Lý thuyết này cócách tiếp cận gần giống các nhà Marxist, nó chỉ ra rằng tỷ giá được xác định bằng tươngquan sức mua giữa hai đồng tiền và tương quan sức mua được xác định bởi số lượng ti
Trang 1http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn,
đồ án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất
cả mọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng gópcủa quý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý
khách gửi về luanvanpro.com@gmail.com
Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/
Hoàn thiện chính sách tỷ giá Việt nam thực hiện nền kinh tế mở hướng tới hội nhập
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Thực hiện thành công công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước, chún ta bướcsang giai đoạn CNH- HĐH đất nước : hướng mạnh về xuất khẩu, thực hiện nền kinh tế
mở, từng bước hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới Hội nhập đã đặt Việt nam trướcnhững cơ hội và thách thức mới đòi hỏi phải có những bước đi và chính sách thích hợpcho tiến trình hội nhập mà cốt lõi là: nâng cao nội lực nền kinh tế và từng bước xây dựngnền kinh tế theo các tiêu chuẩn phù hợp vói khu vực (nền kinh tế thị trường) Cải cáchkhu vực tài chính ngân hàng được coi là đột phá điểm cho quá trình thực hiện nền kinh tế
mở và hội nhập thành công Khủng hoảng tài chính tiền tệ nổ ra đòi hỏi quá trình cảicách phải mạnh mẽ, toàn diện hơn theo kinh tế thị trường hiện đại
Chính sách tỷ giá của Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những thànhcông nhất định, đặc biệt trong việc ổn định kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, với cuộc khủnghoảng kinh tế khu vực, trước tiến trình gia nhập AFTA, APEC, WTO, chính sách tỷ giácủa nước ta đang bộc lộ những hạn chế khá cơ bản: chưa có một chính sách tỷ giá nhấtquán và có tính chiến lược ( chưa đưa ra được cái đích cho tỷ giá ); chưa có các phươngpháp điều hành, can thiệp tỷ giá thích hợp, mang tính thị trường Điều này đã và đanggây ra những cản trở nhất định cho sự phát triển của nền kinh tế và tiến trình hội nhập.Trước những suy nghĩ, nhận định đó, em chọn đề tài:
Hoàn thiện chính sách tỷ giá thực hiện nền kinh tế mở hướng tới hội nhập
Bài viết nhằm trả lời 2 vấn đề:
1 Mục tiêu của chính sách tỷ giá Việt nam thời gian tới là gì?
2 Cơ chế quản lý, điều hành của NHNN nên theo hướng nào?
Bài viết này gồm 3 phần như sau:
Phần 1: Các vấn đề lý luận về tỷ giá và sự can thiệp của NHTW vào tỷ giá
Phần 2: Sự can thiệp vào tỷ giá của NHNN Việt Nam thời gian qua
Phần 3: Hoàn thiện chính sách tỷ giá Việt nam thực hiện nền kinh tế mở hướng tới hộinhập
Vì đây là một vấn đề khó, phức tạp, trong khi trình độ kiến thức còn hạn chế nên kết quảnghiên cứu còn nhiều hạn chế Rất mong được sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy giáo
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4PHẦN I
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ
VÀ SỰ CAN THIỆP CỦA NHTW
I-/ CÁC LÝ LUẬN VỀ TỶ GIÁ
Tỷ giá từ trước tới nay là một vấn đề khó, khó trong cả cách xác định và trong cả cáchcan thiệp, điều chỉnh Chẳng thế mà nhà kinh tế tiền tệ nổi tiếng Milton Fridman phải nóirằng: chúng ta đang dong buồm trên hải trình chưa được lập hải đồ và cần phải có thờigian để nhận biết tuyến đường an toàn Từ trước tới nay, đã có nhiều nhà nghiên cứu đãtìm hiểu vấn đè này trên nhiều góc độ khác nhau và đưa ra cáclý thuyết về tỷ giá với cácquan điểm khác nhau Mỗi người đều gắng tìm cho được một mô hình, kết luận "đứngngoài thời gian" nhưng chưa ai thành công cả Chính vì vậy, các kết luận của các nhàkinh tế này vẫn còn được tiếp tục hoàn thiện phát triển cho đến ngày nay tạo lên sựduyên dáng và hấp dẫn cho " tỷ giá"
1-/ Các lý thuyết về tỷ giá:
Tỷ giá được đề cập đến sớm nhất bởi David Ricardo vào đầu thế kỷ 19 với lý thuyếtthông số sức mua dưạ vào đồng tiền được được đảm bảo bằng vàng Sau đó được KarlMarx chuyển sang một hướng tiếp cận khác từ góc độ giá trị lao động Sang thế kỷ 20, tỷgiá được các nhà kinh tế hiện đại tiếp xúc ở các góc độ rất khác nhau đưa ra những kếtluận có khi đối lập Để có thể tiếp nhận được những nội dung cơ bản các các lý thuyết về
tỷ giá, xin được chia thành hai quan điểm lớn như sau:
1.1-/ Quan điểm của Karl Marx và các nhà Marxist
Dựa trên học thuyết về giá trị lao động và lý thuyết tiền tệ thế giới- tiền tệ có chức năngthước đo giá trị, Marx cho rằng tỷ giá là tương quan sức mua giữa hai đồng tiền của haiquốc gia, do đó phản ánh tỷ lệ thước đo giá trị lao động giữa hai quốc gia K.Marx đưa ramột kết luận hết sức biện chứng là chỉ cái quan trọng không phải là cung- cầu tiền tệ mà
là các nhân tố đứng đằng sau tác động lên cung cầu nghĩa là tỷ giá quyết định bởi tươngquan sức mua giữa đồng nội tệ, ngoại tệ và hàng loạt các nhân tố khác, về bản chất Đây
Trang 5thờikỳ Do vậy, trong quá trình ngiên cứu các nhà Marxist đã kết luận rằng" Tỷ giá làmột pham trù kinh tế lịch sử gắn với các giai đoạn phát triển sản xuất của xã hội, tínhchấp, cường độ tác động của các yếu tố phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường,các giai đoạn cụ thể trong lưu thông tiền tệ của thế giới”.
Quan điểm của các nhà Marxist là một hướng phát triển tất yếu dựa trên học thuyết giá trị
và tư tưởng biện chứng Mặc dù quan điểm này không đưa ra nhiều cái tác động cụ thểcủa các nhân tố lên tỷ giá nhưng nó đã chỉ ra bản chất của tỷ giá và một hướng tiếp cậnhết sức biện chứng và rộng mở
1.2-/ Các quan điểm của các nhà kinh tế thị trường:
Các nhà kinh tế thị trường nghiên cứu tỷ giá dựa trên những cơ sở khác nhau hướng tớiviệc đưa ra các cách giải thích khác nhau cho diễn biến tỷ giá từng thời kỳ
* Lý thuyết thông số sức mua: Được David Ricardo đề cập đến đầu thế kỷ 19, được pháttriển bởi J Keynes, Paul Sammulson và nhiều nhà kinh tế tiền tệ khác Lý thuyết này cócách tiếp cận gần giống các nhà Marxist, nó chỉ ra rằng tỷ giá được xác định bằng tươngquan sức mua giữa hai đồng tiền và tương quan sức mua được xác định bởi số lượng tiền
tệ trong lưu thông của các nước tương ứng (Ricardo), yếu tố tâm lý, luân chuyển vốn (J.Keynes), can thiệp của chính phủ Lý thuyết này cho rằng tỷ giá linh hoạt và tự điềuchỉnh thông qua mua đi bán lại để đạt tới trạng thái cân bằng sức mua Nó là cơ sở chorất nhiều lý thuyết khác về tỷ giá
* Lý thuyết ngoại tệ được điều chỉnh: Được đề xuất bởi J Keynes, S.Fisher và một sốnhà kinh tế tiền tệ khác sau thời kỳ khủng hoảng 1929-1933 Lý thuyết này dựa trênnhững luận thuyết của J.Keynes về vai trò điều chỉnh của nhà nước để đưa ra nhữngphương pháp tiếp cận và điều chỉnh tỷ giá đạt trạng thái "cân bằng" Lúc đầu S Fishertiếp cận dựa trên chế độ bản vị vàng và cho rằng có thể điều chỉnh tỷ giá thông qua điềuchỉnh hàm lượng vàng của tiền tệ Sau đó, cùng với sự phát triển của tiền giấy, tiền tín dụngchuyển đổi rồi không có khả năng chuyển đổi (vàng không còn là phương tiện lưu thông chủyếu), J.Keynes cho rằng có thể giảm giá trị đồng nội tệ để tác động lên giá cả, xuất khẩu,cạnh tranh với bên ngoài ở lý thuyết này, J.Keynes đã đưa ra hàngloạt các quan hệ giữa tỷgiá- việc làm, giá cả, xuất nhập khẩu và cạnh tranh một cách xác thực
Trang 6* Lý thuyết tỷ giá cân bằng: Lý thuyết này không đề cập đến tỷ giá như là tương quangiữa sức mua của hai đồng tiền mà họ cho rằng nó là một cái gì đó khác ngoài tươngquan sức mua mà nó đem lại sự cân bằng của nền kinh tế (của các yếu tố kinh tế vĩ mô
cơ bản) Đây là một lý thuyết hết sức có ý nghĩa cho việc can thiệp của các chính phủnhằm đem lại một trạng thái kinh tế lý tưởng, nhưng nó rất khó xác định thế nào là cânbằng, có thể đồng thời cân bằng tất cả các cân bằng cơ bản mâu thuẫn nhau hay không?
