- Trình độ lao động thấp- Khả năng tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường còn hạn chế - Hoạt động chủ yếu trên diện tích đất thuộc quyền sở hữu của chủ đầu tư Là một doanh nghiệp vừa và nhỏ,C
Trang 1http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ
án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cảmọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp củaquý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quýkhách gửi về luanvanpro.com@gmail.com
Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/Xây dựng thương hiệu PROMEXCO thành một thương hiệu mạnh nhằm khẳng định vị thế của Công ty trên thương trường
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU Nhìn lại sau hơn 20 năm qua,từ năm 1986,khi Đại hội VI của đảng đề ra đường lối đổi
mới toàn diện,ta sẽ thấy so với thời điểm ấy,ngày nay bộ mặt của đất nước và xã hội đã
có sự thay đổi lớn
Sau 20 năm đổi mới,Việt Nam hiện đang sở hữu một tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mứccao và liên tục,bền vững qua nhiều năm.Chất lượng cuộc sống người dân ngày càng đượccải thiện,hình ảnh của những năm tháng khủng hoảng đã bị đẩy lùi.Kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đangtạo nên vóc dáng của một đất nước tiến nhanh về phía trước
Toàn đảng,toàn dân,cùng góp công chung sức để thay đổi diện mạo cho đấtnước,nhiều mô hình kinh tế đã được thử nghiệm và đưa lại những thành công đáng ghinhận.trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong nhữngthành công ấy
Những năm gần đây,doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang bước những bước độtbiến,trở thành một lực lượng quan trọng trong quá trình công ngiệp hoá,hiện đại hoá đấtnước,góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất,huy động và phát triển nội lực vàophát triển kinh tế xã hội góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế,tăngkim nghạch xuất khẩu,tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề
xã hội như : tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo
Đường lối đổi mới kinh tế và định hướng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần,vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã tạo nhiều điều kiệnthuận lợi cho các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Điều này hoàntoàn phù hợp quy luật phát triển và với điều kiện nước ta hiện nay.Hai mươi năm đổimới, vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng được đánh giá cao,thể hịên qua
sự quan tâm,hỗ trợ của chính phủ,các cơ quan ban nghành có liên quan
Tuy nhiên trong thực tế,các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn gặp rất nhiều khókhăn,vướng mắc cần được tháo gỡ,trong đó những vấn đề cần được đặc biệt quan tâm là :
- Đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vốn thấp ( so với các nước kháctrong khu vực và thế giới ),khả năng tiếp cận với các nguồn vốn còn hạn chế
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam thường gắn với công nghệ lạc hậu,thủ công
- Trình độ quản lý thấp
Trang 3- Trình độ lao động thấp
- Khả năng tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường còn hạn chế
- Hoạt động chủ yếu trên diện tích đất thuộc quyền sở hữu của chủ đầu tư
Là một doanh nghiệp vừa và nhỏ,Công ty cổ phần sản xuất bao bì và hàng xuất khẩucũng ý thức được những khó khăn cũng như thuân lợi của mình trước vận hội lớn của đấtnước, đặc biệt là khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên chính thức của tổ chứcthương mại thế giới WTO,toàn bộ lãnh đạo cũng như công nhân của công ty đang ra sức
cố gắng để khẳng định vị thế của mình trên thương trường
CHƯƠNG I : THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
Ở CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT BAO BÌ VÀ HÀNG XUẤT KHẨU
I.Khái quát về công ty cổ phần sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu
1.Quá trình hình thành và phát triển
Tên doanh nghiệp : Công ty cổ phần sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu
Tên giao dịch : PRODUCTION FOR PACKING AND EXPORTING GOODSJOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt : PROMEXCO
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số : 0103013308 do Bộ thương mại cấp ngày01/08/2006
Địa chỉ trụ sở : Km9 - Đường Ngọc hồi - Phường Phương liệt - Quận Hoàng mai –thành phố Hà nội
Từ khi thành lập đến nay công ty đã trải qua 4 giai đoạn phát triển chính :
* Giai đoạn từ năm 1973 đến 1987 : công ty hoạt động trong nền kinh tế kế hoạch hoátập trung
Trang 4Tiền thân là Xí nghiệp bao bì II,trực thuộc bộ ngoại thương được thành lập từ ngày24/12/1973.Trong thời kì bao cấp Xí nghiệp chuyên chỉ đóng bao bì gỗ theo chỉ tiêu kếhoạch của nhà nước
* Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1995
