với tư cách là một ngân hàng.

Người lập giá gồm có người lập giá tự do và người lập giá do Nhà nước đề cử Nhiệm

vụ của người lập giá do Nhà nước cử ra là xác định giá chính thức của chứng khoán trên cơ

sở tình hình giao dịch thực tế ở Sở giao dịch Người lập giá tự do là người trung gian môigiới các nghiệp vụ giao dịch giữa các ngân hàng khác với người lập giá tỷ giá do Nhà nước

ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp doanh khi tham gia kinh doanh chứng khoán,công ty chứng khoán chỉ cần đăng ký với Uỷ ban giao dịch chứng khoán Mức vốn phápđịnh không được đặt ra, nhưng công ty chứng khoán phải duy trì mức vốn khả dụng theoquy định của pháp luật, chẳng hạn: công ty chứng khoán chỉ làm một nghiệp vụ môi giớichứng khoán, vốn khả dụng tối thiểu là 500.000 H$, đối với nhà kinh doanh chứng khoántham gia hoạt động tự doanh vốn khả dụng tối thiểu đối với các pháp nhân (công ty) là3.000.000 H$; đối với thể nhân là 500.000 H$; đối với công ty hợp danh, từng thành viênpháp nhân là 3.000.000 H$, thể nhân là 500.000 H$

Hồng Kông không có quy định nào riêng biệt đối với các công ty chứng khoán nướcngoài kinh doanh trên thị trường và không có một sự phân biệt đối xử nào giữa các công tytrong nước và công ty nước ngoài

b Mô hình Malaysia

Trước đây các nhà kinh doanh chứng khoán Malaysia có thể là các cá nhân, công ty cổphần, công ty TNHH, công ty hợp danh Từ 1986, các nhà quản lý cho phép ngân hàngthành lập công ty con kinh doanh chứng khoán Các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu bao gồm:môi giới, tự doanh và bảo lãnh phát hành

Cũng như những thị trường mới nổi, Malaysia có các quy định hạn chế sự tham gia củanước ngoài Công ty chứng khoán nước ngoài chỉ được phép tham gia kinh doanh chứng

Trang 24

khoán dưới hình thức liên doanh với công ty chứng khoán trong nước Tỷ lệ góp vốn củaphía nước ngoài lúc đầu là 30%, sau đó là 49% Do thị trường và quản lý còn nhiều bất cậpnên trên thực tế chưa có công ty liên doanh nào nâng mức góp vốn trên 30%.

c Mô hình Trung Quốc

Các công ty chứng khoán Trung Quốc là công ty TNHH hoặc công ty cổ phần đượcthành lập theo luật công ty Các công ty chứng khoán được thành lập theo chế độ cấp phép

Cơ quan quản lý Nhà nước đảm nhiệm việc cấp phép là cơ quan giám quản chứng khoánthuộc Quốc vụ viện

Các nghiệp vụ kinh doanh chính gồm: môi giới, bảo lãnh phát hành, tự doanh Công tychứng khoán gồm 2 loại: công ty môi giới chỉ thực hiện chức năng môi giới, công ty chứngkhoán đa năng thực hiện đồng thời 3 nghiệp vụ

Điều kiện thành lập công ty đa năng và công ty môi giới chứng khoán:

+ Về vốn: đối với công ty đa năng, vốn điều lệ tối thiểu là 500 triệu Nhân dân tệ, công tymôi giới là 50 triệu Nhân dân tệ

+ Những người điều hành và nhân viên nghiệp vụ phải có giấy phép hành nghề chứngkhoán

+ Phải có địa điểm kinh doanh cố định và thiết bị giao dịch đủ tiêu chuẩn

+ Có chế độ quản lý hoàn chỉnh và có hệ thống kiểm tra nội bộ hoạt động tự doanh vàmôi giới chứng khoán hợp lý

CHƯƠNG II: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ỞVIỆT NAM HIỆN NAY

Qua nghiên cứu mô hình công ty chứng khoán ở một số nước trên Thế giới có thể thấy

sự thành lập, phát triển của các công ty chứng khoán gắn liền với sự hình thành, phát triểncủa thị trường chứng khoán Nó là một quá trình lâu dài Ở Việt Nam, thị trường chứngkhoán có nét đặc thù riêng, nó được hình thành và phát triển theo định hướng của Nhànước Do vậy, quá trình thành lập, hoạt động của các công ty chứng khoán cũng mangnhững đặc điểm riêng

Trang 25

2.1 Quá trình thành lập các công ty chứng khoán.

2.1.1 Mục tiêu hoạt động của các công ty chứng khoán

Trong 2-3 năm đầu, các công ty chứng khoán thuộc các ngân hàng chưa đặt vấn đềnguồn thu lớn từ TTCK Thị trường mới thành lập, quy mô nhỏ Vì vậy, mục tiêu trước mắt

là tìm hiểu, thăm dò thị trường, tạo lập quan hệ khách hàng, bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ

và tích luỹ kinh nghiệm cho đội ngũ cán bộ nhân viên Trên cơ sở đó, xúc tiến, triển khaicác phương án kinh doanh một cách hoàn chỉnh Để thực hiện điều này các công ty đã tiếnhành một số biện pháp như:

* Nắm bắt mọi động thái xu hướng phát triển, vận động của thị trường để đánh giá vàđúc rút những kinh nghiệm cần thiết ban đầu

* Triển khai một số nghiệp vụ thí điểm có chọn lọc để tập dượt và đúc rút những kinhnghiệm kinh doanh

* Bảo toàn vốn tích cực

* Xúc tiến các hoạt động quảng cáo, tiếp thị tạo lập quan hệ với khách hàng tiền năng Trong thời gian đầu các công ty chứng khoán chuyên doanh vẫn chưa đặt mục tiêu lợinhuận lên hàng đầu Trước mắt các công ty này tham gia thị trường một cách thận trọng,lần lượt triển khai các nghiệp vụ với mục đích làm quen với các hoạt động kinh doanhchứng khoán Từ đó rút ra những kinh nghiệm kinh doanh cần thiết ban đầu Họ đặt mụctiêu bảo toàn vốn, cắt giảm các chi phí không cần thiết, duy trì hoạt động động kinh doanhthật vững sau đó mới mở rộng và phát triển thị trường

2.1.2 Quá trình thành lập các công ty chứng khoán

Ở Việt Nam, trong giai đoạn đầu phát triển TTCK, vì quy mô thị trường còn nhỏ nên sốlượng các công ty chứng khoán hiện nay còn ít Điều này là phù hợp nhằm giảm sự cạnhtranh gay gắt trong bối cảnh chi phí ban đầu của các công ty khi mới thành lập là rất lớn màthu nhập còn nhỏ, chưa đủ khả năng bù đắp chi phí Ngoài ra, để đảm bảo nguyên tắc xâydựng thị trường chứng khoán hiệu quả và an toàn ngay từ giai đoạn đầu, hiện nay chúng ta

đã chọn ra các công ty có quy mô lớn và chất lượng cao tham gia hoạt động kinh doanhchứng khoán để giảm thiểu rủi ro Khi thị trường đã phát triển hiệu quả, quy mô và dunglượng thị trường đã lớn, số lượng công ty chứng khoán có thể sẽ tăng lên để đáp ứng nhucầu thị trường Hiện nay có 07 công ty chứng khoán đã thành lập và đi vào hoạt động

Trang 26

Bảng 1: Danh sách các công ty chứng khoán.

Số thứ

tự Tên công ty

Vốn

ĐL (tỷVNĐ)

Các HĐ nghiệpvụ

HĐKDCK

Số NVhànhnghề

03

Trang 27

2.2 Mô hình công ty chứng khoán ở Việt Nam

Qua nghiên cứu mô hình công ty chứng khoán của các nước ta có thể nhận thấy hầunhư các thị trường từ các thị trường phát triển đến các thị trường mới nổi đều cho phép cácngân hàng tham gia vào kinh doanh chứng khoán ở mức độ và phạm vi khác nhau Ngay cảnhững thị trường phát triển như Mỹ, Nhật trước đây không cho phép các ngân hàng thamgia vào hoạt động chứng khoán hiện đều có các quy định nới lỏng và có xu hướng chuyểndần từ mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh thuần tuý sang mô hình đa năng kiểuAnh, tức là các ngân hàng được phép tham gia kinh doanh chứng khoán thông qua cáccông ty con độc lập

Ở Việt Nam hiện nay, ngành chứng khoán cũng như hoạt động kinh doanh chứng khoán

là hoàn toàn mới mẻ không những đối với dân chúng mà ngay cả đối với các tổ chức kinhdoanh ở nước ta Việc tham gia của các tổ chức tín dụng cụ thể là các ngân hàng thươngmại vào kinh doanh chứng khoán trong giai đoạn đầu của thị trường như hiện nay là hếtsức cần thiết Với đội ngũ cán bộ đã được đào tạo và đã thông thạo việc kinh doanh cáccông cụ của thị trường tiền tệ, có kinh nghiệm trong việc đánh giá các dự án đầu tư và vớimạng lưới hoạt động rộng rãi trên khắp cả nưóc, việc tham gia của các ngân hàng sẽ gópphần phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam Có thể nhận thấy mô hình công tychứng khoán ở Việt Nam hiện nay chính là sự kết hợp giữa mô hình ngân hàng đa năngmột phần và mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán Chúng ta đã học tập và rút kinhnghiệm từ mô hình các nước và hạn chế tiêu cực có thể phát sinh từ đó không ngừng nângcao hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán

Các công ty chứng khoán với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và bộmáy tổ chức thích hợp là người trung gian môi giới, mua bán, bão lãnh phát hành chứng

Trang 28

khoán, tư vấn đầu tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả người đầu tư và người pháthành trên thị trường chứng khoán Hoạt động của các công ty chứng khoán có ảnh hưởnglớn tới lợi ích của đông đảo công chúng Do đó, yêu cầu pháp lý đối với các công ty chứngkhoán là rất chặt chẽ.