* Lý thuyết các ngoại tệ chủ chốt: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, với sự phát triển của
kỹ thuật quân sự, Mỹ tiến hành thao túng nền kinh tế tư bản Thông qua kế họachMarshall, Mỹ ra sưc bành trướng và củng cố sức mạnh đồng USD lý thuyết các ngoại tệmạnh ra đời chỉ ra sự cầnthiết phải có một/ một số ngoại tệ mạnh làm cơ sở dự trữ vàthanh toán quốc tế, USD trở thành đồng tiền có sức mạnh độc tôn cùng với một số đồngtiền của một số nước tư bản mạnh khác (về sau này) như: GBP, JPY, FRF, DEM Lýthuyết này được áp dụng cho sau này khi với sự ra đời của đồng SDR (Special DrawingRight) Trong lý thuyết này, tỷ giá bị can thiệp bởi yêú tố chính trị, quân sự và phản ánh
sự tương quan sức mạnh kinh tế chứ không phản ánh một mối quan hệ cung cầu cụ thể
* Lý thuyết tỷ giá linh hoạt: Chế độ tỷ giá hối đoái cố định của Bretton Wood sụp đổ đòihỏi cần phải có chế độ tỷ giá phù hợp với điều kiện mới Milton Friedman cùng một sốnhà kinh tế đại học Chicago đưa ra học thuyết tiền tệ (thuyết trọng tiền) trong đó đề xuấtmột chế độ tỷ giá linh hoạt (thả nổi) chế độ này dựa trên việc tỷ giá phản ánh quan hệcung cầu trên thị trường và không có sự can thiệp của chính phủ Học thuyết này chorằng, tỷ giá có mối liên hệ trực tiếp bởi mức cung tiền, giá cả, việc làm Chính phủ thựchti các chính sách tiền tệ thường không hiệu quả và bóp méo giá cả (thông tin của thịtrường) Do vậy, Chính phủ không nên can thiệp nhiều vào tiền tệ, tỷ giá Lý thuyết nàyđược Reggan áp dụng cho Mỹ và đã khá thành công Tuy nhiên, các kiểm định thực tế đãcho thấy tính "giới hạn" của lý thuyết này
Tóm lại, qua các lý thuyết ta thấy các quan điểm về tỷ giá rất khác nhau và có tính lịch sửcủa nó Từ bản chất khởi thuỷ là tương quan sức mua hai đồng tiền, đến nay tỷ giá đãphát triển qua nhiều hình thức khiến cho tỷ giá trở nên " duyên dáng" và " bí ẩn" Tuynhiên, về hình thức ta có thể thấy tỷ giá là giá của một đơn vị tiền tệ của quốc gia nàyđược đo bằng các đơn vị tiền tệ của quốc gia khác Nó là một con số tỷ lệ để trao đổiđồng tiền này lấy đồng tiền khác Về bản chất, tỷ giá phản ánh trạng thái cân bằng của
Trang 7cung-cầu các đồng tiền xuất phát từ nhu cầu luân chuyển trao đổi hàng hoá, dịch vụ quốc
tế, sự luân chuyển tài chính quốc tế và các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội của các chủthể ( kinh tế , chính trị, xã hội.) quốc tế
2-/ Các mô hình xác định tỷ giá:
Cùng với các lý thuyết về tỷ giá, hàng loạt các mô hình xác định tỷ giá được nêu ra Nếucác lý thuyết tỷ giá đưa ra các phân tích định tính cho ta xác định / thấy được bản chấtcủa tỷ giá thì các mô hình thiên về việc phân tích định lượng, qua đó cho ta một cơ chếtác động cụ thể của các nhân tố lên tỷ giá Hiện tại có thể phân loại thành các mô hìnhtiếp cận tỷ giá cơ bản là:
Các hướng tiếp cận truyền thống, tiếp cận thị trường hàng hoá tới việc xác định tỷ giáthực, gồm các mô hình: mô hình ngang giá sức mua/ quy luật một giá (DavidRicardo),mô hình lý thuyết đàn hồi (Robison-1947, Alexander-1952, Johnson- 1958,Krugman-1989,1991)
Các hướng tiếp cận hiện đại, hướng tới xác định tỷ giá danh nghĩa thông qua việc tiếpcận từ các thị trường tiền tệ và thị trường tài sản Qua thị trường tiền tệ, ta có các môhình: mô hình giá cả linh hoạt (Flexible Price Monetary Model)( Frenkel-1976, Bilson-1979), mô hình giá cố định (Sticky Price Model)(Dornbush-1976), mô hình chênh lệchlãi suất (Interest Rate Differentical Model) ( Frenkel-1979) Qua cách tiếp cận từ thịtrường tài sản có mô hinh trong đó đáng lưu ý là mô hình áp dụng cho các quốc gia nhỏcủa Kouri& Macedo (1978), Dooley&Isard (1979)
Sau đây chúng ta lần lượt xem các nội dung cơ bản của một số mô hình chủ yếu:
2.1-/ Mô hình ngang giá sức mua: (Purchasing Power Parity- PPP)
Lý thuyết này do David Ricardo đề xướng, nó tiếp cận tỷ giá thông qua thị trường hànghoá và định nghĩa tỷ giá là tương quan sức mua ( tương quan giá cả của hàng hoá) giữahai đồng tiền của hai quốc gia Mô hình này dựa trên điều kiện thương mại quốc tế cạnhtranh hoàn hảo ( thị trướng tự do mua đi bán lại, chi phí vận chuyển bằng không, không
có bảo hộ mậu dịch).Khi đưa vào điều kiện này, mô hình đưa ra một quy luật dó là quyluật một giá (Law of one price): với điều kiện cạnh tranh thương mại quốc tế hoàn hảo,giá của cùng một loại hàng hoá bán được bán ở các thị trường khác nhau là như nhau nếutính bằng một loại tiền tệ
Trang 8Quy luật này được thể hiện ở hai hình thức: tương đối vàtuyệt đối như sau:
2.1.1-/ Hình thức PPP tuyệt đối
Hình thức này được thể hiện qua công thứcthính tỷ giá là
S = P/ P* (1)
Trong đó: S: Tỷ giá số đồng nội tệ cần thiết để đổi một đồng ngoại tệ
P: Mức giá trong nước
P*: Mức giá nước ngoài
Mô hình này cho ta thấy sự tăng mức giá chung trong nước sẽ ngay lập tức tạo ra sự giảmgiá của đồng nội tệ và ngược lại Tỷ giá ở đây là linh hoạt hoàn toàn để phản ánh sứcmua của các đồng tiền( tình trạng giá cả hàng hoá của hai quốc gia)
Trang 9: tỷ trọng hàng mậu dịch trong nước
PI*: chỉ số giá dùng nước ngoài
: tỷ trọng hàng hàng mậu dịch nước ngoài
) 1 ( /
N T
N T
i
i
P P
P P
/)1(
/
T N
T N i
i
P P
P P S
T N i
i
P P
P P P
P
S
/ ) 1 (
/ ) 1 ( /
Công thức (4) là công thức chung cho PPP đã được điều chỉnh cho cả hàng hoá mậu dịch
và phi mậu dịch Qua đây ta thấy, rõ ràng rằng PPP chỉ áp dụng cho hàng hoá mậu dịchsong hàng hoá phi mậu dịch cũng có ảnh hưởng tới tỷ giá Sự tăng giá hàng phi mậu dịchtrong nước sẽ dẫn tới sự lên giá của đồng tiền trong nước
Mô hình này tiếp tục được Samuelson bổ sung những tư tưởng chủ đạo vẫn được giữnguyên
Mặc dù mô hình PPP không đúng trong thực tế bởi các hàng rào thương mại, chi phí vậnchuyển, tính không thay thế của một số hàng hoá nhưng nó cho ta một cái nhìn khá bảnchất của tỷ giá trên thị trường hàng hoá, làm cơ sở cho nhiều mô hình khác Hạn chế lớnnhất của mô hình nàylà chưa đề cập đến thị trường vốn ( các chu chuyển về tài sản)2.2-/ Mô hình lý thuyết đàn hồi:
Mô hình này do Robinson đề xướng năm 1947 nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tỷ
giá-độ nhạy của hoạt giá-động xuất nhập khẩu với giá cả
Robinson cho rằng: Sự điều hoà trên thị trường sản phẩm quốc tế về cung đàn hồi làkhông hoàn thiện Khi có sự thặng dư trong cán cân thương mại (Balance of Trade BOT),
tỷ giá thực sẽ điều chỉnh cho đến khi BOT là cân bằng Sự biến động của tỷ giá thựccànglớn/ nhiều nếu cung-cầu hàng hoá càng ít co giãn theo giá cả
Alexander (1952), Johnson (1958) hoàn chỉnh lý thuyết này và nhấn mạnh tính đàn hồicủa xuất nhập khẩu với thu nhập, nghĩa là các biến đổi của thu nhập tác động đến xuất
Trang 10nhập khẩu và những biến đổi của xuất nhập khẩu mạnh hay yếu còn phụ thuộc vào trạngthái thu nhập.