Từ sau khi đại hội VI của đảng đề ra đường lối đổi mới,xí nghiệp đã chuyển sangthực hiện sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường và chuyển thành xí nghiệp liên hiệpsản xuất bao bì và hàng xuất khẩu,vừa sản xuất vừa kinh doanh gỗ tròn,gỗ xẻ.Do trình độquản lý yếu kém của cán bộ lãnh đạo xí nghiệp,hơn nữa hàng hoá đang mua bán với sốlượng tồn kho lớn để xuất khẩu thì chính phủ lại có chỉ thị số 90/HĐBT ngày 24/03/1992cấm xuất khẩu gỗ tròn và gỗ xẻ.Nên toàn bộ hàng hóa của công ty không xuất khẩu đượcphải đưa vào sản xuất dẫn đến tiêu hao lớn và thua lỗ gần 40 tỷ đồng.Nợ ngân hàng vàcác khách hàng khác xí nghiệp không có khả năng thanh toán Đứng trên bờ vực phásản,gần 1.000 công nhân không có việc làm phải nghỉ việc, đời sống gặp muôn vàn khókhăn
* Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2001
Được sự quan tâm giúp đỡ của thủ tướng chính phủ,bộ thương mại cùng các bộnghành địa phương,thủ tướng đã cho thành lập lại công ty theo quyết định số766+767/TM/TCCB ngày 04/09/1996 của bộ thương mại,Xí nghiệp được đổi tên thànhcông ty sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu, đồng thời cho xoá nợ lãi,giảm nợ gốc vayngân hàng trong 5 năm 1996 – 2001 điều động cán bộ lãnh đạo công ty ở trên bộ xuốngthay thế
Tuy nhiên,trong 06 năm hoạt động.Công ty cũng chỉ duy trì được việc làm cho 209 cán
bộ công nhân viên,doanh thu đạt năm cao nhất cũng chỉ đạt 26,7 tỷ đồng/năm,nộp ngânsách nhà nước được hơn 800 triệu đồng/năm.Thu nhập của người lao động đạt 435.000đồng/người/tháng.Trước tình hình đó Bộ thương mại cho kiện toàn lại tổ chức,thay giámđôc mới từ tháng 4 năm 2000 Đảng uỷ,giám đôc,công đoàn đã bố trí sắp xếp lại bộ máyquản lý,tổ chức lại mô hình toàn công ty với 3 phòng nghiệp vụ ( TCHC,KTTC,KH –KDXNK ) và 3 phòng kinh doanh.06 xí nghiệp sản xuất cùng 02 chi nhánh tại Thành phố
Hồ chí Minh và chi nhánh tại thị xã Móng cái tỉnh Quảng ninh.Do vậy,sản xuất kinhdoanh của công ty đã dần dần ổn định và đã có lãi,doanh số,lợi nhuận,nộp ngân sách nămsau cao hơn năm trước.Năm 2000 doanh số đạt trên 112 tỷ đồng,nộp ngân sách 2,28 tỷ
Trang 5đồng,lao động bình quân đạt 254 người/năm,thu nhập bình quân đạt 900.000 đồng/người/tháng;lợi nhuận đạt được 152,9 triệu đồng.Tập thể CBCNV đoàn kết, đời sống dần dầnđược nâng lên Đảng uỷ,Giám đốc,Công đoàn luôn chăm lo đến đời sống người lao độngnhất là con em thương binh liệt sỹ,gia đình có công với cách mạng.Do vậy,CBCNV đã
an tâm trong sản xuất kinh doanh tin tưởng vào sự lãnh đạo của đảng uỷ Giám đôc côngty
* Giai đoạn từ năm 2002 đến nay
Công nợ tồn đọng dần dần được giải quyết.Các ngân hàng đã cho công ty vay vốn hoạtđộng theo nhu cầu kinh doanh,công ty luôn luôn bảo toàn được vốn,trả gốc và lãi đúnghạn.Vừa qua công ty được thủ tướng chính phủ cho xử lý xoá nợ gốc vay ngân hàng15,586 tỷ đồng.tới nay tài chính của công ty đã tương đối lành mạnh.Công ty đã được Bộchủ quản cùng các vụ chức năng tạo điều kiện giúp đỡ từ một công ty sản xuất kinhdoanh yếu kém đến nay đã mở mang ra được nhiều nghành nghề : sản xuất kết hợp vớikinh doanh dịch vụ tổng hợp nên hiệu quả sản xuất kinh doanh năm sau cao hơn nămtrước Do công ty sản xuất,kinh doanh ngày càng phát triển nên ngày 23/12/2005.theoquyết định số 3147/2005/QĐ-BTM,công ty đã thực hiện thành công cổ phần hoá Doanhnghiệp nhà nước,và chuyển sang hoạt động dưới dạng công ty cổ phần.tên công ty chínhthức lúc đó là công ty cổ phần sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu.và tên công ty được giữnguyên đến thời điểm này
Trong suốt quá trình phát triển,công ty luôn xác định phương châm hoạt động là : lấykhách hàng là trung tâm,luôn luôn hoàn thiện,và không ngừng đổi mới sản xuất kinhdoanh để đa dạng hoá sản phẩm, đồng thời chú trọng đến việc hoàn thiện và nâng caochất lượng dịch vụ, đáp ứng được sự thay đổi của nhu cầu thị trường tại mọi thời điểm
2.Cơ cấu tổ chức của Doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu được minh hoạ
dưới sơ đồ sau :
Bảng 1: sơ đồ cơ cấu tổ chức Công ty cổ phần sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu
Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/
ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
CN Công ty tại thị xã Móng Cái - Quảng Ninh
Trang 6Ghi chú : : Điều hành trực tiếp
Trang 7: Kiểm soát hoạt động
( Nguồn : phòng tổ chức hành chính công ty cổ phần sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu )
3.Chức năng,nhiệm vụ hoạt động của công ty
Công ty cổ phần sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu có chức năng,nhiệm vụ : sản xuất vàkinh doanh như sau :
Sản xuất,gia công bao bì và hàng xuất khẩu
Kinh doanh các sản phẩm bao bì,hàng nông sản,lâm sản ( trừ loại lâm sản nhànước cấm ).hải sản,rượu bia,nước giải khát,phương tiện vận tải,vật liệu xây dựng,phânbón ( không bao gồm kinh doanh quán bar )
Kinh doanh máy móc thiết bị,vật tư,nguyên liệu phục vụ sản xuất và tiêu dùng
Kinh doanh nhà hàng,khách sạn,lữ hành nội địa ( không bao gồm kinh doanh quánbar,phòng hát karaoke,vũ trường )
Đầu tư,xây dựng hạ tầng cơ sở,kinh doanh nhà ở,văn phòng và trang trí nộithất,cho thuê văn phòng,căn hộ,kho,bãi,nhà xưởng
Dịnh vụ trông giữ xe ô tô trong phạm vi kho bãi của Doanh nghiệp
Mở cửa hàng bán buôn,bán lẻ hàng sản xuất trong nước và hàng xuất khẩu
Xuất nhập khẩu các mặt hàng mà công ty kinh doanh
