1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

T gi h i o i v vi c p d ng ch t gi Vi t Nam

49 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 271 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy : Tỷ giá hối đoái theo cách hiểu thông thường là sự so sánh giá trị giữa đơn vị tiền tệ khác nhau của các nước có quan hệ với nhau.Hay nói cách khác : Tỷ giá hối đoái là giáchuyể

Trang 1

http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ án,

báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cả mọingười Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp của quýkhách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý khách gửi về

luanvanpro.com@gmail.com

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/

Tỷ giá hối đoái và việc áp dụng chế độ tỷ giá ở Việt Nam

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra một cách sâu sắc, toàn diện trên phạm vitoàn thế giới Nó là quy luật khách quan mà Việt Nam cần sớm nắm bắt và vận dụng Việctham gia vào nền kinh tế khu vực và thế giơi sẽ mở ra cho chúng ta nhiều cơ hội đồng thờicũng đặt ra những thách thức không nhỏ đòi hỏi phải có những chính sách phù hợp Mộthoạt động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế là ngoại thương Nhân tốquyết định tới sự thành công hay thất bại của chính sách kinh tế đối ngoại phải kể đến vai tròquan trọng của chế độ tỷ giá hối đoái của mỗi quốc gia Chúng ta chưa quên sự can thiệp bấtthành của 15 ngân hàng Trung ương trước sự sụp đổ của hệ thống tỷ giá hối đoái Châu Âunhững năm 90; sự phá giá bất ngờ của đồng bảng Anh tháng 9/1992 trước sự tấn công củanhững kẻ đầu cơ, mặc dù đã có sự can thiệp tích cực cuả Ngân hàng Trung ương Đức vàAnh với khối lượng 15 tỷ bảng Anh; hay hai sự kiện làm rung chuyển thế giới chỉ trong mộtthời gian ngắn Đó là: Sự khủng hoảng của đồng Pê-sô (Mêhicô) tháng 12/1994 và sự mấtgiá kỷ lục trong năm 1995, rồi lại sự lên giá đột biến của USD năm 1996

Là một nước đang đi những bước đầu tiên tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế cả vềphương diện lý luận lẫn thực tiễn, hơn bao giờ hết việc nghiên cứu tỷ giá hối đoái đang trởthành vấn đề cấp bách đặt ra cho chúng ta Xuất phát từ thực tế khách quan đó, trong bài viếtnày, em xin đề cập tới vấn đề: "Tỷ giá hối đoái và việc áp dụng chế độ tỷ giá ở Việt Nam."Cấu trúc bài viết gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan về tỷ giá hối đoái

Chương II: Thực trạng tỷ giá hối đoái ở Việt Nam trong những năm gần đây

Chương III: Một số giải pháp góp phần bổ xung, hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái ở ViệtNam

Tỷ giá hối đoái là vấn đề mới mẻ và rất phức tạp Hơn nữa, trong quá trình nghiên cứu,những khiếm khuyết và hạn chế là khó tránh khỏi Vì vậy, em rất mong được các thầy côgóp ý phê bình để những bài viết sau đạt chất lượng tốt hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

I KHÁI NIỆM TỶ GIÁ:

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, vai trò của thương mại quốc tế ngày càngđược nâng cao, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà phân công lao động quốc tế đã đạtđến giai đoạn cao và mang tính toàn cầu, thương mại quốc tế trở thành vấn đề mang tínhchất sống còn đối với mỗi quốc gia và là mối quan tâm hàng đầu của mọi tổ chức kinh tếtrên thế giới Các quan hệ thương mại , tín dụng , đầu tư, khoa học kỹ thuật đều có giá cả ,biểu hiện bằng những đồng tiền khác nhau của những nước khác nhau Do hệ thống tiền tệ

và chính sách giá cả mỗi nước một khác, nên việc thanh toán giữa các nước đòi hỏi phải sosánh giá trị , sức mua của các đồng tiền khác nhau, và thanh toán với nhau không theo giá cảcủa từng nước mà theo giá cả quốc tế( còn gọi là giá ngoại thương) Từ đó xuất hiện kháiniệm tỷ giá hối đoái

Như vậy : Tỷ giá hối đoái theo cách hiểu thông thường là sự so sánh giá trị giữa đơn vị tiền

tệ khác nhau của các nước có quan hệ với nhau.Hay nói cách khác : Tỷ giá hối đoái là giáchuyển đổi từ một đơn vị tiền tệ nước này sang thành những đơn vị tiền tệ nước khác

Ví dụ, trên thị trường hối đoái Việt Nam ngày30/06/2000 là 14087 VND/USD thì đó là tỷgiá hối đoái của đồng Việt Nam so với đô la Mỹ

Trên phương diện kinh tế, tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế vốn có cuả nền sản xuấthàng hoá, nó cho thấy sức mua đối ngoại thực tế của một đồng tiền trên thị trường quốc tế Tuy nhiên, không phải đồng tiền quốc gia nào cũng được nhận để thanh toán bên ngoài quêhương của nó Để chuyển đổi ra nội tệ của nước nào đó, nó phải được ngân hàng nước đóthu mua Trên thế giới hiện nay có một số ngoại tệ mạnh được sử dụng rộng rãi, phổ biếnnhư: USD(Mỹ), JPY(Nhật), Bảng (Anh)

Trang 5

II.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI.

1 Thời kỳ lưu thông tiền vàng và tiền đúc :

Từ trước công nguyên, sau cuộc phân công lao động xã hội lần thứ 2, vàng và bạc đúc thànhthỏi đã trở thành đồng tiền ngự trị các loại tiền khác như : ốc , vỏ sò , da thú và dần chiếm

vị trí độc tôn trên thị trường hàng hoá tiền tệ.Tuy nhiên do việc dùng vàng thỏi tính theotrọng lượng đã gây rất nhiều khó khăn cho trao đổi , nên tiền đúc đã ra đời Bắt đầu từ cuộcphân công lao động lần thứ 3 , trong lưu thông đã xuất hiện loại tiền đúc của các lái buôngiàu có ( khắc tên người phát hành vàng và trọng lượng vàng ) về sau do thương nghiệp mởrộng thì tiền đúc không còn do các thương nhân, nhà thờ đúc mà do nhà nước Mỗi nướctuỳ theo phong tục của mình đã đưa ra những đồng tiền riêng mang dấu ấn quốc gia và khácvới đòng tiền các quốc gia khác về trọng lượng và đơn vị đồng tiền , với đơn vị tiền vàngkhác nhau, dẫn đến xu hướng người dân nước nào sử dụng đồng tiền nước đó Trong quan

hệ ngoại giao, việc xác định tỷ giá trao đổi hoàn toàn giản đơn, chỉ việc so sánh trọng lượngkim loại thực tế của hai đồng tiền với nhau

2 Chế độ bản vị vàng và vàng - hối đoái :

Trong chế độ này, việc xác định tỷ giá giữa các đồng tiền vẫn là việc so sánh trọng lượngvàng mà mỗi đơn vị tiền giấy làm đại biểu , hay có thể nói là việc so sánh hàm lượng vàngchứa đựng trong mỗi đơn vị tiền tệ của mỗi nước

