Th c tr ng s n xu t kinh doanh v kh n ng c nh tranh c a c ng ty c ph n i n nh vi n th ng tài liệu, giáo án, bài giảng ,...
Trang 1http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn,
đồ án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất
cả mọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng gópcủa quý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quýkhách gửi về luanvanpro.com@gmail.com
Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và
http://tailieupro.vn/
Thực trạng sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần Điện nhẹviễn thông
Trang 2Đối với các doanh nghiệp xây dựng hoạt động trong một môi trường cạnh tranh ngàycàng gay gắt do sự lớn mạnh của các doanh nghiệp khác trong ngành, do sự ra đời củacác doanh nghiệp mới tham gia thị trường, và sự thâm nhập của các doanh nghiệp xâydựng nước ngoài thì yêu cầu nâng cao khả năng cạnh tranh là điều kiện sống còn củamỗi doanh nghiệp.
Công ty cổ phần Điện nhẹ viễn thông, với tuổi đời còn non trẻ, năng lực còn yếu kém để
có thể tồn tại và phát triển trong một môi trường cạnh tranh đầy khốc liệt như hiện naythì vấn đề làm thế nào để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thịtrường xây lắp nói chung đang là một bài toán mà từng ngày, từng giờ ban lãnh đạo củacông ty đang tìm lời giải đáp
Từ tính cấp thiết và hữu dụng của vấn đề, với mong muốn là góp phần rất nhỏ vào việctìm ra những giải pháp nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của công ty trên thịtrường xây lắp trong thời gian tới nên Em quyết định lựa chọn đề tài: " Một số biện phápnhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần Điện nhẹ viễn thông" cho luậnvặn tốt nghiệp của mình
Ngoài phần mở đầu và kết luận kết cấu của luận văn gồm 3 phần chính:
Phần I: Những vấn đề cơ bản về cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng trong nền kinh
Trang 3Với khả năng, trình độ và thời gian có hạn cho nên phần trình bày do Em thực hiện khótránh khỏi được những khiếm khuyết.Em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo tận tìnhcủa các thầy cô giáo và các bạn để Em có thể hoàn thành tốt hơn ý tưởng của mình
Em cũng xin chân thành cảm ơn thầy giáo Phạm Văn Minh, cùng toàn thể các cô chú,các anh chị trong công ty cổ phần Điện nhẹ viễn thông đã giúp em hoàn thành đề tàinghiên cứu này!
Sinh viên: Lê Thị Vi
Trang 41.Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh đặc biệt phát triển cùng với sự phát triển nền sản xuất hàng hoá tư bản chủnghĩa Theo Mác "cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữacác nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụhàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch" Nghiên cứu sâu về nền sản xuất hàng hoá
tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mác đã phát hiện ra quy luật điềuchỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân và qua đó đã hình thành nên giá cả thị trường Quyluật này dựa trên sự chênh lệch giữa giá trị, chi phí và khả năng có thể bán được hànghóa dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận
Kinh tế thị trường càng phát triển thì cạnh tranh càng có vai trò quan trọng Nó là điềukiện, là yếu tố kích thích kinh doanh và là động lực thức đẩy sản xuất phát triển gópphần thức đẩy sự phát triển của xã hội nói chung
Như vậy, sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số lượng ngườicung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt Kết quả cạnh tranh sẽ có một số doanhnghiệp bị buộc thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường, trong khi một số doanh nghiệp vẫntồn tại và phát triển, phát triển hơn nữa
Cũng chính nhờ cạnh tranh không ngừng mà nền kinh tế thị trường vận động theohướng nâng cao năng suất lao động xã hội Yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗiquốc gia trên con đường phát triển
Tóm lại, ta có thể hiểu cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thểkinh doanh hoạt động trên thị trường nhằm giành giật những khả năng về mở rộng quátrình sản xuất sản phẩm, mở rộng thị phần cho doanh nghiệp, tạo ra cho xã hội nhữngsản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, dịch vụ chu đáo
Trang 52 Các loại hình cạnh tranh
2.1 Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường có:
+ Cạnh tranh giữa người bán với người mua là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luậtmua rẻ- bán đắt, trên thị trường người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá caonhất Giá cả cuối cùng được chấp nhận là giá thống nhất giữa người bán và người muasau quá trình mặc cả với nhau
+ Cạnh tranh giữa người mua và người mua là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cungcầu Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh giữa những người mua trở nên quyết liệt,giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên Do hàng hoá trên thị trường khan hiếm nênngười mua sẵn sàng trả giá cao để mua được hàng hoá họ cần, khi đó người bán tiếp tụcnâng giá, kết quả cuối cùng là người bán thu được lợi nhuận cao, còn người mua phảimua hàng hoá không sát giá trị với nó Đây là cuộc cạnh tranh người mua tự làm hạichính mình
+ Cạnh tranh giữa người bán và người bán là cuộc cạnh tranh gay go quyết liệt nhất.Các doanh nghiệp cạnh tranh và thôn tính lẫn nhau để tranh giành khách hàng, thịtrường, đây là cuộc cạnh tranh có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của mỗi doanhnghiệp
2.2 Căn cứ vào hành vi của những thành viên tham gia:
+ Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh trên thị trường có rất nhiều người bán vàkhông người nào có ưu thế để cung ứng một số lượng sản phẩm quan trọng khả dĩ ảnhhưởng đến giá cả Xét về phía người mua cũng không có người mua nào mua một khốilượng sản phẩm quan trọng đến mức ảnh hưởng tới giá cả, các sản phẩm bán ra đềuđược xem là đồng nhất, tức là ít khác nhau về quy cách phẩm chất, mẫu mã Nhữngngười bán tham gia trên thị trường chỉ có cách thích ứng với giá cả trên thị trường, bởi
vì cung cầu thị trường được tự do hình thành, giá cả được xác định ở mức mà số cầu củamột sản phẩm đủ để thu tất cả số cung có thể cung ứng Các doanh nghiệp tham gia trênthị trường này chủ yếu tìm biện pháp cắt giảm chi phí và sản xuất một số lượng sảnphẩm đến mức giới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên
+ Cạnh tranh không hoàn hảo: là cuộc cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn các sảnphẩm không đồng nhất với nhau, cùng một loại sản phẩm có thể chia làm nhiều loại,
Trang 6mỗi loại sản phẩm, nhãn hiệu sản phẩm đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau, mặc
dù sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể Các điều kiện mua, bán hàng rấtkhác nhau, vì nhiều lý do người bán lôi kéo khách hàng về phía mình bằng nhiều cách:quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, tín dụng, chiết khấu, giảm giá người bán cóthể ấn định giá linh hoạt tuỳ theo khu vực bán sản phẩm, tuỳ theo khách hàng cụ thể vàmức lợi nhuận mong muốn
+ Thị trường cạnh tranh độc quyền: cạnh tranh độc quyền là cạnh tranh diễn ra trên thịtrường mà ở đó có một số người bán một số sản phẩm thuần nhất
Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ số lượng sản phẩm hay hàng hoá bán ra trên thịtrường Nhà độc quyền hoàn toàn có quyền định đoạt giá cả và số lượng bán ra Tuynhiên, điều đó không có nghĩa là độc quyền có sự tự do hoàn toàn về giá mà tuỳ theođặc điểm tiêu dùng của sản phẩm nhà độc quyền có thể định giá cao hay thấp để thu lợinhuận tối đa.Trong kinh doanh ai là người độc quyền sẽ có lợi thế song về mặt xã hội thì
nó làm kìm hãm sự phát triển sản xuất, làm hại người tiêu dùng Vì vậy, ở một số nước
có luật chống độc quyền, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh
Trang 73 Các lực lượng cạnh tranh trên thị trường
Mối đe doạ
thay thế
Trước hết, ta định nghĩa ngành kinh tế là một nhóm những công ty sản xuất những sảnphẩm thay thế gần gũi của nhau Một công ty trong một ngành sản xuất không thể đứngđộc lập một mình trên thị trường mà không có mối quan hệ với bên ngoài mà thực tếchúng hoạt động và phát triển trong những môi trường hết sức phức tạp
Micheal porter trong cuốn "chiến lược cạnh tranh" đã đưa ra 5 lực lượng cạnh tranh tácđộng đến mức độ cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp
Năm lực lượng cạnh tranh: nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ mới, cuộc cạnh tranhgiữa các đối thủ hiện tại, mối đe doạ của các sản phẩm thay thế, sức mạnh của ngườimua và sức mạnh của người cung ứng là 5 lực lượng cơ bản của cạnh tranh trên thịtrường
Nh ng ng ững người ười i gia nh p ập
ti m n ng ềm năng ăng
Các đối thủ i th ủ
c nh tranh ạnh tranh trong ngành
S c nh tranh ự cạnh tranh ạnh tranh
Các s n ph m ản phẩm ẩm thay thế
Trang 8Toàn bộ 5 lực lượng cạnh tranh này kết hợp với nhau xác định cường độ cạnh tranh vàmức lợi nhuận của ngành Những lực lượng mạnh mẽ nhất sẽ thống trị và trở thànhtrọng yếu theo quan điểm xây dựng chiến lược
3.1 Nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ ngoài ngành
Những đối thủ mới của ngành mang đến những năng lực sản xuất mới, sự mong muốnchiếm lĩnh một thị trường nào đó và thường là những người có tiềm lực to lớn Giá bán