Mục tiêu khách hàng của công ty là : đảm bảo cung cấp ổn định,thoả mãn các sảnphẩm với chất lượng cao,giá cả cạnh tranh,dịch vụ hoàn hảo.Luôn làm hài lòng mọithành phần khách hàng là mục tiêu hành động và cam kết của công ty trong suốt thờigian qua
Sự phát triển của công ty dựa trên chính sách khách hàng và không ngừng đổi mớicông nghệ và đổi mới chính sách chất lượng lao động.Chính nhu cầu đa dạng của kháchhàng là động lực thúc đẩy sự phát triển của các loại sản phẩm,công nghệ,dịch vụ hỗ trợ
và chất lượng lao động của công ty
II.Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanhnghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng
để thu lợi ngày càng cao
Trang 8Như vậy,năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo từ thực lựccủa doanh nghiệp Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp,không chỉ được tínhbằng các tiêu chí về công nghệ,tài chính,nhân lực,tổ chức quản trị doanh nghiệp … mộtcách riêng biệt mà cần đánh giá,so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trêncùng lĩnh vực,cùng một môi trường.Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếubên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứngvới các đối thủ cạnh tranh.Trên cơ sở các so sánh đó,muốn tạo nên năng lực cạnh tranh,đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình.Nhờ lợi thếnày,doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng nhưlôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh.
Thực tế cho thấy,không một doanh nghiệp nào có khả năng thoả mãn đầy đủ tất cảnhững yêu cầu của khách hàng.Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và có hạnchế về mặt khác.Vấn đề cơ bản là,doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và cố gắngphát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi củakhách hàng.Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp được biểu hiệnthông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing,tài chính,sảnxuất,nhân sự,công nghệ,quản trị,hệ thống thông tin … Tuy nhiên, để đánh giá năng lựccạnh tranh của một doanh nghiệp,cần phải xác định được các yếu tố phản ánh năng lựccạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt động khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cảđịnh tính và định lượng.Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở nhữngnghành,lĩnh vực khác nhau có các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau
Mặc dù vậy,vẫn có thể tổng hợp được các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh củamột doanh nghiệp bao gồm :
- Giá cả sản phẩm
- Chất lượng sản phẩm và bao gói
- Kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng
- Thông tin và xúc tiến thương mại
- Năng lực nghiên cứu và phát triển
- Thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp
- Trình độ lao động
- Thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần
Trang 9Như vậy với một mức giá phù hợp doanh nghiệp sẽ tạo được chỗ đứng của mình trênthị trường,làm sức mạnh để phát triển sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường và lợithế với đối thủ cạnh tranh.
2.Chất lượng sản phẩm và bao gói
Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sản xuất và ngày
cả sau khi tiêu dùng hàng hoá và chịu tác động của nhiều yếu tố : công nghệ dây chuyềnsản xuất,nguyên vật liệu,trình độ tay nghề lao động,trình độ quản lý…Chất lượng sảnphẩm có thể được hiểu là mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật hoặc là khả
Trang 10năng thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng.Nâng cao chất lượng thì phải giải quyết được
cả hai vấn đề trên
Xuất phát từ quan điểm thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng,khi đời sống của conngười ngày càng cao thì việc cải thiện chất lượng sản phẩm trở thành vấn đề cấp bách đốivới mỗi doanh nghiệp.Làm ngược lại,doanh nghiệp đã tự từ chối khách hàng, đẩy lùi hoạtđộng sản xuất kinh doanh.Mặt khác,cải thiện chất lượng sản phẩm còn giúp doanh nghiệphội nhập tốt hơn với xu hướng toàn cầu hoá nên Kinh tế,vươn tới những thị trường xahơn
Hiện nay,khi nền Kinh tế ngày càng phát triển,một quan niệm mới về chất lượng đãxuất hiện : chất lượng sản phẩm không chỉ là tốt, đẹp,bền mà nó còn do khách hàng quyếtđịnh.Quản lý chất lượng sản phẩm là yếu tố chủ quan còn sự đánh giá của khách hàngmang tính khách quan ở đây,nhân tố khách quan đã tác động,chi phối yếu tố kháchquan.Quan điểm này xuất phát từ thực tế là mức độ cạnh tranh trên thị trường ngày càngtrở nên quyết liệt hơn,chất lượng sản phẩm thể hiện tính quyết định sức mạnh của doanhnghiệp :
- Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm,tăng khốilượng hàng hoá bán ra,kéo theo chu kỳ sống của sản phẩm
- những Sản phẩm chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp,kích thíchkhách hàng mua hàng và mở rộng thị trường
- Chất lượng sản phẩm làm tăng khả năng sinh lời,cải thiện tình hình tài chính củadoanh nghiệp
- Chất lượng sản phẩm tạo tiền đề giúp doanh nghiệp có thể xâm nhập trường khótính