Tỷ giá hối đoái trong giai đoạn này giao động xung quanh điểm vàng Điểm vàng là nganggiá vàng của các đồng tiền cộng ( hoặc trừ) chi phí vận chuyển vàng( phí vận tải , phí bảohiểm, phí đóng góp và thủ tục phí) giữa các nước hữu quan Khi tỷ giá vượt điểm vàng thìnước mắc nợ sẽ không dùng tiền quốc gia mình để mua ngoại tệ dùng vào việc trả nợ, mà họ

sẽ chuyển vàng ra nước ngoài để trả nợ

Với đặc trưng này chế độ bản vị vàng là một chế độ ổn định , sức mua của đồng tiền rất ítkhi bị biến động Trong giai đoạn đầu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa , chế độ này đã tỏ ra

có nhiều ưu điểm Nó có khả năng điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông một cách tự phátkhông cần đến sự can thiệp của nhà nước theo cơ chế: sự tăng giảm khối lượng tiền tệ trong

Trang 6

lưu thông luôn tỷ lệ nghịch với sự tăng giảm dự trữ vàng trong nền kinh tế Do đó , việc lựachọn phương hướng xử lý tỷ giá rất ít khi phải đặt ra.

Tuy có nhiều ưu điểm làm cho chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng trong giai đoạnđầu, nhưng chế độ bản vị vàng không tồn tại được lâu Nguyên nhân chính là do trong nềnkinh tế thế giới có sự phát triển không đồng đều giữa các nước, dẫn đến một hiện tượng tấtyếu là những nước giàu tích trữ được nhiều vàng, còn những nước nghèo thì tiền dấu hiệutràn lan và họ cũng không có khả năng đúc vàng vì lượng vàng dự trữ đã cạn kiệt Để đốiphó với tình hình này, chính phủ ở các nước nghèo đã ngăn cấm việc xuất khẩu vàng tựdo.Như vậy, trong quan hệ giữa các nước chế độ bảo vệ mậu dịch tự do đã thay thế cho chế

độ mậu dịch tự do,vàng không còn được lưu thông giữa các nước- chế độ bản vị vàng bắtđầu tan giã vào đầu chiến tranh thế giới thứ nhất

Đến năm 1924, nước Anh chuyển chế độ bản vị vàng sang chế độ giấy bạc ngân hàng đượcchuyển đổi ra vàng không đầy đủ: Không lưu hành tiền đúc bằng vàng, tiền giấy chỉ đượcđổi lấy vàng thoi( chế độ bản vị vàng thoi- mỗi thoi nặng 12,444kg vàng ) Khi đó bảng Anh(GBP) là loại ngoại tệ mạnh chủ chốt trong thanh toán quốc tế, dự trữ quốc tế Tiền giấy củacác nước tuy không đổi được lấy vàng nhưng có thể đổi lấy bảng Anh Chế độ tiền tệ thôngqua ngoại tệ mạnh đổi lấy vàng gọi là chế độ bản vị vàng hối đoái ( ở đây là chế độ bản vịbảng Anh) Trong chế độ này bảng Anh được tự do chuyển đổi ra vàng:

1700 GBP = 400 ounce = 12,444 kg vàng

Khi bảng Anh sụp đổ thì cuộc săn vàng lại di chuyển ồ ạt sang Mỹ USD là loại ngoại tệmạnh thứ hai trên thế giới lúc bấy giờ Chính phủ Mỹ vì không muốn dự trữ vàng cạn kiệtnên đầu năm 1934 phải tuyên bố đình chỉ đổi USD ra vàng ở trong nước

Như vậy, từ năm 1934, tạm thời không còn đồng tiền nào có thể đổi ra vàng được nữa Mộtlần nữa tiền vàng lại rút khỏi lưu thông và thay thế bằng tiền dấu hiệu

3 Chế độ tỷ giá cố định - chế độ bản vị USD:

Đến năm 1944, tại hội nghị Bretton Woods, quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ra đời, với điều lệ đầutiên là xây dựng tỷ giá cố định cho mỗi đồng tiền Theo chế độ này, các nước phải quy định

Trang 7

giá không được vượt quá 1% của tỷ giá chính thức đã được đăng ký tại IMF Nếu vượt quábiên độ này thì ngân hàng TW phải can thiệp bằng cách mua vào hoặc bán ra một lượngUSD nhất định nhằm bảo vệ tỷ giá chính thức với USD Thông qua tiền tệ sẽ được đổi ravàng theo giá: 35 USD = 1 ounce vàng Như vậy về nguyên tắc vàng vẫn đóng vai trò trungtâm để so sánh sức mua của các đồng tiền với nhau thông qua USD.

VD: Nội dung vàng của GBP là 2,488281 gr vàng nguyên chất Như vậy đồng giá vàngcủa GBP sẽ là : 1 GBP = 2,488281/0,888671=2,8 USD Như vậy tỷ giá chính thức của1GBP sẽ là 2,8 USD nếu như không có những yếu tố trên thị trường tác động

Sở dĩ chế độ này có thể tồn tại trong suốt thời gian dài là do lúc đó Mỹ có lượng dự trữ vànglớn nhất thế giới 24,7 tỷ USD khoảng 20000 tấn vàng, chiếm 70% dự trữ vàng của thế giới

tư bản- USD trở thành phương tiện thanh toán và dự trữ quốc tế

Vào những năm 70, tình trạng khủng hoảng USD diễn ra thường xuyên, Mỹ đã phát hànhtrên 166 tỷ USD tiền giấy, điều này có nghĩa là ngân hàng TW của các nước luôn phải muaUSD để bảo vệ tỷ giá.Lượng USD này lại được đổi ở cục dự trữ liên bang Mỹ làm cho khovàng của Mỹ giảm đi nhanh chóng Để đối phó với tình ttạng này, ngày 15-08-1971 Mỹ đãphải tuyên bố ngừng chuyển đổi USD ra vàng theo tỷ giá chính thức Sau đó ngày 18-12-

1971 thì tuyên bố phá giá USD ở mức 7,89% Tới ngày 12-02-1973Mỹ lại phá giáUSD tiếp10% Qua 2 lần phá giá liên tiếp, chế độ bản vị USD sụp đổ hoàn toàn

Sau khi chế độ USD sụp đổ thì toàn bộ cơ chế thanh toán quốc tế tư bản chủ nghĩa bị hỗnloạn, USD bị dình chỉ đổi ra vàng Do đó trong thanh toán quốc tế giữa các nước, người tađòi hỏi ngày càng nhiều điều kiện đảm bảo bằng vàng Mặc dù Mỹ đã tìm mọi cách để loạivàng ra khỏi thanh toán quốc tế,nhưng một số nước (như Pháp) lại có xu hướng dùng vànglàm cơ sở cho thanh toán quốc tế Cuộc đấu tranh giữa các nước thông qua vấn đề vai tròcủa vàng ngày càng mạnh Tuy nhiên, không có dấu hiệu gì chứng tỏ hệ thống tiền tệ có thểphục hồi được chế độ bản vị vàng và vàng -hối đoái Các nước tư bản đã có kinh nghiệmkhông thể sử dụng đồng ngoại tệ mạnh đóng vai trò tiền tệ quốc tế được, bởi vì nhất địnhnước có đồng ngoại tệ mạnh đó sẽ lạm dụng, làm thiệt hại đến lợi ích của các nước khác