có thể bị kéo xuống hoặc chi phí của các hãng đi trước có thể bị tăng lên và kết quả làgiảm mức lợi tức Các công ty đa dạng hoá hoạt động của mình thông qua việc xâmnhập vào một ngành từ những thị trường khác thường sử dụng các nguồn lực của họ đểtạo ra một cuộc cải tổ Sự xâm nhập vào một ngành, với dự định xây dựng một vị trí trênthị trường điều đó có lẽ cần coi như một sự nhập cuộc mới mặc dù không có một thựcthể mới nào tạo ra
Nguy cơ nhập cuộc vào một ngành phụ thuộc vào những barie nhập cuộc thể hiện quacác phản ứng của các đối thủ cạnh tranh hiện thời mà các đối thủ mới có thể dự đoánđược Các barie này là tính kinh tế, sự khác biệt của sản phẩm, những đòi hỏi về vốn,chi phí, khả năng tiếp cận với các kênh phân phối và những bất lợi về chi phí không liênquan tới quy mô Nếu các barie cao hoặc các đối thủ mới có thể dự đoán được sự toantính trả đũa quyết liệt của các đối thủ hiện thời đang quyết tâm phòng thủ thì nguy cơnhập cuộc sẽ thấp
3.2 Cuộc cạnh tranh của các đối thủ hiện tại
Trong cuộc cạnh tranh này các đối thủ sử dụng các chiến thuật như cạnh tranh về giá,các cuộc chiến về quảng cáo, giới thiệu sản phẩm và tăng cường phục vụ khách hànghoặc các dịch vụ sau khi bán Cuộc cạnh tranh, tranh đua xảy ra vì một nhiều đối thủthấy bị chèn ép hoặc thấy cơ hội để cải thiện vị trí Trong đa số các ngành, những bước
đi của một công ty có những hiệu ứng rõ ràng với các đối thủ cuả nó và như thế có thểkích thích sự trả đũa hoặc những cố gắng chống trả lại
Một số hình thức cạnh tranh, rõ ràng nhất là cạnh tranh về giá, rất không ổn định và cókhả năng làm giảm lợi nhuận toàn ngành Các đối thủ cạnh tranh rất nhanh chóng và dễdàng bắt chước các hành động giảm giá và một khi làm như vậy sẽ hạ thấp doanh thucủa tất cả các hãng trừ khi độ co dãn của cầu là khá lớn Ngược lại, cuộc cạnh tranh về
Trang 93.2 Áp lực từ các sản phẩm thay thế
Xét theo nghĩa rộng thì các công ty trong ngành phải cạnh tranh với các ngành sản xuấtcác sản phẩm thay thế Các sản phẩm thay thế hạn chế mức lợi nhuận tiềm năng của mộtngành bằng cách đặt một ngưỡng tối đa cho mức giá mà các hãng trong ngành có thểkinh doanh có lãi Khả năng về lựa chọn giá cả của các sản phẩm thay thế càng hấp dẫnthì ngưỡng chặn trên đối với lợi nhuận càng chắc chắn hơn
Xác định những sản phẩm thay thế chính là tìm kiếm những sản phẩm có cùng côngnăng như sản phẩm của một ngành Nhiều khi công việc này rất tinh vi đẩy người phântích vào những ngành kinh doanh dường như xa lạ với ngành Vì thế để đối mặt với cácsản phẩm thay thế thì đó là vẫn đề chung của toàn ngành, ví dụ việc quảng cáo của mộthãng không đủ thắng nổi sản phẩm thay thế thì việc quảng cáo liên tục mạnh mẽ củahãng trong ngành chắc chắn sẽ cải thiện đáng kể vị trí chung của toàn ngành
3.4 Sức mạnh của người mua
Người mua cạnh tranh với ngành bằng cách bắt ép mặc cả để có chất lượng tốt hơn,phục vụ nhiều hơn và làm cho các doanh nghiệp cùng ngành chống lại nhau Tất cả đềulàm hao tổn lợi nhuận của ngành
Sức mạnh của mỗi nhóm khách hàng phụ thuộc vào một loạt các đặc điểm của tình hìnhthị trường, vào tầm quan trọng hàng hoá của ngành xét trong mối tương quan với toàn
bộ hoạt động kinh doanh của nhóm Sức mạnh của người mua tăng hoặc giảm thay đổitheo thời gian của các yếu tố như sự nhạy cảm với giá, sự đầy đủ thông tin hoặc do kếtquả của quyết định chiến lược của công ty
Chính vì vậy, việc lựa chọn các nhóm khách hàng chính yếu, thị trường chính yếuphải được xem xét như một chiến lược tối quan trọng
Trang 103.5 Sức mạnh của người cung ứng
Những người cung ứng có thể khẳng định sức mạnh của mình đối với các thành viênbằng cách đe doạ tăng hoặc giảm chất lượng hàng hoá dịch vụ, bằng cách đó chèn éplợi nhuận tiêu thụ của một ngành khi ngành đó không còn khả năng bù đắp lại chi phítăng lên trong mức giá của ngành
Ngoài các hãng cung ứng còn phải coi lực lượng lao động như một lực lượng cungứng, và lực lượng cung ứng có rất nhiều sức mạnh trong nhiều ngành Thực tế đã chỉ rarất rõ ràng những nhân viên có tay nghề và kinh nghiệm thì việc họ làm hay không làmcho doanh nghiệp sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, chất lượng sản phẩm củacông ty
II CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG TRONG CƠ CHẾ THỊTRƯỜNG
1 Quan niệm về cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng
1.1 Khái niệm doanh nghiệp xây dựng
Theo nghị định của Chính phủ số 52/ 1999/ NĐ- CP ngày 08/ 07/ 1999 về việc ban hànhquy chế quản lý đầu tư và xây dựng định nghĩa: "doanh nghiệp xây dựng là doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, cóđăng ký kinh doanh về xây dựng"
Nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp xây dựng là chuyên môn nhận thầu thi công xâylắp kèm theo các tổ chức sản xuất phụ như vật liệu xây dựng, cấu kiện xây dựng (nếucó) và các tổ chức quản lý, dịch vụ khác thuộc ngành xây dựng như vận tải xây dựng,bảo trì, bảo dưỡng công trình
1.2 Khái niệm về cạnh tranh trong xây dựng
+ Theo kinh tế học cạnh tranh được định nghĩa là sự giành giật thị trường để tiêu thụhàng hoá giữa các doanh nghiệp
Nội dung trong định nghĩa này nhấn mạnh đến cạnh tranh trong khâu tiêu thụ sản phẩm,hàng hoá Nó chú trọng nhiều đối với các ngành mà sản phẩm hoàn thành trước khi xácđịnh được khách hàng là ai Còn đối với ngành xây dựng do sản phẩm xây dựng (cáccông trình xây dựng) có tính đặc thù, khác biệt hẳn so với các doanh nghiệp trong ngành
Trang 11khác - đó là sản phẩm xây dựng thường mang tính đơn chiếc và sản phẩm theo đơn đặthàng (yêu cầu) của chủ đầu tư Như vậy, là các doanh nghiệp xây dựng xác định đượckhách hàng trước khi sản phẩm xây dựng được hoàn thành Xuất phát từ đặc thù này màcạnh tranh trong ngành xây dựng cũng có tính đặc thù riêng so với các ngành khác Cụthể, đối với các doanh nghiệp thuộc các ngành khác thì thị trường tổ chức sự cạnh tranh
và cũng chính thị trường đánh giá khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp tham giathị trường Còn đối với các doanh nghiệp xây dựng, sự cạnh tranh do các chủ đầu tư(bên mời thầu) và do đó cũng chính chủ đầu tư quyết định ai sẽ là người thắng cuộctrong cạnh tranh Theo nghĩa đó, cạnh tranh trong xây dựng có thể định nghĩa như sau:+ Theo nghĩa hẹp: cạnh tranh trong xây dựng là việc các doanh nghiệp xây dựngđưa ra các biện pháp kỹ thuật, chất lượng, tổ chức, giá cả, biện pháp thi công tốt nhất,đáp ứng tốt nhất yêu cầu của chủ đầu tư nhằm dành được mục tiêu thắng thầu xây dựngcông trình đó
Theo quan niệm này, mới chỉ xem xét sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựngtham gia đấu thầu xây dựng một công trình nhất định mà chưa chỉ ra được sự cạnh tranhgiữa các doanh nghiệp xây dựng trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh, tham gianhiều công trình đấu thầu khác nhau và các đối thủ cạnh tranh cũng khác nhau Vì thế
mà nếu theo quan điểm này thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc xây dựng chiếnlược cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp
+ Theo nghĩa rộng: cạnh tranh là quá trình đấu tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp xâydựng nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi và thế mạnh cho mình so với các đối thủcạnh tranh
Theo quan điểm này, sự cạnh tranh được xem xét rộng hơn cả về không gian và thờigian Sự cạnh tranh không chỉ bó hẹp trong một số nhà thầu và thời gian diễn ra mộtcuộc đấu thầu mà là cả quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Điều này đòihỏi mỗi doanh nghiệp xây dựng muốn tồn tại được trong thị trường cạnh tranh thì phải
có một cách nhìn toàn diện hơn và phải xây dựng cho mình một chiến lược cạnh tranhhợp lý ở mọi thời điểm, đảm bảo cho doanh nghiệp luôn chủ động trong thị trường cạnhtranh ngày càng gay gắt và đầy biện động
Trang 121.3 Tính tất yếu phải nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng.Cũng như các doanh nghiệp trong các ngành khác, các doanh nghiệp xây dựng tồn tạitrong thị trường cạnh tranh phải xác định cho mình một vị trí nhất định, chiếm lĩnh mộtphần thị trường nhất định Sự tồn tại của các doanh nghiệp xây dựng luôn bị các đối thủkhác bao vây Vì vậy, để tồn tại doanh nghiệp xây dựng phải luôn luôn vận động, pháttriển, nâng cao khả năng cạnh tranh nếu không doanh nghiệp sẽ bị cạnh tranh đào thải.Mặt khác, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp còn xuất phát từ các yếu tốsau:
+ Yêu cầu ngày càng cao của chủ đầu tư không chỉ về chất lượng, tiến độ thi công, giá
cả thấp, mà cả về mặt đảm bảo duy tư bảo dưỡng công trình ngày càng cao Các côngtrình trong tương lai ngày càng hiện đại hơn, phức tạp hơn Vì thế đòi hỏi mỗi doanhnghiệp phải có những cải tiến đổi mới nhất định để nâng cao năng lực của mình mới cókhả năng đáp ứng được những đòi hỏi này
+ Do sự phát triển của khoa học công nghệ, kỹ thuật trong xây dựng đòi hỏi các doanhnghiệp xây dựng đẩy nhanh quá trình áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, tăng cường
tự động hoá để giảm chi phí đầy nhanh tốc độ thi công, nâng cao chất lượng công trình,