Năm 1989, 1991, Krugman bổ sung và chỉ ra rằng: Giá xuất khẩu là kém nhạy cảm sovới giá nội điạ; có tính không thể đảo ngược của đầu tư thương mại cần thiết cho sản xuất( ví dụ như các nước đang phát triển phải nhập khẩu với mọi mức giá để hiện đại hoácông nghệ) Do hai đặc tính này nên sự co giãn giữa giá cung và giá cầu sẽ giảm nhẹ.Điều đó giải trình tại sao lại có sự biến động lớn của tỷ giá thực khi hệ thống BrettonWood sụp đổ Krugman cũng chỉ ra rằng hoạt động ngoại thương đàn hồi còn phụ thuộc
cả vào tốc độ tăng trưởng
Tóm lai, mô hình lý thuyết đàn hồi chỉ tập trung vào thị trường hàng hoá thông qua cânbằng thương mại và đã khá thành công khi giaỉ quyết mối quan hệ tỷ giá- độ co giãn xuấtnhập khẩu theo giá
2.3-/ Các mô hình từ cách tiếp cận tiền tệ:
Các mô hình từ góc độ tiếp cận tiền tệ tập trung xem xét mối quan hệ giữa tỷ giá và mứccung tiền của các đồng tiền Nó được phát triển dựa trên ba giả thiết cơ bản như sau:
1 Vốn được tự do luân chuyển ở cả phạm vi trong, ngoài quốc gia do vậy nhà đầu tư cóthể dễ dàng chuyển từ tài sản này sang tài sản khác được định danh bằng các đồng tiềnkhác nhau sao cho có lợi nhất
2 Sự biến động của việc định giá của giá hiện tại của tài sản chủ yếu bị tác động bởi tỷsuất lợi tức mong đợi vì mức độ rủi ro giữa các tài sản lựa chọn là như nhau (bỏ qua yếu
tố chênh lệch rủi ro)
Ví dụ: Có hai tài sản A và B có độ rủi ro như nhau Tỷ lệ lợi tức mong đợi cho cả hai tàisản là 20%/năm Giá hiện tại của A là 100, giá của B là 200
Vậy, giá mong đợi của A, B sau một năm là
PA= 100 x (1+20%)=120
PB= 200 x (1+20%)=240
Nếu nhà đầu tư cho rằng sau một năm, giá của A là 132 chứ không phải là 100, khi đó tỷ
lệ lợi tức mong đợi của A là (132-100)/100=32% thì nhu cầu A tăng lên và giá hiện tạicủa A sẽ tăng dần lên đến khi tỷ lệ lợi tức mong đợi chỉ lớn 20%, mức giá khoảng 120((132-110)/110 = 20%)
Trang 113 Điều kiện ngang bằng lãi suất dù tình giữa các đồng tiền (Uncovered Interest UIP) thể hiện qua công thức sau:
Parity-d( S) = i - i*
Trong đó: d( S): tỷ lệ giảm giá đồng nội tệ so với ngoại tệ
i, i*: lãi suất đồng nội tệ, ngoại tệ
Nghĩa là, tỷ lệ phá giá dự kiến của đồng nội tệ, ngoại tệ ngang bằng với chênh lệch lãisuất giữa đồng nội tệ và ngoại tệ (i- i*) Tỷ giá sẽ biến động sao cho tỷ lệ lợi tức mongđợi tài sản bằng đồng nội tệ và ngoại tệ là ngang bằng nhau
Ví dụ: một nhà đầu tư đầu tư vào tài sản A định giá bằng GBP trị giá GBP 1000, lãi suấtmong đợi là 10%/năm Tức là sau một năm giá trị của A là 1000(1+10%)= 1100GBP Tỷgiá hiện tại giữa USD và GBP là S GBP/USD = 0,5 ( cần 0,5 GBP để đổi lấy 1 USD).Như vậy, nhà đầu tư có thể đầu tư một tài sản B bằng USD là 4%/ năm (ít hơn 6% so vớilãi suất GBP) thì sau một năm, tài sản B có giá trị 2000(1+4%)= 2080 USD Theo lýthuyết ngang bằng lợi tức mong đợi thì tỷ giá GBP/USD sẽ ở mức sao cho trị giá 2080USD ngang giá với 1100 GBP, tức là S GBP/USD = 1100/2080 =0,53 Như vậy, đồngGBP giảm giá: 0,53 -0,5)/0,5 =6% ngang bằng chênh lệch lãi suất 10%-4%=6%
Dựa trên ba giả thiết trên, hướng tiép cận tiền tệ đưa ra ba mô hình xác định tỷ giá nhưsau:
2.3.1 Mô hình giá cả linh hoạt
Vì giá cả là linh hoạt nên ta thấy quy luật PPP được duy trì liên tục tức là
S = P/P* Log S =logP - log P* s = p - p*(6)
Mô hình này sử dụng hàm cầu tiền nội địa thông thường như sau:
Trong đó:
m: log (cơ số tiền nội địa)
p: log(mức giá chung nội đia)
y: log(thu nhập thực tế trong nước)
i: lãi suất danh nghĩa trong nước
Tương tự, ta có hàm cầu tiền ngoại tệ như sau:
Trong đó:
Trang 12m*: log(cơ số tiền nước ngoài)
p*: log(mức giá chung ngoại tệ)
y*: log(thu nhập thực tế nước ngoài)
i*: lãi suất danh nghĩa ngoại tệ
Từ (7)-(8) ta có:
p -p* = (m-m*)- (y -y*)+ (i- i*) (9)
Theo (5) ta có S= p- p*, nên (9) thành:
.s = (m-m*)- (y -y*) + (i-i*) (10)
Như vậy, theo phương trình này: ba nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá là: tương quan mức tiền
cơ sở (m-m*), tương quan thu nhập thực tế (y- y*), tương quan lãi suất (i-i*)
Với các điều kiện khác không đổi thì: sự tăng lên của lãi suất danh nghĩa đồng nội tệ sẽdẫn tới sự giảm giá đồng nội tệ; sự tăng lên của thu nhập thực tế nội địa sẽ dẫn tới sự lêngiá của đồng nội tệ; sự tăng lượng tiền cơ sở (tăng cung tiền)sẽ dẫn tới giảm giá đồng nộitệ
Mô hình này cho rằng, trong ngắn hạn giá cả và tiền lương là tương đối ổn định, nhưng
tỷ giá thì vẫn linh hoạt Do vậy, khi có sự tăng mức cung tiền, tỷ giá sẽ đột ngột tănglênvượt qua mức cân bằng PPP và sau đó giảm dần xuống do sự điều chỉnh dần dần của giá
cả, đưa tỷ giá về trạng thái cân bằng PPP mới Như vậy, Dombusa không cho rằng PPP
Trang 13được đảm bảo trong ngắn hạn nhưng được duy trì trong dài hạn Do vậy, trong dài hạn tacó:
sl= p- p*, trong đó sl =log(tỷ giá dài hạn) (15)
Trong dài hạn, sự lên xuống tỷ giá triệt tiêu lẫn nhau, do đó:
d(s) =0, tức là i -i* =0 Do vậy, tỷ giá dài hạn chỉ phụ thuộc mức cung tiền và sảnlượng, không phụ thuộc lãi suất, tức là:
sl = (m-m*)- (y -y*) (16)
Trong ngắn hạn, sự thay đổi của tỷ giá tuỳ thuộc vào tốc độ điều chỉnh
( a, a>0) của tỷ giá trở về trạng thái cân bằng PPP Do đó, ta có:
d(S) = i -i* ( trong ngắn hạn) nên:
i -i* = -a (s - sl) s = sl -1/a (i -i*) (17)
Thay (16) vào ta có:
s = (m-m*)- (y -y*) - 1/a (i -i*)
Như vậy, theo mô hình này, sự tăng lãi suất trong ngắn hạn, dẫn đến sự tăng giá đồng nội
tệ, ngược lại so với mô hình giá cả linh hoạt
Mô hình Dornburch còn có thể được mô tả đơn giản qua sơ đồ như sau:
(Biểu đỏ ở trang sau)
Qua biểu đồ trên ta có thể thấy như sau:
- Tại thời điểm trước t1, các yếu tố cân bằng nhau: S1 tương ứng với M1, i1, P1 Tại thờiđiểm t1, khi có sự tăng cung tiền ( M1 M2) thì:
- Trongngắn hạn, do giá cả cố định nên nhà đầu tư có xu hướng muốn giữ tiền( đầu cơ),làm lãi suất giảm từ i1i2 dẫn đến tỷ giá tăng mạnh từ S1S2
- Trong dài hạn, do lãi suất thấp, nhà đầu tư đầu cơ, nhu cầu hàng hoá tăng dẫn tới giátăng dần dần lên đến P2 ở thị trường tiền tệ, do giá ở thị trường hàng hoá tăng dẫn tới lãisuất tăng dần và tỷ giá cũng giảm dần đến S* là mức cần bằng dàihạn mới:
Trang 14Qua mô hình Dornbush, cho phép ta tìm đến được một sự cân bằng ở trên cả thị trườnghàng hoá, tiền tệ trong dài hạn (xem biểu đồ)
M
G
G
S (tỷ giá) PPP
45 o
Trang 15* GG là đường diễn trả sự cân bằng thị trường hàng hoá ứng với mức giá và tỷ giá khácnhau Đường này được lập lên từ giả thiết:
Tỷ lệ lạm phát = c(d - y), trong đó d= log(tổng cầu), y= log( tổng cung), c là cơ số tỷ lệ.Đường GG cho rằng: sự giảm giá của đồng nội tệ (tỷ giá tăng) dẫn tới sự tăng cầu xuấtkhẩu và sự tăng lên này sẽ dẫn tới sự tăng giá Nhưng sự tăng giá hàng hoá lại dẫn tớităng lãi suất, trong dài hạn, sự tăng lãi suất lại làm giảm cầu và làm giảm bớt sự tăng giáhàng hoá Do đó, giá tăng ít hơn so với tỷ giá ở bên trên đường GG sẽ là những điểm dưcung, dưới GG là điểm dư cầu
Trên đồ thị ta thấy, A là điểm giao của PPP,GG,MM, nó là điểm cân bằng thị trườnghàng hoá, tiền tệ về dài hạn Qua biểu đồ này ta có thể diễn tả quá trình tác động của việc
mở rộng cơ số tiền tệ như sau:
- Khi tăng cơ số tiền tệ, M1M1 M2M2.Do giá cố định nên tỷ giá dịch từ S1S2 Sau
đó, do sự tăng giảm giá đồng nội tệ dẫn đến tăng giá hàng hoá G1G1G2G2 cho đến khiđạt đến trạng thái cân bằng C (điểm cân bằng AC)
2.3.3 Mô hình chênh lệch lãi suất thực
Mô hình này bắt đầu tư phương trình:
m- m* = (p -p*) + (y- y*) - ( i- i*) (21)
Trong điều kiện UIP ta có:
d( s) = i- i* (22)
Mô hình giả rằng, tỷ lệ giảm giá (d( s)) là một hàm số của chênh lệch tỷ giá hiện tại với
tỷ giá trung bình dài hạn và chênh lệch lạm phát của hai đồng tiền Tức là:
Trang 16s- sl = -1/a. (i- r) -(i*-r*)
s= sl -1/a. (i- r) -(i*-r*) (24)
Trong dài hạn ta có:
sl = (m- m*) - (y-y*) +( r-r*) (25)
Vì i- i* =r- r* ( các biến động lãi suất thực triệt tiêu)