Tóm lại,chất lượng hàng hoá là yếu tố cạnh tranh được nhìn nhận theo quan điểm tổnghợp Đây là bài toán đòi hỏi có lời giải riêng của từng tổ chức cung cấp hàng hoá,dịch vụ
3.Kênh phân phối sản phẩm và dịch vụ bán hàng
Doanh nghiệp trong nền Kinh tế thị trường bao gồm cả chức năng sản xuất và tiêuthụ.Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, đây cũng làgiai đoạn thực hiện bù đắp chi phí và thu lợi nhận
Mục tiêu của tiêu thụ sản phẩm là phát triển cầu sản phẩm của doanh nghiệp nhằm ngàycàng được nhiều hàng và mở rộng sản xuất.Về hệ thống tiêu thụ sản phẩm,việc tiêu thụ
Trang 11được doanh nghiệp thực hiện thông qua các tổ chức tiêu thụ của doanh nghiệp,trong đó
kể cả các bộ phận có tính chất độc lập về Kinh tế như mở cửa hàng hoặc chi nhánh côngty.Cũng có thể lựa chọn một trong các kênh tiêu thụ sau :
- Cung cấp sản phẩm,dịch vụ cho người tiêu dùng
- Bán sản phẩm,dịch vụ cho doanh nghiệp thương mại lẻ
- Bán sản phẩm,dịch vụ cho doanh nghiệp thương mại tổng hợp bán buôn
Việc xác định hệ thống kênh tiêu thụ hàng hoá,dịch vụ phụ thuộc vào đặc điểm sản phẩmkinh doanh của doanh nghiệp cũng như đặc điểm của sản phẩm hàng hoá dịch vụ màdoanh nghiệp muốn tiêu thụ.Thực chất khi xác định hệ thống kênh tiêu thụ doanh nghiệp
đã xác định hệ thống các điểm bán hàng của mình,việc xác định này dựa trên kết quảnghiên cứu thị trường,các điểm bán hàng phải được bố trí ở vị trí thuận lợi đảm bảo thuhút được nhiều khách hàng nhất.Muốn vậy,các điểm bán hàng,tư liệu sản xuất phải đảmbảo thuận tiện cho xe cộ đi lại ra vào,các điểm bán hàng tiêu dùng phải tính đến vị tríđông dân cư,giao thông thuận tiện.Trong toàn bộ các biện pháp nhằm hạn chế hoặc xoá
bỏ các trở ngại trên thị trường tiêu thụ,quảng cáo được coi là công cụ đóng vai trò quantrọng hướng con người vào những hoạt động nhất định,kick thích tiêu dùng sản phẩm củadoanh nghiệp.Các hình thức như khuyến mãi,các dịch vụ sau bán hàng,yểm trợ bánhàng… là hình thức cạnh tranh phi giá,gây sự chú ý của khách hàng tới sản phẩm củadoanh nghiệp.Hoạt động tiêu thụ tốt sẽ làm tăng sản lượng bán hàng từ đó tăng doanhthu,tăng lợi nhuận dẫn đến tốc độ thu hồi vốn nhanh,kick thích sản xuất phát triển.Côngtác tiêu thụ tốt là một trong những yếu tố làm tăng uy tín của doanh nghiệp trên thịtrường,cùng với kỹ thuật yểm trợ bán hàng như chào hàng,quảng cáo,triển lãm,hội chợ
… các hoạt động xúc tiến bán hàng,xuất bản các tài liệu nhằm đẩy mạnh bán hàng vàxuất khẩu,thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản phẩm như bán kèm theo phụ tùng thay thếcho khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp, đây là hoạt động cần thiết để đẩy mạnhbán hàng trên thị trường,là con đường đi tới chiến thắng trong cạnh tranh
Tiêu thụ nhanh với số lượng nhiều để tăng nhanh vòng quay của vốn,tăng lợinhuận,thúc đẩy sản xuất kinh doanh,nâng cao vị thế của doanh nghiệp … không códoanh nghiệp nào là không mong muốn,nhưng muốn làm được điều đó không phải là vấn
đề đơn giản.Xây dựng một hệ thống mạng lưới tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi phải tính toánnhiều yếu tố,phải mất nhiều tiền của,nhiều năm tháng và không dễ gì có thể thay
Trang 12đổi,nhưng bù lại,doanh nghiệp có một nền móng vững chắc để phát triển thị trường,bảo
về thị phần doanh nghiệp đang có và là tiền đề giúp doanh nghiệp mở rộng thịtrường,chiếm lĩnh thị trường
4.Thông tin và xúc tiến thương mại
Thông tin là một nguồn lực then chốt trong tổ chức cùng với nguồn nhân lực,tài chính
và các nguồn lực hữu hình khác.Thông tin cũng là một vấn đề kinh doanh.Thông quaquản trị có hiệu quả nguồn thông tin và hệ thống thông tin của tổ chức,các nhà quản lýtrong tổ chức có thể :
- Tăng thêm giá trị cho các dịch vụ cung cấp tới khách hàng
- Nhân viên nhanh chóng xử lý giải quyết công việc được giao
- Giảm thiểu rủi ro trong hoạt động
- Giảm chi phí trong quá trình hoạt động và cung cấp dịch vụ
- Khuyến khích đổi mới quá trình hoạt động trong nội bộ và cung cấp dịch vụ chobên ngoài
Cũng như thông tin,thì xúc tiến thương mại góp phần quan trọng trong việc đa dạng hoáthị trường,từ đó dẫn đến việc doanh nghiệp có thể nhận được nhiều hơn các đơn đặthàng,giúp doanh nghiệp tăng cường liên kết để tăng quy mô sản xuất,hạ giá thành,nângcao sức cạnh tranh của sản phẩm Đồng thời kêu gọi được sự hợp tác của các nhà đầu tư
sở hữu hợp đồng gia công những thương hiệu nổi tiếng đã có chỗ đứng trên thị trườngngoài nước
5.Năng lực nghiên cứu và phát triển
Một doanh nghiệpnếu có năng lực nghiên cứu và phát triển,thì doanh nghiệp có thể :Thứ nhất : tự mình làm chủ những công nghệ hiện đại,thậm chí là độc quyền,qua đó cóthể nhanh chóng nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm chủ lực và chất lượngtăng trưởng của doanh nghiệp
Thứ hai : cải tiến,nâng cấp các công nghệ cũ nhằm tiết kiệm chi phí đầu tư cho công tácmua sắm máy móc,trang thiết bị thay thế,qua đó giải phóng cho doanh nghiệp một khốilượng tiền của đáng kể để có thể đầu tư cho các công đoạn khác,cũng như có cơ sở đểnghĩ tới những chiến lược dài hơi