có khả năng xây dựng các công trình phức tạp về mặt kỹ thuật và lớn về mặt quy mô.+ Do đặc điểm của sản xuất xây dựng là liên quan đến nhiều ngành có giá trị văn hoá, xãhội, quốc phòng cao Hơn nữa, giá trị một công trình xây dựng thường là rất cao Do đó,trong xây dựng không cho phép có phế phẩm Vì thế, đòi hỏi các doanh nghiệp xâydựng phải nâng cao năng lực mới có thể tạo ra được những công trình có chất lượng cao.Như vậy, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng trong giai đoạnhiện nay là một yêu cầu tất yếu khách quan vừa là để giành thắng lợi trong cạnh tranh,vừa là để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tế
1.4 Vai trò của cạnh tranh trong xây dựng
Cạnh tranh trong xây dựng một mặt tạo nên động lực phát triển ngành xây dựng nóiriêng àầ kinh tế nói chung Một mặt nó là cách hữu hiệu nhất để tối đa hoá lợi nhuận vàlợi ích của cả người cung cấp (doanh nghiệp xây dựng) lẫn chủ đầu tư Điều này đượcthể hiện qua các vai trò sau:
* Đối với các chủ đầu tư
Trang 13+ Thực hiện có hiệu quả yêu cầu về xây dựng công trình, tiết kiệm vốn đầu tư xây dựng
cơ bản, thực hiện đúng tiến độ thi công
+ Tăng cường quản lý vốn đầu tư, tránh lãng phí vốn
+ Đảm bảo quyền chủ động, tránh được tình trạng phụ thuộc vào nhà xây dựng côngtrình
+ Thúc đẩy nâng cao trình độ và năng lực đội ngũ cán bộ kinh tế và kỹ thuật của chínhcác chủ đầu tư
* Đối với các doanh nghiệp xây dựng
+ Phát huy đến mức tối đa tính chủ động trong việc tìm kiếm thị trường
+ Đầu tư có trọng điểm nhằm nâng cao năng lực kỹ thuật và công nghệ
+ Hoàn thiện các mặt quản lý, nâng cao năng lực của cán bộ quản lý tay nghề của côngnhân
+ Thúc đẩy hiệu quả kinh tế, giảm chi phí, tăng lợi nhuận
Bên cạnh những ưu điểm thì cạnh tranh cũng nảy sinh nhiều nhược điểm như cạnh tranhkhông lành mạnh, vi phạm pháp luật, ô nhiễm môi trường
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh ttranh của doanh nghiệp xây dựng
2.1 Nhóm các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
2.1.1 Chính sách của Đảng và Nhà nước
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi đã tham gia vào nền kinh tế dù có tư cách pháp nhânhay không đều phải hoạt động trong tầm kiểm soát của Nhà nước bị chi phối bởi cácđiều luật và quy định do Nhà nước đặt ra Hiện nay, thị trường xây dựng hoạt động dựatrên các nghị định, văn bản hướng dẫn và thông tư hướng dẫn của chính phủ với hai điềuluật cơ bản nhất đó là “Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng” ban hành kèm theo Nghịđịnh 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999, “Quy chế đấu thầu” ban hành kèm theo Nghị định88/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 và các nghị định bổ sung như 12,14/NĐ-CP ban hànhngày 5/5/2000 Ngoài ra, còn có các quy định về mức giá, khung giá và các chế tài yêucầu doanh nghiệp phải tuân thủ Chính những bó buộc này có ảnh hưởng quan trọng đếnkhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, nó quyết định doanh nghiệp có được phép haykhông khi tham gia vào các thị trường, và điều kiện để tham dự vào các thị trường đócũng như những nguyên tắc phải tuân thủ trong các quá trình hoạt động
Trang 14Ngoài các quy định có liên quan tực tiếp đến lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.Doanh nghiệp còn phải tuân theo các quy định về thuê mướn, an toàn lao động, vật giá,quảng cáo, vệ sinh môi trường Mức độ ổn định của hành lang pháp lý nói chung sẽ tạođiều kiện cho doanh nghiệp yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh và ngược lại, doanhnghiệp gặp nhiều khó khăn khi phải đối diện với những thay đổi liên tục của Nhà nước
về các chính sách, làm suy yếu sức cạnh tranh trong quá trình tham gia vào thị trường.Như vậy, hoạt động của mỗi doanh nghiệp không chỉ chịu sự chi phối của các quy luậtthị trường mà còn chiụ sự quản lý và sự can thiệp của Chính phủ thông qua các chínhsách và hệ thống pháp luật, Nó đóng một vai trò quan trọng đến hoạt động của cácdoanh nghiệp nói chung cũng như các doanh nghiệp xây dựng nói riêng
2.1.2 Đối thủ cạnh tranh
Sự hiểu biết về đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng đối với một doanh nghiệp.Các đối thủ cạnh tranh quy định tính chất và mức độ tranh đua hoặc thủ thuật dànhthắng lợi trên thương trường Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào các yếu tố như: số lượngcác doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, mức độ tăng trưởng ngành, cơ cấu chi phí cốđịnh, các nguyên tắc chiến lược và những cản trở khi rút lui Sự hiện hữu của những yếu
tố này có xu hướng làm tăng nhu cầu hoặc nguyện vọng của doanh nghiệp muốn đạtđược và bảo vệ thị trường của mình và làm cho sự cạnh tranh thêm gay gắt
Cường độ cạnh tranh tăng lên khi một doanh nghiệp xây dựng thấy có cơ hội để củng cố
vị trí trên thị trường hoặc nhận thấy áp lực cạnh tranh từ phía các doanh nghiệp khác.Cường độ cạnh tranh được biểu hiện dưới dạng các chính sách hạ thấp giá bỏ thầu, cácchiến dịch quảng cáo, việc áp dụng những giải pháp thi công mới, máy móc công nghệhiện đại, tăng cường các dịch vụ khách hàng và bảo hành sản phẩm Với những đòi hỏingày một cao của thị trường và sự vận động theo xu hướng đi lên của các đối thủ cạnhtranh là một sức ép mạnh mẽ với doanh nghiệp trong việc đổi mới các hoạt động củamình
2.1.3 Thị trường
Trong giới hạn của luận văn chúng ta sẽ chỉ xem xét thị trường trên hai góc độ là thịtrường các yếu tố đầu vào và thị trường các yếu tố đầu ra của các doanh nghiệp
Trang 15Thị trường các yếu tố đầu vào
Các yếu tố đầu vào của một doanh nghiệp bao gồm nguyên vật liệu, máy móc thiết bị,lao động, vốn kết hợp với nhau tạo ra sản phẩm là các công trình xây dựng Đảm bảođúng số lượng, chất lượng, thời gian cung cấp các yêú tố đầu vào là một yêu cầu rấtquan trọng đối với doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp cần phải thiết lập được mối quan
hệ chặt chẽ với các tổ chức cung ứng
Các tổ chức cung ứng vật tư thiết bị có ưu thế có thể tìm kiếm lợi nhuận bằng cách tănggiá, giảm chất lượng sản phẩm hoặc giảm mức độ dịch vụ đi kèm Trong những trườnghợp số lượng ngườ cung cấp ít, không có sản phẩm thay thế hay nhà cung cấp không cóthiện chí thì doanh nghiệp sẽ phải chịu một sức ép lớn về đầu vào Ngược lai, nếu cácnhà cung cấp có uy tín trên thị trường quan tâm và đặt quan hệ hữu hảo thì doanh nghiệp
có thể nâng thế mạnh của mình trước các chủ đầu tư bằng cách phấn đấu nâng cao chấtlượng công trình, hạ thấp chi phí xây dựng
Trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp xây lắp cần có một nhu cầu tài chính rất lớnnhư để tạm ứng đầu tư xây dựng nhiều công trình cùng một lúc, đầu tư đổi mới côngnghệ, thiết bị trên diện rộng, tăng cường vốn lưu động cho kinh doanh Nguồn tiền này
tự bản thân doanh nghiệp nhiều khi không đáp ứng đủ mà phải nhận được từ các nguồnvay ngắn hạn và dài hạn từ các tổ chức tín dụng và ngân hàng Nếu có các chính sách tàichính phù hợp sẽ tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh mới cho doanh nghiệp
Các nhà cung ứng nói chung có quyền lực nhất định đối với hoạt động của doanh nghiệpxây lắp một cách gián tiếp, họ sẽ góp phần vào việc làm tăng hay suy yếu khả năng cạnhtranh của công ty trong quá trình tham gia vào thị trường đấu thầu xây dựng
Thị trường các yếu tố đầu ra
Do đặc điểm các sản phẩm xây dựng là các công trình xây dựng với các yêu cầu đòi hỏiriêng về chất lượng, kỹ thuật thì sự tín nhiệm của khách hàng là tài sản rất có giá trị Sựtín nhiệm này đạt được do biết thoả mãn tốt hơn nhu cầu và thị hiếu của chủ đầu tư sovới các ddối thủ cạnh tranh Trên thị trường xây dựng chủ đầu tư có quyền tự do lựachọn doanh nnghiệp xây dựng có khả năng tạo ra cho mình những sản phẩm xây dựngtheo yêu cầu thiết kế trên cả hai phương diện kỹ thuật , mỹ thuật và kinh tế Chủ đầu tưcông trình có thể tổ chức sự cạnh tranh giữa các doamh nghiệp xây dựng khác nhau
Trang 16Nhân tố này cũng có tác động mạnh mẽ tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp và được thểhiện trên các khía cạnh sau:
- Tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua việc ứngdụng những thành tựu mới và tạo ra nhiều nhu cầu mới cũng như những cơ hội kinhdoanh mới cho doanh nghiệp
-Tiến bộ khoa học công nghệ cũng tạo ra những khó khăn và thử thách mới cho doanhnghiệp như số lao động dôi ra khi áp dụng những thiết bị công nghệ mới, tốc độ tănghao mòn ssản phẩm vô hình và đòi hỏi doanh nghiệp phải huy động một lượng vốn khálớn đầu tư cho công nghệ mới
2.2 Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
Hoàn cảnh nội tại của công ty bao gồm tất cả các yếu tố và hệ thống bên trong của nó.Các công ty cần phải cố gắng phân tích một cách cặn kẽ các yếu tố nhằm xác định rõcác ưu điểm để đạt được lợi thế cạnh tranh tối đa
Chức năng của bộ phận Marketing bao gồm:
Việc phân tích, lập kế hoạch thực hiện và kiểm tra các chương trình trong đó, đặt trọngtâm vào việc tạo ra và duy trì các mối quan hệ và trao đổi với khách hàng theo nguyêntắc hai bên cùng có lợi Trong doanh nghiệp xây lắp, hệ thống này có vai trò quan trọngtrong việc tạo ra một hình ảnh tốt đẹp về doanh nghiệp, nó làm tăng khả năng cạnh tranhcủa công ty trong quá trình tham gia đấu thầu thể hiện trên các mặt sau:
- Khả năng thu thập thông tin trên thị trường bao gồm các thông tin về các công trìnhcần tham gia đấu thầu, sự biến động của môi trường kinh doanh, những thông tin cơ bảnkhác về các đối thủ cạnh tranh
Trang 17sự tồn tại và tăng trưởng lâu dài của nó.
