Th c tr ng v s c c nh tranh s n ph m may m c c a C ng ty May Xu t Kh u tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án,...
Trang 1http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ
án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cảmọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp củaquý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý kháchgửi về luanvanpro.com@gmail.com
Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/Thực trạng về sức cạnh tranh sản phẩm may mặc của Công ty May Xuất Khẩu
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Các doanh nghiệp muốn tồn tại trong thị trường phải luôn vận động, biến đổi để tạo chomình một vị trí và chiếm lĩnh những phần thị trường nhất định Sự cạnh tranh gay gắt đòihỏi họ phải xây dựng cho được một chiến lược cạnh tranh có hiệu quả để đứng vững, vàcạnh tranh không chỉ với công ty trong nước mà cả với các hãng tư bản nước ngoài cótiềm lực tài chính mạnh mẽ Trong nền kinh tế thị trưòng của một quốc gia nói riêng vàtrên toàn thề giới nói chung, vấn đề cạnh tranh không phải là vấn đề mới nhưng nó luôn làvấn đề mang tính thời sự, cạnh tranh khiến thương trường ngày càng trở nên nóng bỏng.Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế vì những lợi íchmang lại từ hoạt động kinh tế này, nhưng mức độ tham gia còn hạn chế Ngành may mặccủa Việt Nam tuy được coi là một trong những ngành mũi nhọn trong chiến lược hướng
về xuất khẩu, nhưng lại chưa thực sự khẳng định mình trên thị trường thế giới Lượnghàng xuất khẩu trực tiếp còn thấp, chủ yếu là thực hiện theo đơn đặt hàng gia công củanước ngoài Do vậy, tính cạnh tranh của sản phẩm may mặc chưa được quan tâm đầy đủ
Là một doanh nghiệp Nhà nước công ty may xuất khẩu từ khi thành lập đến nay, trải quanhiều gian nan vất vả nhưng đã đạt được những thành tựu đáng kể Cùng với sự phát triểncủa đất nước, công ty may xuất khẩu đã dần hoàn thiện mình và đang cố gắng góp phầnkhẳng định khả năng phát triển của ngành dệt may xuất khẩu Để đẩy mạnh hoạt độngxuất khẩu, mở rộng thị trường trong và ngoài nước, từ đó nâng khả năng thu lợi nhuận,công ty may xuất khẩu phải thực sự quan tâm tới việc lập và thực hiện hiệu quả chiến lượckinh doanh, trong đó phải đặc biệt chú trọng tới chiến lược cạnh tranh của sản phẩm xuấtkhẩu của công ty trên thị trường quốc tế
Trong chuyên đề, với mong muốn vận dụng những kiến thức đã học trong trường vào thực
tế chuyên đề sẽ làm rõ cơ sở lý luận của vấn đề cạnh tranh và nâng cao sức cạnh tranh.Nghiên cứu thực trạng cạnh tranh ở công ty may xuất khẩu để thấy được mức độ ảnhhưởng của cạnh tranh tới sự tồn tại và phát triển của công ty Qua đó đưa ra một sốphương hướng, biện pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh ở công ty trong qúa trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Do những hạn chế về kiến thức, thời gian, hơn nữa đây cũng là một vấn đề mới và phứctạp luôn biến động nên chuyên đề không thể tránh được những thiếu sót nhất định.Vì vậy
em mong muốn nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô Em cũng xin chân thành cảm
Trang 3ơn Tiến sĩ Thân Danh Phúc đã giúp em hoàn thành chuyên đề này.
MỤC LỤC
Lời nói đầu
Chương I : Những lý luận chung về cạnh tranh và sức cạnh tranh của sản phẩm
I / Khái niệm về cạnh tranh và sức cạnh tranh của san phẩm 4
1.Khái niệm cạnh tranh 4
2 Các loại hình cạnh tranh
2.1 - Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường 4
2.2 - Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế ……….5
2.3 - Căn cứ vào mức độ cạnh tranh……… 5
2.4 - Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh……… 5
3 Khái niệm sức cạnh tranh sản phẩm II / Các nhân tố ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của sản phẩm may mặc 6
1 Nhân tố thuộc về doanh nghiệp……….6
2 Nhân tố thuộc về khach quan……… 8
3 Bản thân đặc thù của sản phẩm ……… 13
III / Các công cụ cạnh tranh sản phẩm may mặc 13
1.Chất lượng hàng hoá……….13
2.Giá cả 3.Hình ảnh nhãn hiệu sản phẩm công ty ……….15
4.Cạnh tranh về phân phối và bán hàng ……… 16
Chương II : Thực trạng về sức cạnh tranh sản phẩm may mặc của Công ty May Xuất Khẩu trong giai đoạn 1999 – 2003 I / Đặc điểm lợi thế , bất lợi thế trong cạnh tranh sản phẩm may mặc của Công ty 1 Đối thủ và sản phẩm cạnh tranh chủ yếu trên thị trường quốc tế ………… 17
1.1- Đối thủ cạnh tranh là các Công ty trong nước ……….17
1.2- Đối thủ cạnh tranh là các Công ty nước ngoài ………17
1.3- Sản phẩm cạnh tranh chủ yếu trên thị trường quốc té……… 17
2 Những lợi thế cạnh tranh ………18
3 Những bất lợi thế ………18
Trang 4II / Thực trạng sức cạnh tranh sản phẩm và ảnh hưởng của nó tới hiệu qủa sản xuất kinh
doanh của Công ty May Xuất Khẩu ……… 18
1.Sức cạnh tranh về chất lượng sản phẩm 2.Sức cạnh tranh về giá cả ……… 19
3 Sức cạnh tranh trong thiết kế, mẫu mốt ……… 19
4.Sức cạnh tranh về đầu mối phân phối, mô hình Marketing và xúc tiến thương mại 4.1- Cạnh tranh về đầu mối phân phối ………20
4.2- Mô hình marketing và xúc tiến thương mại ………20