4 Chế độ bản vị SDR (Special Drawing Right)

Trang 8

Từ năm 1970, các nước tư bản hội viên của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã thành lập một cơchế tiền tệ – tín dụng mới để điều tiết cán cân thanh toán quốc tế mà không cần đến dự trữvàng hoặc ngoại hối

SDR không phải là tiền, nên không có nội dung vật chất, hình dáng, mầu sắc cụ thể, mà nóchỉ là một đơn vị thanh toán ghi sổ (chuyển khoản) trên danh nghĩa có nội dung vàng là0.888671 gr vàng nguyên chất (bằng 1 USD trước đây) IMF mở sổ riêng cho từng nước đểtheo dõi việc phân phối SDR Chỉ có những nước bị thiếu hụt trong cán cân thanh toán giữacác nước hội viên của IMF mới được vay để trả nợ Có thể nói đây là tiền ghi sổ của IMF.Các nước tư bản, thông qua quỹ tiền tệ quốc tế, trong nhiều năm đã cố gắng thực hiện cuộccải cách tiền tệ quốc tế trên tinh thần học thuyết phi tiền tệ hoá vàng, tức loại bỏ chức nănglàm tiền tệ quốc tế của vàng, xây dựng cho được một đồng tiền làm bản vị cho các quốc giatrên thế giới, thay thế cho USD làm chức năng thước đo giá trị, phương tiện chi trả và dự trữquốc tế, xoá bỏ chế độ công bố nội dung vàng của các đòng tiền quốc gia SDR là loại vànggiấy thay cho kim loại vàng do IMF phát hành

Các nước phương tây muốn nâng vai trò của vàng lên nhằm mục đích loại bỏ USD ra khỏi

vị trí một đồng tiền chủ đạo thao túng các đồng tiền khác trong hệ thống tiền tệ Như vậy,trong cuộc tranh chấp trên, nhiễm nhiên SDR được cả Mỹ và Tây Âu đưa lên làm phươngtiện thanh toán và dự trữ quốc gia, làm thước đo già trị của các đồng tiền khác Chế độ tiền

tệ mới ra đời – chế độ bản vị SDR Nội dung SDR ngày nay đã được thay đổi, không cònnội dung vàng nữa, mà được tính bằng 16 đồng tiền mạnh nhất thế giới Hiện nay là 5 đồngtiền mạnh của 5 quốc gia có tiềm lực về kinh tế tài chính

Kể từ khi thực hiên chế độ này, hàm lượng vàng chứa đựng trong mỗi đồng tiền đã mất dần

đi ý nghĩa kinh tế của nó Việc xác định tỷ giá không dựa vào ngang giá vàng như trước đây

mà hoàn toàn thả nổi theo quan hệ cung cầu về ngoại hối trên thị trường Qua đó việc xácđịnh tỷ giá được hợp lí hơn, chính xác hơn Thông qua việc xác định tỷ giá chéo người tacũng có được tỉ giá hối đoái của các đồng tiền các nước với nhau

Trang 9

Mối quan hệ giữa người sản xuất hàng hoá trong nước với thị trường thế giới đựoc thực hiệnthông qua tỷ giá hối đoái – một phạm trù kinh tế vốn có của nền sản xuất hàng hoá Do đó tỷgiá hối đoái có những chức năng sau:

III.1 Chức năng so sánh sức mua

Phạm trù tỷ giá hối đoái thể hiện trong mối tương quan sức mua của hai đồng tiền so sánh.Như ta đã biết: khi tiền tệ thực hiện chức năng thước đo giá trị, nó đã biến giá trị của hànghoá, dịch vụ thành hình thức giá cả Điều đó chứng tỏ giá cả hàng hoá chính là sự biểu hiệnbằng tiền của giá trị hàng hoá Chính vì vậy mà mọi sức tăng giảm của giá cả hàng hoá, dịch

vụ trên thị trường cho thấy sức mua của tiền tệ giảm đi hay tăng lên Nếu như trong đồngngoại tệ có sức mua cố định trong khi sức mua của đồng nội tệ tăng hay giảm thì tỷ giá hốiđoái giữa đồng nội tệ với đồng khác cũng tăng hoặc giảm Giá cả của hàng hoá, dịch vụ trênthị trường nội địa và thị trường thế giới có thể so sánh với nhau thông qua tỷ giá hối đoái.Nhờ đó mà các quốc gia có thể tính toán được mức chênh lệch về năng suất lao động ở trongnước với thế giới như thế nào, tính toán được hiệu quả của các hoạt động kinh tế đối ngoại.Qua chức năng so sánh sức mua của các đồng tiền, tỷ giá hối đoái trở thành một công cụquan trọng trong việc hoạch định các chiến lược phát trển, các hoạt động ngoại thương, cácchính sách kinh tế đối ngoại, các dịch vụ đối ngoại và các hoạt động kinh tế khác ở trong vàngoài nước

III.2 Chức năng điều chỉnh xuất nhập khẩu và thu chi quốc tế

Đây là một chức năng quan trọng nhất của tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là một phạm trùkinh tế – tài chính, đựơc sử dụng như một công cụ để so sánh về giá trị các chi phí sản xuấtcủa một doanh nghiệp với các giá cả trên thị trường thế giới, nó phản ánh kết quả các hoạtđộng kinh tế đối ngoại của các nước trọng một thời kì nhất định Vì thế, thông qua việc biểuhiện tương quan giá trị các đồng tiền của các nước với nhau mà tỷ giá hối đoái có một vaitrò quan trọng đối với quá trình trao đổi ngang giá và cùng với nhiều nhân tố khác, tỷ giá hốiđoái tác động tương quan giữa giá cả hàng hoá xuất nhập khẩu cũng như khả năng cạnhtranh của hàng hoá các nước

Trang 10

Trong trường hợp đồng bản tệ xuống giá- Tỷ giá của đồng bản tệ tăng so với đồng ngoại tệ.Giả dụ đầu năm 1USD = 11.000 VNĐ cuối năm 1USD = 13.000 VNĐ, tức là một đơn vịngoại tệ đổi được nhiều đơn vị bản tệ hơn trước Để thu được một lượng ngoại tệ như đầunăm, vào cuối năm nhà xuất khẩu đầu tư nước ngoài khi bán hàng vào Việt nam buộc phảităng giá (Tính theo VNĐ) Bởi nếu nhà sản xuất xuất khẩu không tăng giá thì họ sẽ bị thiệtthậm chí lỗ.