Trong quá trình tham gia dự thầu, nhà thầu nào có ưu thế vượt trội về vốn so với các nhàthầu khác sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh và được chủ đầu tư đánh giá rất cao Sức mạnhtài chính của doanh nghiệp được thể hiện trong quá trình tham gia dự thầu, nhà thầu nào
có ưu thế vượt trội về vốn so với các nhà thầu khác sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh vàđược chủ đầu tư đánh giá rất cao Sức mạnh tài chính của doanh nghiệp được thể hiệnthông qua các vấn đề như: Quy mô vốn lớn, cơ cấu vốn hợp lý, khả năng huy động vốnngắn hạn và dài hạn nhanh, thuận lợi, chi phí vốn thấp so với toàn ngành và so với đốithủ cạnh tranh, tỷ suất lợi nhuận trên vốn khá cao, hệ thống kế toán có hiệu quả và hiệunăng phục vụ cho việc lập các kế hoạch đầu tư tài chính, lợi nhuận…
Tài chính của doanh nghiệp luôn phải công khai trong hồ sơ dự thầu, nếu năng lực tàichính của doanh nghiệp đủ mạnh thì doanh nghiệp sẽ được chấm điểm cao khi xem xét
hồ sơ dự thầu và ngược lại Mặt khác, doanh nghiệp có khả năng về tài chính cao sẽ cónhiều cơ hội để đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ máy móc, các phương tiện sửdụng ttrong quá trình thi công xây lắp để nâng cao năng suất lao động
Máy móc thiết bị và trình độ công nghệ
Đối với doanh nghiệp xây dựng thì nhân tố này có ảnh hưởng lớn đến khả năng doanhnghiệp có thể tham gia dự thầu các công trình có khối lượng lớn, giá trị và yêu cầu kỹthuật phức tạp Một doanh nghiệp nếu có tiềm lực lớn về máy móc thiết bị và công nghệthi công sẽ được đánh giá cao trong quá trình cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.Khả năng cạnh tranh cuả máy móc thiết bị và công nghệ được thể hiện thông qua: số
Trang 18lượng, chất lượng, sự đa dạng về chủng loại máy móc thiết bị, công suất và tính hiệnđại, khả năng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật phức tạp của công trình Mặt khác, chính sựhiện đại của máy móc thiết bị và công nghệ giúp cho doanh nghiệp có cơ hội sử dụngcác giải pháp thi công tiên tiến, từ đó rút ngắn tiến độ thi công và tiết kiệm các chi phíxây dựng, hạ giá thành công trình và do đó tăng ưu thế trước các đối thủ cạnh tranh.Trong trường hợp giá trị sử dụng của máy móc thiết bị đã giảm sút nhiều theo thời gianthì các doanh nghiệp cần có những đầu tư cải tiến, sáng tạo thay vì đầu tư mua sắm thaymới hoàn toàn Khi đó, dù là những máy móc thiết bị đã sản xuất từ lâu và là những máymóc thuộc lớp công nghệ cũ thì doanh nghiệp vẫn có thể tăng khả năng cạnh tranh thôngqua các giải pháp sáng tạo và cải tiến kỹ thuật Tuy nhiên, về lâu dài sự phát triển ngàycàng cao của kỹ thuật công nghệ sẽ nhanh chóng loại bỏ doanh nghiệp với những máymóc kỹ thuật có tính năng hoạt động đơn giản, mức độ tự động hóa thấp và mang nhiềutính chất thủ công
- Nhân sự của các phòng ban chuyên trách
Đây là lực lượng chủ chốt trong công tác đấu thầu trợ giúp Ban giám đốc trong các lĩnhvực cho mình phụ trách, chịu trách nhiệm trước công ty về toàn bộ hoạt động của đơn vịmình
Đội trưởng xây dựng và công nhân, đây là lực lượng trực tiếp tạo ra sản phẩm là cáccông trình xây dựng có quan hệ sống còn tới sức mạnh trong cạnh tranh của doanhnghiệp Mỗi một đội trưởng hay mỗi công nhân, tuy chỉ có ảnh hưởng rất nhỏ tới côngviệc của doanh nghiệp nhưng với một số lượng rất đông, tổng hợp của những ảnh hưởng
Trang 19- Vị trí địa lý của doanh nghiệp xây dựng:
Có một ảnh hưởng nhất định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vì nếu chủ đầu
tư nhận thấy doanh nghiệp nằm trên vùng địa lý thuận lợi đối với dự án đầu tư họ sẽ cómột tâm lý yên tâm và tin tưởng hơn Do đó, doanh nghiệp phải phát huy tối đa sứcmạnh cạnh tranh về địa lý đối với các công trình xây dựng nằm trên địa bàn hoạt độngcủa mình Sự thuận lợi trong di chuyển các nguồn lực từ các doanh nghiệp tới nơi thicông sẽ làm giảm chi phí xây lắp, tăng lợi nhuận, tăng chất lượng công trình từ đó tăngxác suât chúng thầu cho doanh nghiệp
- Quy mô và năng lực sản xuất: lý thuyết lợi thế về quy mô cho thấy nếu doanh nghiệp
có quy mô và năng lực sản xuất lớn sẽ càng có điều kiện giảm chi phí sản xuất cận biêntrên một đơn vị sản phẩm, tiết kiệm được nhiều chi phí chung cũng như các chi phí quản
lý doanh nghiệp, chi phí máy móc thiết bị Từ đó mở ra cơ hội cắt giảm chi phí khôngcần thiết, khai thác tối đa nguồn lực, thế mạnh của doanh nghiệp và khẳng định vị thếcạnh tranh trên thương trường
- Nền nếp tổ chức: mỗi doanh nghiệp đều có một nền nếp tổ chức định hướng cho phầnlớn công việc của mình Nó ảnh hưởng đến phương thức thông qua quyết định của nhàquản trị, quan điểm của họ đối với các chiến lược và điều kiện môi trường của công ty
Nề nếp tổ chức có thể là nhược điểm gây cản trở cho việc hoạch định và thực hiện chiếnlược hoặc là ưu điểm thúc đẩy các hoạt động đó
3 Các hình thức cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng
Các hình thức cạnh tranh đó là biểu hiện về mặt tăng cường khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp Ngày nay, người ta thường nói tới hai hình thức chủ yếu xét theo tínhgiới hạn của cạnh tranh mà các doanh nghiệp thường áp dụng là:
* Hình thức cạnh tranh theo chiều rộng (cạnh tranh có giới hạn)
Trang 20Sở dĩ gọi là cạnh tranh có giới hạn là vì hình thức này chỉ phát huy hiệu quả, tăng khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp trong một giới hạn nhất định mà thôi, các yếu tố chủyếu của hình thức này trong các doanh nghiệp xây dựng bao gồm :
+ Đa dạng hoá các loại hình sản phẩm (các công trình xây dựng) mà doanh nghiệp cóthể dựa trên cơ sở nguồn lực hiện tại của doanh nghiệp Theo đó doanh nghiệp có thểtận dụng tối đa nguồn lực hiện có, tuy nhiên danh mục hàng hoá được mở rộng thêm sẽkhông được phong phú Hoặc là đa doanh nghiệp phải đủ mạnh về tài chính Song vớicách thức đa dạng hoá này cho phép doanh nghiệp có thể mở rộng danh mục hàng hoámột cách phong phú hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường Mỗi cáchthức tiến hành đa dạng hoá đều có ưu điểm và nhược điểm riêng Vì vậy doanh nghiệpphải căn cứ vào nhu cầu của thị trường và điều kiện thực tế của doanh nghiệp để ápdụng hình thức đa dạng hoá nào cho phù hợp nhất, đảm bảo đem lại hiệu quả cao nhấtcho doanh nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty, mở rộng thị phần củacông ty trên thị trường xây dựng
+ Tăng cường các hoạt động tìm kiếm thông tin về các công trình sẽ được đầu tư xâydựng thông qua các phương tiện về thông tin đại chúng, qua các nhân viên công ty, quacác mối quan hệ thân quen với các chủ đầu tư, qua kế hoạch xây dựng của nhà nước, củacác ban ngành địa phương hoặc là có thể thông qua các biện pháp tình báo kinh tế (nếucần) Trong các biện pháp trên, đặc biệt chú trọng đến mối quan hệ với các chủ đầu tư
Vì chủ đầu tư là người quyết định ai thắng, ai bại trong cuộc cạnh tranh Đồng thời, quamối quan hệ này doanh nghiệp ngoài viêc biết được nhu cầu đầu tư của chủ đầu tư cònbiết được thị hiếu, sở thích, năng lực của chủ đầu tư để từ đó đưa ra các biện pháp cạnhtranh tối ưu nhất đảm bảo tốt nhất yêu cầu của chủ đầu tư
+ Cải thiện các phương thức thanh toán, các điều kiện thuận lợi và nhanh chóng ký kếthợp đồng Tiến hành củng cố và mở rộng các hoạt động công trình
+Không những nâng cao chất lượng công tác lập hồ sơ dự thầu qua đó để giới thiệunăng lực của doanh nghiệp với chủ đầu tư Hồ sơ dự thầu chính là tài liệu đầu tiên đểchủ đầu tư tìm hiểu, đánh giá doanh nghiệp Vì thế, nó hết sức quan trọng đòi hỏi công
ty phải có một đội ngũ cán bộ đảm nhiệm công tác này một cách tốt nhất vừa đảm bảochất lượng của hồ sơ, vừa bảo đảm kịp thời gian yêu cầu của chủ đầu tư