Thay (25) vào (24) ta có:
s =(m- m*) - (y-y*) +( r-r*)-1/a. (i- r) -(i*-r*) (26)
Công thức (26) cho thấy tỷ giá bị ảnh hưởng bởi chênh lệch lãi suất thực giữa hai đồngtiền . (i- r) -(i*-r*); sự tăng lên của lãi suất thực đồng nội tệ sẽ dẫn đến sự lên giá củađồng nội tệ trong ngắn hạn
Tóm lại, trong cách tiếp cận tiền tệ, ta có một số nhận xét như sau:
- Các mô hình tập trung giải quyết mối quan hệ cung cầu tiền nội, ngoại tệ- tỷ giá Rõràng rằng, tỷ giá là giá của tiền nên nó chịu sự tác động của khối lượng tièn tệ, tỷ giá làmột hiện tượng tiền tệ
- Các mô hình tiền tệ đều dựa trên PPP về dài hạn
- Qua các mô hình cũng có thể thấy được tác động của các nhân tố như thu nhập quốcdân, lạm phát, lãi suất thực, danh nghĩa lên tỷ giá nhưng thôngqua việc nó liên hệ trựctiếp tới khối lượng tiền tệ:
(m = p + y - i)
- Mô hình tiền tệ đã bỏ qua sự lựa chọn tài sản khác nhau do tính rủi ro của mỗi loại khácnhau ( điều kiện 2: No premium risk) Nó cũng chưa giải thích tình trạng tài khoản vãnglai tác động như thế nào lên tỷ giá
2.4-/ Các mô hình tiếp cận từ thị trường tài sản:
Trang 17Mô hình tiền tệ đã bỏ qua sự khác nhau giữa độ rủi ro của các tài sản, do đó đã khôngcho thêm tỷ lệ lợi tức yêu cầu phụ trội trong tỷlệ lợi tức mong đợi Trong cácmô hình tàisản, vấn đề này được đề cập đến qua công thức:
i -i* = d( s) + PR (27)
Trong đó:
i, i* là lãi suất danh nghĩa ( tỷ lệ lợi tức mong đợi) của đồng nội, ngoại tệ
d( s) : tỷ lệ giảm giá đồng nội tệ
PR: tỷ lệ lợi tức yêu cầu thêm do chênh lệch rủi ro giữa tài sản định giá bằng đồng nội tệ
FXO là nghiệp vụ mà Chính phủ mua, bán các trái phiếu được định giá bằng ngoại tệ,làm thay đổi lượng tiền cơ sở và số lượng tài sản bằng ngoại tệ trong nước SFXO lànghiệp vụ kết hợp OMO và FXO bằng cách đồng thời thực hiện hai nghiệp vụ OMO,FXO đối nghịch, ví dụ như: bán trái phiếu nội tệ thì sẽ mua trái phiếu ngoại tệ Do đólượng tiền cơ sở không thay đổi, chỉ thay đổi cấu trúc tài sản giữa đồng nội tệ và ngoại tệ
Mô hình tiếp cận từ góc độ tài sản được phát triển bởi nhiều nhà kinh tế tiền tệ Các môhình dựa trên cơ chế tác động như sau:
Sơ đồ 1:
Trang 18Trong số các mô hình đưa ra, có một mô hình đáng được chủ ý là mô hình áp dụng chocác quốc gia nhỏ Mô hình này dựa trên giả thuyết là quốc gia đang xét nhỏ đến mức mà
sự thay đổi tièn tệ của nó không dẫn đến phản ứng của các quốc gia khác Mô hình nàyđược tiến hành lần lượt như sau:
Thị trường có thể chia thành hai bộ phận là chính phủ và các cá nhân Mỗi bên có thể giữ: tiền mặt (M), trái phiếu bằng nội tệ(B) và trái phiếu bằng ngoại tệ(F) Chính phủ khôngqun tâm tới sự lỗ lãi của hoạt động can thiệp mà chỉ thực thi các can thiệp chức năng Taquan tâm hơn tới giới tư nhân và tỏng của từngloại tài sản ở đây ta có: B =Bp +BaB: Tổng số trái phiếu bằng nội tệ hiện có
Bp: Số trái phiếu nội tệ tư nhân giữ
Ba: Số trái phiế nội tệ do Chính phủ giữ
F =Fp + Fa
F: Tổng số trái phiếu ngoại tệ hiện có
Fp: Số trái phiế ngoại tệ tư nhân giữ
Fa: Số trái phiếu ngoạ tệ Chính phủ giữ
Ta có: M = Ba +S Fa, trong đó S là tỷgiá ( số nội tệ cần để mua một ngoại tệ) Tức làtổng số tiền cơ sở trong nước ngang bằng với số trái phiếu bằng nội tệ do Chính phủ giữcộng với giá trị bằng đồng nội tệ của các trái phiếu ngoại tệ Chính phủ giữ (SFq)
Như vậy ta có thể thấy, tổng số của cải tài chính mà dân cư đang nắm giữ là: W = M +Bp+ S.Fp
Ta có thể thấy rõ thêm các đặc tính của từng bọ phận tài sản do dân cư nắm giữ như sau:
Đầu ra thay đổi
Thay đổi về tài sản bằng ngoại tệ
Tài khoản vãng lai thay đổi
Trang 19M có quan hệ tỷ lệ nghịch với lãi suất danh nghĩa (i) (mi<0)
M có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với tỷ lệ giảm giá đồng nội tệ d( s), ms <0
M có mối quan hệ tỷ lệ thuận với mức thu nhập danh nghĩa và tăng tài dản cá nhân (mn>
0
A F
F M
M
S B
B
Trang 20BB là đường diễn tả các trạng thái cân bằng của thị trường trái phiéu nội tệ Nó có độ dốc
âm bởi vì, khi có sự tăng tỷ giá (giảm giá) do sự tăng lên cảu tài sản, dẫn tới tăng nhu cầutrái phiếu nội địa, với mức cung trái phiếu sẽ làm đường BB dịch sang phải
FF là đường diễn tả cân bằng thị trường tài sản ngoại tệ, có độ dốc âm và dốc hơn BB vì:khi lãi suất nội tệ tăng làm cho các trái phiếu ngoại tệ kém hấp dẫn hơn, người ta sẽ bánchúng và mua trái phiếu nội tệ, dẫn đến đồng nội tệ tăng giá FF dốc hơn BB vì lãi suấtnội tệ tác động tới BB mạnh hơn FF và do sự khác nhau về rủi ro của hai loại tài sản này
FF sẽ dịch sang trái nếu cung trái phiếu ngoại tệ tăng
Như trên đồ thị ta có thể nhận ra, điểm A là giao của cả ba đường MM, BB, FF Đó làđiểm ứng với sự cân bằng trên cả ba thị trường
Bây giờ chúng ta xem xét các nghiệp vụ OMO, FXO, SFXO tác động như thế nào lênđiểm cân bằng này:
*Tác động của nghiệp vụ OMO:
Đồ thị 5:
Giả sử có nghiệp vụ OMO là trái phiếu bằng nội tệ Nghiệp vụ này sẽ làm giảm Bp, tăng
M, do đó từ B1B1 B2B2( sang trái) và M1M1 M2M2( sang phải), điểm cân bằngdịch chuyển từ A B Như vậy việc mua trái phiếu nội tệ, Chính phủ làm giảm lãi suất
và tăng tỷ giá (giảm giá nội tệ)
*Tác động của nghiệp vụ FXO
Trang 21Giả sử Chính phủ mua tài sản ngoại tệ, khi đó ta có M tăng, Fp giảm, do đó M1M1 M2M2 (dịch sang phải) F1F1 F2F2, điểm cân bằng chuyển tư AB Tức là với việcChính phủ mua ngoại tệ dẫn tới việc giảm lãi suất và giảm giá đồng nội tệ.
* Tác động của nghiệp vụ SFXO:
Đồ thị 7:
Hình vẽ này minh hoạ cho trường hợp Chính phủ mua ngoại tệ đồng thời bán trái phiếubằng nội tệ Khi đó lượng tiền cơ sở không đỏi và Bp tăng, Fp giảm Điều đó dẫn đếnF1F1 dịch sang phải thành F2F2, B1B1 dịch sang phải thành B2B2, điểm câ nbằng mới
là B Như vậy, tỷ giá tăng( giảm giá đồng nội tệ) và lãi suất cũng tăng
Qua các đồ thị ta có thể thấy mức độ tác động khác nhau tới tỷ giá, lãi suất củatừngnghiệp vụ OMO ít tác động tới tỷ giá hơn mà chủ yếu tác động lên lãi suất Ngượclại, FXO tác động mạnh lên tỷ giá và ít tác động lên lãi suất SFXO là sự sức hợp của haitác động OMO, FXO, khó xác định Ta có thể thấy rõ hơn qua đồ thị dưới
B1
B2
B1
B1O
S
M1
M1
S- SFXO F-FXO O- OMO
Trang 22Các nghiệp vụ OMO, FXO, SFXO còn có tác động lên tài khoản vãng lai và chúng được
mô tả trong dài hạn bằng sơ đồ sau:
Đồ thị 9:
Tại thời điểm t1, khi có sự can thiệp của OMO , SFX, FXO có sự giảm jgiá từ S1S2làm tài khoản vãng lai từ cân bằng trởthanh thặng dư Sau đó, tỷgiá giảm dần xuống tớimức cân bằng dài hạn làm cán cân trở lại thăng bằng
Đối với vấn đề rủi ro, ta cũng có thể thể hiện những tác động của chúng trên đồ thị nhưsau:
Trang 23Khi có sự nhận định rằng tài sản ngoại tệ rủi ro hơn, cầu về tài sản này giảm xuống làmcho F1F1F2F2( dịch sang trái) đồng thời tài sản nội tệ tăng làm đường này dịch sangtrái (B1B1B2B2) Kết quả là điểm cân bằng từ AB, tỷ giá giảm và lãi suất giảm.Tóm lại, mô hình tài sản đã đề cập đầy đủ đến các nhân tố tác động lên tỷgiá trong cơ chếthị trường tựdo khá hoàn hoả, trong đó động lực của sự vận động là các nhà đầu tư dựatrên sự phân tích rủi ro và tónh toán lợi ích mong đợi của tài sản đầu tư Không chỉ thế,
mô hình còn cho ta thấy được các tác động của các can thiệp của Chính phủ lên thịtrường tài sản một cách khá đầy đủ
2.5-/ Một mô hình khá tổng quát về tỷ giá:
Các mô hình trước mới chỉ đưa ra các tác động lên tỷ giá ở từng góc độ khác nhau vàchưa cho ta được cái nhìn tổng quát về tỷ giá Mô hình PPP cho ta thấy được tỷ giá đượcxác định như thế nào trên thị trường hàng hoá Tuy nhiên nó chưa phân tích đưa ra nhữngnhân tố tác động đến tỷ giá ở đây một cách đầy đủ Bây giờ, chúng ta phải làm điều đó.PPP có thể đưa ra một cách giải thích tốt hơn về các mô hình tiền tệ, tài sản cho sự vậnđồng thực sự của các tỷ giá hối đoái thông qua các tỷ giá thực Tỷ giá hối đoái thực cóthể thấy được thông qua công thức sau:
q = S.P*/P (28)
Trong đó: q là tỷ giá hối đoái thực tế (số giỏ hàng hoá nội để mua giỏ hành hoá ngoại tệ)S: tỷ giá hối đoái danh nghĩa ( só đồng nội tệ để mua 1 đồng ngoại tệ)
PP*: Mức giá trong nước, nước ngoài
Như vậy, tỷ giá hối đoái thực là giá của giỏ hành hoá trong nước được đo bằng số hànghoá nước ngoài tương tự ở mức tỷ giá danh nghĩa hiện tại Ta có thể hiểu hơn thông qua
ví dụ như sau:
Giả sử một giỏ hàng hoá ở Mỹ là 50 USD, cũng giỏ hàng hóa tương tự đó ở Đức là 100
DM, tỷ giá danh nghĩa hiện tại là 0,5 USD/DM Khi đó tỷ giá thực diữa USD/DM là
q USD/DM = (0,5 USD/DM x 100DM)/50 USD =1
Khi tỷ giá danh nghĩa tăng lên 0,55 USD/DM thì tỷ giá thực lúc này là q USD/DM = 1,1.(giảm giá 10%) Sự giảm giá từ 0,5 USD/DM đến 0,55 USD/DM có thể do sự giảm 10%
Trang 24của q USD/DM hoặc biến đổi tiền tệ khác Nếu để như công thức (28) ta chưa thấy đượctác động của tỷ giá thực đến tỷ giá danh nghĩa, như công thức (28') cho ta thấy rõ điềunày:
Sơ đồ kết hợp ba mô hình ( Mô hình tổng quát)
Điều kiện PPP Điều kiện tiền tệ/ tài sản Mô hình (hàm số)
d( s) =d(p)-d( p*)
i - i* = d( s) = p -p*= ( m- m*) - (y -y*)
+(i-i*)PPP danh nghĩa
không được duy trì
Trang 25Mô hình tiền tệ cho ta sự thấu hiểu các tác động của tiền tệ tới tỷ giá Tuy nhiên, chỉdừng lại ở đó, mô hình tài sản mở rộng hơn khi đề cập đến sự khác biệt rủi ro và cơ chếvận động vốn không tự do Như vậy, ta sẽ có một bức tranh rất đầy đủ về tỷ giá nếu ta kếthợp một cách khéo léo ba mô hình này vào cùng một mô hình (Sơ đồ 2)
Vậy mô hình tổng quát của tỷ giá là:
.s = logq + d(q)+(m-m*) - (y-y*)+(r-r*) -1/a.(1-r) -(i*-r*)+1/a.PR
Trong đó:
.s = logS, S tỷ giá danh nghĩa (đồng nội tệ/ ngoại tệ)
q=tỷ giá thực (nội tệ/ ngoại tệ)
d(q)= tỷ lệ giảm giá tỷ giá thực
m, m*= log(mức cung tiền nội tệ, ngoại tệ)
y, y*= log( thu nhập/ sảnlượng thực tế nội địa/ nước ngoài)
r, r*=tỷ lệ lạm phát trong nước, nước ngoài
(i- r), (i*-r*)=tỷ lệ thực tế trong nước, nước ngoài
PR=tỷ lệ lợi tức yếu cầu thêm do độ rủi ro cao hơn
Có thể nói bằng lời như sau:
Tỷ giá danh nghĩa = f1( tỷ giá thực) f2(biến động tiền tệ).f3(độ rủi ro)
Trong đó:
f1 = q ( tổng cung, cầu, năng suất lao động)
f2 = m( mức cung tiền, sản lượng thực tế, lạm phát, lãi suất)
Điều kiện: UIP và PR = 0
f3 = w( độ rủi ro, trạng thái tài khoản vãng lai)
Điều kiện: PR0, tài sản với không di chuyển tự do
Đúng như tên gọi, mô hình tổng quát cho ta một cách tổng quát xác định tỷ giá (các nhân
tố ảnh hưởng tới tỷ giá) Tuy nhiên cơ chế tác động của từng nhân tố là chưa rõ ràng vì
có tính cộng hưởng giữa các nhân tố để tác động lên tỷ giá Để xác định được cụ thểnhững hướng tác động của một nhân tố lên tỷ giá ta phải gắn với những điều kiện (môhình ) nhất định Tuy nhiên việc những hướng có thể tác động tới tỷ giá của một nhân tố
là quan trọng và điều đó được thực hiện ở phần tiếp theo
3-/ Các nhân tố tác động lên tỷ giá:
Trang 26Như các nhà Marxist và K.Marx đã chỉ ra rằng: tỷ giá là một phạm trù kinh tế lịch sửchịu sự tác động của nhiều yếu tố gắn với quá trình phát triển của từng giai đoạn kinh tế,tiền tệ thế giới Như vậy, sự tác động của các nhân tố tới tỷ giá có tính tương đối tuỳ theotừng điều kiện nhất định Các kết luận cụ thể đưa ra chỉ có giá trị thời điểm gắn liền vớiđiều kiện hoàn cảnh của các nhân tố khác.
3.1-/ Các nhân tố tác động cơ bản tác động trực tiếp tới tỷ giá
3.1.1 Lãi suất: Lãi suất là một chỉ số tiền tệ trong nước và như vậy nó chắc chắn có liên
hệ với tỷ giá Trong các mô hình về tiền tệ, chúng ta đã rút ra được những tác động củalãi suất lên tỷ giá Trong mô hình giá cả linh hoạt, phương trình (10)đã chỉ ra rằng, một
sự tăng lên của lãi suất danh nghĩa sẽ dẫn tới sự giảm giá đồng nội tệ cả trong ngắn hạn
và dài hạn Tuy nhiên với điều kiện giá cả kém linh hoạt, hai mô hình giá cả cố định vàchênh lệch lãi suất lại cho ta kết luận ngược lại: sự tăng giá đồng nội tệ cả trong ngắnhạn, dài hạn (phương trình 19, 26) Các kết luận trên dựa vào một điều kiện quan trọng là
có sự luân chuyển tự do vốn giữa các tài sản và sự lựa chọn bình đẳng giữa tài sản nội tệ
và ngoại tệ Khi không có điều kiện này, các kết luận rút ra là rất khó xác định bởi vì khi
đó, theo nguyên tắc cân bằng lợi tức dự tính thì i- i* = d( s) +PR d( s) =i- i*-PR Sựtăng hay giảm của tỷ giá còn tuỳ thuộc vào tương quan giữa i và PR
Tóm lại, vì lãi suất tác động tới mức cầu tiền, lợi tức dự tính và làm thay đổi thái độ củanhà đầu tư nên nó tác động tới tỷ giá và mức độ tác động là tuỳ thuộc vào tính chất củathị trường là tự do hay không tự do
3.1.2 Lạm phát:Các tác động của lạm phát tới tỷ giá xem ra rõ ràng và thuần nhất hơn,các mô hình đều cho ra cùng 1 câu kết luận là sự tăng lên của tỷlệ lạm phát chắc chắn sẽdẫn đến sự giảm giá của đồng nội tệ Lạm phát tác động đến tỷ giá bởi vì nó làm thay đổisức mua của đồng tiền (P/P*), thay đổi lãi suất thực (i -r) và ảnh hưởng tới nhận định vềrủi ro của tài sản.Một đồng tiền ổn định (mức tỷlệ lạm phát thấp, ổn định) là điều kiệncần thiết để ổn định tỷ giá, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư lựa chọn và dụng đồng tiền.3.1.3 Mức cung tiền: Mức cung tiền (MS) ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ giá / ta có thể thấy
rõ qua các mô hình) Điều này đã được Friedman khẳng định bằng thực tế nước Mỹ.Tuynhiên, không đơn thuần như thế, mức cung tiền còn tác động tới lãi suất, lạm phát và do
Trang 27đó tiếp tục tác động tới tỷ giá Một sự gia tăng mức cung tiền sẽ dẫn tới sự giảm giá đồngnội tệ Ta thấy: mức giá x sản lượng = mức cung tiền x tốc độ luân chuyển.
Do vậy, một sự tăng trong mức cung tiền sẽ dẫn đến sự tăng trong mức giá, nhưng sựtăng nhanh hay chậm của mức giá tuỳ thuộc vào tốc độ luân chuyển Nếu tốc độ luânchuyển nhanh sẽ làm cho mức giá tăng nhanh, lạm phát cao và tác động đến tỷ giá Mặtkhác, tốc độ thanh toán cơ chế thanh toán cũng có những tác động riêng của nó Khi cơchế thanh toán trong nước hiện đại, thói quen thanh toán qua ngânhàng được thực hiệnthì nó làm cho mối quan hệ giữa mức giá và cung tiền trở nên rõ ràng và dễ kiểm soáthơn Ngược lại sẽ rất khó xác định được một biếnđộng tương đối chính xác trong mứcgiá
3.1.4 Sản lượng (tốc độ tăng trưởng): Sự gia tăng trong sản lượng của nền kinh tế(GDP) dẫn đến sự lên giá của đồng nội tệ Điều này có thể giải thích theo nhiều tác độngkhác nhau: sự tăng sản lượng đòi hỏi tăng cung tiền, tăng lãi suất và thu hút thêm vốnđầu tư bên ngoài(cầu nội tệ tăng) Một sự tăng trưởng đều, ổn định mặt khác tạo sự tintưởng cho nhà đầu tư giảm dần tỷ lệ rủi ro dự tính và do đó kích thích việc nắm giữ tàisản nội tệ Sự gia tăng sản lượng khôngchỉ tác động đến tỷ giá thông qua cơ chế tiền tệ
mà còn tác động tới tỷ giá thực( mô hình tổng quát) làm gia tăng tỷ giá thực (q giảm)3.1.5 Tình trạng cán cân thanh toán: Bản thân các bên thanh tóan luôn cân bằng, nhưng
sự cân bằng, thâm hụt hay thặng dư của các khoản mục trong cán cân có tác động trựctiếp tới cân đối cung cầu ngoại tệ cả ngắn hạn và daì hạn do đó tác động tới tỷ giá
Nếu có sự thặng dư trong tài khoản vãng lai, chứng tỏ cung ngoại tệ lớn và sẽ dẫn tới sựgiảm tỷ giá ( tăng giá nội tệ) và ngược lại Một sự thặng dư trong tài khoản vốn sẽ dẫn tớităng giá nội tệ tuy nhiên nó lại là dấu hiệu của nguy cơ rút vốn sau này dẫn tới giảm giánội tệ Như vậy, sự cân bằng của tài khoản vãng lai, vốn được trực tiếp tác động tới tỷgiá
3.2-/ Các nhân tố môi trường:
Các nhân tố môi trường có thể trực tiếp hoặcgián tiếp tác động tới tỷ giá và mức độ tácđộng tuỳ thuộc vào các điều kiện cụ thể Các nhân tố chủ yếu có thể tác động đến là:
Trang 28- Các biện pháp bảo hộ mậu dịch: Các biện pháp bảo hộ mậu dịch như quota, thuế sẽ làmhạn chế các giao dịch hàng hoá, dịch vụ dẫn đến giảm cầu ngoại tệ, dẫn tới tăng giá đồngnội tệ.
