LỜI MỞ ĐẦUỞ nước ta, cùng với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tếquốc tế, một số hệ thống thị trường dịch vụ tài chính đồng bộ dần được hình thành nhằmđá
Trang 1http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ
án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cảmọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp củaquý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý kháchgửi về luanvanpro.com@gmail.com
Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/Thực trạng hoạt động thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam
Trang 2A LỜI MỞ ĐẦU
Ở nước ta, cùng với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tếquốc tế, một số hệ thống thị trường dịch vụ tài chính đồng bộ dần được hình thành nhằmđáp ứng nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính ngày càng tăng của các chủ thể trong nềnkinh tế Các loại hình dịch vụ tài chính ngày càng đa dạng, cả về số lượng cũng nhưchủng loại, bao gồm: dịch vụ ngân hàng, dịch vụ trên thị trường chứng khoán, dịch vụbảo hiểm, kế toán, kiểm toán, tư vấn tài chính…Các chủ thể tham gia thị trường dịch vụtài chính ngày càng mở rộng, trong đó có các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế ngoàiquốc doanh Giá cả dịch vụ tài chính đang được đổi mới theo định hướng tự do hoá, giảmdần sự can thiệp mang tính hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước Thị trườngdịch vụ tài chính cũng đang trong quá trình hội nhập với thế giới và khu vực
Tuy nhiên, thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam mới đang trong quá trình hình thành,các loại hình dịch vụ tài chính còn sơ khai, chưa đáp ứng được các nhu cầu về dịch vụ tàichính của nền kinh tế Đặc biệt, khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính của các doanhnghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh còn một
số rào cản: Cơ chế, chính sách, thiếu thông tin…Những vấn đề về thị trường dịch vụ tàichính và phát triển dịch vụ tài chính Việt Nam còn đang khá mới mẻ Chính vì vậy, cần
có một nghiên cứu khái quát về thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam nhằm cung cấpthông tin cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ tài chính, cũng nhưcho các đói tượng và làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp phát triển thị trường dịch vụtài chính Việt Nam Đó là lý do em chọn đề tài này Trong bài tiểu luận, em đã nêu ra một
số vấn đề về phát triển dịch vụ tài chính ở Việt Nam trong quá trình hội nhập, bao gồm:Một số vấn đề cơ bản về cơ bản về vấn đề thị trường dịch vụ tài chính, thị trường dịch vụtài chính tại một số nước trên thế giới, thực trạng hoạt động dịch vụ tài chính Việt Nam,hội nhập thị trường dịch vụ tài chính, những định hướng và giải pháp
Do sự hạn chế về thời gian và trình độ mà bài tiểu luận này của em khó tránh khỏi nhữngthiếu sót Em kính mong những nhận xét, đánh giá của các thày cô giáo để bài viết đượctốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3B NỘI DUNG
I KHÁI NIỆM CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH
1 Khái quát chung
Tuy là một khái niệm mới nhưng khái niềm về thị trường dịch vụ tài chính đã đượcnghiên cứu khá nhiều.Tuy nhiên, do tính chất quan trọng của nó đối với phát triển kinh