Trang 13Do đó năng lực nghiên cứu và phát triển,cũng đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng
và tính cạnh tranh về chi phí sản xuất,từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp
6.Thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp
Đối với bất cứ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nào hoạt động trong nên Kinh tế thịtrường,thương hiệu cũng như uy tín của doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng to lớn :
Thứ nhât : thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp là tài sản vô hình và thậm chí là vôgiá của doanh nghiệp,thương hiệu góp phần quan trọng tăng thu lợi nhuận trong tương laibằng những giá trị tăng thêm của hàng hoá.Trên thế giới,nhiều công ty trở thành nổi tiếngkhông phải chỉ do quy mô đầu tư và đổi mới công nghệ,mà còn nhờ chính thươnghiệu.Bản thân thương hiệu cũng đã được định giá rất cao,như : nhãn hiệu Coca – colatrong năm 2002 theo đánh giá của công ty Interbrand Corp có giá trị 69,6 tỷ USD,nhãnhiệu Microsoft được định giá 64,1 tỷ USD,IBM là 51,2 tỷ USD.Một ví dụ khác để sosánh giá trị của một sản phẩm nhưng khi mang nhãn hiệu khác nhau,giá rất khác nhau,ví
dụ : một chiếc áo sơ mi do công ty việt nam sản xuất nếu mang nhãn hiệu An phước thìbán với giá 218.000 VND/chiếc,còn nếu mang nhãn hiệu nổi tiếng của pháp – PiereCardin thì giá bán lên tới 526.000 VND/chiếc.Như vậy,phần giá trị gia tăng 308.000VND/chiếc là do thương hiệu mang lại cho doanh nghiệp
Thứ hai : thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp duy trì lượng kháchhàng truyền thống, đồng thời thu hút thêm các khách hàng mới,các khách hàng tiềmnăng.Thực tế cho thấy,người tiêu dùng thường bị lôi kéo,chinh phục bởi những hàng hoá
có thương hiệu nổi tiếng, ưa chuộng và ổn định.Những doanh nghiệp có thương hiệu nổitiếng lâu đời sẽ tạo ra và củng cố được lòng trung thành của một số lượng khách hàngtruyền thống, đồng thời doanh nghiệp có cơ hội thu hút thêm những khách hàng hiện thờichưa sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp,thậm chí cả những khách hàng của các doanhnghiệp là đổi thủ cạnh tranh
Thứ ba : thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp giảm các khoảnchi phí cho hoạt động xúc tiến thương mại,hoạt động Marketing.Thực chất,thương hiệucũng chính là công cụ Marketing,xúc tiến thương mại hữu hiệu của doanh nghiệp nhằmtấn công vào các thị trường mục tiêu,hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện chính sách thâm
Trang 14nhập,mở rộng thị trường, đồng thời nhờ có thương hiệu nổi tiếng mà quá trình phân phốisản phẩm của doanh nghiệp được tiến hành thuận lợi,hiệu quả hơn.
Thứ tư : thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanhnghiệp,giúp doanh nghiệp có điều kiện phòng thủ và chống lại các đối thủ cạnh tranhkhác.Thông thường những mặt hàng có thương hiệu nổi tiếng,lâu đời sẽ tạo được sự bềnvững trong cạnh tranh vì dễ dàng tạo ra sự tin cậy của khách hàng đối với sản phẩm
7.Trình độ lao động
Có thể nói,trình độ lao động hay chất lượng của nguồn nhân lực là yếu tố quyết địnhcho sự phát triển của một doanh nghiệp.Trình độ nghề nghiệp của người lao động thấpthì tài nguyên,vốn và công nghệ cũng trở thành lãng phí,và tất yếu là dẫn đến hiệu quảKinh tế thấp.Không những thế trình độ lao động thấp sẽ hạn chế,nếu không nói là cản trởkhả năng tiếp thu và chuyển giao công nghệ.Có nghĩa là,nếu thiếu lao động có trình độđáp ứng ở một mức độ nào đó,việc phổ biến công nghệ sẽ khó hoặc không xảy ra.vàngược lại nếu đội ngũ lao động của doanh nghiệp có chất lượng sẽ giúp doanh nghiệp tậndụng được tối đa lợi thế của mình,qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp
8.Thị phần sản phẩm doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng thị phần
Một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh trước các đối thủ khi doanh nghiệp đó nângcao được thị phần của mình hơn các đối thủ khác với cùng một đồng vốn đầu tư Thịphần của doanh nghiệp càng lớn - đồng nghĩa với việc khẳng định ưu thế, vị thế lớn củadoanh nghiệp trên thương trường - khẳng định sự chấp nhận về sản phẩm của doanhnghiệp của người tiêu dùng trên thị trường Nó thể hiện sự thắng lợi của doanh nghiệptrong cạnh tranh giành thị trường
“Thương trường là chiến trường”, thất bại trên thương trường là việc không chiếm lĩnhđược thị trường, không được thị trường chấp nhận, do đó nó cũng nguy hiểm không kémthất bại trên chiến trường Trong chiến tranh, các bên tranh giành nhau từng vùng đất,vùng trời để khẳng định thế mạnh quân sự của mình trong cạnh tranh trên thương trường,các bên cùng điều hành các thủ pháp và công đoạn chiếm lĩnh thị trường, nhằm thâu tómthị trường, thu hút thêm khách hàng, để từ đó có điều kiện ngày càng mở rộng thế lực củadoanh nghiệp trên thương trường Khi đã thu hút được người khách hàng, có được một
Trang 15thị phần lớn, doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiêu thụ được sản phẩm, nâng cao doanh thu, tănglợi nhuận, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp đã đạt được lợi thế cạnh tranh.