5.Ảnh hưởng của sức cạnh tranh sản phẩm đến hiệu quả kinh doanh …………20
5.1-Tích cực 5.2-Những hạn chế và tiêu cực ……… 22
Chương III : Phương hướng và biện pháp nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm may mặc của Công ty May Xuất Khẩu I/ Dự báo thị trường may mặc của Việt Nam đến năm 2005 - 2010 và định hướng, mục tiêu hiệu quả kinh doanh của Công ty ……….23
1.Dự báo thị trường may mặc của Việt nam đến 2005 – 2010 ……… 23
2.Mục tiêu và phương hướng hoạt động của Công ty may xuất khẩu giai đoạn 2005 – 2010 2.1- Về hoạt động xuất khẩu ……… 24
2.2- Về phát triển thị trường ……… 25
2.3- Về tổ chức, đào tạo ……… 26
2.4- Phương hướng nâng cao sức cạnh tranh của Công ty trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc 2.4.1 –Về chất lượng hàng may mặc xuất khẩu ……… 27
2.4.2- Về mẫu mốt ……… 28
2.4.3- Về giá cả ……… 28
2.4.4- Đẩy mạnh công tác xúc tiến, tiếp thị ………28
2.4.5- Dịch vụ và phương pháp phục vụ khách hàng ……… 28
2.4.6- Nguồn lực tài chính ……… 29
II/.Một số biện pháp nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm may mặc của Công ty May Xuất Khẩu ……… 29
Trang 51.Về phía công ty ………29
2.Về phía nhà nước ……….34
Kết luận ……….38
Tài liệu tham khảo ,……… 39
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ SỨC CẠNH
TRANH CỦA SẢN PHẨM
I – KHÁI NIỆM VỀ CẠNH TRANH VÀ SỨC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM 1- Khái niệm cạnh tranh
Sự trao đổi hàng hoá phát triển rất sớm trong lịch sử phát triển loài người, nhưng chỉ đến khi xuất hiện trao đổi thông qua vật ngang giá là tiền tệ cạnh tranh mới xuất hiện Khi nghiên cứu sâu về nền sản xuất TBCN và cạnh tranh TBCN, Mác đã phát hiện ra quy luật
cơ bản của sự cạnh tranh là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận và qua đó đã hình thành nên hệ thống giá cả thị trường Quy luật này dựa trên sự chênh lệch giữa giá trị và chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hàng hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh vẫn là điều kiện và yếu tố kích thích kinh doanh là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và sự phát triển của xã hội nói chung
Tóm lại, có thể hiểu: " Cạnh tranh là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể hiện đại trên thị trường với nhau nhằm giành giật những điều kiện sản xuất thuận lợi và nơi tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển "
2 - Các loại hình cạnh tranh :
2.1 - Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường :
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua
Là một cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt Trên thị trường người bán muốn bán sản phẩm của mình với giá cao nhất, nhưng người mua lại muốn mua hàng hoá với
Trang 6giá thấp nhất có thể Giá cả cuối cùng được chấp nhận là giá cả thống nhất giữa người bán
và người mua sau một quá trình mặc cả với nhau
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau
Là cuộc cạnh tranh dựa trên sự cạnh tranh mua Khi số lượng hàng hoá bán ra (cung) nhỏhơn nhu cầu cần mua của người mua (cầu) tức là hàng hoá khan hiếm thì cuộc cạnh tranhtrở nên quyết liệt, giá cả sẽ tăng lên vì người mua sẵn sàng chấp nhận giá cao để muađược hàng hoá cần mua
- Cạnh tranh giữa người bán với người bán:
Là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau, thủ tiêu lẫn nhau để giành kháchhàng và thị trường, cuộc cạnh tranh dẫn đến là giá cả giảm xuống và có lợi cho thị trường.Trong khi đó đối với những doanh nghiệp khi tham gia thị trường không chịu được sức ép
sẽ phải bỏ thị trường, nhường thị phần của mình cho các doanh nghiệp có sức cạnh tranhmạnh hơn
2.2 - Căn cứ vào phạm vi ngành kinh tế :
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành
Là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất mộtloại hàng hoá nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạchbằng các biện pháp cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí sản xuấtlàm cho giá trị hàng hoá cá biệt do doanh nghiệp sản xuất ra nhỏ hơn giá trị xã hội Kếtquả cuộc cạnh tranh này làm cho kỹ thuật sản xuất phát triển hơn
- Cạnh tranh giữa các ngành
Là một cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh giữa các doanh nghiệptrong các ngành với nhau nhằm giành giật lợi nhuận cao nhất Trong quá trình này xuấthiện sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành khác nhau, kết quả hìnhthành tỷ suất lợi nhuận bình quân
2.3 - Căn cứ vào mức độ cạnh tranh :
- Cạnh tranh hoàn hảo:
Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có nhiều người bán và không người nào có ưuthế để cung cấp một số lượng sản phẩm quan trọng mà có thể ảnh hưởng tới giá cả Cácsản phẩm làm ra được người mua xem là đồng nhất tức là ít có sự khác nhau về quy cách,phẩm chất, mẫu mã Người bán tham gia trên thị trường chỉ có cách thích ứng với giá cả
Trang 7trên thị trường, họ chủ yếu tìm cách giảm chi phí và sản xuất một mức sản phẩm đến mứcgiới hạn mà tại đó chi phí cận biên bằng doanh thu cận biên.