tế, nhất là trong bối cảnh mở cửa và hội nhập hiện nay thì cần phải có cách hiểu chung vàthống nhất để thuận tiện cho việc phát triển lĩnh vực này tại mỗi nước và trên toàn thếgiới.Thị trường dịch vụ tài chính là một khái niệm mới do tổ chức thương mại thế giớiWTO đưa ra nhằm hình thành các quy tắc ứng xử giữa các thành viên WTO trong hoạtđộng thương mại dịch vụ.Theo WTO: một dịch vụ tài chính là bất kì dịch vụ nào có tínhchất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp.Dịch vụ tài chính baogồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng vàdịch vụ tài chính khác Có thể phân chia các loại dịch vụ tài chính thành bốn nhóm:
_Dịch vụ ngân hàng
_Dịch vụ trên thị trường chứng khoán
_Dịch vụ bảo hiểm
_Dịch vụ kế toán, kiểm toán và tư vấn tài chính
2 Quá trình hình thành và phát triển của thị trường dịch vụ tài chính
Trong các loại hình dịch vụ tài chính, ngân hàng là loại hình dịch vụ xuất hiện sớmnhất.Dịch vụ ngân hàng đã xuất hiện đầu tiên tại vùng Địa Trung Hải, cụ thể là tại HyLạp và La Mã, với dịch vụ đầu tiên là dịch vụ đổi tiền, đổi ngoại tệ lấy bản tệ và dịch vụtriết khấu thương phiếu giúp các nhà buôn có vốn.Sự phát triển của những con đườngthương mại xuyên lục địa mới và những biến chuyển trong ngành hàng hải vào thế kỉ15,16,17 đã dần chuyển trung tâm thương mại của thế giới từ Địa Trung Hải sang châu
Âu và quần đảo Anh, nơi ngân hàng trở thành nghành công nghiệp hàng đầu.Sự phát triểncủa cách mạng công nghiệp, việc ứng dụng phương thức sản xuất lớn đòi hỏi một sự mởrộng tương ứng trong thương mại toàn cầu để tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp, đòngthời đòi hỏi phải phát triển các phương thức thanh toán và tín dụng mới.Vì vậy, hệ thốngngân hàng đã phát triển nhanh chóng thêm nhiều loại hình dịch vụ mới để đáp ứng nhucầu về thanh toán và tín dụng.Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, các dịch vụngân hàng ngày càng phát triển đa dạng.Bên cạnh các dịch vụ ngân hàng truyền thống, đã
Trang 4xuất hiện nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại như cho vay tiêu dùng, tư vấn tàichính, cho vay tài trợ dự án, thuê mua tài chính…
Bên cạnh dịch vụ ngân hàng, cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, cách mạngcông nghiệp và sự phát triển của nền kinh tế thế giới, các loại hình dịch vụ tài chính khác
ấy được hình thành,sự phát triển của dịch vụ thị trường chứng khoán gắn liền với sự hìnhthành và phát triển của một số thị trường chứng khoán.Từ năm 1611 đã có một số nhàbuôn bắt đầu buôn bán cổ phiếu của công ty Đông Ấn, hình thành sở giao dịch chứngkhoán đầu tiên tại Amsterdam-Hà Lan.Năm 1724, ở Pháp thành lập sở giao dịch chứngkhoán Paris Tuy nhiên, phải đến tháng3 năm 1802, sở giao dịch chứng khoán Londonkhai trương, đánh dấu bước phát triển quan trọng của nghành công nghiệp chứngkhoán.Sau đó, năm 1817, hội giao dịch chứng khoán NewYork được thành lập.Năm1863đổi tên thành “sở giao dịch chứng khoán NewYork”.Các dịch vụ về bảo hiểm cũng ra đời
và phát triển mạnh ở Anh ngay từ thế kỉ XVI.Loại hình dịch vụ bảo hiểm đầu tiên là hìnhthức bảo hiểm tương hỗ.Cuối thế kỉ XVIII, công ty bảo hiểm tương hỗ đầu tiên cũngđược thành lập ở Mĩ
II THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
*Dịch vụ ngân hàng