Trang 21+ Hoàn thiện công tác tổ chức thi công để rút ngắn tiến độ thi công vừa giảm bớt tìnhtrạng ứ đọng vốn của doanh nghiệp, giảm bớt chi phí quản lý từ đó hạ thấp giá côngtrình đảm bảo cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh về giá, đồng thời đảm bảo đưanhanh công trình vào sử dụng để phát huy tối đa công dụng của công trình
* Hình thức cạnh tranh theo chiều sâu
Đó là hình thức cạnh tranh bằng chất xám trong sản phẩm
Nội dung của hình thức này bao gồm:
+ Tăng cường hoạt động nghiên cứu, cải tiến sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩmtức là đổi mới các tiêu chuẩn về kỹ thuật, tính an toàn, tính thẩm mỹ của công trình xâydựng
+ Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, hiện đại hoá phương pháp sản xuất kể từ khâu khảosát thiết kế cho đến khâu thi công công trình nhờ đó có thể rút ngắn tiến độ thi côngcông trình
+ Nâng cao trình độ của người lao động bao gồm cả cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật vàcông nhân sản xuất
Đây là một hình thức cạnh tranh không có điểm dừng, vì khi một doanh nghiệp muốnchế tạo ra sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, có chất lượng cao mà chất lượng lại làmột đại lượng bất định, nó không ngừng thay đổi theo sự phát triển của xã hội, đó làviệc phấn đấu của một doanh nghiệp là không ngừng Chính vì lý do đó, mà người ta gọihình thức cạnh tranh theo chiều sâu là hình thức cạnh tranh không có giới hạn và hìnhthức này ngày càng được mọi doanh nghiệp quan tâm đặc biệt là trong nền kinh tế trithức
4 Các phương thức cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng
Phương thức cạnh tranh đó là cách thức mà doanh nghiệp dùng để cạnh tranh trên thịtrường Đối với một doanh nghiệp xây dựng có thể sử dụng các cách thức cạnh tranhsau:
4.1 Cạnh tranh bằng sản phẩm (các công trình xây dựng)
Chữ tín của các công trình xây dựng quyết định uy tín của doanh nghiệp xây dựng vàtạo lợi thế có tính quyết định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Cạnh tranhbằng sản phẩm của doanh nghiệp xây dựng thể hiện chủ yếu qua các mặt sau:
Trang 22+ Cạnh tranh bằng trình độ của các công trình xây dựng biểu thông qua chất lượng côngtrình, tính hữu dụng của công trình, tính kinh tế và tính kỹ thuật của công trình Để cạnhtranh bằng trình độ công trình doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư đổi mới côngnghệ, áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật tiên tiến, khi tiến hành thi công công trình phảitính đến các điều kiện tự nhiên của khu vực thi công để từ đó có các giải pháp kỹ thuậtcho phù hợp
+ Cạnh tranh bằng chất lượng công trình
Theo quan niệm chung, chất lượng sản phẩm là tổng hợp các đặc tính cần có của sảnphẩm, quá trình xây dựng và tiện nghi phục vụ Như vậy, chất lượng sản phẩm vừa phảituân theo các quy phạm kỹ thuật, vừa phải thoả mãn mong muốn của người tiêu dùng.Trong sản xuât kinh doanh xây dựng thì chất lượng của sản phẩm được đo bằng các chỉtiêu như: tuổi thọ, độ tin cậy, độ an toàn, tính kỹ thuật, tính kinh tế, tính mỹ thuật củacông trình
+ Tuổi thọ của công trình là thời gian mà công trình sử dụng từ khi mới hoàn thành bàngiao cho tới khi hư hỏng hoàn toàn Tuổi thọ công trình càng cao thì chất lượng sảnphẩm càng cao
+ Độ tin cậy của công trình là khả năng chịu áp lực, độ uốn cong, khả năng chịu lực,xoáy, gió, bão hay nói cách khác là khả năng chịu sự thay đổi của môi trường Để tạo ramột công trình có độ tin cậy cao thì yếu tố kỹ thuật phải được đảm bảo một cách chặtchẽ, khi sử dụng các yếu tố kỹ thuật phải tính toán
+ Độ an toàn của công trình phụ thuộc vào cấu kiện chịu lực của công trình như khôngnứt, không bị lún, không thấm, không nghiêng, bảo đảm an toàn khi sử dụng
+ Tính mỹ thuật của công trình là sự phù hợp với cảnh quan xung quanh, bố cục vật thểkiến trúc, trang trí nội thất Ngày nay tính mỹ thuật của công trình ngày càng được quantâm không chỉ là do bản thân sản phẩm xây dựng có tính văn hoá, xã hội, quốc phòngcao mà còn do thị hiếu, kiến thức mỹ thuật của người dân ngày càng được nâng cao.Một công trình dù bề thế và hiện đại đến đâu nhưng không đảm bảo tính mỹ thuật thìcũng bị đánh giá là có chất lượng không tốt
+ Cạnh tranh bằng chất lượng công trình cần phải nhìn từ hai góc độ
Trang 23Ngày nay, đang có xu hướng chuyển từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh bằng chấtlượng công trình Vì thế, mà sự cạnh tranh thông qua chất lượng công trình ngày mộtgay gắt, nó là một công cụ hữu hiệu cho cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng Đó
là sự cạnh tranh không có giới hạn Do đó, vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm là tấtyếu khách quan đối với bất kỳ doanh nghiệp xây dựng nào hoạt động trong cơ chế thịtrường Ngày nay, nhiều doanh nghiệp không còn đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầunữa mà đặt mục tiêu nâng cao chất lượng sản phẩm là trên hết vì họ nhận thức đượcrằng chất lượng sản phẩm không những là mục tiêu của doanh nghiệp mà nó là công cụ,phương tiện để thực hiện các mục tiêu khác
4.2 Cạnh tranh bằng giá cả
Quy luật giá trị đã chỉ ra rằng: với cùng một sản phẩm có chất lượng như nhau nếu sảnphẩm nào có giá cả thấp hơn thì sẽ thắng trong cạnh tranh và ngược lại thì sẽ bị thịtrường đào thải Các doanh nghiệp xây dựng cũng không nằm ngoài sự điều chỉnh củadoanh nghiệp này Giá cả là một trong các tiêu thức hàng đầu để các chủ đầu tư lựa chọnnhà thầu Đối với các công trình xây dựng thường có giá trị rất thấp, do đó mà giá cả tácđộng rất mạnh đối với các chủ đầu tư Điều này, đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựngphải tìm mọi cách để giảm giá thành sản phẩm Phương thức cạnh tranh này ở mỗidoanh nghiệp xây dựng là khác nhau, và trong cùng một doanh nghiệp xây dựng cũng
có sự khác nhau qua các thời kỳ, các công trình khác nhau Biểu hiện của phương thứccạnh tranh này thông qua chính sách giá cả của doanh nghiệp xây dựng
* Chính sách đặt giá cao
Chính sách này áp dụng khi doanh nghiệp xây dựng có một khả năng công nghệ đặcbiệt và độc quyền Khi đó buộc các chủ đầu tư phải chấp nhận giá cao
Trang 24* Chính sách đặt giá thấp
Doanh nghiệp xây dựng đưa ra giá thấp nhằm loại trừ các đối thủ cạnh tranh hiện có vàngăn chặn các đối thủ cạnh tranh mới Để áp dụng chính sách này đòi hỏi doanh nghiệpphải tận dụng nguồn năng lực sản xuất và giảm chi phí xây dựng công trình và khi xâydựng chính sách đặt ra thấp doanh nghiệp cần lấy mức giá hoà vốn làm căn cứ
* Chính sách linh hoạt theo thị trường
Theo chính sách giá này các doanh nghiệp xây dựng tuỳ thuộc vào thị trường xây lắp đểđặt giá cho phù hợp Chẳng hạn khi nhu cầu đầu tư của xã hội giảm sẽ dẫn đến đầu vềxây dựng công trình giảm, mức độ tranh giành các công trình giữa các doanh nghiệpxây dựng trở nên gay gắt hơn thì doanh nghiệp cần đặt giá thấp hơn nhằm thắng thầu,tạo công ăn việc làm cho ngưòi lao động, chờ cơ hội mới và ngược lại
* Chính sách phân hoá theo sản phẩm
Doanh nghiệp tiến hành phân biệt giá cho từng khu vực địa lý (vì theo từng khu vực màgiá cả nguyên vật liệu khác nhau, điều kiện giao thông vận chuyển nguyên vật liêu khácnhau) Hoặc doanh nghiệp xây dựng cũng có thể phân biệt giá theo kế hoạch, theo mùa
Lý do là do thời tiết thay đổi dẫn đến các điều kiện thi công cũng thay đổi, thời giankhác nhau, giá cả nguyên vật liêụ cũng khác nhau
Ngoài các chính sách giá trên doanh nghiệp xây dựng còn thực hiện các chính sách giákhuyến khích theo giá trị công trình, theo điều kiện tạm ứng vốn, và thanh toán theođiều kiện tín dụng Sở dĩ như vậy, vì lượng vốn cần cho xây dựng là rât lớn mà doanhnghiệp xây dựng của ta luôn ở trong tình trạng thiếu vốn rất nhiều
4.3 Cạnh tranh bằng tiến độ thi công