- Cạnh tranh không hoàn hảo:
Là cuộc cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn sản phẩm của họ là không đồng nhất vớinhau, mỗi sản phẩm có thể có nhiều nhãn hiệu khác nhau Mỗi nhãn hiệu đều mang hìnhảnh hay uy tín khác nhau mặc dù khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể Ngườibán có uy tín độc đáo đói với người mua do nhiều lý do khác nhau như khách hàng quen,gây được lòng tin Người bán lôi kéo khách hàng về phía mình bằng nhiều cách: Quảngcáo, cung cấp dịch vụ, tín dụng ưu đãi trong giá cả đây là loại cạnh tranh rất phổ biếntrong giai đoạn hiện nay
2.4 - Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh, người ta chia thành :
- Cạnh tranh lành mạnh:
Cạnh tranh lành mạnh là cuộc cạnh tranh mà các chủ thể tham gia kinh doanh trên thitrường dùng chính tiềm năng, nội lực của mình để cạnh tranh với các đối thủ Những nộilực đó là khả năng về tài chính, về nguồn nhân lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, về uytín, hình ảnh của Công ty trên thị trường hay của tất cả những gì tựu chung trong hànghoá bao gồm cả hàng hoá cứng (hàng hoá hiện vật) và hàng hoá mềm (dịch vụ)
- Cạnh tranh không lành mạnh
Là cạnh tranh không bằng chính nội lực thực sự của doanh nghiệp mà dùng những thủđoạn, mánh lới, mưu mẹo nhằm cạnh tranh một cách không công khai thông qua việc trốntránh các nghĩa vụ mà Nhà nước yêu cầu và luồn lách qua những kẽ hở của pháp luật
Trang 83- Khái niệm sức cạnh tranh sản phẩm
Một sản phẩm muốn có vị trí vững chắc trên thị trường và muốn thị trường của nó ngàycàng mở rộng thì phải có điểm mạnh và có khả năng để nâng cao sức cạnh tranh của mìnhtrên thị trường đó Sức cạnh tranh của hàng hoá được hiểu là tất cả các đặc điểm, yếu tố,tiềm năng mà sản phẩm đó có thể duy trì và phát triển vị trí của mình trên thương trườngcạnh tranh một các lâu dài và có ý nghĩa
Để đánh giá được một sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh hay không thì cần dựa vào cácnhân tố sau:
- Giá thành sản phẩm và lợi thế về chi phí (khả năng giảm chi phí đến mức tối đa)
- Chất lượng sản phẩm và khả năng đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm của doanhnghiệp
hệ đối ngoại tốt thì doanh nghiệp đó sẽ có sức cạnh tranh cao và ngược lại
+ Quản trị viên cấp trung gian: Đây là đội ngũ trực tiếp quản lý phân xưởng sản xuất sảnphẩm đòi hỏi phải có có kinh nghiệm công tác, khả năng ra quyết định và diều hành côngtác
+ Đội ngũ quản trị viên cấp cơ sở: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp phần nào cũngchịu sự chi phối của đội ngũ này thông qua các yếu tố như: năng suất lao động, trình độtay nghề, ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động và sự sáng tạo của họ bởi vì các yếu tốnày chi phối việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm cũng như tạothêm tính ưu việt, độc đáo mới lạ của sản phẩm
Nguồn lực về tài chính
Trang 9Khả năng tài chính có ảnh hưởng rất lớn tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp trênthị trường Khả năng tài chính được hiểu là quy mô tài chính của doanh nghiệp và tìnhhình hoạt động, các chỉ tiêu tài chính hàng năm như tỷ lệ thu hồi vốn, khả năng thanhtoán Nếu một doanh nghiệp có tình trạng tài chính tốt, khả năng huy động vốn là lớn sẽcho phép doanh nghiệp có nhiều vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ
và máy móc thiết bị, đồng thời tăng khả năng hợp tác đầu tư về liên doanh liên kết.Tìnhhình sử dụng vốn cũng sẽ quyết định chi phí về vốn của doanh nghiệp so với đối thủ cạnhtranh
Nguồn lực về vật chất kỹ thuật:
Thông thường nguồn lực vật chất kỹ thuật thể hiện ở:
- Trình độ kỹ thuật công nghệ hiện tại của doanh nghiệp và khả năng có được các côngnghệ tiên tiến
- Quy mô và năng lực sản xuất: Quy mô và năng lực sản xuất lớn giúp doanh nghiệp tạo
ra khối lượng sản phẩm lớn hơn, nhờ đó hạ được giá thành sản phẩm, hơn nữa nó tạo ranhiều cơ hội tiếp xúc với khách hàng hơn,giúp doanh nghiệp hiểu rõ khách hàng từ đó cóthể chiếm lĩnh hoặc giữ vững thị trường trên nhiều lĩnh vực khác nhau, tránh sự xâm nhậpcủa đối thủ cạnh tranh