Hệ thống ngân hàng Anh được thành lập vào năm 1964, được hoạt động dưới hình thứcông chủ ngân hàng của chính phủ và những người quản lý nợ.Sau đó, vai trò của hệ thốngngân hàng ngày được nâng cao, tập trung chủ yếu vào quản lý tiền tệ quốc gia và vị trícủa nó tại Hệ thống tài chính tiền tệ Anh.Bản chất chủ yếu của hệ thống ngân hàng là lợinhuân nhưng cũng liên quan tới hệ thống ngân hàng ngày nay Những sự kiện và hoàncảnh 3 năm về trước và cả hiện tại quyết định mô hình và ảnh hưởng tới những vai trò vàtrách nhiệm của hệ thống ngân hàng Chúng hình thành văn hoá và truyền thống của hệthống ngân hàng có liên quan tới danh tiếng và tính hiệu quả của ngân hàng trung ươngđầu thế kỉ 21.Cũng vào thời điểm này, bản chất hệ thống ngân hàng cũng tương tự nhưbản chất hệ thống kinh tế và tài chính và thường có cả vị thế chính trị Hệ thống ngânhàng nước Anh cũng phổ biến như vậy
*Thị trường chứng khoán
Trang 5Vào giữa thế kỉ XVI, tất cả hàng hoá tại nước Anh được giao dịch trên một mậu dịch thịtrường Sau khi nước Anh hoàn tất cuộc cách mang công nghiệp, nhiều công ty và ngânhàng ra đời bên cạnh trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu công ty ngày càng giatăng Từ đó mậu dịch thị trường London được tách thành các bộ phận giao dịch khácnhau cho mỗi loại hàng hoá trong đó giao dịch giá khoán động sản được tách thành thịtrường chứng khoán Lúc này, việc mua bán chứng khoán được diễn ra tại các cửa hiệu
cà phê Tới năm 1793, London có “một ngôi nhà tạm” để tiến hành giao dịch chứngkhoán Gần mười năm sau, vào năm 1802, thị trường chứng khoán Hoàng Gia chính thứcđược thành lập tại London, nguồn gốc của sở giao dịch chứng khoán london ngày nay(LSE)
Thời kì đầu, LS E là một hội vô danh Cácchứng khoán chỉ có giá trị tượng trưng cho cáchội viên nắm giữ, không có ưu quyền gì về giao dịch Cơ cấu tổ chức của hội được quyđịnh hết sức chặt chẽ gồm hai loại thành viên là người môi giới và người tự doanh 36người trong số thành viên ấy hợp thành Hội đồng tự quản sở giao dịch chứng khoán và cóquyền hạn hết sức rộng rãi Hội đồng quy định cứ sau 15 ngày thanh toán một lần, thường
là vào ngày thứ 3 và mỗi năm có 24 ngày thanh toán
Trong thời gian đầu mới thành lập LS E, chứng khoán giao dịch chủ yếu là quốc trái,công trái ngoại quốc, về sau thêm cổ phiếu ngành mỏ, tàu biển, đường sắt Trong nước
đã bắt đầu xuất hiện nhiều thị trường chứng khoán địa phương như Manchester,Liverpool Sau đó các thị trường này sát nhập với LSE thành hiệp hội giao dịch chứngkhoán vào năm 1973 Sau đó, Hiệp hội này hợp nhất với sở giao dịch chứng khoán trungương thành thị trường chứng khoán LSE là trung tâm giao dịch lớn nhất được chia thànhcác khu độc lập: thị trường cổ phiếu nội địa, thị trường cổ phiếu nước ngoài(ISE) và thịtrường các quyền lựa chọn
Đến thập niên 60, kinh tế Anh suy thoái làm trung tâm tiền tệ quốc tế London chuyểnsang New York Sang thập niên 70, thị trường trái phiếu Châu Âu phát triển mạnh tạođiều kiện thụân lợi cho thị trường London khôi phục được địa vị thị trường tiền tệ quốc tếcủa mình
Tháng 10 năm 1979, Anh huỷ bỏ chế độ kiểm soát ngoại tệ, tạo điều kiện thuận lợi thuhút vốn đầu tư nước ngoài Vào thời điểm này, số công ty tham gia thị trường chứngkhoán nhiều Năm 1983 có2654 doanh nghiệp được phát hành chứng khoán trên thị
Trang 6trường LS E, cùng thời điểm đó ở New York là 1550 doang nghiệp và ở Tokyo là 1452doanh nghiệp.
Năm 1986, Anh làm cuộc cách mạng lớn về thị trường chứng khoán gọi là “big bang” với
5 nội dung:
1 Đến cuối năm 1986 sẽ xoá bỏ mọi quy định cũ, có tính bảo thủ, gây trở ngại cho giaodịch chứng khoán và cho phép thực hiện tự do phí giao dịch