9.Vị thế tài chính
Người xưa có câu “Mạnh vì gạo,bạo vì tiền”.Trong cơ chế thị trường hiện nay, đặc biệtkhi Việt nam chính thức bước vào hội nhập Kinh tế khu vực và quốc tế,thì vấn đề tàichính của doanh nghiệp càng trở nên bức xúc hơn bao giờ hết,doanh nghiệp cần có vốn
để chủ động sản xuất,đầu tư phát triển … doanh nghiệp nào sở hữu một vị thế tài chínhtốt sẽ vô cùng thuận lợi trong cạnh tranh :
- Với khả năng tài chính dồi dào doanh nghiệp có khả năng trong việc đầu tư đổimới công nghệ, áp dụng các giải pháp kỹ thuật và công nghệ quản lý mới để tạo ra sảnphẩm – hàng hoá - dịch vụ có chất lượng và sức cạnh tranh cao
- Vị thế tài chính tốt giúp doanh nghiệp có thể tiếp cận được với các nguồn vốn vaycủa các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính
- vị thế tài chính tốt giúp doanh nghiệp có thể dễ dàng nhập khẩu các nguyên vậtliệu trực tiếp từ các đối tác, đặc biệt là các đối tác nước ngoài,tránh được tình trạng quyếtđịnh kinh doanh dựa trên cảm tính,hay kinh nghiệm
- vị thế tài chính tốt giúp doanh nghiệp có thể sử dụng được các dịch vụ tư vấnchuyên nghiệp,giảm thiểu rủi ro trong quá trình thâm nhập thị trường mới,tiết kiệm thờigian cho công tác điều tra,khám phá thị trường
10.Năng lực tổ chức và quản lý doanh nghiệp
Năng lực tổ chức và quản lý doanh nghiệp là khả năng “cầm lái” con tàu doanh nghiệpcủa đội ngũ quản lý.Trong nền kinh tế thị trường biến động như hiện nay,các quyến địnhcủa đội ngũ quản lý luôn mang tính chất động và đóng vai trò then chốt,trực tiếp gópphần vào tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp,nếu các quyết định luôn đạt được sựchính xác cao độ,cũng như công tác tổ chức hợp lý thì không có lý do gì có thể khiến tốc
độ tăng trưởng của doanh nghiệp bị chậm lại,và ngược lại nếu năng lực tổ chức yếu kémcộng thêm kinh trình độ quản lý thấp thì sẽ là rào cản rất lớn,trên con đường tiến lên củadoanh nghiệp.Trong doanh nghiệp nếu đội ngũ lao động nhận thấy rằng mình đang làmviệc trong một môi trường chuyên nghiệp, đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ,có kinhnghiệm,và có khả năng đưa doanh nghiệp ngày càng đi lên thì đội ngũ lao động sẽ làm
Trang 16việc tận tuỵ hơn,quan tâm đến doanh nghiệp hơn,và trung thành hơn,nó là tiền đề cho cácnghiên cứu,sáng chế cải tiến công nghệ,mà thông qua đó năng suất sẽ được đẩy lêncao,chi phí sẽ được giảm xuống,và qua ngày tháng sẽ làm tăng năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp
III.Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu
1.Tổng quan về hoạt động đầu tư của công ty giai đoạn 2004 - 2006
Kết quả sản xuất kinh doanh từ 2004 - 2006
Bảng 2 : ( Đơn vị tính : Đồng )
1 Doanh thu 106.586.389.534 192.810.159.990 225.827.636.723
2 Tổng lợi nhuận 106.534.163.077 192.657.191.137 225.827.636.723
Trang 17so với cả năm 2005,tăng 111,87% so với cả năm 2004.Lợi nhuận sau thuế vì thế cũngtăng đáng kể,năm 2005 là 110.137.574 đồng,tăng 74.623.583 đồng so với năm 2004 haytăng 210%.Tại thời điểm này công ty chưa có quyết toán đầy đủ của năm 2006,nhưngnếu như căn cứ vào tốc độ của việc tăng doanh thu thì ước chừng năm 2006 lợi nhuậnsau thuế có thể là khoảng 130 triệu đồng.Do đặc thù sản xuất kinh doanh của công ty từtrước đến năm 2006,nên công ty có xu hướng không gia tăng nhiều lao động,trong năm
2005 số lao động bình quân chỉ tăng có 12 người so với năm 2004,sau đó giảm 5 ngườitrong 09 tháng đầu năm 2006,nhưng trong thời điểm 3 tháng cuối năm 2006,do đợt cuốinăm công ty nhận thêm được nhiều hợp đồng sản xuất trong năm 2007 nên công ty đãtuyển dụng thêm 150 lao động các loại,tăng đột biến so với các năm về trước.Thu nhậpbình quân tăng đều qua các năm,nhưng tăng ở mức chậm,năm 2006 tăng 50.000 đồng sovới năm 2005,tăng 100.000 đồng so với năm 2004 hay tăng 5,55% so với năm 2005,tăng12,5% so với năm 2004.Tổng vốn kinh doanh tăng nhanh từ năm 2004 đến năm2005,nhưng sau đó có giảm chút ít trong năm 2006,cụ thể,năm 2005 tăng 17.668.281.039đồng hay 40,06% so với năm 2004,sau đó giảm 2.382.375.530 đồng hay 3,85% trongnăm 2006, điều này là dễ hiểu vì trong năm 2006 vốn nhà nước trong tổng vốn kinh
Trang 18doanh của công ty đã giảm 3.704.480.123 đồng hay 45,44% từ 8.151.732.095 đồngxuống chỉ còn 4.447.251.972 đồng.Cùng với sự gia tăng của sản lượng,doanh thu,lợinhuận nên các khoản nộp ngân sách cũng không ngừng tăng lên,năm 2006 tăng471.761.670 đồng so với năm 2005,tăng 1.044.939.863 đồng so với năm 2004 hay21,12% so với năm 2005 và 62,96% so với năm 2004.