Tuy nhiên để đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải cóquy mô sản xuất và mức sử dụng công suất ít nhất phải gần bằng công suất thiết kế Nếu
sử dụng công suất thấp sẽ gây lãng phí và lúc đó chi phí cố định vào giá thành sản phẩmcao làm cho khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp giảm
Trình độ tổ chức quản lý
Trình độ tổ chức quản lý được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị,
hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí và đặc biệt là nề nếp hoạt động của doanhnghiệp
Một doanh nghiệp biết tập hợp sức mạnh đơn lẻ của các thành viên và biến thànhsức mạnh tổng hợp thông qua tổ chức doanh nghiệp đó sẽ tận dụng được những lợi thếtiềm ẩn của tổ chức mình Đây là một đòi hỏi đối vớic các nhà quản trị cấp cao Không thểnói doanh nghiệp có được một cấu trúc tốt nếu không có một sự nhất quán trong cách nhìnnhận về cơ cấu doanh nghiệp
Một cơ cấu tốt đồng nghĩa với việc có được một cơ cấu phòng ban hợp lý, quyền hạn và
Trang 10trách nhiệm được xác định rõ ràng Bên cạnh đó ở mỗi phòng ban việc thực hiện tốt nềnếp tổ chức cũng ảnh hưởng rất lớn tới phương thức thông qua quyết định của nhà quảntrị, quan điểm của họ đối với các chiến lược và điều kiện môi trường của doanh nghiệp.Một nề nếp tốt có thể dẫn dắt mọi người tích cực hơn trong công việc và lôi cuốn họ vàoquá trình đạt tới những mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Hoạt động Marketing
Ngày nay Marketing là một hoạt động không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triểncủa mỗi doanh nghiệp Ở đây nhiệm vụ chính là phân tích các nhu cầu thị hiếu, nhu cầuthị trường và hoạch định các chiến lược hữu hiệu về sản phẩm, giá cả, giao tiếp và phânphối phù hợp với thị trường mà doanh nghiệp đang vươn tới từ đó xây dựng mạng lướiphân phối với số lượng, phạm vi và mức độ kiểm soát phù hợp đưa sản phẩm đến tayngười tiêu dùng nhanh nhất Có thể nói để tạo ra sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thịtrường hoạt động Marketing là một yếu tố không thể thiếu
2- Nhân tố bên ngoài :
Michael.E.Porter (1982) đã đưa ra khái niệm cạnh tranh mở rộng, theo đó cạnh tranh trongmột ngành phụ thuộc vào năm thế lực
Sơ đồ 1: Các thế lực điều khiển cuộc cạnh tranh trong ngành
Trang 11Năm thế lực cạnh tranh này kết hợp với nhau xác định cường độ cạnh tranh và mức lợinhuận của ngành Thế lực nào mạnh nhất sẽ thống trị và trở thành trọng yếu theo quanđiểm xây dựng chiến lược Mỗi lực lượng trong số 5 lực lượng trên càng mạnh thì cànghạn chế khả năng cho các doanh nghiệp tăng giá cả và kiếm lợi nhuận; Ngược lại, khi mộtlực lượng nào đó mà yếu thì cơ hội để doanh nghiệp có được lợi nhuận sẽ càng khả thi Đểlàm rõ điều này chung ta hãy cùng tìm hiểu các lực lượng đó.
Các đối thủ cạnh tranh hiện tại
Sự hiểu biết về các đối thủ cạnh tranh có một ý nghĩa quan trọng vì các đối thủcạnh tranh sẽ quyết định tính chất và mức độ tranh đua Nếu các đối thủ này yếu doanhnghiệp có cơ hội để tăng giá bán và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Ngược lại,khi các đốithủ cạnh tranh hiện tại mạnh thì sự cạnh tranh về giá là không đáng kể, mọi cuộc cạnhtranh về giá cả đều dẫn tới tổn thương
Bàn về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong một ngành sản xuất ta thường nóitới những nội dung chủ yếu như: cơ cấu cạnh tranh ngành, thực trạng cầu của ngành vàcác hàng rào lối ra
Ng ười i
cung ng ứng
Nguy c e do t ơ đe doạ từ đe doạ từ ạ từ ừ
nh ng ng ững người mới vào ười mới vào i m i v o ới vào ào
Trang 12Cơ cấu cạnh tranh của ngành dựa vào số liệu và khả năng phân phối sản phẩm củadoanh nghiệp trong ngành sản xuất Cơ cấu cạnh tranh thay đổi từ ngành sản xuất phân tántới ngành sản xuất tập trung Bản chất và mức độ cạnh tranh đối với các ngành tập trung làrất khó phân tích và dự đoán.