2 Cho phép người không là nhà đầu tư được tham gia ban quản trị giao dịch
3 Mở rộng quyền thẩm tra tư cách nhà đầu tư và giảm yêu cầu vốn của nhà đầu tư
4 Cho phép người tự donh và người môi giới được thưch hiện tư cách song trùng, bãi bỏchế độ tư cách riêng và có thể thực hiện hai nghiệp vụ đan xen nhau
5.Lắp đặt hệ thống báo giá tự động
Trong năm đầu của thời kì “ big bang”, doanh thu về chứng khoán tăng gấp đôi trongngày, có ngày lên tới 1,1 tỉ bảng, còn phí giao dịch giảm khoảng ẳ Sau cuộc khủnghoảng thị trường chứng khoán quốc tế 1987, doanh thu về cổ phiếu trên thị trường nướcAnh giảm 1/2, và từ năm 1988, các công ty chứng khoán gặp nhiều khó khăn
Hiện nay, nước Anh có 20 sở giao dịch chứng khoán, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là thịtrường chứng khoán london về cả lịch sử ra đời lẫn số lượng chứng khoán lưu hành.Hàng tuần, LS E làm việc 6 ngày, giờ giao dịch từ 8h30 đến 17h, thứ bảy và chủ nhậnnghỉ giao dịch
2 Thuỵ Sĩ
*Dịch vụ ngân hàng
Hệ thống ngân hàng Thuỵ Sĩ nổi tiếng trên toàn thế giới bởi việc cung cấp các dịch vụngân hàng tinh vi và kín đáo Thuỵ Sĩ có khoảng 4ô ngân hàng Các ngân hàng này đềuphục vị từ nhu cầu riêng lẻ của mỗi người dân cho tới những khách hàng đặc biệt Haingân hàng lớn nhất Thụy Sĩ, Credit Suise và UBS, có mạng lưới các chi nhánh không chỉtại Thuỵ Sĩ mà ở các nước trên thế giới Các ngân hàng được cấp phép hoạt động bởichính phủ Liên bang Thuỵ Sĩ và Hiệp hội ngânhàng có thể hoạt động ở khắp nơi tại Thuỵsĩ.Một số ngân hàng có văn phòng đại diện hay chi nhánh tại nước ngoài Trong số 400ngân hàng được cấp phếp tại Thuỵ Sĩ, có nhiều chi nhánh có trụ sở chính tại nước ngoài
Hệ thống cung cấp dịch vụ của hệ thống ngân hàng Thuỵ Sĩ
Trang 7Một số ngân hàng tại Thuỵ Sĩ chỉ chuyên về một số loại dịch vụ chủ yếu nhưng nhiềungân hàng lại cung cấp hầy hết các loại dịch vụ Tại hầu hết các nước châu Âu, người dânthường mua và bán chứng khoán thông qua hệ thống ngân hàng của họ Hệ thống ngânhàng Thuỵ Sĩ nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý các danh mục đầu tư cho khách hàng vàcung cấp một số dịch vụ khác như lập kế hoạch bất động sản, quản lý tài sản cho cáckhách hàng riêng lẻ.
Hệ thống ngân hàng tư nhân(Private banks)
Hệ thống các ngân hàng tư nhân là hệ thống mà các ngân hàng không kết hợp thành một
tổ chức và do đó toàn bộ tài sản cá nhân của họ có thể là các khoản nợ của ngân hàng.Những ngân hàng này có truyền thống lâu đời tại Thuỵ Sĩ Ban đầu, các ngân hàng tưnhân cũng hoạt động trong lĩnh vực quản lý danh mục đầu tư của các khách hàng riêng lẻ,Thuật ngữ “ngân hàng tư nhân” thường được sử dụng để mô tả toàn bộ các dịch vụ ngânhàng cung cấp cho khách hàng trong lĩnh vực quản lý dang mục và quản lý tài sản
Luật bí mật dặc biệt của hệ thống ngân hàng Thuỵ Sĩ
Các ngân hàng tại hầu hết các nước bị cấm tiết lộ thông tin về các khách hàng của họ vàcác điều khoản của luật pháp Thuỵ Sĩ cũng tương tự như vậy Luật pháp Thuỵ Sĩ rấtnghiêm khắc trong việc thực hiện vấn đề này Các ngân hàng, nhân viên và chi nhánhhoạt động trong lĩnh vực đặc biệt sẽ bị kết tội hình sự nếu như để tiết lộ bất kì thông tinmật nào ra bên ngoài Các bí mật đặc biệt của hệ thống ngân hàng Thuỵ Sĩ được giữ gìnthận trọng bở nhận thức rõ rằng tính chất quan trọng về bổn phận của các ngân hàngtrong việc duy trì lòng tin đối với khách hàng Cả các ngân hàng và cá nhân sẽ bị khởikiện nếu như bị phát hiện những sai sót của họ Điều này càng khẳng định tính chất bímật của các ngân hàng và vấn đề sai sót là hiếm khi xảy ra