Trong khi đó, việc đồng bản tệ xuống giá lại có xu hướng kích thích tăng cường khối lượngđẩu tư xuất khẩu Bởi vì : cũng là một lượng ngoại tệ thu được do xuất khẩu có thể đổi đượcnhiều bản tệ hơn Do vậy, nhà xuất khẩu khi thấy tỉ giá của đồng bản tệ tăng so với đồngngoại tệ có thể bán hàng ra nước ngoài với gía rẻ hơn vẫn thu được một khoảng lợi nhuậnnhư trước (Tính theo đồng bản tệ)

Tình hình sẽ hoàn toàn ngược lại khi đồng bản tệ lên giá-Tỷ giá của đồng bản tệ giảm so vớiđồng ngoại tệ

Như vậy, tỷ giá hối đoái có thể điều các hoạt động xuất nhập khẩu về tỷ trọng, khối lượng và

cơ cấu mặt hàng……

Ngoài khả năng điều tiết hoạt động xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái còn tác động trực tiếpđến các hoạt động kinh tế đối ngoại khác

Trong quan hệ vay nợ quốc tế, khi đồng bản tệ của nước đi vay mất giá, các khoản nợ thực

tế của của đồng bản tệ giảm xuống, nhưng gáng nặng nợ nước ngoài tăng lên Chính vì vậychúng ta vay nợ nước ngoài với tỷ giá 900đ/1USD mà hiên nay là 15.000đ/1USD

Ngoài ra tỷ giá hối đoái còn ảnh hưởng đến dòng vốn tiền tệ từ những hoạt động mang tínhchất phi mậu dich như : Du lịch, kiều hối …

Tỷ giá hối đoái còn có chức năng điều tiết mặt bằng giá cả trong nước Khi giá trị của đồngbản tệ giảm sẽ hạn chế nhập khẩu, song với nhưng mặt hàng thiết yếu phục vụ cuộc sống vàyếu cầu phát triển kinh tế thì khi giá cao vẫn phải nhập về, vì thế giá cả của mặt hàng nàytất nhiên sẽ tăng do đó ảnh hưởng tới mặt bằng giá cả nói chung

Trang 11

Tỷ giá hối đoái thể hiện chức năng phân phối của mình thông qua sự thay đổi thu nhập củacác ngành kinh tế đối ngoại nói riêng và các ngành kinh tế quốc dân nói chung Nhờ có chứcnăng này, Nhà nước đã sử dụng tỷ giá hối đoái như một công cụ quan trọng điều tiết phânphối lại thu nhập giữa các nước có quan hệ với nhau Một số nước có quan hệ với nhau Một

số nước đã xử dụng tỷ giá hối đoái như một công cụ lợi hại trong cuộc chiến tranh thươngmại, giành giật thị trường

Ví dụ: trong những năm 1994-1996, Mỹ đã kéo dài thời gian không can thiệp vào việc giảmgiá USD so voi yên Nhật (JPY) Điều này đã gây khó khăn cho Nhật Bản xuất khẩu hànghoá sang thị trường Mỹ, đặc biệt là mặt hàng xe hơi Đây là đòn kinh tế nặng nề của Mỹdành cho Nhật Bản Nó làm giảm thu nhập lớn tới ngành sản xuất xe hơi ở Nhật Bản

IV CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ CỐ ĐỊNH VÀ THẢ NỔI, NHƯNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ

Đối với mỗi quốc gia và ngay trên phạm vi quốc tế thì việc lựa chọn, áp dụng chế độ tuỷ giánào là hết sực quan trọng Bởi vì các chế độ tỷ giá khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác sẽ cóảnh hưởng khác nhau đến cân bằng kinh tế đối ngoại (cán cân thanh toán quốc tế), xuất nhậpkhẩu, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp …Cho đến nay, chúng ta

đã biết đến 3 chế độ tỷ giá cơ bản, đó là : Chế độ bản vị vàng, chế độ tỷ giá cố định và chế

Trang 12

các đồng tiền theo giá cả thị trường tự do thì chúng ta lang thang, quanh quẩn như vị thuỷthủ say khướt”.

Những ưu điểm của tỷ giá cố định là :

Tỷ giá giữa các đồng tiền được ấn định cố định , không thay đổi cho nên đã khuyến khíchđược thương mại quốc tế phát triển, phát huy được lợi thế so sánh của mỗi quốc gia trongngoại thương, thúc đẩy quá tình phân công lao động quốc tế tăng năng suất lao động, giảmthất nghiệp và ổn định giá cả

Tỷ giá cố định đã khuyến khích được sự chung chuyển tư bản giữa các quốc gia.Vốn tư bảnđược chuyển đến nhiều nghành nhiều quốc gia mà ở đó ầu tư có hiệu quả cao Nhu vậy, xéttrong phạp vi quốc tế thì tổng đầu tư sẽ nhiều hơn ,góp phần tăng cường tiềm lực kinh tếtrong mỗi quốc gia

Những hạn chế :

Chế độ tỷ giá cố định là chế độ tỷ giá được hình thành không do ảnh hưởng của quan hệcung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối mà bằng sự ấn định chủ quan mang tính chất ápđặt của chính phủ Vì tỷ giá là một công cụ tài chính hết sức nhậy cảm và quan trọng, chịutác động bởi nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô, như:

Trang 13

Tốc độ tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp, lạm phát lãi suất…Cho nên sự biến động thườngxuyên của nó với mức độ khác nhau là điều khó tránh khỏi Do đó, việc tỷ giá công bố (cốđịnh) tách rời khỏi giá trị thực của đồng tiền là tất yếu.

Nhìn chung, khi một đồng tiền được định giá thấp thì chính phủ đễ duy trì nó hơn la khi nóđược định giá cao Những quố gia có đồng tiền định giá cao phải bán nguồn dự trữ ngoại tệcủa mình trên thị trường hối đoái, nhưng điều này là có giới hạn vì nó còn phụ thuộc vàonguồn dự trữ ngoại tệ của chính phủ Ngược lại, những quốc gia có đồng tiền định giá thấp,chỉ cần bán đồng tiên của mình trên thị trường hối đoái là dự trư ngoại tệ sẽ tăng lên Về khảnăng thực hiên biện phấp này đối với chính phủ là không hạn chế, song điều này sẽ gây lạmphát trong nước Chính hạn chế này đã khiến hệ thống Bretton Woods sụp đổ là một tất yếu

IV.2 Chế độ tỷ giá thả nổi

Sau khi hên thống Bretton Woods sụp đổ hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thả nổi tỷgiá Tuy nhiên, thả nổi tỷ giá cũng được chia làm hai loại: Thả nổi tự do và thả nổi có quảnlý

Chế độ thả nổi tự do là chế độ mà tỷ giá hối đoái không có sự can thiệp nào của chính phủ,hoàn toàn do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định Chế độ tỷ giá này chỉ áp dụng ởcác nước có nền kinh tế phát triển cao

Chế độ thả nổi có quản lý là chế độ mà về nguyên tắc, việc hình thành tỷ giá hối đoái cũng

do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết định, nhưng không phải hoàn toàn Trong nhữngtrường hợp cần thiết chính phủ sẽ có những biên pháp can thiệp để dữ vững sức mua củađồng tiền trong nước

Chế độ tỷ giá thả nổi đã được sử dụng hơn 20 năm nay cho ta thấy những ưu điểm và hạnchế sau:

Ưu điểm:

Chế độ tỷ giá này được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị trườngngoại hối, các quan hệ này thường xuyên biến động theo nhiều nhân tố kinh tế Do đó tỷ giáluôn luôn linh họat

Trang 14

Hạn chế:

Tính không ổn định là dặc trưng cơ bản của chế độ tỷ giá thả nổi Mặc dù có một số quanđiểm ủng hộ cho chế độ tỷ giá này và cho rằng biến động của tỷ giá chỉ ở trong một giới hạnnhất định, phản ánh mức độ khác nhau trong lạm phát giữa các quỗc gia và coi đó như làmột công cụ bù trừ trong điều chỉnh những thay đổi thực tế của các yếu tố kinh tế Trongthực tế, tính không ổn định của chế độ thả nổi tỷ giá thể hiên ở chỗ : tỷ giá biến động mộtcách thường xuyên, không thể dự đoán được chiều hướng tăng hay giảm của nó trong thờigian tới Không ổn định về tỷ giá sẽ dẫn tới không ổn định về thị trường ngoại tệ và thịtrường hàng hoá

Chế độ thả nổi là một trong những nguyên nhân làm tăng tốc độ lạm phát Thực tế đã chứngminh được rằng việc áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi đã gây ra lạm phát ở hầu hết các quỗc gia,với tốc độ ngày càng cao Tỷ giá của một đồng tiền giảm xuống đã trở thành nguyên nhânlạm phát trong nền kinh tế, do giá cả hàng hoá nhập khẩu tăng lên Vì vậy, chế độ tỷ giá thảnổi trong một số trường hợp không những không kiềm chế được lạm phát mà còn làm cholạm phát diễn ra ngày càng nhanh hơn

Qua việc phân tích hoạt động của các chế độ tỷ giá và phân tích hạn chế của chúng, chúng tathấy rằng: Để ổn định (đối nội và đối ngoại) và phát triển kinh tế mỗi quốc gia, thì ổn định

tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng, ổn định không có nghĩa là cố định tỷ giá mà là chủđộng điều chỉnh (can thiệp) tỷ giá đi theo những chiều hướng có lợi trong những điều kiện

cụ thể theo những mục tiêu đề ra Ngày nay, để đạt được sự ổn định trong lĩnh vực tỷ giá thìngoài những cố gắng, lỗ lự của mỗi quốc gia còn đặt ra yêu cầu khách quan không thể phủnhận, đó là hợp tác có hiệu quả giữa các quốc gia trong lĩnh vực này

V CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU ĐIỀU CHỈNH

TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI

V.1 Các nhân tố ảnh hưởng

Trang 15

Là một phạm trù kinh tế phức tạp, tỷ giá hối đoái của một đồng tiền ổn định hay thườngxuyên biến động là do có sự tác động của nhiều nhân tố Sau đây là một số nhân tố ảnhhưởng chủ yếu:

Tỷ lệ lạm phát của nền kinh tế, tốc độ lạm phát có ảnh hưởng lớn đến tỷ giá hối đoái Sựtrênh lệch về tốc độ lạm phát của một nước so với một số nước khác sẽ làm cho tỷ giá hốiđoái của đồng tiền nước đó so với đồng tiền nước ngoài bị biến động Một nước có mức lạmphát cao hơn các nước khác thì sức mua của đồng tiền nước đó sẽ thấp hơn các nước khác.Khi đó thì tỷ giá hối đoái của đồng tiền xẽ thấp hơn so với đồng tiền các nước khác vàngược lại

Tình hình về quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị trường hối đoái : tại một thời điểm nào

đó, nếu cung về ngoại tệ lớn hơn cầu về ngoại tệ thì tỷ giá ngoại tệ sẽ bị sụt mạnh, tỷ giá tiềntrong nước sẽ được nâng lên và ngược lại, tình trạng này giống như quan hệ về cung cầu vềhàng hoá trên thị trường

Sự tác động của các giao dịch trên thị trường hối đoái và các hoạt động đầu cơ ngoại tệ (chủyếu trên thị trường tư nhân) làm cho tỷ giá biến động

Sự tăng truởng hay suy thoái của nền kinh tế cũng là một nguyên nhân ảnh hưởng đến tỷ giáhối đoái Mức độ tăng, giảm GDP thực tế cũng sẽ làm tăng hay giảm nhu cầu về ngoại tệ, từ

đó làm cho tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ tăng lên hay giảm đi

Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước cũng ảnh hưởng rất lớn tới tỷ giá hối đoái Khi lãisuất thực tế trong nước tăng làm cho nhu cầu về nội tệ để đầu tư tăng do đó làm tăng sứcmua của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ, làm tăng tỷ giá của đồng nội tệ và ngược lại Lãixuất tiền gửi bằng ngoại tệ tăng làm cho lượng ngoại tệ vào nhiều làm dịu nhu cầu về ngoại

tệ làm cho tỷ giá đồng nội tệ tăng lên…

Ngoài ra sự biến động của tỷ giá hối đoái có thể do tác động của các sự kiện kinh tế xã hội,

do ảnh hưởng của chiến tranh, thiên tai …

V.2 Một số biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái:

Ngày nay, dấu hiệu giá trị cũng như các phương tiện lưu thông hiện đại được sử dụng rấtphổ biến Trong điều kiện ấy, vấn đề tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở cả

Trang 16

tầm vi mô và vĩ mô đều thực sự trở thành vấn đề lớn trong chính sách tiền tệ của bất cứ quốcgia nào Việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái có thể sử dụng 1 số biện pháp sau:

Điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu: 1 trong số những biện pháp mà ngân hàng Trung ương sửdụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái là biện pháp điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu, nhằm thayđổi quan hệ cung cầu về ngoại tệ trong nước Khi tỷ giá hối đoái trong nước bị giảmthấp đi, nếu NHNN tăng lãi suất tái chiết khấu thì những nguồn ngoại tệ sẽ chảy vào trongnước góp phần làm dịu bớt căng thẳng về ngoại tệ, do đó làm cho tỷ giá hối đoái của đồngtiền trong nước nâng dần lên và ngược lại.Tuy nhiên, chính sách lãi suất tái chiết khấu cũng

có những hạn chế nhất định, vì quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá chỉ là quan hệ tác động qua lạimột cách gián tiếp, chứ không phải quan hệ trực tiếp nhân quả.Các yếu tố để hình thành lãisuất và tỷ giá không giống nhau, do đó biến động của lãi suất không nhất thiết phải kéo theobiến động của tỷ giá Lãi suất cao có thể thu hút vốn ngắn hạn từ nước ngoài, nhưng nếu tìnhhình kinh tế chính trị xã hội không ổn định thì khó có thể thực hiện được vì vấn đề an toànvốn phải đặt lên trên hết Khủng hoảng 1971-1973 ở Mỹ là một ví dụ Mặc dù lãi suất trênthị trường New- York cao gấp rưỡi thị trường London, gấp 3 thị trường Frankfurk nhưngvốn ngắn hạn không được chuyển vào Mỹ mà lại được đưa đến Tây Đức và Nhật Bản