Tình trạng cầu của một ngành là một yếu tố quyết định khác về tính mãnh liệt trongcạnh tranh nội bộ ngành Thông thường, cầu tăng tạo cho doanh nghiệp một cơ hội lớn để
mở rộng hoạt động Ngược lại, cầu giảm dẫn đến cạnh tranh khốc liệt để các doanhnghiệp giữ được phần thị trường đã chiếm lĩnh
Hàng rào lối ra là mối đe doạ cạnh tranh nghiêm trọng khi cầu của ngành giảmmạnh Đó là kinh tế, chiến lược và là quan hệ tình cảm giữ doanh nghiệp trụ lại Nếu hàngrào lối ra cao, các doanh nghiệp có thể bị khoá chặt trong một ngành sản xuất không ưathích Hàng rào lối ra thường bao gồm: Đầu tư nhà xưởng và thiết bị, chi phí trực tiếp choviệc rời bỏ ngành là cao, quan hệ chiến lược giữa các đơn vị chiến lược kinh doanh, hay
đó là chi phí xã hội khi thay đổi như khó khăn về sự sa thải nhân công, chi phí đào tạolại
Do vậy nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp là tìm kiếm thông tin, phân tích đánh giáchính xác khả năng của những đối thủ cạnh tranh, đặc biệt là những đối thủ chính để xâydựng cho mình chiến lược cạnh tranh thích hợp với môi trường chung
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện tại chưa cạnh tranh trongcùng một ngành sản xuất, nhưng có khả năng cạnh tranh nếu họ lựa chọn và quyết địnhgia nhập ngành Đây là đe dọa cho các doanh nghiệp hiện tại Các doanh nghiệp hiện tại
cố gắng ngăn cản các đối thủ tiềm ẩn muốn ra nhập ngành vì càng nhiều doanh nghiệp cótrong một ngành sản xuất thì cạnh tranh càng khốc liệt hơn Với sự mong muốn chiếmlĩnh một thị phần nào đó các đối thủ mới có thể làm giá bán bị kéo xuống hoặc chi phí củacác công ty đi trước có thể bị tăng lên và kết quả làm giảm mức lợi nhuận Sự xâm nhậpvào một ngành, với dự định xây dựng một vị trí trên thị trường kiểu đó có lẽ cần được coinhư một sự nhập cuộc của đối thủ mới Việc tạo ra hàng rào hợp pháp ngăn cản sự xâmnhập từ bên ngoài hoặc sự phản ứng khôn khéo của các doanh nghiệp đang cạnh tranh sẽlàm giảm bớt mối hiểm hoạ hoặc do doanh nghiệp mới xâm nhập gây ra Những rào cảnchủ yếu được xác định là:
Trang 13Những ưu thế tuyệt đối về chi phí: Có thể đó là ưu thế về các sáng chế, việc làm chủ mộtcông nghệ riêng đặc thù hoặc có một nguồn nhân lực chuyên tinh, làm chủ được nguồnnguyên vật liệu cũng như kinh nghiệm cho phép có được các chi phí thấp hơn Hoặc đó cóthể là lợi thế về chi phí cố định vì các đối thủ cạnh tranh hiện tại thường có những lợi thếchi phí mà các đối thủ mới không thể nào có được, lợi thế này không phụ thuộc vào quy
mô doanh nghiệp như: Bản quyền về công nghệ và sản phẩm, lợi thế về nguồn cung cấpnguyên vật liệu, lợi thế về vị trí địa lý, hay kinh nghiệm và kĩ năng trong sản xuất
Ngoài ra có thể kể đến những loại chi phí khác như chi phí đặt cọc, tiền cược Đây là mộtkhoản tiền lúc đầu buộc khách hàng mua sản phẩm của một doanh nghiệp lúc đầu phải trảnếu họ không mua sản phẩm của ngành đó nữa và chuyển sang mua sản phẩm của mộtdoanh nghiệp khác hay là chi phí phạt do thay đổi hãng hợp đồng tiêu thụ hoặc cung cấpvật tư Hầu hết các khách hàng đều phải thực hiện việc bồi thường trừ phi các nhà cungcấp mới những cải tiến có lợi về chi phí và thực hiện
Sự khác biệt hoá của sản phẩm khiến cho khách hàng trung thành với nhãn hiệu sản phẩmcủa các doanh nghiệp có vị thế uy tín vững vàng hoặc đã đứng vững.Thường các doanhnghiệp này có ưu thế cạnh tranh về chất lượng sản phẩm, về dịch vụ hậu mãi hoặc về khảnăng chuyên biệt hoá sản phẩm Sự trung thành với nhãn hiệu là nguồn rào cản khiến chocác doanh nghiệp mới tham gia khó lòng giành giật thị phần trên thương trường Cácdoanh nghiệp có tiềm năng hẳn phải tốn kém rất nhiều để bẻ gãy lòng ưu ái đã được củng
cố của khách hàng với các nhãn hiệu đã có uy tín trước đó
Kinh tế quy mô hay còn gọi là kinh tế bậc thang: Các chi phí về sản xuất, phân phối, bán,quảng cáo, dịch vụ nghiên cưú sẽ giảm bớt với sự gia tăng của số lượng bán Hay nói cáchkhác số lượng sản xuất và bán tăng lên thì chi phí cho một đơn vị sản phẩm càng giảm đi.Kênh phân phối chủ yếu đã được thiết lập của các doanh nghiệp hiện tại cũng là một vậtcản đối với các doanh nghiệp muốn nhảy vào chia sẻ thị trường Để tham gia vào mạnglưới phân phối đã được thiết lập các doanh nghiệp mới thông thường phải chia sẻ các chiphí quảng cáo hoặc hỗ trợ bán hàng Mọi chi phí này sẽ làm giảm lợi nhuận của các đốithủ mới; Trong khi đó các đối thủ cạnh tranh hiện tại có thể giữ chặt các các kênh phânphối dựa trên cơ sở các mối quan hệ lâu dài, chất lượng phục vụ cao Như vậy buộcdoanh nghiệp mới phải tạo ra một mạng lưới phân phối mới và đó là một cản trở đáng kể.Phản ứng lại của các doanh nghiệp hiện tại trong lĩnh vực kinh doanh Nếu việc phản ứng
Trang 14lại tích cực và khôn khéo một lối vào trong lĩnh vực đó là có thể được Nhưng nếu phảnứng lại bằng một cuộc chiến tranh giá cả thì cái giá phải trả là quá đắt để nhập ngành bởicác đối thủ cạnh tranh hiện tại phản ứng quyết liệt, liên kết lại với nhau để đối phó.