Luật bí mật của ngân hàng Thuỵ Sĩ ra đời năm 1934 quy định các ngân hàng Thuỵ Sĩ đềuphải thực hiện chế độ mật mã để đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối cho khách hàng Việc ngânhàng làm thủ tục tiền gửi bí mật chỉ giới hạn trong phạm vi vài nhân viên cao cấp, cấmcác nhân viên khác không được can dự vào Người để lộ bí mật khoản tiền gửi sẽ phảichịu hình phạt nghiêm khắc: bị giam giữ sáu tháng và chịu phạt 2 vạn franc Thuỵ Sĩ hoặcnặng hơn.Luật này còn quy định: Bờt cứ người nước nào hoăc chính phủ nước nào, thậmchí cả nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng Chính phủ và toà án của Thuỵ Sĩ đều không có
Trang 8quyền can thiệp, điều tra và xử lý tiền gửi tại ngân hàng Thuỵ Sĩ của bất cứ người nào,Trừ khi có đủ chứng cứ chứng minh người gửi tiền có hành vi phạm tội Nhờ có luật này,một khối lượng tiền gửi khổng lồ đã đổ về Thuỵ Sĩ Đặc biệt, các nhà độc tài, chínhkhách và những người chạy ra nước ngoài của một số quốc gia coi ngân hàng Thuỵ Sĩ lànơi cất giữ tiền an toàn nhất Theo ước tính của các nhà tài chính, hiện nay số tiền gửi tạiThuỵ Sĩ của khách hàng trên khắp thế giới có thể lên tới vài ngàh tỉ úD, đem lai cho nềnkinh tế Thuỵ Sĩ những nguồn lợi lớn.
III THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VIỆTNAM
1 Dịch vị ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng là dịch vụ tài chính quan trọng và phát triển nhất trên thị trường dịch
vụ tài chính ở Việt Nam cho đến nay, đảm nhiệm vai trò chủ đạo trong hoạt động luânchuyển các nguồn tài chính, các dịch vụ tài chính khác mới chỉ hình thành và phát triểntrong những năm cuối của thế kỉ XX, bao gồm:
Dịch vụ tiết kiệm do các ngân hàng, các tổ chức tín dụng cung cấp thông qua các công cụtiền gửi tiết kệm cung ứng cho mọi tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế với các loại kì hạnkhác nhau từ không kì hạn đến 12 tháng, tiết kiệm bằng ngoại tên, tiết kiệm có đảm bảobằng vàng, tiết kiệm phục vụ mục đích mua nhà, cho con đi học nước ngoài
Dịch vụ tín dụng do các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các công ty thuê mua tài chính,các quỹ đầu tư và hỗ trợ cung cấp bao gồm các nghiệp vụ cho vay tín dụng, thuê mua tàichính, cho vay thế chấp, chiết khấu giấy tờ có giá
Dịch vụ thanh toán bao gồm các nghiệp vụ thanh toán bằng séc, chuyển khoản và một sốdịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt mới được đưa vào thực hiện giữa những năm
1990 như bằng thẻ tín dụng, thẻ thanh toán, tài khoản cá nhân
Có thể đánh giá, các dịch vụ do các ngân hàng Việt Nam mới ở điểm xuất phát tiếp cậnvới các nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng thương mại Hoạt động kinh doanh chủyếu mang lại lợi nhuận gần như duy nhất cho các ngân hàng thương mại Việt Nam là từdịch vụ tín dụng-cho vay khách hàng Ngay cả các loại hình dịch vụ ngân hàng truyềnthống vẫn còn nhiều tồn tại Hình thức huy động vốn còn đơn điệu, chưa có nhiều hìnhthức huy động và nhân tiền gửi mới, phù hợp với nhu cầu của người dân và các doanh
Trang 9nghiệp Doanh số các loại hình tín dụng mới như: cho thuê tài chính, cho vay đồng tàitrợ, cho vay bảo lãnh còn thấp.