- Năng suất lao động trong nước: sự tăng lên của năng suất lao động trong nước sẽ dẫntới giá hàng hoá rẻ hơn, tăng sức mua của đồng nội tệ do đó có xu hướng tăng giá so vớingoại tệ
- Sự ưa thích tiêu dùng: Thái độ tiều dùng của người dân cũng tác động tới tỷ giá Nếungười dân có thói quen tiêu dùng hàng ngoại nhập (cầu nhập khảu cao) sẽ dẫn tới sự tăngcầu ngoại tệ cho nhập khẩu vàdo đó giảm giá đồng nội tệ
- Các biện pháp, chính sách can thiệp của chính phủ: sự can thiệp là một nhân tố quantrọng ảnh hưởng tới tỷ giá Tuy nhiên,mức độ tác động còn tuỳ thuộc vào điều kiện từngquốc gia với các biện pháp can thiệp khác nhau Cso nhữgn biện pháp tác động ngay trựctiếp nhưng cũng có những biện pháp lâu dài
- Các yếu tố tâm lý: Với sự nhạy cảm khôn ngoan của các nhà đầutư, kinh doanh mọi sựbiếnđộng của thị trường trong nước, quốc tế, các dấu hiệu kinh tế chính trị luôn được họquan tâm để đưa ra quyết định đầu tư và tác động đến tỷ giá trong ngắn hạn
4-/ Tác động của tỷ giá đến các hoạt động kinh tế vĩ mô cơ bản:
Từ trước tới nay, thế giới đã tốn rất nhiều công sức, giấy mực để nghiên cứu về tỷ giákhông phải vì nó là một bản nhạc hay mà vì nó có những tác động tới những yếu tố vĩ mô
cơ bản Những nhà kinh tế học thông minh luôn tìm ra những biện pháp điều chỉnh cáctác động này sao cho có lơị nhất cho sự phát triền nền kinh tế đất nước, thế giới
4.1-/ Tỷ giá với hoạt động xuất nhập khẩu
Tỷ giá trực tiếp tác động đến xuất nhập khẩu Khi tỷ giá tăng ( đồng nội tệ mất giá), giáhàng xuất khẩu giảm, giá hàng nhập khẩu tăng, như vậy có thể cầu hàng nhập khẩu giảmvàhàng xuất khẩu tăng dẫn đến thặng dư trong cán câ n thương mại Ngược lại khi tỷ giágiảm( có sự lên giá của đồng nội tệ) thì cầu nhập khẩu tăng và xuất khẩu giảm do đó cóthể thâm hụt cán cân thương mại Duy trì sự cân bằng cán cân thanh toán đặc biệt là cáckhoản mục vốn và thương mại là rất quan trọng đối với một quốc gia trongviệc duy trìcân đối nền kinh té với thế giới Giải quyết tương quan quan hệ giữa tỷ giá với hoạt động
Trang 29xuất nhập khẩu được nhiều nhà kinh tế quốc tế tìm hiểu, trong đó ở phần trước chúng ta
đã nói đến mô hình đàn hồi của Robinson
4.2-/ Tỷ giá với lạm phát, tiền lương, sản lượng:
Là một chỉ số kinh tế quan trọng, tỷ giá luôn được theo dõi chặt chẽ và bị can thiệp điềuchỉnh để đảm bảo cân đối vĩ mô nền kinh tế Một sự chậm trễ trong can thiệp có thể dẫnđến sự mất cân bằng một số yếu tố cơ bản của nền kinh tế do đó cả nền kinh tế , tạo sựkhông ổn định sau này Một trong những mối liên hệ rất cơ bản đó là liên hệ tỷ giá -lãisuất- lạm phát-tiền lương -sảnlượng- thất nghiệp
Chúng ta có thể đơn giản thấy được khi tỷ giá tăng ( giảm giá nội tệ) dẫn đến giá hàngnhập khẩu tăng làm giá cả trong nước tăng, tiền lương thực tế giảm Mặt khác ta cũng cóthể tiếp cận ở góc độ rộng hơn, khi tỷ giá tăng, dẫn tới (X-M) tăng và AD = G+C+I +(X-M) tăng dẫn tới tăng giá và sản lượng( trong ngắn hạn)
Đồ thị 11:
Sự tăng lên của tỷ giá làm thay đổi ( tăng) chi phí sản xuất của một số ngành nhậpnguyên liệu đầu vào Sự tănglên lâu dài, cao của tỷ giá có thể gây khó khăn cho nhữngngànhnày và làm thay đổi cơ cấu sản xuất trongnước nếu những ngànhđó chuyển sangkhiathác nguyên liệu trong nước hoặc các ngãnh nguyên liệu thay thế ra đời Các kết quảnghiên cứu thực tế ở các nước cho thấy có mối liên hệ khá chặt chẽ giữa sự thay đổi tỷgiá đối với những thay đổi trong nước (lạm phát, sản lượng, tiền lương, thất nghiệp) đặcbiệt đối với các nước nhỏ có nền kinh tế mở và là các nước chấp nhận giá quốc tế (pricetaker) Các hệ số thường cho kết quả cao
Mối liên hệ tiền tệ- lãi suất- tỷ giá cầnđược thấy rõ trong đồ thị sau:
Trang 30Tỷ giá có mối liên hệ rộng khắp với các biến cố hoạt động kinh tế vĩ mô cơ bản như đã
kể trên Bên cạnh đó, tỷ giá còn tác động tới cả hoạt động đầu tư ( thu hút đầu tư), khảnăng trả nợ của quốc gia Khi tỷ giá tăng sẽ thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào trongnước nhưng khi tỷ giá giảm lại thúc đẩy việc đầu tư ra nước ngoài Sự thay đổi của tỷ giácũng thay đổi thái độ đầu tư và quyết định cơ cấu tài sản của nhà đầu tư Sự tăng lên của
tỷ giá sẽ làm tăng các khoản nợ của các quốc gia tức là làm giảm khả năng trả nợ củaquốc gia, doanh nghiệp vay vốn nước ngoài
Với sự tác động sâu rộng của tỷ giá tới nền kinh tế như đã kể trên, sự nhận thức và điềuchỉnh các tác động của tỷ giá, tìm ra các biện pháp điều chỉnh hữu hiệu là rất quan trọng.Việc này sẽ được bàn đến ở mục sau
Như vậy, trong mục này chúng ta đã có những cái nhìn cơ bản nhất về tỷ giá ở nhiều góc
độ Quả thực nó rất phức tạp và nhiều khi tạo ra các vòng luẩn quẩn Điều đó càngkhiếncho các nhà chính sách tiền tệ của các quốc gia trở nên khó khăn hơn trong việc nhậnthức và tìm ra các biện pháp điều chỉnh nó một cách hợp lý Việc tìm ra các chính sách tỷgiá hợp lý cũng là một vấn đề phức tạp và nhiều tranh cãi Chúng ta thử xem xem thếgiới đã làm gì với vấn đề này
II-/ SỰ CAN THIỆP CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VÀO TỶ GIÁ
Trong chương này, chúng ta sẽ xem xem Chính phủ đã sử dụng" bàn tay hữu hình" củamình để vỗ vào cái còn lại như thế nào và tại sao không phải lúc nào tiếng vỗ cũng giòngiã và có tính nhạc Thông thường với một Chính phủ thì việc quảnlý tỷ giá phù hợp vớithực trạng đất nước, khu vực đưa ra các mục tiêu vi mô, vĩ mô cho chính sách tỷ giá từng
Trang 31thời kỳ và lựa chọ các công cụ quản lý can thiệp sao cho hữu hiệu nhất để có sự thịnhvượng của quốc gia.