Khách hàng (Người mua)
Khách hàng hay người mua hàng là một bộ phận không thể tách rời trong môi trườngcạnh tranh Khách hàng tác động đến doanh nghiệp thể hiện mối tương quan về thế lựcnếu nghiêng về phía nào thì phía đó có lợi Các doanh nghiệp cần phải làm chủ mối tươngquan này, thiết lập được mối quan hệ với khách hàng để giữ khách hàng (thông qua sốlượng, chất lượng, giá cả, điều kiện giao nhận và dịch vụ sau bán hàng) Khách hàng có
ưu thế là có thể làm cho lợi nhuận của ngành hàng giảm bằng cách ép giá xuống hoặc đòihỏi chất lượng cao hơn và phải làm nhiều công việc dịch vụ hơn
Khách hàng có thể được xem như một sự đe dọa cạnh tranh khi họ buộc doanhnghiệp phải giảm giá hoặc có nhu cầu chất lượng cao và dịch vụ tốt hơn Ngược lại khingười mua (khách hàng) yếu sẽ mang đến cho doanh nghiệp cơ hội để tăng giá kiếm đượclợi nhuận nhiều hơn Người mua gồm: Người tiêu dùng cuối cùng, các nhà phân phối (bánbuôn, bán lẻ) và các nhà mua công nghiệp Áp lực của họ thường được thể hiện trongnhững trường hợp sau:
- Nhiều nhà cung ứng có quy mô vừa và nhỏ trong ngành cung cấp Trong khi đó ngườimua là số ít và có quy mô lớn, nó cho phép người mua chi phối các công ty cung cấp
- Khách hàng mua một khối lượng lớn sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp và sử dụng
đó làm lợi thế để mặc cả cho sự giảm giá không hợp lý
- Khách hàng có thể vận dụng chiến lược liên kết dọc, tức là họ có xu hướng khép kínsản xuất, tự sản xuất, gia công các bộ phận chi tiết, bán sản phẩm cho mình
- Khách hàng có đầy đủ các thông tin về thị trường như nhu cầu, giá cả của các nhàcung cấp thì áp lực mặc cả của họ càng lớn
Để nâng cao khả năng cao khả năng cạnh tranh thì doanh nghiệp phải giảm tối đasức ép trên và tạo môi trường với các khách hàng qua các chính sách giá, chất lượng sảnphẩm, dịch vụ, biến họ trở thành người cộng tác tốt
Người cung ứng
Đó là những nhà cung cấp nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, tiền vốn,lao động đôikhi gây đe doạ khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào hoặc giảm chất lượng các sản
Trang 15phẩm dịch vụ mà họ cung cấp Qua đó làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Họ thườnggây sức ép trong những tình huống như:
- Họ độc quyền cung cấp vật tư
- Khi các vật tư được cung cấp không có khả năng thay thế
- Không có điều khoản ràng buộc hoặc bảo đảm trong các hợp đồng kinh tế đã kí kết
- Khi vật tư đó quan trọng, quyết định trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Khi họ có khả năng khép kín sản xuất
Vì vậy doanh nghiệp cần thiết lập quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp và đưa racác biện pháp ràng buộc với nhà vật tư để giảm bớt các ràng buộc họ có thể gây nên vớimình
Sản phẩm thay thế
Sự ra đời của các sản phẩm thay thế là một tất yếu nhằm đáp ứng sự biến động của nhucầu thị trường theo hướng ngày càng đa dạng hơn, phong phú và cao cấp hơn, và chính nólại làm giảm khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bị thay thế
Một doanh nghiệp có thể hoạt động thu được nhiều lợi nhuận khi trong ngành kinhdoanh đó có các các cản trở xâm nhập cao, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện
có là thấp, không có sản phẩm thay thế, thế lực khách hàng yếu và thế lực nhà cung cấpcũng yếu Ngược lại, một doanh nghiệp tiến hành kinh doanh trong một ngành hàng cócác cản trở xâm nhập thấp, cạnh tranh mạnh mẽ, có một số sản phẩm thay thế, thế lực vàcủa khách hàng và nhà cung cấp mạnh thì kinh doanh của doanh nghiệp sẽ chật vật và lợinhuận thấp Các nhà quản lý cần phải phân tích và hiểu rõ được các thế lực trong môitrường cạnh tranh, từ đó tận dụng cơ hội và tìm vị trí có lợi nhất cho doanh nghiệp trongmôi trường cạnh tranh của doanh nghiệp
3-Bản thân đặc thù sản phẩm :
Sản phẩm của Công ty May Xuất Khẩu gồm có quần áo bảo hộ lao động và may quần áoxuất khẩu như : áo Jăcket, quàn âu, áo sơ mi, quần sóc, váy …Ngoài ra Công ty còn nhậpkhẩu trực tiếp các nguyên vật liệu từ nước ngoài theo đơn đặt hàng trong nước và ngoàinước Phần lớn những mặt hàng này có định mức tiêu dùng cụ thể nên có thể đánh giá sứcmạnh cạnh tranh của sản phẩm, của ngành hàng Nhưng để làm được điều đồi hỏi công typhải có đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ chuyên môn cao, kiến thức sâu rộng,kinh nghiệm phong phú để luôn nắm bắt đánh giá đùng thị trường, thị phần, vị trí của