Can thiệp ngoại hối: Thông qua việc áp dụng biện pháp điều chỉnh này, NHNN trực tiếp canthiệp vào thị trường hối đoái bằng các hoạt động mua bán vàng và ngoại tệ nhằm điều chỉnhquan hệ cung cầu về hàng và ngoại tệ trên thị trường, từ đó tỷ giá hối đoái của đồng tiềntrong nước được điều chỉnh.Tuỳ điều kiện quốc gia mà việc tổ chức thực hiện nghiệp vụ này

có sự khác nhau về phạm vi, quy mô tác động Với những nước có nền kinh tế phát triểncao, các nghiệp vụ thị trường hối đoái được thực hiện trên quy mô rộng lớn đôi khi mở ratrên phạm vi cả một khu vực, thậm chí thế giới.Điều chỉnh tỷ giá theo phương pháp này,Chính phủ thường gặp phải phản ứng ngược chiều nhau của các doanh nghiệp cũng như cáctầng lớp dân cư trong xã hội bắt nguồn từ lợi ích kinh tế Những mâu thuẫn này thường xảy

ra giữa những nhà xuất khẩu và nhập khẩu, giữa những người đang nắm trong tay lượngngoại tệ lớn và những người trong túi chỉ có nội tệ

Trang 17

Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, Chính phủ cần có lượng dự trữ ngoại tệ đủ lớn đểcan thiệp vào thị trường khi cần thiết Điều đó có nghĩa là cần lập quỹ dự trữ bình ổn hốiđoái Nguồn vốn để hình thành quỹ này là :

-Phát hành trái phiếu kho bạc bằng tiền nội tệ

-Sử dụng vàng để lập quỹ bình ổn hối đoái

Hạn chế của công cụ này là nó chỉ tác động lớn khi khủng hoảng tiền tệ ít nghiêm trọng.Hơn nữa, việc lập quỹ bình ổn hối đoái đòi hỏi các quốc gia phải có một thực lực nhất định

về kinh tế

Phá giá tiền tệ: Phá giá đồng tiền là việc Nhà nước chính thức hạ thấp sức mua của đồng tiềnnước mình so với các ngoại tệ hay là việc nâng cao tỷ giá hối đoái của ngoại tệ.Kết quả củaphá giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá hối đoái Đây là điểm giống nhau giữa phá giáđồng tiền và điều chỉnh tỷ giá hối đoái, nhưng không phải không có sự khác biệt

Điều chỉnh tỷ giá hối đoái là việc làm thường xuyên, liên tục của Nhà nước nhằm điềuchỉnh,duy trì sự ổn định tỷ giá hối đoái, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm chế, đẩy lùilạm phát Tỷ giá hối đoái được điều chỉnh theo nguyên tắc duy trì biên độ dao động chophép tăng hoặc giảm một tỷ lệ nhất định so với tỷ giá hối đoái chính thức Nó khác hẳn vớiphá giá đồng tiền- một biện pháp bất đắc dĩ của Nhà nước, chỉ áp dụng trong những trườnghợp hết sức cần thiết khi sức mua của đồng nội tệ thường xuyên bị sụt thấp so với ngoại tệ Tuy phá giá tiền tệ chỉ là biện pháp tình thế nhưng nếu được sử dụng đúng đắn nó cũng pháthuy những tác dụng nhất định:

-Kích thích các hoạt động xuất khẩu, từ đó góp phần tăng thu ngoại tệ, hạn chế nhập khẩu,giảm chi ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế

-Khuyến khích nhập khẩu vốn, kiều hối, hạn chế xuất khẩu vốn cũng như các hoạt độngchuyển ngoại tệ ra nước ngoài, làm tăng khả năng cung ngoại tệ, kết quả làm cho sức muađối ngoại của tiền trong nước sẽ tăng dần lên

-Khuyến khích các hoạt động du lịch vào trong nước và hạn chế du lịch ra nước ngoài, kếtquả làm cho quan hệ cung cầu về ngoại tệ bớt căng thẳng

Trang 18

CHƯƠNG II:

THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM

TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

Tỷ giá hối đoái đóng vai trò là một trong những công cụ quan trọng không thể thiếu củachính sách tiền tệ mà quá trình điều hành nền kinh tế vĩ mô cần phải sử dụng như một chitiết trong cỗ máy khi đưa vào vận hành chính vì lẽ đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải dấnhgiá hợp lý hệ thống tỷ giá hiện nay Việc làm này không thể tiến hành một cách riêng rẽ, đơn

lẻ, phiến diện mà phải thực hiện trong mối quan hệ nhiều mặt của nền kinh tế xã hội ViệtNam đã và đang trải qua đồng thời phải căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau trong đó có yêucầu về một hệ thống tỷ giá hợp lý

Kể từ sau những cải cách lớn bắt đầu từ tháng 3/ 1989, hệ thống tỷ giá hối đoái ở Việt Nam

đã trải qua nhiều bước thăng trầm với nhiều đột biến có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các hoạtđộng kinh tế nói chung, cũng như hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng Diễn biến phức tạpcủa tỷ giá trong thời gian qua chính là tấm gương phản chiếu mọi hoạt động cuả đời sốngkinh tế xã hội và là căn cứ thực tế cho việc thực hiện tốt yêu cầu trên

I TÌNH HÌNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA:

Lựa chọn chế độ tỷ giá nào luôn là bài toán hóc búa đối với mọi quốc gia Thực tế đã chứngminh đó là cả một nghệ thuật Trong lịch sử, nhiều quốc gia đã thành công trong việc lựachọn chế độ tỷ giá thích hợp Bên cạnh đó, không ít quốc gia đã phải trả giá đắt cho việc sailầm khi lựa chọn chế độ tỷ giá Để có được chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp với nền kinh

tế thị trường góp phần ổn định phát triển nền kinh tế, Thủ tướng chính phủ đã cho phép ápdụng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có sự quản lý của nhà nước Đây là một chủ trương đúngđắn, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam trong tiến trình đổi mới kinh tế vì nócho phép chúng ta thực hiện một chính sách tiền tệ độc lập vừa tuân theo quy luật cung cầuthị trường vừa phát huy vai trò quản lý điều tiết linh hoạt của Nhà nước để thực hiện đượcmục tiêu, yêu cầu phát triển kinh tế.Với chủ trương này,Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã

Trang 19

trình thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái NHNN đã thường xuyên phối hợp với các ngànhhữu quan trong việc phát hiện những bất hợp lý của chế độ tỷ giá hiện hành để đề xuấtnhững giải pháp sửa đổi, bổ xung, giúp cho chính sách tỷ giá ngày càng hoàn thiện hơn Nhờvậy, NHNN luôn nhận được sự ủng hộ từ các ngành liên quan trong quá trình hoạch địnhcũng như tổ chức thực hiện chính sách tỷ giá Đây là nguyên nhân cho sự tồn tại một cáchvững chắc chế độ tỷ giá hiện hành Đó là một chế độ tỷ giá linh hoạt, năng động và có khuônkhổ, là một chế độ tỷ giá thả nổi có sự quản lý của nhà nước.