1-/ Lựa chọn chế độ tỷ giá:
Đây là công việc cơ bản và khó khăn nhất của các Chính phủ Thế giới đã trải qua 4 hệthống tiền tệ và đểlại một sự phong phú phức tạp với hàng loạt các hệ thống tỷ giá tráingược Một cực là chế độ tỷ giá cố định gồm: tỷ giá cố định vào một đồng tiền, vào mộtgiỏ đồng tiền và chế độ cố định có điều chỉnh Cực còn lại là chế độ tỷ giá thả nổi baogồm chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn và chế độ thả nổi có quản lý Việc lựa chọn các chế
độ tỷ giá thường hướng vào các mục tiêu sao cho đảm bảo một chế độ tỷ giá tối ưu Mộtchế độ tỷ giá đảm bảo được: tăng trưởng(ổn định GDP thực tế), ổn định tiền tệ( lạm phátthấp, giá trị đồng tiền được duy trì), thất nghiệp thấp và đảm bảo cân đối với bên ngoài(duy trì cân bằng cán cân thanh toán) Tuy nhiên khó có thể đạt được "tứ giác thần kỳ"này thậm chí cả "cặp so le": tăng trưởng cao và lạm phát thấp Ngày nay người ta thườnghướng vào mục tiêu cố gắng giảm thiểu tác động tới GDP thực Việc lựa chọn một cơ chếtốt nhất có thể tuỳ thuộc vào các điều kiện thực tế của các quốc gia Khi lựa chọn họ phảicân nhắc tới các yếu tố quan trọng sau:
* Trước hết, có sự liên hệ một cách kinh nghiệm và cả lý luận giữa sự mở cửa của nềnkinh tế với sự lựa chọn chế độ tỷ giá cố định hày linh hoạt Việc lựa chọn chế độ cố địnhtức là đã dựa trên một nền kinh tế mở: luôn có sự tương tác giữa các quốc gia và cácbiến động của thế giới Nơi đây ít có điều kiện xây dựng một chính sách đội nội độc lạp
vì các ảnh hưởng của nó lan truyên ra cả hệ thống Việc lựa chọn chế độ tỷ giá linh họat
là đã dưa trên một nền kinh tế tương đối độc lập, không có sự ràng buộc giữa chính sáchđối nội và phần còn lại của thế giới Nơi đây, các biến động của bên ngoài sẽ bị giảmthiểu bởi tỷ giá khi tác động vào quốc gia
Mặt khác, việc lựa chọn các chế độ cụ thể còn phải căn cứ vào các tiêu chuẩn có tính kỹthuật khác như: đặc điểm của các biến động kinh tế nội địa, đặc thù cơ cấu kinh tế củaquốc gia, mục tiêu theo đuổi
Nếu nền kinh tế thường gặp các biến động xuất phát từ thị trường tiền tệ (biến độngdanh nghĩa) thì việc áp dụng một chế độ tỷ giá cố định danh nghĩa là thiết thực vì nó tạođiều kiện để cân đối trực tiếp các nhân tố tiền tệ Ngược lại, nếu các biến động xuất phát
Trang 32từ thị trường hàng hoá thì cần áp dụng chế độ tỷ giá linh hoạt danh nghĩa để tạo đièu kiệnđảm bảo sự cân đối cảu tỷ giá thực Tuy nhiên thực tế cho thấy mỗi quốc gia đều gặpphải cả hai loại biến động này vf chỉ là nhiều hay ít ở mỗi loại
Với nền kinh tế có cơ cấu kinh tế cho phép tiếp tục mở rộng sản xuất một cách khôngkhó khăn (có nguồn lực sản xuất lớn) thìviệc lựa chọn chế độ cố định là có thể được.Ngược lại với nền kinh tế mà nguồn lực phụ thuộc nhiều vào bên ngoài thì việc lựa chọnchế độ thả nổi là có thể
Cũng cần phải quan tâm tới mức độ tương đồng giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh
tế khu vực trongviệc theo đuổi các mục tiêu chung trong lựa chọn chế độ tỷ giá Câutrảlời sẽ làchế độ cố định nếu sự tương đồng là đủ lớn
Sự kết hợp giữa các yếu tố sẽ rấtkhó khăn cho các nhà chính sách khi đưa ra quyết địnhlựa chọn Tuy nhiên, câu trảlời tươngđối rõ ràng trongcác điều kiện cụ thể Nhưng với sựbiến động không ngừng vf tính pohụ thuộc ngày càng cao thì sự thích hợp của mỗi chế
độ không thể kéo dài Cái quan trọng không chỉ là chế độ nào mà còn là vận hành nónhư thế nào Ngày nay, chế độ thả nổi có quản lý được nhiều nước vận dụng bởi nó đảmbảo được khả năng phản ứng trước những thay đổi cần thiết Chế độ này đặc biệt hợp lýcho các nước đang phát triển
2-/ Xác định các mục tiêu cho chính sách tỷ giá trong từng thời kỳ:
Như trên đã khẳng định, vấn đề quan trọng không phải chỉ là lựa chọn cơ chế mà là vậndụng cơ chế đó như thế nào thông qua việc xác định các mục tiêu cụ thể cho chúng ởtừng giai đoạn sao cho phù hợp vớicác biến động của quốc gia và khu vực Về cơ bản,mục tiêu của chính sách tỷ giá hướng tới hai mục tiêu là: mục tiêu vi mô và mục tiêu vĩ
mô Mục tiêu vi mô là việc hướng chính sách tỷ giá vào việc duy trì, nâng cao khả năngcạnh tranh quốc tế củ nề kinh tế thông qua việc duy trì sự vững mạnh, cân bằng cán cânthanh toán Nó thường gắn với việc duy trì cân bằng tỷ giá thực Mục tiêu vĩ mô là việchướng tỷ giá tới việc ổn định nền tài chính trong nước: ổn định giá cả, tiền lương, công
ăn việc làm tăng trưởng Thực chất của việc xác định các mục tiêu này là đảm bảo sự cânbằng đối nội và đối ngoại của tỷ giá Hiển nhiên không có sự lựa chọn cưc đoan hai mụctiêu nhưng thực sự có những sự loại trừ giữa hai mục tiêu này Do đó, việc xác định cho
Trang 33đúng mức độ từng mục tiêu là không dễ Chính vì thế mà nhiều lúc tỷ giá đã được sửdụng như một mục tiêu hơn là một công cụ.
Đối với các nước đang phát triển hoặc các nước chuyển đổi, một vấn đề cơ bản được đặt
ra là việc thúc đẩy khả năng chuyển đổi của đồng tiền Đối với các nước công nghiệpphát triển, họ phải mất 50 năm để đồng tiền chuyển đổi Ngày nay, phần lớn các nướcchưa có đồng tiền chuyển đổi đềucó kế hoạch đưa đồng tiền trở thành đồng tiền có thểchuyển đổi trong thời gian ngắn Để thực hiện được điềunày đòi hỏi phải có sự nỗ lực lớnvới hàng loạt các điều kiện hết sức cơ bản và khó khăn (chính sách cải tổ) Chính sáchcải tổ này nhằm thiết lập một hệ thống chính sách vĩ mô lành mạnh: các chính sách tàichính đảm bảo đối nội với sự tăng cầu phù hợp với tăng cung, đảm bảo cho cán cân thanhtoán lành mạnh và duy trì sự ổn định giá cả trong nước Để giải quyết các vấn đề mộtcách dần dần, các quốc gia từng bước cho đồng tiền của mình được phép chuyển đổi ởcác phạm vi ngày càng mở rộng hơn Đây là bài toán uy tín và kinh tế phức tạp đầy trảgiá
3-/ Lựa chọn và sử dụng các công cụ can thiệp tỷ giá hợp lý:
Chế độ tỷ giá cùng với mục tiêu của chính sách tỷ giá lựa chọn được đưa vào thực tiễn
Do sự biến động của tình hình tài chính- tiền tệ- thương mại quốc tế, khu vực, tỷ giá sẽ đichênh lệch khỏi những mục tiêu mong đợi và cần có sự can thiệp của các Chính phủ vớihàng loạt các công cụ can thiệp hữu hiệu Tuy nhiên, tính hiệu lực của các công cụ tuỳthuộc vào khả năng của Chính phủ và sự phát triển của nền kinh tế đất nước, hệ thống tàichính- tiền tệ và khu vực Hiện nay, có 6 công cụ can thiệp mà các Chính phủ có thể sửdụng gồm:
3.1-/ Lãi suất chiết khấu:
Công cụ lãi suất chiết khấu được sử dụng dựa trên cơ sở sự tác động của lãi suất tới tỷgiá (có thể thấy rõ trong các mô hình tiền tệ) và sự luân chuyển các dòng vốn quốc tếngắn hạn do sự thay đổi của lợi tức Với cơ chế tác động rất rõ ràng: khi lãi suất trongnước tăng, các dòng vốn ngắn hạn được chuyển vào trong nước làm tăng cung ngoại tệdẫn tới giảm tỷ giá (tăng giá nội tệ) và ngược lại khi lãi suất giảm
Chính phủ sử dụng các công cụ can thiệp lãi suất để gián tiếp tác động tới tỷ giá Công cụlãi suất chiết khấu được các nước phát triển sử dụng như một công cụ hữu hiệu Khi
Trang 34Chính phủ muốn tăng lãi suất thị trường họ sẽ tiến hành tăng lãi suất chiết khấu do đó,các Ngân hàng thương mại vay ngân hàngtrungương ít hơn, nguồn vốn giảm dẫn tới lãisuất thị trườngtăng, ngược lại khi Chính phủ giảm lãi suất chiết khấu ở một số nướcđang phát triển, công cụ lãi suất chiết khấu được thay thế bởi các công cụ mang tính hànhchính khác so sự phát triển của thị trường tài chính chưa cao.
Công cụ này tỏ ra hiệu lực và thường được sử dụng, tuy nhiên nó có giới hạn sử dụngnhất định Thứ nhất, sự tăng lãi suất bị giới hạn bởi tỷ suất lợi nhuận Thứ hai, để có sựthay đổi cung cầu ngoại tệ đòi hỏi phải có sự luân chuyển tự do các luồng vốn trong,ngoài nước mà điều này không thể có với các nước LDCs không có thị trường chứngkhoán phát triển và hàng loạt các giới hạn về luân chuyển vốn Thứ ba, công cụ nàynhằm tácđộng vào tỷ suất lợi nhuận, nhằm tạo ra sự lớn hơn (hoặc nhỏ hơn) so với lợinhuận quốc tế Tuy nhiên, các nhà đầu tư dự tính tỷ lệ lợi tức mong đợi bao hàm cả tỷ lệlợi tức yêu cầu về rủi ro ( tính an toàn của vốn đầu tư) Do vậy, công cụ lãi suất trở nên
vô hiệu khi không đảm bảo được tính an toàn vốn (có lòng tin đối với nhà đầu tư) Điềunày đã được thực tế chứng minh ở các nước LDCs và cả DC khi họ lâm vào khủng hoảng(Thailand, England, Mexico)
3.2-/ Các công cụ thị trường mở (OMO,FXO,SFXO)
Các công cụ thị trường mở (OMO,FXO,SFXO) điều chỉnh tỷ giá thông qua hoạt độngcan thiệp trực tiếp lên cung- cầu ngoại nội tệ
OMO (Open Market Operation) là Chính phủ mua/ bán các tài sản tài chính định giábằng nội tệ do đó làm tăng/ giảm lượng tiền cung ứng trên thi trường, tác động tới lãisuất, cơ cấu tài sản của các cá nhân và do đó tác động tới tỷ giá
FXO ( Foreign exchange Operation) là việc Chính phủ tiến hành mua/ bán các tài sản tàichính định giá bằng ngoại tệ (hoặc chính đồng ngoại tệ) do đó tác động lên cung -cầungoại tệ trên thị trường và làm thay đổi tỷ giá
SFXO (Sterilised Foreign Exchange Operation) là hoạt động can thiệp của Chính phủdựa trên việc tiến hành đồng thời hai nghiệp vụ OMO và FXO trái ngược nhau KhiChính phủ tiến hành FXO bằng cách mua tài sản định giá ngoại tệ, nó tung vào lưu thôngmột lượng tiền nội tệ mới làm thay đổi lượng tièn cung ứng dẫn tới những tác động phụ
Trang 35khác Để xoá bỏ các tác dụng phụ đó, Chính phủ tiến hành nghiệp vụ OMO bằng cáchbán các tài sản định giá bằng nội tệ làm giảm lượng tiền cung ứng trên thị trường.