Trang 16công ty cũng như sức cạnh tranh của sản phẩm, ngành hàng của công ty Mặt khác, sảnphẩm, hàng hoá mà công ty kinh doanh phần lớn là hàng hoá tiêu dùng, thời gian sử dụngngắn nên việc bảo quản tương đối khó khăn Công ty phải dựa vào nhũng sản phẩm,ngành hàng mà công ty có thế mạnh để giúp các sản phẩm, mặt hàng khác tạo nên tổngthể mạnh mẽ của các sản phẩm, mặt hàng Điều này đòi hỏi Công ty phải coi trọng việc
mở rộng, phát triển thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm đồng thời pháttriển mặt hàng mới để củng cố vị thế của công ty
III- CÁC CÔNG CỤ CẠNH TRANH SẢN PHẨM MAY MẶC
1-Chất lượng hàng hoá
Đây là một công cụ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.Người tiêu dùng thường quan tâm đến chất lượng khi lựa chọn một sản phẩm nào đó, họsẵn sàng trả giá cao hơn để có được một sản phẩm chất lượng tốt hơn Thông thường cạnhtranh về sản phẩm thể hiện chủ yếu qua những mặt sau:
Cạnh tranh về trình độ sản phẩm: Chất lượng sản phẩm, tính hữu dụng của sảnphẩm, bao bì Tuỳ theo những sản phẩm khác nhau mà ta lựa chọn những nhóm chỉ tiêukhác nhau có tính chất quyết định trình đọ của sản phẩm
Cạnh tranh về chất lượng: Tuỳ theo từng sản phẩm khác nhau với các đặc điểmkhác nhau để ta lựa chọn chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm khác nhau, càng tạo ranhiều lợi thế cho chỉ tiêu này thì sản phẩm càng có nhiều cơ hội giành thắng lợi trên thịtrường
Cạnh tranh về bao bì: Cùng với việc thiết kế bao bì cho phù hợp, doanh nghiệp cònphải lựa chọn cơ cấu sản phẩm cho phù hợp Cơ cấu thường thay đổi theo sự thay đổi củathị trường, đặc biệt là những cơ cấu có xu hướng phù hợp với nhu cầu của người tiêudùng
Cạnh tranh về nhãn mác, uy tín sản phẩm: Đây là công cụ mà doanh nghiệp sửdụng để đánh vào trực giác của người tiêu dùng
Cạnh tranh do khai thác hợp lý chu kì sống của sản phẩm: Sử dụng biện pháp nàydoanh nghiệp cần phải có những quyết định sáng suốt để đưa ra một sản phẩm mới hoặcdừng việc cung cấp một sản phẩm đã lỗi thời
2-Giá cả hàng hoá
Giá là một công cụ quan trọng trong cạnh tranh thường được sử dụng trong giai
Trang 17đoạn đầu của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bước vào một thị trường mới Cạnh tranh vềgiá thường được thể hiện qua các biện pháp sau:
- Kinh doanh với chi phí thấp
- Bán với mức giá hạ và mức giá thấp
Mức giá có vai trò cực kỳ quan trọng trong cạnh tranh Nếu như chênh lệch giágiữa doanh nghiệp và đối thủ cạnh tranh thì lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng sảnphẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp đã đem lại lợi ích chongười tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh Vì lẽ đó sản phẩm của doanh nghiệp sẽngày càng chiếm được lòng tin của người tiêu dùng, điều đó sẽ đưa doanh nghiệp lên vị trícạnh tranh ngày càng cao
Để đạt được mức giá thấp doanh nghiệp cần xem xét khả năng hạ giá sản phẩm củadoanh nghiệp mình, khả năng đó phụ thuộc vào:
vũ khí cạnh tranh Như thế doanh nghiệp phải biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá cả vàcác bộ phận về chiết khấu với những phương pháp bán mà doanh nghiêp đang sử dụng,với những phương pháp thanh toán, với xu thế, trào lưu của người tiêu dùng
Đồng thời, do đặc điểm ở từng vùng thị trường khác nhau là khác nhau nên doanh nghiệpcũng cần phải có những chính sách giá hợp lý ở từng vùng thị trường
Một điểm nữa doanh nghiệp cần phải quan tâm là phải kết hợp giữa giá cả của sản phẩmvới chu kỳ sản phẩm đó, việc kết hợp này cho phép doanh nghiệp khai thác được tối đakhả năng tiêu thụ của sản phẩm, cũng như không bị mắc vào những lỗi lầm trong việckhai thác chu kì sống, đặc biệt là các sản phẩm đang đứng trước sự suy thoái
3-Cạnh tranh về phân phối và bán hàng
Cạnh tranh về phân phối và bán hàng được thể hiện qua các nội dung chủ yếu sau:
- Khả năng đa dạng hoá các kênh và chọn được các kênh chủ lực Ngày nay các doanhnghiệp thường có cơ cấu sản phẩm rất đa dạng, với mỗi sản phẩm có một kênh phân phối
Trang 18khác nhau.Việc phân định đâu là kênh phân phối chủ lực có ý nghĩa quyết định trong việctối thiểu hóa chi phí dành cho tiêu thụ sản phẩm.