Mục tiêu hàng đầu của chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam là góp phần ổn định sức muacủa đồng tiền Việt Nam Kết quả của việc điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của Nhànước ta trong thời gian qua đã và đang nhận được sự đồng tình của dư luận trong và ngoàinước Những thành quả mà chúng ta đã đạt được đó là:

Góp phần giữ vững sức mua của đồng Việt Nam, kìm hãm và đẩy lùi lạm phát, đảm bảothực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế

Góp phần tăng cường tính ổn định của môi trường kinh tế cũng như giải pháp để duy trì,

mở rộng và phát triển các hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là thu hút vốn đầu tư nướcngoài

Bảo vệ lợi ích của các thành viên trong xã hội, kể cả những người cư trú và không cư trú Củng cố lòng tin của mọi người vào đồng Việt Nam Đây là một yếu tố tâm lý đóng vai tròquyết định trong việc duy trì sự ổn định đời sống kinh tế, chính trị xã hội Nó khơi dậy , kíchthích và thúc đẩy mọi tầng lớp dân cư,mọi thành phần kinh tế đầu tư vốn để phát triển sảnxuất kinh doanh, làm thay đổi nhanh chóng, làm lành mạnh hoá bộ mặt kinh tế của đất nước

Để có căn cứ đánh giá chính xác chính sách tỷ giá hối đoái của nước ta trong những nămqua và xây dựng các quan điểm điều hành tỷ giá hối đoái trong thời gian tới, ta cần điểm quacác giai đoạn hình thành và phát triển của chính sách tỷ giá hối đoái ở nước ta

Trước năm 1988, từ ngày 25/11/1955 tỷ giá chính thức giữa đồng Việt Nam và đồng Nhândân tệ (NDT) của Trung Quốc là : 1NDT = 1.470 VND; 1Rup (Liên Xô) = 0,5 NDT, tỷ giáchéo là 735 VND= 1 Rup Sau đổi tiền ( 1959) tỷ giá VND so với Rúp và NDT thay đổi.Đến năm 1977 các nước XHCN thoả thuận thanh toán với nhau bằng đồng Rúp chuyểnnhượng (RCN) Mỗi RCN có hàm lượng vàng là 0,98712 gr

Trang 20

Bên cạnh tỷ giá trên, Nhà nước còn dùng tỷ giá thanh toán nội bộ để thanh toán giữa các tổchức và các đơn vị có thu chi ngoại tệ với ngân hàng ngoại thương, tính thu chi ngân sáchNhà nước khi nhận viện trợ bằng đồng Rúp và cấp phát cho các tổ chức kinh tế để thanhtoán với các đơn vị ngoại thương.

Tỷ giá hối đoái nội bộ được điều chỉnh như sau:

Năm 1958: 1 Rúp = 5,64 VND

Năm 1986: 1 Rúp = 18 VND

Năm 1987: 1 Rúp = 150 VND

Năm 1988: 1 Rúp = 700 VND

Đến tháng 3/1989 chế độ kết toán nội bộ bị huỷ bỏ

Trong giai đoạn trước 1988, với chế độ độc quyền ngoại thương và ngoại hối, Nhà nướctrực tiếp can thiệp vào việc xác định tỷ giá, không xét tới quan hệ cung cầu thực tế trên thịtrường ngoại hối Nhà nước đã thi hành chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá Quan hệ thươngmại của chúng ta chủ yếu là với các nước trong khối SEV với hình thức phổ biến là hàng đổihàng theo một tỷ giá cố định đã được thoả thuận theo hiệp ước song phương và đa phươnggiữa các chính phủ Các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu hàng hoá hạch toán theo tỷgiá kết toán nội bộ mà thực chất là một hình thức bù lỗ có tính chất bao cấp thông qua tỷ giá.Trong giai đoạn này, tỷ giá hối đoái chỉ đóng vai trò thuần tuý là phương tiện ghi chép thụđộng của ngân hàng trong lĩnh vực xuất nhâp khẩu hàng hoá Vai trò công cụ quản lý vĩ mô,

để thực hiện chính sách tài chính, chính sách tiền tệ của tỷ giá hối đoái bị gạt bỏ hoàntoàn.Việc xác lập tỷ giá hối đoái duy ý chí, không tuân thủ các quy luật kinh tế , các quytrình kinh tế ngay cả với kinh tế kế hoạch, gạt bỏ cả yếu tố lạm phát đã không chỉ cản trở cácquan hệ kinh tế của ta với khối SEV mà còn gây nhiều khó khăn trong thanh toán nội bộ,trong công tác quản lý điều hành của Nhà nước,thủ tiêu động lực đối với hoạt động xuấtkhẩu Ngoài ra, việc sử dụng tỷ giá kết toán nội bộ trong quản lý ngân sách Nhà nước nênviệc tính toán và phản ánh thu chi ngân sách nhà nước bị sai lệch nghiêm trọng, làm giảmhiệu quả hoạt động của hệ thống ngân sách Nhà nước, đặc biệt là khâu quản lý và sử dụng

Trang 21

Sau khi có chủ trương thu hút vốn nước ngoài (1985) và thông qua luật đầu tư nước ngoài(1987) luồng ngoại tệ bằng USD lần lượt vào Việt Nam Tuy nhiên, chúng ta chỉ dùng tỷ giáchính thức do Ngân hàng Trung ương áp đặt nên vẫn còn khoảng cách khá xa so với sứcmua thực tế của USD và thị trường chợ đen.

Từ khi chúng ta xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước, chế độ tỷ giá cố định và đa tỷ giá với những điều chỉnh mang tínhhành chính này không còn phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta nữa Việc từ bỏchế độ này là một xu thế tất yếu khi chúng ta mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới

Từ những năm 1989- 1990 khi quan hệ ngoại thương được bao cấp với thị trường truyềnthống Đông Âu và Liên Xô cũ bị gián đoạn khiến chúng ta phải chuyển sang buôn bán vớikhu vực thanh toán bằng USD Kể từ đó, cơ chế tỷ giá cố định đã được thay thế dần bằng cơchế điều tiết của Nhà nước theo tín hiệu thị trường Tuy nhiên để đi đến một chính sách tỷgiá tự chủ,có thể kiểm soát được các biến động thị trường, cơ chế quản lý ngoại tệ nói chung

và cơ chế quản lý hối đoái nói riêng đã trải qua những điều chỉnh lớn Có thể chia thànhnhững giai đoạn như:

Giai đoạn thả nổi tỷ giá hối đoái 1989- 1992:

Trong giai đoạn này, tỷ giá giữa VND/USD biến động mạnh theo hướng tăng liên tục kèmtheo các cơn sốt, các đột biến lớn Thời kỳ này tỷ giá danh nghĩa tăng từ 4.200đ/1USD tới

Trang 22

12.720đ/USD Theo thống kê của tạp chí ngân hàng, tỷ giá hối đoái giữa VND/USD từ1989-1992 biến động như sau:

Bảng 1: Tỷ giá danh nghĩa giữa USD/VND:

Năm Điạ điểm Tháng 1 Tháng 3 Tháng 4 Tháng 5 Tháng 6

Mặc dù trong giai đoạn 1989-1992 chính sách quản lý của nhà nước đã có nhiều thay đổi,như chuyển từ hình thức quản lý theo tỷ giá kết toán nội bộ bình quân cho tất cả các nhómhàng sang tỷ giá theo nhóm hàng hoá và duy trì tương đối ổn định các tỷ giá này, hoặc nếu

có thay đổi thì cũng ở mức độ nhỏ nhằm duy trì ổn định hệ thống giá vật tư và xuất khẩu,nhập khẩu nên tỷ giá công bố vẫn xa mức tỷ giá hình thành trên thị trường

Hơn nữa phần ngoại thương ngoài kế hoạch ngày càng lớn khiến cho thị trường ngoại tệngầm ngày càng phát triển và có xu hướng phản ánh tương quan giá trị thực giữa đồng nội

tệ với đồng ngoại tệ

Tình trạng leo thang của giá đồng USD đã kích thích tâm lý dự trữ USD, nhằm mục đích

Trang 23

quản lý ngoại tệ của chính phủ ít đem lại kết quả, thậm chí có những quyết định của chínhphủ về quản lý ngoại tệ đã bị mất hiệu lực ngay khi vừa mới công bố.Giai đoạn này ngânhàng không kiểm soát được lưu thông ngoại tệ Qua kiểm tra 26 đơn vị sử dụng ngoại tệ ởThừa Thiên Huế thấy tất cả đều có sai phạm:

Bán USD ra thị trường: 996,682 USD

Cho vay lấy lãi : 102,694 USD

Chuyển nhượng cho nhau hơn 2 triệu USD lấy chênh lệch 3,5 tỷ USD

Tình trạng tỷ giá hối đoái bị thả nổi thời kỳ này có nguyên nhân do cơ chế quản lý ngoại tệchậm sửa đổi,không theo kịp bước chuyển của nền kinh tế thị trường Nhưng nguyên nhânquan trọng nhất là do những khó khăn trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại Do mất nguồn nhậpsiêu từ Liên Xô cũ nên đất nước thiếu ngoại tệ nghiêm trọng.Điều này dẫn đến tình trạngphải mua USD để trả nợ đến hạn do đó đã dẫn đến "cơn sốt" USD theo chu kỳ vào cuối quý,cuối năm trong các năm 1990- 1991 Tình trạng leo thang giá USD đã thúc đẩy lạm phát dođồng Việt Nam bị mất giá mạnh và do giá hàng nhập khẩu tăng nhanh Trước tình hình đó từnăm 1992 chính phủ đã chọn con đường thay đổi cách quản lý ngoại tệ, đổi mới chính sách

và cơ chế điều hành tỷ giá theo hướng:

Thay thế biện pháp hành chính, bắt buộc các đơn vị kinh tế quốc doanh có ngoại tệ phải báncho Ngân hàng theo tỷ giá ấn định bằng biện pháp kinh tế như: mở trung tâm giao dịchngoại tệ để cho các doanh nghiệp và ngân hàng trao đổi mua bán ngoại tệ với nhau theo thoảthuận

Thay đổi cách quản lý ngoại tệ , đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối, bãi bỏ hình thức quy định

tỷ giá nhóm hàng trong thanh toán ngoại thương giữa Ngân sách với các tổ chức kinh tếtham gia xuất nhập khẩu Thay vào đó, trên cơ sở tỷ giá hình thành tại các phiên giao dịchngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá chính thức Cơ chế hình thành và quản lý tỷgiá mềm dẻo như trên cộng với sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước đối với lượng ngoại tệmua bán tại các phiên giao dịch đã phá được tâm lý đầu cơ ngoại tệ ngăn chặn được xuhướng tăng giá quá mức của USD trên thị trường Từ tháng 3/1992, giá USD bắt đầu giảm

Tỷ giá VND/USD vào thời điểm cuối năm 1991 tại các thị trường tư nhân Hà Nội có lúc lên

Trang 24

tới 14.500 VND/1USD, đến tháng 3/1992 chỉ còn 11.550 VND/1USD đến cuối năm còn10.650 VND/1USD và còn tiếp tục giảm tới cuối năm 1992.

Giai đoạn 1993-1996:

Trong dịp Tết Nguyên Đán Nhâm Thân 1993, có khoảng 60000 Việt kiều về ăn Tết mangtheo lượng ngoại tệ 300-400 triệu USD dẫn tới cung USD tăng, đồng USD giảm nhanh.Cóngày giá USD giảm xuống còn 9.950 VND/USD tại Hà Nội, 9.750 VND/USD tại Hồ ChíMinh ( 13/01/1993) Việc tăng giá đồng nội tệ góp phần quyết định chuyển xuất siêu sangnhập siêu vì vậy Nhà nước phải can thiệp nhằm nâng giá USD Từ tháng 3/1993, USD đãlên giá dần và duy trì hướng lên giá một cách ổn định

Từ cuối năm 1994, USD liên tục mất giá so với các đồng tiền chủ chốt khác, đặc biệt so vớiđồng Yên( Nhật Bản) Tuy nhiên, trên thị trường Việt Nam., giá USD vẫn tương đối ổnđịnh Tuy chỉ tăng 1,7% trong năm 1994 và 0,4% trong quý I năm 1995 nhưng đã tạo điềukiện cân đối giữa xuất khẩu và nhập khẩu, phù hợp với chiến lược kinh tế hướng ngoạiGiai đoạn 1997-2000:

Từ năm 1997- 1998, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD giảm dần, cuộc khủng hoảng tàichính khu vực bùng nổ làm cho giá trị đồng tiền của các nước trong khu vực giảmnhanh( Đồng Rupiah Inđônêxia mất giá 130%, đồng Baht Thái Lan mất giá 100%, đồngRinggit Ma-lai-xi-a mất giá 60% Đồng thời lượng vốn đầu tư vào Việt Nam giảm mạnh

Xu hướng của các nhà đầu tư và dân chúng là rut VND để chuyển sang ngoại tệ tăng lên.Hơn nữa do năm 1996, khối lượng L/C trả chậm khá lớn và phần lớn đến hạn trả là năm1997,do vậy làm tăng nhu cầu mua ngoại tệ trong nước để trả nợ đến hạn.Tất cả những điềukiện trên gây áp lực giảm giá VND.Trước tình trạng đó Chính phủ đã thực hiện hai lần tănggiá từ 11.113đ/ 1 USD năm 1996 lên 13.908đ/1USD năm 1998 Việc điều chỉnh giá lần này

là một quyết định kịp thời Trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, việc cốđịnh một tỷ giá được coi là cao hơn so với tỷ giá thực là một rủi ro quá lớn cho nền kinh tếViệt Nam, không những nó cản trở xuất nhập khẩu mà còn hạn chế " khả năng đề kháng"của nền kinh tế Việt Nam Nhiều chuyên gia tài chính ngân hàng cho rằng mức tỷ giá hiện

Ngày đăng: 20/10/2017, 03:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ giá danh nghĩa giữa USD/VND: - T  gi  h i  o i v  vi c  p d ng ch     t  gi    Vi t Nam
Bảng 1 Tỷ giá danh nghĩa giữa USD/VND: (Trang 20)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w