Thường thì một công trình được thi công trong một thời gian dài (từ 1 đến 5 năm) thậmchí còn dài hơn lại tiến hành ngoài trời, chịu tác động nhiều của điều kiện thời tiết Vìvậy, mà thời gian thi công kéo dài sẽ gây lãng phí rất nhiều về công sức, tiền của Hơnnữa, một công trình không phải chỉ phục vụ cho tiêu dùng cá nhân, tiêu dùng cuối cùng
mà phần lớn lại nhằm mục đích phục vụ công cộng Nói như vậy, có nghĩa là tiến độ thicông ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả khai thác của công trình Chính vì thế, mà việcđẩy nhanh tiến độ thi công không chỉ là đòi hỏi của chủ đầu tư mà ngay các doanhnghiệp xây dựng cũng đòi hỏi phải rút ngắn tiến độ thi công để giảm chi phí, hạ giá
Trang 25thành Tiến độ thi công được các chủ đầu tư rất coi trọng khi đánh giá nhà thầu Để rútngắn tiến độ thi công các doanh nghiệp xây dựng phải cải tiến, đổi mới công nghệ kỹthuật, lựa chọn biện pháp, trình tự công nghệ thi công, tăng cường công xưởng hoá, cơgiới hoá
4.4 Cạnh tranh bằng chính sách phân phối và tiêu thụ sản phẩm
Trong xây dựng, giai đoạn phân phối và tiêu thụ khác so với các ngành khác Nó bắt đầukhi sản phẩm được hoàn thành tức là trước khi xây dựng xong công trình kể từ khi kýkết hợp đồng cho đến khi kết thúc xây dựng và bàn giao công trình Chính vì thế màchính sách phân phối và tiêu thụ sản phẩm xây dựng phải được xem xét ở 2 giai đoạn: + Giai đoạn tìm kiếm các tuyến liên hệ với chủ đầu tư Việc tìm kiếm này có thể thôngqua các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, vô tuyến, đài có thể qua mối quan
hệ lâu dài với các chủ đầu tư từ trước
+ Giai đoạn sau khi đã tìm kiếm được chủ đầu tư và đã được chủ đầu tư lựa chọn thìchính sách tiêu thụ ở đây phải bảo đảm sao cho các khâu ký kết hợp đồng, điều chỉnhhợp đồng, nghiệm thu bàn giao công trình, thanh toán và xác định thời gian bảo hànhđược thuận lợi nhất
Trên đây, là một số phương thức cạnh tranh chủ yếu trong xây dựng Trên thực tếthì các doanh nghiệp xây dựng thường sử dụng tổng hợp các phương thức cạnh tranh đểnâng cao khả năng cạnh tranh về mọi mặt của doanh nghiệp xây dựng
5 Các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng
Khả năng cạnh tranh phụ thuộc chủ yếu vào năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xâydựng Nó bao gồm các yếu tố sau:
5.1 Các điều kiện,sức mạnh và ưu thế kỹ thuật, công nghệ của doanh nghiệp
Có thể nói, trong điều kiện phát triển của khoa học công nghệ như vũ bão hiện naythì kỹ thuật và công nghệ là một trong những nhân tố hàng đầu để đánh giá doanhnghiệp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp xây dựng, do khối lượng thi công rất lớn,công việc lại rất nặng nhọc đòi hỏi sự hỗ trợ nhiều của máy móc thiết bị Có áp dụng tựđộng hoá, cơ giới hoá vào trong thi công công trình mới bảo đảm đẩy nhanh tiến độ thicông, nâng cao chất lượng công trình, hạ giá thành Đối với một doanh nghiệp xây dựngthì điều kiện, sức mạnh, ưu thế kỹ thuật bao gồm những yếu tố sau:
Trang 26+ Một là, nguồn lực máy móc thiết bị: thể hiện qua giá trị, số lượng, chủng loại củamáy móc thiết bị mà doanh nghiệp có Năng lực về xe máy thiết bị thi công là một trongcác nội dung của hồ sơ dự thầu để chứng minh cho các chủ đầu tư biết khả năng huyđộng nguồn lực về xe máy thiết bị thi công công trình đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư + Hai là, trình độ hiện đại của công nghệ tức là các máy móc thiết bị công nghệcủa doanh nghiệp có đảm bảo tính tiên tiến, hiện đại hay không Trình độ hiện đại củacông nghệ được biểu hiện qua các thông số kỹ thuật về đặc tính sử dụng, công suất,phương pháp sản xuất của công nghệ hoặc có thể được đánh giá qua số năm sản xuất,nơi sản xuất, giá trị còn lại của máy móc thiết bị Trình độ hiện đại của máy móc thiết bịcho phép doanh nghiệp xây dựng có thể tạo ra được các công trình có yêu cầu ngày càngcao về kỹ thuật và chất lượng
+ Ba là, sự dẫn đầu về công nghệ biểu hiện như trình độ công nghệ cao, bí quyếtcông nghệ, tính độc quyền của công nghệ Đó là những công nghệ mà chỉ có doanhnghiệp hoặc một số ít doanh nghiệp có được Sự dẫn đầu về công nghệ cho phép doanhnghiệp thực hiện được các chiến lược ưu thế nhất của mình như chiến lược đặt giá caohoặc cho phép doanh nghiệp độc chiếm một số loại công trình đòi hỏi các công nghệhàng đầu đó Hiện nay, trong xây lắp những công nghệ như cẩu tháp, trạm trộn bê tôngđược coi là những thiết bị dẫn đầu về công nghệ xây dựng ở nước ta Một số công nghệ
mà các doanh nghiệp xây dựng ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có như thi công móngbarie, đường bao vây cho các hầm cao ốc, khoan giếng lớn, thi công đường ống ngầm
mà không cần đào đất mặt đất Đây là các công nghệ mà các nhà thầu nước ngoài hiệnđang độc quyền ở Việt Nam
+ Bốn là, độ cao về tính phức tạp của sản phẩm và kéo theo là tính phức tạp củacông nghệ chế tạo ra nó (điều này cho phép ngăn cản các doanh nghiệp khác nhảy vàocạnh tranh)
+ Năm là, mức độ hợp lý của máy móc thiết bị và công nghệ Đây được coi là một yếu
tố rất quan trọng vì nếu máy móc công nghệ mà không phù hợp thì sẽ không thể khaithác được gây lãng phí vốn đầu tư Mức độ hợp lý của công nghệ được đánh giá qua 2chỉ tiêu Đó là tính đồng bộ và mức độ phù hợp Mức độ phù hợp là sự phù hợp của máymóc thiết bị đối với điều kiện sử dụng đặc thù về địa lý, khí hậu, địa chất, thuỷ văn,
Trang 27nguyên vật liệu và sự phù hợp giữa chất lượng và giá cả sản phẩm do công nghệ sảnxuất ra Đặc biệt là trong tình hình hiện nay ở Việt Nam vấn đề giá cả vẫn là một căn cứ
mà người tiêu dùng rất quan tâm khi mua hàng
+ Sáu là, hiệu năng kỹ thuật của máy móc thiết bị và việc vận dụng công suất củamáy móc thiết bị và công nghệ của doanh nghiệp Việc đánh giá này được thông quaviệc đánh giá trình độ sử dụng máy móc thiết bị của doanh nghiệp tác dụng tới hiệu quảsản xuất kinh doanh nói chung và khả năng huy động tối đa nguồn lực vật chất sẵn cócho cạnh tranh nói riêng
+ Bảy là, khả năng đổi mới công nghệ và chiến lược đổi mới công nghệ của doanhnghiệp xây dựng Nó tác động tới khả năng tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp
là dễ hay khó và chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp là theo chiều sâu hay chiềurộng Đồng thời tạo khả năng nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp giúpdoanh nghiệp giữ vững thị phần của mình
5.2 Các điều kiện, ưu thế về tài chính
Đối với doanh nghiệp xây dựng, tài chính là một trong những chỉ tiêu quan trọng màchủ đầu tư dùng để đánh giá nhà thầu Các ưu thế về tài chính của một doanh nghiệp xâydựng biểu hiện qua các yếu tố sau:
+ Một là, quy mô tài chính: nếu doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ tạo khả năng cạnhtranh cao vì doanh nghiệp có thể sử dụng trường vốn của mình để tạo ra các biện phápcạnh tranh gay gắt nhằm tiêu diệt đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp, đó là những biệnpháp mà đối thủ không thực hiện được
+ Hai là, khả năng huy động vốn ngắn hạn và dài hạn Đây là một yếu tố tài chínhđặc biệt quan trọng đối với các doanh nghiệp xây dựng vì nguồn bảo lãnh cho việc thựchiện hợp đồng xây dựng là rất lớn mà chủ yếu là vốn đi vay Vì thế khả năng vay ảnhhưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Đây đồng thời cũng là một nội dungquan trọng mà doanh nghiệp xây dựng phải trình bày trong hồ sơ dự thầu
+ Ba là, sự hợp lý và linh hoạt của cơ cấu tài chính của doanh nghiệp Cơ cấu tàichính là phạm trù kinh tế phản ánh mối tương quan giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu Một
cơ cấu tài chính hợp lý và linh hoạt sẽ đảm bảo tính an toàn cho doanh nghiệp trong
Trang 28+ Năm là, sức sinh lời của vốn đầu tư thời kỳ hiện tại thể hiện hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có sức sinh lời của vốn đầu tư cao sẽtạo uy tín đối với bạn hàng, nhà tài trợ, đặc biệt là các cơ quan chức năng.