Quá trình đa dạng hoá các dịch vụ ngân hàng hiện đậi ở nước ta còn chậm Các dịch vụthanh toán qua ngân hàng còn chậm do chưa có hệ thống và công nghệ thanh toán hiệnđại, chủ yếu vẫn là thủ công, với chứng từ bằng văn bản giấy tờ, tỉ trọng thanh toán bằngtiền mặt còn lớn Các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt còn nhiều hạn chế, dotính thuận tiện, nhanh nhạy, an toàn chưa cao Dịch vụ ngân hàng điện tử-một loại hìnhdịch vụ ngân hàng trong lĩnh vực thanh toán rất phát triển trên thế giới, mang lại nhiềutiện ích cho khách hàng nhưng việc triển khai ở nước ta còn rất hạn chế Ngoài ra, việccung cấp các dịch vụ tư vấn về thông tin, thị trường, ngiệp vụ cho khách hàng cũng hầunhư chưa được triển khai
2 Dịch vụ trên thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán(TTCK) tập trung đầu tiên ở VIệt Nam mới được khaitrương(20/7/2000) và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 28/7/2000 Vì vậy,so với cácdịch vụ tài chính khác, dịch vụ chứng khoán là một loại hình kinh doanh khá mới mẻ ởViệt Nam Các dịch vụ chứng khoán thường được thực hiện bởi các công ty chứngkhoán Ngoài ra, còn có các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính phi ngân hàngcũng có thể tham gia triển khai loại hình dịch vụ này Sau 3 năm chính thức đi vào hoạtđộng, trên thị trường chứng khoán Việt nam đã có 11 công ty chứng khoán được cấp giấyphép hoạt động, trong đó có 9 công ty chứng khoán đủ điều kiên toàn bộ 5 nghiệp vụkinh doanh: dịch vụ môi giới chứng khoán, dịch vụ tư vấn chứng khoán, dịch vụ bảo lãnh
và đại lý phát hành, dịch vụ quản lý danh mục đầu tư, dịch vụ tư doanh Trong đó, dịch
vụ chứng khoán chủ yếu là dịch vụ môi giới chứng khoán Tính đến tháng 6-2003, đã cógần 14500 tài khoản giao dịch chứng khoán của khách hàng mở tại các công ty chứngkhoán( trong đó có 91 nhà đầu tư có tổ chức và 35 nhà đầu tư nước ngoài) Một số công
ty đã thu hút được khách hàng đến mở tài khoản và có tổng giái trị môi giới mua bánchứng khoán cho khách hàng cao (như: BVSC, SSI, ACBS, BSC) và là hoạt động manglại nguồn thu nhập chủ yếu trong tổng thu nhập của các công ty chứng khoán Tuy nhên,trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam còn sơ khai và hoạt động trầm lắng, cácdịch vụ chứng khoán còn kém đa dạng, chủ yếu là dịch vụ môi giới, chưa thu hút đượcnhiều doanh nghiệp và cá nhân Các nghiệp vụ như: Bảo lãnh, đại lý phát hành, quản lý
Trang 10danh mục đầu tư chưa được phát triển mạnh mẽ Hoạt động tư vấn đầu tư của các công
ty chứng khoán mới chỉ mang tính chất hướng dẫn người đầu tư thực hiện đúng các thủtục mua bán chứng khoán, chưa thực sự tư vấn cho họ biết cách lựa chọn lĩnh vực đầu tưcũng như thời điểm mua bán chứng khoán sao cho có hiệu quả nhất Vì vậy có thể nóirằng, trong thời gian qua các công ty chứng khoán chưa thực hiện được chức năng củangười tạo thị trường
3 Dịch vụ bảo hiểm
Ngành dịch vụ bảo hiểm Việt Nam hình thành vào thập niên 60 với sự ra đời của tổngcông ty bảo hiểm Việt Nm(năm 1964) Cho đến năm 1992, Tổng công ty bảo hiểm ViệtNam là nha cung cấp dịch vụ độc quyền trên thị trường, dịch vụ bảo hiểm mới chỉ thựchiện một số loại hình bảo hiểm truyền thống với khoảng gần 20 loại sản phẩm như bảohiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển, bảo hiểm tai nạn hành khách và mớichỉ dừng lại ở chức năng bảo vệ tài sản mà chưc thực hiện được chức năng tiết kiệm vàđầu tư Tuy nhiên thị trường bảo hiểm Việt Nam mới bắt đầu thực sự sôi động đóng gópđáng kể vào thị trường vốn kể từ sau khi có nghị định 100-CP ngày 18-12-1993 về kinhdoanh bảo hiểm, tạo môi trường pháp lý thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển, gpóphần tạo lập môi trường đầu tư và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về hoạt động kinhdoanh bảo hiểm Từ năm 1995 trở lại đây, khi Việt Nam thưch hiện đa dạng hoá thịtrường bảo hiểm, cho phép thành lập thêm nhiều doanh nghiệp bảo hiểm mới thuộc nhiềuthành phần kinh tế, ngành bảo hiểm đã phát triển mạnh trên nhiều mặt như quy mô thịtrường, số lượng doanh nghiệp bảo hiểm, số lao động, sự đa dạng về sản phẩm và việchoàn thiện dần cơ chế chính sách Các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cũng đã nhanhchóng phát triển và thích ứng với môi trường cạnh tranh mới