2.3 Những quy định pháp lý đối với các công ty chứng khoán

2.3.1 Hình thức pháp lý của các công ty chứng khoán

Nghị định 48-1998-NĐ-CP ban hành ngày 11/07/1998 về chứng khoán và TTCK quyđịnh:

Công ty chứng khoán phải là các công ty cổ phần hoặc là công ty TNHH có đủ các điềukiện:

* Có phương án hoạt động kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội

* Có đủ cơ sở vật chất phục vụ cho việc kinh doanh chứng khoán

* Có mức vốn pháp định theo từng loại hình kinh doanh:

+ Môi giới: 3 tỷ VNĐ

+ Tự doanh: 12 tỷ VNĐ

+ Quản lý danh mục đầu tư: 3 tỷ VNĐ

+ Bảo lãnh phát hành: 22 tỷ VNĐ

+ Tư vấn đầu tư chứng khoán: 3 tỷ VNĐ

Công ty chứng khoán kinh doanh trên nhiều loại hình thì vốn pháp định là tổng số vốnpháp định của từng loại hình kinh doanh đó

* Giám đốc (Tổng giám đốc), các nhân viên kinh doanh (không kể nhân viên kế toán,hành chính, thủ quỹ) của công ty chứng khoán phải có giấy phép hành nghề kinh doanhchứng khoán do UBCKNN cấp

Việc bắt buộc công ty chứng khoán phải là công ty cổ phần hoặc công ty TNHH nhằmbảo vệ lợi ích khách hàng, tránh tình trạng thâu tóm, thao túng doanh nghiệp phục vụ lợiích của một số người Ngoài ra, công ty cổ phần hay công ty TNHH sẽ phải tuân thủ chế độthông tin, báo cáo chặt chẽ hơn, cũng như yêu cầu về quản lý phải cao hơn

Trang 29

2.3.2 Sự tham gia kinh doanh chứng khoán của các tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm vàtổng công ty.

Các tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm, Tổng công ty muốn tham gia kinh doanh chứngkhoán phải thành lập công ty chứng khoán độc lập Đây chính là sự kết hợp giữa mô hìnhngân hàng đa năng một phần và mô hình tự doanh mà hiện nay đang được áp dụng rộng rãitrên thế giới Ngân hàng đa năng với phạm vị kinh doanh rộng rãi do đa dạng hoá hoạtđộng kinh doanh có lợi thế hơn hẳn so với các công ty chứng khoán đơn thuần trong việcsan bằng chi phí và phân tán rủi ro Thu nhập của nó ổn định hơn và do đó các nguồn vốncủa nó cũng ổn định hơn Vì vậy, các ngân hàng đa năng có khả năng chống đỡ cao đối vớinhững tiến triển không thuận lợi trên thị trường chứng khoán Tuy nhiên, mô hình đa năngcũng có những nhược điểm nhất định Khi tham gia vào hoạt động bão lãnh phát hànhchứng khoán, các ngân hàng thương mại phải đương đầu với mâu thuẫn lợi ích tiềm năng

do sự lạm dụng trong kinh doanh chứng khoán của họ Có ngân hàng đứng ra bão lãnh cácchứng khoán mới phát hành đã bán các chứng khoán cho các quỹ tín thác do họ quản lý khi

họ không thể bán chúng cho người khác và các quỹ tín thác này thường xuyên phải chịu lỗkhi các chứng khoán bán chậm hoặc chứng khoán không bán được Các trường hợp tương

tự xẩy ra khi bản thân các ngân hàng phải mua chứng khoán mà họ tham gia bảo lãnh khicác chứng khoán không thể bán được Hậu quả của việc mua các tài sản chất lượng kém cóthể dẫn đến các tổn thất sau này cho các ngân hàng.Việc các ngân hàng thương mại đượckinh doanh chứng khoán trong nhiều trường hợp có thể gây nguy hại cho khách hàng dokinh doanh mang tính đầu cơ của các ngân hàng Có nhiều trường hợp trong đó các ngânhàng đã dùng tiền gửi của công chúng để đầu cơ chứng khoán với khối lượng lớn làm ảnhhưởng giá cả trên thị trường

2.3.3 Chế độ quản lý

Hiện nay, ở Việt nam quy định chế độ cấp giấy phép hoạt động đối với các công tychứng khoán UBCKNN là cơ quan quản lý nhà nước cấp giấy phép hoạt động đối với cáccông ty này Việc duy trì chế độ cấp giấy phép đối với các công ty xin hoạt động kinhdoanh chứng khoán là điều đặc biệt cần thiết Thực tế cho thấy, chỉ ở một số thị trườngphát triển mới áp dụng chế độ đăng ký hoạt động và không đưa ra bất kỳ quy định nào vềmức vốn pháp định tối thiểu yêu cầu đối với một công ty xin kinh doanh chứng khoán Tuy

Ngày đăng: 20/10/2017, 04:10

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w