+ Sáu là, chi phí vốn của doanh nghiệp so với mức trung bình của toàn ngành và sovới các đối thủ cạnh tranh Tức là xem xét xem doanh nghiệp có lợi thế so với các doanhnghiệp khác trong việc huy động và sử dụng vốn không Một doanh nghiệp có chi phívốn thấp hơn các đối thủ cạnh tranh có nghĩa là lợi thế hơn đối với các đối thủ cạnhtranh của mình vì doanh nghiệp có thể giảm được giá thành công trình
+Bẩy là, tài năng và phẩm chất của các cán bộ quản trị tài chính Thể hiện khả năngphân tích tài chính và tính trung thực khi phản ánh các chỉ tiêu tài chính Ngày nay việcphân tích tài chính đúng, kịp thời được coi là nguồn huy động vốn "vô hình" của doanhnghiệp đặc biệt là đối với những doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng khó khăn về tàichính
+ Tám là, hiệu quả của công tác quản trị chi phí, kiểm soát giá thành và khả nănggiảm giá thành của sản phẩm Đây là một yếu tố quan trọng trong đánh giá khả năng củadoanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí, giảm giá thành xây lắp để đưa ra một mức giáhấp dẫn các chủ đầu tư mà vẫn đảm bảo chất lượng công trình
5.3 Lợi thế về nhân sự trong doanh nghiệp
Bao gồm toàn bộ nội dung về quản lý và sử dụng con người trong doanh nghiệp thể hiệnqua các khía cạnh sau:
+ Một là, trình độ kỹ thuật và cấp độ lành nghề của đội ngũ công nhân trong doanhnghiệp Trình độ kỹ thuật được đánh giá qua đào tạo, ngành nghề đào tạo của công nhân
Trang 29Cấp độ lành nghề được đánh giá qua bậc thợ - nó phản ánh khả năng làm việc thực tế
và kinh nghiệm lâu năm của công nhân Đối với một doanh nghiệp xây dựng đội ngũcông nhân là những người trực tiếp tạo ra các công trình xây dựng Vì vậy mà chấtlượng công trình phụ thuộc rất nhiều vào trình độ và tay nghề của họ Do đó các doanhnghiệp phải luôn chú trọng đến công tác nâng cao tay nghề và trình độ cho công nhân.+ Hai là, trình năng lực của quản trị viên và ban lãnh đạo doanh nghiệp Đây làmột yếu tố quyết định rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanhnghiệp dù có nguồn lực về tài chính đến đâu nhưng đội ngũ quản trị viên và ban lãnhđạo - những người chèo lái doanh nghiệp mà không sắc bén năng động thì cũng khôngthể bắt kịp nhịp độ cạnh tranh gay gắt trên thị trường hiện nay Đối với một doanhnghiệp xây dựng năng lực và sự nhạy bén của các quản trị viên được thể hiện qua trình
độ, kinh nghiệm, sự nhạy bén trong các quyết sách cạnh tranh của doanh nghiệp
+Ba là, sự đoàn kết của tập thể người lao động Nó cho phép doanh nghiệp pháthuy sức mạnh tổng hợp của đội ngũ lao động trong doanh nghiệp từ đó nâng cao năngsuất lao động, giảm chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
+ Bốn là, sự trung thành của người lao động trong doanh nghiệp theo sự thăngtrầm của doanh nghiệp Nó cho phép doanh nghiệp theo đuổi đến cùng mục tiêu củamình
+ Năm là, khả năng sử dụng có hiệu quả các biện pháp khuyến khích vật chất đểđộng viên người lao động nâng cao năng suất lao động, gắn bó với doanh nghiệp Đó làcác biện pháp tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp cho người lao động Các doanh nghiệpxây dựng còn có thể sử dụng các biện pháp như đối với mỗi công trình trúng thầu,doanh nghiệp cần đánh giá về giá trị và hiệu quả đạt được mà có sự khen thưởng cụ thểbằng vật chất cho các cán bộ trực tiếp làm hồ sơ dự thầu, trên cơ sở đóng góp của mỗingười Hay là các sáng kiến cải tiến kỹ thuật mà tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp thì
có thể sử dụng phần trăm số tiền tiết kiêm đó để khen thưởng cho những người có sángkiến đó Bên cạnh các biện pháp khuyến khích bằng vật chất doanh nghiệp nên kết hợp
cả các biện pháp tinh thần
+ Sáu là, chính sách thuyên chuyển, đề bạt, đào tạo, bồi dưỡng và tuyển chọnngười lao động
Trang 305.4 Yếu tố nguyên vật liệu
Đối với mỗi doanh nghiệp xây dựng, nguyên vật liệu là tố đầu vào chủ yếu Nó chiếm từ
60 - 70 % giá trị công trình và do nguyên vật liệu là yếu tố trực tiếp cấu tạo nên côngtrình, nên chất lượng công trình phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng và kết cấu nguyênvật liệu khi xem xét đến điều kiện và ưu thế về nguyên vật liệu của một doanh nghiệpxây dựng ta có thể xem xét trên các khía cạnh sau:
+ Một là, nguồn cung ứng nguyên vật liệu Nguồn đó có đảm bảo về mặt thời gian,chất lượng hay không, nguồn đó ở xa hay gần nơi thi công Các yếu tố này ảnh hưởngtrực tiếp đến chi phí nguyên vật liệu, tiến độ thi công Nói cách khác, yếu tố này trựctiếp ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
+ Hai là, sự linh hoạt của doanh nghiệp trong việc tìm và chọn nguồn nguyên vậtliệu với giá cả chất lượng, thời gian theo đúng yêu cầu Một điều quan trọng khác nữa làgiảm bớt sức ép của nhà cung cấp
+ Ba là, hệ thống quản lý, dự trữ nguyên vật liệu Do sản xuất xây dựng thường dichuyển nên không có các kho tàng cố định Song trong mỗi công trình xây dựng thì cầnphải có hệ thống kho tàng Hệ thống này phải bảo quản được nguyên vật liệu, giảm tối
đa lượng hao hụt, thuận tiện trong việc phục vụ thi công Việc quản lý, dự trữ nguyênvật liệu hợp lý sẽ đảm bảo cung ứng kịp thời nguyên vật liệu cho thi công đúng tiến độ,tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp
5.5 Tổ chức quản lý trong doanh nghiệp
Đây là một vấn đề rất rộng có thể xem xét một số khía cạnh chủ yếu sau:
+ Một là, sự thích hợp và linh hoạt của cơ cấu tổ chức quản lý Một cơ cấu tổ chứchợp lý cho phép doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp Còn sựlinh hoạt của cơ cấu tổ chức quản lý cho phép doanh nghiệp ứng phó kịp thời thay đổicủa môi trường kinh doanh Đối với một doanh nghiệp xây dựng sự linh hoạt của cơ cấu
tổ chức quản lý có vai trò hết sức quan trọng vì đặc trưng của tổ chức quản lý trong xâydựng là không ổn định, có sự thay đổi theo mỗi công trình Điều này đòi hỏi trình độ tổchức của cán bộ quản lý phải hết sức sáng tạo và am hiểu về nhiệm vụ của từng côngtrình
Trang 31+ Hai là, bầu không khí làm việc và nề nếp tổ chức của doanh nghiệp
+ Ba là, sự phát triển của các mối quan hệ phi chính thức trong doanh nghiệp Mốiquan tâm của ban lãnh đạo doanh nghiệp đến người lao động, sự thống nhất trong banlãnh đạo, giữa quản trị viên và người lao động, ảnh hưởng của doanh nghiệp đối với xãhội như quan hệ của doanh nghiệp với các cơ quan chính quyền, cơ quan pháp luật, tổchức tín dụng tài chính, công đoàn
+ Bốn là, kinh nghiệm và sở trường kinh doanh của ban lãnh đạo doanh nghiệp+ Năm là, triết lý của chủ doanh nghiệp và của ban lãnh đạo
5.6 Marketing của doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường thì marketing là mộtlĩnh vực quản trị không thể nào thiếu được Bộ phận marketing thực hiện phân tích nhucầu, sở thích, thị hiếu của thị trường, hoạch định các chiến lược marketing để đẩy nhanhhoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp như chính sách sản phẩm, chính sách giá cả, chínhsách quảng cáo, khuyếch trương, khuyến mại, các dịch vụ hỗ trợ sau khi bán
Đối với doanh nghiệp xây dựng đặc điểm marketing trong xây dựng do đặc điểmcủa sản phẩm và sản xuất kinh doanh xây dựng quy định Vì thế mà marketing trong xâydựng có rất nhiều điểm khác so với marketing trong các ngành khác
Khi xem xét ưu thế marketing của doanh nghiệp xây dựng
Ta xem xét các khía cạnh sau:
+ Một là, ngân sách dành cho công tác marketing Đó là tất cả chi phí cho bộ phậnmarketing như lương cho cán bộ marketing, chi phí điều tra nghiên cứu thị trường,quảng cáo khuyến mại
+ Hai là, chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác marketing
+ Ba là, mức độ đa dạng hoá sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng và khả năng mởrộng danh mục các loại sản phẩm
+ Bốn là, khả năng thu thập thông tin cần thiết về thị trường, về các chủ đầu tư, vềđối thủ cạnh tranh, về đối tác
+ Năm là, chất lượng sản phẩm và khả năng nâng cao chất lượng sản phẩm
+ Sáu là, uy tín của doanh nghiệp và sự tín nhiệm của khách hàng đối với doanhnghiệp trên thị trường xây lắp
Trang 32+ Bảy là, chiến lược giá và linh hoạt của chiến lược giá
+ Tám là, chiến lược quảng cáo, khuyến mại, dịch vụ hỗ trợ khách hàng
5.7 Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường xây lắp
Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp được xác định qua hai chỉ tiêu là thị phần của doanhnghiệp trên thị trường xây lắp và chỉ tiêu sức mạnh và tính độc nhất của các khả năngriêng biệt của doanh nghiệp Qua vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp ta có thể biết được
vị trí của doanh nghiệp trên thị trường hiện tại, nó cho phép doanh nghiệp thực hiện mộtcách thuận lợi các biện pháp cạnh tranh của mình và khả năng chi phối hay sự ảnhhưởng của doanh nghiệp đến các khách hàng và các đối tác cũng như là đối với các đốithủ cạnh tranh Vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao thì khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp càng cao và ngược lại khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp h
6 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp xây
6.1 Chỉ tiêu thị phần của doanh nghiệp trên thị trường xây lắp
Thị phần phản ánh thế mạnh của doanh nghiệp trong ngành Thị phần lớn tạo lợi thế chodoanh nghiệp chi phối và hạ thấp chi phí sản xuất do lợi thế về quy mô
Giá trị tổng sản lượng xây lắp do DN hoàn thành
Thị phần tuyệt đối =
Tổng giá trị sản lường xây lắp hoàn thành trên thị trường
Ngoài ra, người ta còn dùng chỉ tiêu:
Thị phần tuyệt đối của doanh nghiệp
Phần thị trường tuyệt đối =
Thị phần tuyệt đối của một số đối thủ cạnh tranh
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá vị thế, sức mạnh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này màcàng lớn thì càng phản ánh vị thế hàng đầu của doanh nghiệp