Cơ chế tác động của OMO,FXO,SFXO lên tỷ giá có thể thấy rõ trongmô hình tài sản ởmục (2.4.)với các biểu đồ 4, 5, 6, 7, 8
Các công cụ này can thiệp trực tiếp lên cung- cầu ngoại tệ nên nó cho kết quả tức thì.Chính phủ có thể can thiệp một cách chính xác Tuy nhiên nó cũng bị giới hạn bởi khảnăng của các Chính phủ trong việc đánh giá, nhìn nhận để ra quyết định mức độ canthiệp Nó còn tuỳ thuộc tiềm lực dữ trữ mà Chính phủ hiện có
3.3-/ Quỹ bình ổn tỷ giá:
Quỹ bình ổn tỷ giá là việc Chính phủ lập nên một nguồn vốn lớn làm nguồn vốn cho việcthực hiện các công cụ can thiệp trực tiếp của Chính phủ (OMO,FXO,SFXO) Quỹ nàyđược hình thành từ việc: phát hành trái phiếu nội tệ để mua ngoại tệ, vàng, tài sản tàichính khác để dự trữ Khi cần thực hiện OMO,FXO,SFXO, nguồn sẽ được lấy ra, bổsung từ các quỹ này Quỹ cầnđược đa dạng về loại hình sử dụng và phải đủ lớn để tạo thếcho Chính phủ can thiệp vào thị trường
3.4-/ Quản lý ngoại hối (kiểm soát ngoại hối)
Đây là biện pháp hành chính áp đặt cho Chính phủ đề ra nhằm tập trungtấtcả các nguồnngoại tệ vào tay Chính phủ sau đó phân phối cho các đơn vị sử dụng theo mức độ ưutiên của Chính phủ Đây là công cụ cực mạnh được các nước đang phát triển áp dụng.Tuy nhiên, đây là một biện pháp ít mangtính thị trường và gây cản trở cho sự phát triểncủa thị trường hối đoái và hoạt động kinh doanh của các nhà sản xuất, đầu tư Các biệnpháp kiểm soát Chính phủ thường sử dụng là:
- Quy định về giới hạn sử dụng dự trữ ngoại tệ cuả các công ty xuất nhập khẩu và cácngân hàng thương mại
- Quy định về các giới hạn chuyển vàng, ngoại tệ ra nước ngoài
- Quy định về các hoạt động được phép sử dụng ngoại tệ
- Giới hạn về vay nợ nước ngoài
- Thuế và giới hạn ký quỹ của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài
- Hệ thống tỷ giá đa phương
- Kiểm soát các nhà đầu tư nướcngoài, hạn chế nhập khẩu
Trang 36-
3.5-/ Nâng giá hoặc phá giá tiền tệ:
Nâng giá hay phá giá tiền tệ là một công cụ kinh tế - chính trị được Chính phủ sử dụngkhi cần thiết để lập lại trạng thái cân bằng nội cho nền kinh tế Nó được áp dụng cho cácchế độ tỷ giá hối đoái cố định, cố định có điều chỉnh và cả thả nội có điều chỉnh Bằngmột công bố trên thị trường, Chính phủ có thể ấn định mức tỷ giá mới cao hơn hoặc thấphơn mức tỷ giá thị trường trước đó Thường thì các Chính phủ thường sử dụng biện phápphá giá tiền tệ
Mục tiêu của phá giá tiền tệ là kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, cải thiện tìnhtrạng cán cân thanh toán, nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế vàgiảm nợ Tuy nhiên,phá giá tiền tệ thànhcông đòi hỏi phải có những điều kiện nhất định và cũng có những trảgiá nhất định Điều kiện để phá giá thành công là ( nguyên tắc phá giá):
- Phá giá khi đồng bản tệ bị đánh giá cao , giảm tính cạnh tranh
- Tình hình tài chính tiền tệ trong nước và quốc tế ổn định, vững để cho khi phá giákhông gây sốc cho nền kinh tế
- Đủ các nguồn lực để phát huy lợi thế của phá giá ( đủ khẳ năng tăng khai thác nguồnlực để tăng xuất khẩu và thay thế nhập khẩu), các doanh nghiệp xuất khẩu phải đủ linhhoạt
- Có đủ nguồn dữ trữ ngoại tệ hoặc có đủ các biện pháp để duy trì tỷ giá mới
- Cân nhắc kỹ mức độ phá giá, thời điểm phá giá, các công cụ áp dụng sau phá giá và bímật trong phá giá để tránh đầu cơ
Tuy nhiên, phá giá không phải lúc nào cũng là bài toán màu nhiện cho việc lập loại cânbằng mới Như chúng ta đã nói là có những cái giá phải trả cho phá giá Đã có nhiều môhình tiếp cận vấn đè này và câu trả lợi là không phải lúc nào cũng là cách làm hay.Chúng ta có thể thấy rõ qua lý thuyết đường cong J, điều kiện Marshal- Lener và cáchtiếp cận từ chi dùng nội địa
HỘP : PHÁ GIÁ TIỀN TỆ CÓ CẢI THIỆN
CÁN CÂN THANH TOÁN ĐƯỢC KHÔNG?
Trang 37Chúng ta đã gặp vấn đề này đâu đó trong lý thuyết đàn hồi của Robinson Nhưng câu hỏitrả lời vẫn chưa rõ ràng lắm cà bây giờ chúng ta bắt đầu từ việc xem xét một nền kinh tếmở.
Trong nền kinh tế mở ta có:
Y = C+ I+G+X-M
Trong đó:
Y: sản lượng (GDP)
C: Tiêu dùng nội địa
I: Đầu tư trong nước
Ta có thể thấy:
CA = X+ S.M (33)
Trong đó:
CA: Tình trạng tài khoản vãng lai (tính bằng nội tệ)
X= P.Xv : giá trị xuất khẩu = giá hàng xuất (nội tệ) (P) x Khối lượng hàng xuất( Xv)M= P*.Mv: giá trị hàng nhập khẩu (tính bằng ngoại tệ) = giáthành nhập (ngoại tệ) (P*) xkhối lượng nhập (Mv)
S: tỷ giá danh nghĩa( số nội tệ để mua một đồng ngoại tệ)
Từ (33) ta có:
Trang 38 x+m >1.
Vậy, sự giảm giá của đồng nội tệ cải thiện cán cân thanh toán khi x+m>1 tức là tổng độ
co giãn của cầu nhập khẩu và xuất khẩu là lớn hơn 1 (Điều kiện này được gọi là điềukiện Marsshall -Lerner)
Qua đây, ta cũng có thể đưa ra kết luân rằng: Khi một đồng tiền giảm giá, nó tạo ra haihiệu ứng: hiệu ứng về giá và hiệu ứng về số lượng
Hiệu ứng về giá: hàng xuất khẩu sẽ trở nên rẻ hơn nếu đo bằng ngoại tệ trong khi hàngnhập khẩu trở nên đắt hơn khi đo bằng nội tệ Do vậy, sự giảm giá của đồng nội tệ, nhìn từgóc độ giá, sẽ làm xấu đi tình trạng tài khoản vãng lai
Hiệu ứng sốlượng: với sự rẻ hơn của hàng xuất, khối lượng hàng xuất tănglên Ngược lại,cùng với sự đắt hơn của hàng nhập, khối lượng nhập sẽ giảm đi Như vậy, từ góc độ sốlượng, sự giảm giá cải thiện tình trạng tài khoản vãng lai
Trang 39Hai hiệu ứng này đồng thời xảy ra do đó, xét trên tổng thể sự giảm giá đồng nội tệ sẽ cảithiện hay làm tồi hơn tài khoản vãng lai tuỳ thuộc vào hiệu ứng nào mạnh hơn.
Thực tế xảy ra như thế nào?
Kiểm chứng thực tế cho thấy lý luận cho rằng sự phá giá tiền tệ dẫn tới cải thiện CA khiđiều kiện Marsshall -Lerner được thoả mãn chỉ đúng trongdài hạn và không đúng trongngắn hạn (khoảng 6 tháng) bởi các lý do sau:
- Lý do từ phía người tiêu dùng: Người tiêu dùng cần có thời gian để phản ứng với sựtăng lên của giá hàng nhập và sự giảm giá của hàng xuất Do vậy, trước mắt hiệu ứng sốlượng không mạnh
- Lý do từ phía nhà sản xuất : Nhà sản xuất nội địa cần có thời gian điều chỉnh sản xuất
để tăng sảnlượng hàng xuất khẩu và thay thế hàng nhập khẩu Do vậy, trước mắt khốilượng hàng xuất khó tăng (thậm chí khi cầu cao hơn ngay sau phá giá) và khối lượnghàng nhập cũng chưa kịp giảm
- Lý do bởi cạnh tranh không hoàn hảo tại thị trường nước ngoài: Sự phá giá đồng nội tệlàm tăng tính cạnh tranh của hàng nội trên thị trường quốc tế dẫn tới phản ứng đối lại củacác đối thủ làm cho khối lượng xuất có thể sẽ không tăng
Tuy nhiên, trong dài hạn điều kết luận đưa ra là đúng: do đó, tình trạng của CA có thểdiễn biến theo một mô hình gọi là đường cong.J
Trang 40(Đồ thị 11)
Chúng ta có thể biểu diễn biến này một cách đơn giản như sau:
Tại thời điểm t1, ( khi có quyết định phá giá) do các lý do trễ của các phản ứng của ngườisản xuất, tiêu dùng, khối lượng hàng xuất, nhập chưa thay đổi nhiều làm cho tổng dư trêncho nhập khẩu lớn hớn xuất khẩu làm xấu đi cân bằng CA ( đường CA đi xuống) Đến thờiđiểm t2, khi các phản ứng vè khối lượng đã kịp phát huy (người tiêu dùng nội địa giảm tiêudùng hàng nhập, nhà sản xuất tăng sản xuất hàng xuất) thì cân bằng CA được cải thiện(đường CA đi lên)
Một cách tiếp cận khác đối với việc giảm giá: Cách tiếp cận từ góc độn thu nhập và chitiêu quốc gia
Cách tiếp cận này xuất phát từ việc xem xét cấu trúc thu nhập quốc gia
Y= C+I+G+(X-M) (M giá trị hàng nhập tính bằng nội tệ)
X-M = Y-(C+I+G)
Đặt A = C+I+G A chính là chi dùng nội địa của nền kinh tế
X- M =Y - A hay CA = Y- A
dCA =dY - dA dA/dS = dY/ dS- dA/ dS
Tác giả ở đây tập trung vào phân tích tác động của việc phá giá tới thu nhập và chi tiêucủa tổng thể nền kinh tế Từ đó, tìm ra xem tác động nàomạnh hơn ( tăng thu nhập haytăng chỉ tiêu) và đưa ra câu kết luận về tình trạng CA Tuy nhiên cơ chế tác động ở đâycũng chưa thực sự rõ ràng và câu kết đưa ra phụ thuộc vào nhiều điều kiện
0
CA
t