Thị trường bảo hiểm đạt tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn 2001-2004, mức tăngtrưởng bình quân hàng năm là 43,7%.Doang thu phí bảo hiểm năm 2001 là 4.843 tỷđồng, năm 2002 là 6.992 tỷ đồng, năm 2003 là 10.192 tỷ đồng, năm 2004 đạt 13.044 tỷđồng Cơ cấu tỷ trọng doanh thu dịch vụ bảo hiểm trong GDP cũng được nâng lên rõ rệt,năm 2000 chiếm 0.78%, năm 2003 tăng lên 1.7%GDP
Do số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng nhiều nên đã thu hút và tạo công ănviệc làm cho một đội ngũ khá lớn người lao động, nhất là khi bảo hiểm nhân thọ đượctriển khai Hiện nay số cán bộ làm bảo hiển trên toàn thị trường đã lên đến con số trên
Trang 118000 người, với cả 40000 đại lý chuyên nghiệp(cả bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ),trong đó số đại lý bảo hiểm nhân thọ đã chiếm tới 30000 người Ngoài ra, ngành bảohiểm còn tạo việc làm cho một số lượng khá lớn cộng tác viên bảo hiểm cũng như cácngành có liên quan.
Số lượng doanh nghiệp tăng nhanh với sản phẩm ngày càng đa dạng nhưng chất lượnghoạt động chưa cao thể hiện ở công nghệ quản lý, kinh doanh bảo hiểm còn hạn chế;thiếu đội ngũ chuyên gia giỏi đặc biệt là trong lĩnh vực phí bảo hiểm, thẩm định bảohiểm, quản lý rủi ro và đầu tư Hiệu quả hoạt động thấp(tỷ suất lợi nhuận bình quân trênvốn chu sở hữu đạt 13%), chi phí quản lý cao(trung bình 24%/năm) Hiện tượng cạnhtranh không lành mạnh đã xuất hiện gây khó khăn cho công tác quản lý và làm tổn hạiđến uy tín của chính các doanh nghiệp Tình trạng chia cắt, cát cứ trên thị trường xuấtphát từ hoạt động của các công ty bảo hiểm chuyên ngành cũng làm ảnh hưởng khôngnhỏ đến sự phát triển lành mạnh của thị trường và gây thiệt hại đến quyền lợi của ngườitham gia bảo hiểm
Năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm còn hạn chế Căn cứ theo các chuẩnmực quốc tế, số vốn hiện có của các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động trên thị trườngmới chỉ đủ để đảm bảo giữ lại 40% phí bảo hiểm đối với các nghiệp vụ bảo hiểm có táibảo hiểm Do đó, chỉ tính riêng trong năm 2001, khoảng 33% tổng số phí bảo hiểm phinhân thọ thu được đã được tái bảo hiểm Tỷ lệ này ở Mĩ là vào khoảng 96% trong cùngthời kì Do năng lực tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm, đặc biệt là các công ty bảohiểm cổ phần trong nước cồn nhỏ, hàng năm thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn phải trả
từ 150-250 tỷ đồng tiền phí tái bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm ở nước ngoài Tínhtrung bình, cứ 4 đồng phí bảo hiểm gốc thu được tại Việt Nam từ những nghiệp vụ códoanh thu lớn như bảo hiểm dầu khí và bảo hiểm hàng không thì có đến một đồng phảitái bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm nước ngoài, chủ yếu được thanh toán bằng ngoại
tệ Nừu có biện pháp và cơ chế thích hợp để tăng cường năng lực tài chính và trình độchuyên môn, nghiệp vụ cho các doanh nghiệp trên thị trường, chúng ta sẽ có thể giữ lạimột phần đáng kể nguồn vốn quan trọng bằng ngoại tệ để bổ sung cho sự công nghiệphoá và hiện đại hoá Tổ chức quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước chưađáp ứng được yêu cầu phất triển thị trường trong điều kiện hội nhập: cơ cấu tổ chức cònchồng chéo, bộ máy chưa được chuyên môn hoá, chưa hiệu quả, công tác đào tạo và quản