6.2 Ch tiêu l i nhu n ỉ tiêu lợi nhuận đạt được ợi nhuận đạt được ận đạt được đạt được đượi nhuận đạt được t c.
1.Giá trị TSLXL
2.Lợi nhuận ròng
3.Tỷ suất LNR/TSLXL
Trang 33Đây là một trong các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp xây dựng.Nếu các chỉ tiêu này càng cao phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao và do đótạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng
6.3 Chỉ tiêu giá trị trúng thầu và tổng công trình trúng thầu
+ Tổng số công trình trúng thầu hàng năm là số công trình và hạng mục công trình màdoanh nghiệp xây dựng tham gia đấu thầu và trúng thầu trong năm Chỉ tiêu này màcàng lớn thể hiện khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao
+ Tổng giá trị các công trình trúng thầu hàng năm là toàn bộ giá trị của toàn bộ các côngtrình và hạng mục công trình mà doanh nghiệp đã trúng thầu trong năm
Tổng giá trị trúng thầu
Gía trị trung bình một =
công trình trúng thầu Tổng số công trình trúng thầu
Chỉ số này phản ánh quy mô bình quân một công trình mà doanh nghiệp đã thực hiện.6.4 Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp
Đây là một trong số các chỉ tiêu mà các chủ đầu tư dùng khi đánh giá lựa chọn nhà thầu.Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp được đo bằng quy mô tài sản, khả năng thanh toán,khả năng huy động vốn, hiệu quả sử dụng vốn Doanh nghiệp có tiềm lực tài chính cànglớn thì được đánh giá càng cao Ngày nay do quy mô của các công trình xây dựng ngàycàng cao đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng phải có đủ năng lực tài chính thì mới có thểđảm nhận thi công được Hơn nữa tiềm lực tài chính càng cao thì khả năng đưa ra cácbiện pháp cạnh tranh càng nhanh và táo bạo mà các đối thủ không thể thực hiện được do
đó mà ưu thế cạnh tranh bằng thời gian càng cao
6.5 Chất lượng lao động
Thể hiện ở trình độ, kinh nghiệm, năng lực của cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật củacông ty có đủ để đảm nhiệm hoàn thành đúng tiến độ, chất lượng theo đúng yêu cầu củachủ đầu tư hay không Chất lượng lao động cũng là một trong các chỉ tiêu quan trọng màchủ đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải trình bày trong hồ sơ dự thầu bao gồm trình độ,kinh nghiệm của ban lãnh đạo, tay nghề bậc thợ của công nhân tham gia thi công,phương án bố trí nhân lực, các điều kiện bảo hộ an toàn lao động trong thi công Khả
Trang 34năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng cao nếu ban lãnh đạo của doanh nghiệp có nănglực phán đoán tình thế để đưa ra các chiến lược cạnh tranh kịp thời
6.6 Trình độ thiết bị thi công
Đây cũng là một trong số các chỉ tiêu quan trọng mà chủ đầu tư dùng để đánh giá nhàthầu Trình độ thiết bị thi công ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động, chi phí sảnxuất, tiến độ thi công, chất lượng công trình Đối với các công trình đòi hỏi tính phứctạp cao thì đây là một chỉ tiêu quan trọng quyết định doanh nghiệp có thể thắng thầu haykhông Trình độ thiết bị thi công thể hiện ở số lượng, chủng loại, mức độ tiên tiến, khảnăng dẫn đầu về công nghệ của máy móc thiết bị thi công của doanh nghiệp so với cácdoanh nghiệp khác trong ngành
6.7 Uy tín của doanh nghiệp
Đây là chỉ tiêu mang tính chất bao trùm Nó liên quan tới tất cả các chỉ tiêu trên vànhiều yếu tố khác như chất lượng sản phẩm, các hoạt động dịch vụ do doanh nghiệpcung cấp, hoạt động marketing, quan hệ của doanh nghiệp với các tổ chức tài chính, ảnhhưởng của doanh nghiệp tới các cơ quan quản lý cấp trên và chính quyền địa phương.Đối với các doanh nghiệp xây dựng thì yếu tố uy tín là một tài sản vô giá, mất uy tín coinhư doanh nghiệp đã tự đánh mất mình và không có khả năng cạnh tranh trên thị trường
Sở dĩ như vậy, là do sản phẩm có giá trị rất lớn đòi hỏi chất lượng cao lại liên quan đếnnhiều lĩnh vực Vì thế các chủ đầu tư khi tìm kiếm nhà thầu đều muốn tìm đến nhữngnhà thầu có uy tín Có như vậy họ mới yên tâm, uy tín của doanh nghiệp còn có thể chophép doanh nghiệp huy động các nguồn lực vật chất cho thi công một cách kịp thời nhưhuy động vốn, nguồn cung ứng nguyên vật liệu, sự an tâm và gắn bó của người lao độngvới doanh nghiệp
Trang 35
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦACÔNG TY CỔ PHẦN
ĐIỆN NHẸ VIỄN THÔNG
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆNNHẸ VIỄN THÔNG
Công ty Cổ phần Điện nhẹ viễn thông là doanh nghiệp được thành lập dưới hình thứcchuyển từ một bộ phận từ doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần, được tổ chức
và hoạt động theo Luật doanh nghiệp
Trung tâm kỹ thuật điện nhẹ viễn thông được thành lập theo Quyết định số 740/QĐ TCB ngày 04/11/1995 của Tổng giám đốc Tổng công ty Bưu chính viễn thông ViệtNam, là đơn vị trực thuộc của Công ty Công trình Bưu điện thuộc Tổng công ty Bưuchính viễn thông Việt Nam có tên đầy đủ Trung tâm kỹ thuật Điện nhẹ viễn thông.Địa điểm: Trụ sở tại 18 – Nguyễn Du – Hà Nội
-Điện thoại: 9430265
Fax: 9430269
* Ngành nghề kinh doanh của Trung tâm:
+ Thi công, lắp đặt, sửa chữa các công trình bưu chính viến thông, điện điện tử, tin học + Nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác thi công xây lắp củacông ty công trình bưu điện
+ Là đơn vị hạch toán phụ thuộc của công ty công trình bưu điện
Sau khi cổ phần hoá Trung tâm điện nhẹ viễn thông trở thành Công ty Cổ phần điện nhẹviễn thông
Công ty Cổ phần Điện nhẹ viễn thông có tên giao dịch quốc tế là LOW CURRENTTELECOM JOiNT STOCK COMPANY
Trang 36Công ty được Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển bình đẳng trước Phápluật, tính sinh lợi hợp pháp Công ty và các cổ đông được Nhà nước công nhận và bảo
hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác Tàisản và vốn đầu tư của công ty và các cồ đông không bị quốc hữu hoá, không bị tịch thubằng biện pháp hành chính trong trường hợp cần thiết vì lý do an ninh, quốc phòng và
vì lợi ích quốc gia , nhà nước quyết định trưng mua hoặc trưng mua tài sản của công tythì chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty được thanh toán hoặc bồi thườnggiá trị tại thời điểm quyết định trưng dụng hoăch trưng dụng và tạo điều kiện thuận lợi
để đầu tư, kinh doanh vào lĩnh vực hoặc địa bàn thích hợp công ty hoạt động trênnguyên tắc tự nguyện bình đẳng, dân chủ, tôn trọng Pháp luật, các cổ đông tham gia gópvốn đều là đồng sở hữu của công ty, cổ đông có thể là pháp nhân hay thể nhân, cổ đôngchịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đãgóp vào công ty
Thời hạn hoạt động của Công ty Cổ phần Điện nhẹ viễn thông la 50 năm kể từ ngàyhoàn tất thủ tục đăng ký kinh doanh, việc chấm dứt hoặc gia hạn thời kỳ hoạt đông củacông ty do đại hội đồng cổ đông quyết định và cơ quan có thẩm quyền cho phép
Công ty được thành lập để huy động và sử dụng vốn có hiệu quả trong việc phát triểnsản xuất kinh doanh về lĩnh vực cung cấp dịch vụ lắp đặt, bảo trì bảo dưỡng thiết bị điệnnhẹ viễn thông, điện, điện tử, tin học và các lĩnh vực khác nhằm mục tiêu thu lợi nhuận
Trang 37tối đa, tạo công ăn việc làm, ổn định cho người lao động, tăng lợi tức cho các cổ đông,đóng góp cho ngân sách nhà nước và phát triển công ty ngày càng lớn mạnh
* Ngành nghề kinh doanh của công ty:
+ Tư vấn, khảo sát các công trình địn nhẹ viễn thông, điện lạnh, điện từ tin học, các hệthống chống sét, nội thất
+ Lắp đặt, bảo trì , bảo dưỡng, hỗ trợ, vận hành các thiết bị điện nhẹ viễn thông, điện tửtin học, các hệ thống chống sét
+ Xuất nhập khẩu vật tư, hàng hoá thiết bị
+ Sản xuất kinh doanh phụ kiện xây lắp, vật tư thiết bị điện nhẹ viễn thông tin học
+ Thiết kế kỹ thuật thi công và lập tổng dự toán các công trình:
- Điện tử viễn thông với các công trình thông tin liên lạc, bưu chính viễn thông, thiết kếmạng máy tính, mạng thông tin liên lạc, hệ thống camera quan sát
- Thiết kế thông tin vô tuyến điện: Đối với các công trình thông tin liên lạc bưu chínhviễn thông (trạm đài thu phát, hệ thống cáp, cột ăng ten, trang âm, hệ thống phòng chốnsét)
- Điện lạnh điện tử tin học, báo cháy, điện nước, thang máy
+ Thi công xây lắp các công trình: điện nhẹ viễn thông, điện lạnh, điện, điện tử, tin học,các hệ thống chống sét, báo cháy, điện nước, cầu thang máy, các công trình thông tinbưu điện các công trình dân dụng, công nghiệp
* Một số công trình tiêu biểu LTC đã thiết kế và thi công từ 1988 đến nay:
- Công trình văn hoá:
+ Viện bảo tàng Hồ Chí Minh;
+ Đài phát thanh truyền hình Hà Nội
+ Rạp xiếc trung ương
+ Nhà hát Lớn Hà Nội
- Công trình nhà máy:
+ Nhà máy sản xuất đèn hình orion – Hanel
+ Nhà máy xi măng Bút sơn
+ Nhà máy biến thế điện ABB
+ Nhà máy phụ tùng ôtô xe máy
Trang 38+ Văn phong Quốc hội
+ Văn phong công ty công viên cây xanh Hà Nội
+ Hà Nội Tungshing
+ Công ty Oracle – Việt Nam
+ Văn phong Tổng công ty Xây dựng Hà Nội
+ Văn phòng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
+ Trung tâm kỹ thuật đa ngành Nga
+ Nhà làm việc Viện Khoa học kỹ thuật Bưu điện
+ Hội trường Viện Khoa học Xã hội
+ Trung tâm triển lãm thương mại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
+ Công ty bưu chính liên tỉnh quốc tế
+ Văn phòng tổng cục, Tổng công ty Bưu chính viễn thông 18 Nguyễn Du Hà Nội
+ Văn phòng Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam (phía Nam)
+ Công ty thông tin di động
+ Trung tâm chăm sóc sức khoẻ (phía nam)
+ Hải quan Bà Rịa – Vũng Tầu