1.2.Thuận lợi và khó khăn
1.2.1.Thuận lợi
Bước đầu hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đã được đa dạng dần dần đi vào
ổn định và phát triển.Doanh thu,nộp ngân sách,thu nhập của người lao động năm sau caohơn năm trước.Với bề dày kinh nghiệm trên 30 năm uy tín hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty cổ phần sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu ngày một nâng lên đội ngũcán bộ đoàn kết,gắn bó,lăn lộn với thương trường vì sự nghiệp phát triển của công ty.1.2.2.Khó khăn
- Do tồn tại để lại hậu quả quá lớn về tài chính,nợ ngân hàng và ngân hàng trừ phầnchính phủ và bộ chủ quản,bộ tài chính ngân hàng cho xoá nợ lãi năm 1996-2001,giãn nợgốc vay công ty vẫn nợ gốc ngân hàng và các khách hàng tổng số trên 20 tỷ đồng.nguồnvốn còn lại chủ yếu trên sổ sách,hoạt động sản xuất kinh doanh hoàn toàn dựa vào vốnvay lãi suất lớn không chủ động được trong sản xuất kinh doanh do vậy dẫn đến hiệu quảthấp
- Lực lượng lao động chủ yếu là lao động phổ thông xuất thân từ nông thôn chỉquen với việc làm thời bao cấp cưa xẻ gỗ sơ chế còn sản xuất hàng tinh chế phải đi thuêngoài,xảy ra tình trạng có việc làm công nhân lại phải nghỉ việc
- Nhà xưởng máy móc thiết bị được mua sắm từ những năm 1970,1980 quá cũ kỹlạc hậu.hơn nữa từ khi chính phủ có chỉ thị cấm xuất khẩu gỗ tròn,gỗ xẻ nên dây chuyền
xẻ gỗ tròn JAPAN và TAIWAN của công ty phải ngừng hoạt động từ năm 2001.Bêncạnh đó các nước láng giềng như lào, cho trên 320 người lao động vừa phải trả nợ dầncác công nợ cũ
- Ngoài ra một số hợp đồng liên doanh liên kết như hợp đồng liên doanh với Công
ty hợp tác kinh tế quân khu 4 bộ quốc phòng, VIEXIM,PETEL, cũng cần phải giải quyếtthanh lý vì các hợp đồng này không có hiệu quả
1.2.3.Về quản lý đất đai
Trang 19Tổng số diện tích đất đai Công ty đang quản lý là : 54.986 m2 trong đó chia ra :
- Diện tích 40.684 m2 bao gồm : Văn Phòng Công ty,khách sạn Nam Thành,nhà tậpthể 05 tầng và toàn bộ nhà xưởng phục vụ cho công nhân sản xuất ở Km9 - Pháp Vân -Hoàng liệt - Hoàng mai - Hà nội.Công ty đang ký hợp đồng thuê đất với sở địa chính nhàđất hà nội là 20 năm
- Diện tích 4.060 m2 xây dựng cơ sở gia công tái chế hàng xuất khẩu và dịch vụMóng Cái - Quảng Ninh,Công ty ký hợp đồng thuê đất với sở địa chính Quảng Ninh là
50 năm
- Khu tập thể 10 A Nghĩa Dũng - Phường Phúc Xá - Quận Ba Đình – Hà Nội vớidiện tích là 2.017 m2 Công ty đang làm thủ tục bàn giao cho công ty kinh doanh nhà số1
- Khu tập thể cụm dân cư số 08 - Phường Hoàng Liệt - Quận Hoàng Mai – Hà Nộivới diện tích 8.225 m2.Công ty đang làm thủ tục bàn giao cho Công ty kinh doanh nhà số2
Ngoài ra công ty đang :
- Lập dự án xây dựng cơ sở nhà xưởng để ổn định sản xuất mặt hàng bao bì và đồmộc trên diện tích gần 7.000 m2 Tại Cụm Công Nghiệp Ngọc Hồi - Huyện Thanh Trì -
Hà Nội
- Đền bù giải phóng mặt bằng diện tích 29,1 ha để những năm tiếp theo đầu tư xâydựng kinh doanh cơ sở hạ tầng khu đô thị ở xã Hải Yên - Thị xã Móng Cái - Tỉnh QuảngNinh mà UBND tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt
- Sớm di dời khu sản xuất ra khỏi nội thành để khắc phục tình trạng úng lụt màcông nhân thường xuyên phải nghỉ việc như hiện nay
2.Tình hình đầu tư trong 3 năm gần đây của Doanh nghiệp
- 2.1.Tình hình Tài sản và vốn kinh Indonexia,Malaysia cũng cấm xuất khẩu gỗ tròn
và gỗ xẻ.02 dây chuyền xẻ gỗ lại lạc hậu cần phải thanh lý bổ sung mua sắm thiết bị máymóc sản xuất hàng tinh chế mới,mới đảm bảo có đủ thiết bị để sản xuất các sản phẩm đápứng theo nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
- Mô hình quản lý công ty bộc lộ những hạn chế.Bộ máy gián tiếp còn cồngkềnh,trình độ năng lực còn quá hạn chế,các đơn vị thành viên như các Xí nghiệp phòng
Trang 20ban phân tán,nhỏ lẻ,hoạt động kém hiệu quả.Số ít lợi dụng cơ chế,quy chế của công tyvun vén cho cá nhân hơn chăm lo đến tập thể nên hiệu quả sản xuất kinh doanh thấpCác khoản công nợ dây dưa,ngoài nợ ngân hàng được thủ tướng chính phủ cho xoá nợvẫn còn một số công nợ của các khách hàng do hậu quả cũ để lại.Do vậy công ty vừaphải cố gắng duy trì đảm bảo sản xuất việc làm doanh
2.1.1.Tài sản và vốn kinh doanh tại thời điểm 30/09/2006
- Tổng giá trị thực tế Doanh nghiệp : 59.385.201.168 đồng
- Tổng vốn Nhà Nước tại Doanh nghiệp : 4.447.251.972 đồng
2.1.2.Nguồn vốn
a,Phân bổ theo cơ cấu
Bảng 3 : phân bổ nguồn vốn theo cơ cấu (Đơn vị tính : đồng )
Vốn nhà nước 8.151.732.095 8.151.732.095 4.447.251.9721.Vốn cố định 3.022.343.999 3.022.343.999
2.Vốn lưu động 5.129.388.096 5.129.388.096
( Nguồn : phòng tổ chức hành chính công ty cổ phần sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu )
b,Phân theo chủ sở hữu
Bảng 4 : phân bổ nguồn vốn theo chủ sở hữu (Đơn vị tính : đồng )
Qua bảng số liệu về vốn kinh doanh của công ty chúng ta có thể nhận thấy : từ
năm 2005 trở về trước do công ty bị hạn chế trong việc tiếp cận với các Tổ chức tín dụng
mà đặc biệt là các Tổ chức ngân hàng,nên quá trình sản xuất kinh doanh dựa nhiều vào
Trang 21việc sử dụng nguồn vốn nhà nước có trong công ty,trong đó vốn lưu động là lớnnhất,chiếm 5.129.388.096 đồng trong tổng số 8.151.732.095 đồng vốn nhà nước,tức là62,92%,còn vốn cố định chỉ chiếm 3.022.343.999 đồng tức là 37,08%.Sang năm 2006 dochủ động tiếp xúc với các tổ chức tín dụng và tiến hành cổ phần hoá thành công nên công
ty đã có thể phần nào tự chủ được về nguồn vốn,và đó cũng là lý do trong năm 2006nguồn vốn nhà nước đã có chiều hướng đi xuống rõ rệt,bằng chứng là so với năm 2004
và 2005 nguồn vốn nhà nước đã giảm 3.704.480.123 đồng hay 45,44% từ8.151.732.095 đồng xuống chỉ còn 4.447.251.972 đồng Đây là dấu hiệu đáng mừng củacông ty khi đã có thể chủ động được nguồn vốn kinh doanh,giảm sự phụ thuộc vào nguồnngân sách nhà nước.Và với việc có thêm được nhiều đơn đạt hàng với số lượng lớn trongnăm 2007,công ty đang dự định phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ công tycũng như nguồn vốn dành cho sản xuất kinh doanh
Vốn của Công ty cổ phần sản xuất bao bì và hàng xuất khẩu được huy động từ cácnguồn chính là : Nguồn vốn ngân sách nhà nước,nguồn vốn chủ sở hữu
( bao gồm cả việc công ty phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ ),quỹ khấu hao cơ bản vàquỹ Đầu tư phát triển ;nguồn vốn vay ngân hàng bao gồm : vay dài hạn,vay ngắn hạn,vaykhác như vay công nhân viên.ta có thể tham khảo thông qua số liệu sau :
Trang 2210,92%,nhưng do vay dài hạn giảm mạnh từ 26.283.763.107 đồng xuống chỉ còn10.374.029.359 đồng ( giảm 15.909.733.748 đồng hay là 60,53% ),và vay khác cũnggiảm xuống chỉ còn 96.801.955 đồng ( giảm 334.042.155 đồng hay là 77,53% ) nên quylại vốn vay vẫn giảm.
Dưới đây ta có bảng tỷ trọng các nguồn vốn trong tổng vốn Đầu tư của công ty trong 2năm qua,năm 2005 và năm 2006 :
Trang 23Bảng 6 : tỷ trọng các nguồn vốn trong tổng vốn đầu tư trong 2 năm 2005 và 2006
Dưới đây là biểu đồ cơ cấu nguồn vốn Đầu tư của công ty trong 2 năm qua :
Trang 24Bảng 7: biểu đồ cơ cấu nguồn vốn Đầu tư của công ty trong năm 2005 và 2006
Năm 2005 Năm 2006
2.1.3.Tình hình tài sản công ty tại thời điểm 30/09/2006
a,Nhà cửa,vật kiến trúc
- Nhà cửa,vật kiến trúc đang dùng :
Trang 25c,Phương tiện vận tải
- Phương tiện vận tải đang dùng :