- Tìm được những người điều khiển đủ mạnh Đối với các doanh nghiệp sử dụng các đại
lý độc quyền thì phải xem xét đến sức mạnh của các doanh nghiệp thương mại làm đại lýcho doanh nghiệp Điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, có vốn lớn và đủ sức chi phốiđược lực lượng bán hàng trong kênh trên thị trường
- Có hệ thống bán hàng phong phú Đặc biệt là hệ thống các kho, các trung tâm bán hàng.Các trung tâm này phải có được cơ sở vật chất hiện đại
- Có nhiều biện pháp để kết dính các kênh lại với nhau Đặc biệt là những biện pháp quản
lý và điều khiển người bán
- Có khả năng hợp tác giữa người bán trên thị trường nhất là trên các thị trường lớn
- Có các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng hợp lý.Kết hợp hợp lý giữa phương thức bánhàng và phương thức thanh toán
Các dịch vụ bán và sau khi bán chủ yếu là:
- Tạo ra các điều kiện thuận lợi nhất trong khi thanh toán
- Có chính sách tài chính và tiền tệ hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán vớikhách hàng
- Có hệ thống thanh toán nhanh, hợp lý vừa tạo điều kiện thanh toán nhanh vừa đảm bảocông tác quản lý của doanh nghiệp
- Có phương tiện bán văn minh, các phương tiện tạo ưu thế cho khách hàng, tạo điềukiện để có công nghệ bán hàng đơn giản hợp lý Nắm được phản hồi của khách hàngnhanh nhất và hợp lý nhất
- Bảo đảm lợi ích của người bán và người mua, người tiêu dùng tốt nhất và công bằngnhất Thường xuyên cung cấp những dịch vụ sau khi bán cho người sử dụng, đặc biệt lànhững sản phẩm có bảo hành hoặc hết thời gian bảo hành Hình thành mạng lưới dịch vụrộng khắp ở những địa bàn dân cư
4-Hình ảnh nhãn hiệu sản phẩm và công ty
Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp sử dụng nhiều biện pháp nhằm giành giậtkhách hàng về phía mình, đặc biệt thực hiện linh hoạt trong khâu hợp đồng, thanh toánnhư: quy ước về giá cả, số lượng, kích cỡ, mẫu mã bằng văn bản hoặc bằng miệng haythanh toán với các hình thức như bán trả góp, bán chịu, bán gối đầu Những hành vi này
Trang 19sẽ thực hiện được tốt hơn khi giữa doanh nghiệp và khách hàng có lòng tin với nhau Dovậy chữ tín trở thành công cụ sắc bén trong cạnh tranh, nó tạo ra cơ hội cho những người
ít vốn có điều kiện tham gia kinh doanh, do đó mở rộng được thị phàn hàng hoá, tạo rasức mạnh cho doanh nghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ SỨC CẠNH TRANH SẢN PHẨM MAY MẶC CỦA CỦA CÔNG
TY MAY XUẤT KHẨU GIAI ĐOẠN 1999 – 2003
I – ĐẶC ĐIỂM LỢI THẾ , BẤT LỢI THẾ TRONG CẠNH TRANH SẢN PHẨMMAY MẶC CỦA CÔNG TY
1- Đối thủ và sản phẩm cạnh tranh chủ yếu trên thị trường quốc tế :
1.1- Đối thủ cạnh tranh là các Công ty trong nước :
Hiện nay , cả nước đã có gần 500 đơn vị tham gia xuất khẩu hàng dệt may nên trong nướcCông ty đã gặp phải sự cạnh tranh khá gay gắt Các đối thu cạnh tranh trong nước chủ yếu
là Công ty may Thăng Long , may 10 , may 20 , may Việt Tiến Nhìn chung các Công tytrong nước cạnh tranh nhau về mẫu mã , màu sắc , giá cả đồng thời cạnh tranh trong cảcung cách bán và phục vụ khách hàng Chính vì vậy, để có được những lợi thế nhất định,Công ty may xuất khẩu cần phải nỗ lực nhiều hơn trong khâu quản lý, khai thác và kếthợp nguồn lực để sức cạnh tranh của sản phẩm – thể hiện qua tính hiệu quả trong sản xuất
Trang 20được cao hơn Điều quan trọng là khả năng kết hợp các nguồn lực sẵn có và các nguồn lựcmới trong doanh nghiệp
1.2- Đối thủ cạnh tranh là các Công ty nước ngoài :
Ngoài việc chịu sự cạnh tranh xuất khẩu hàng may mặc của các Công ty trong nước, Công
ty may xuất khẩu còn vấp phải sự cạnh tranh gay gắt từ phía các Công ty xuất khẩu maymặc của các nước khác trên thế giới, trong đó phải kể đến những sản phẩm dệt may đượcxuất đi từ Trung Quốc, Malaysia, Băngladesh mà mạnh nhất là Trung Quốc Các sảnphẩm cạnh tranh từ Trung Quốc đã tác động tới giá bán của Công ty, điển hình năm 2000
và 2001 Công ty đã mất 2 khách hàng lớn mua sản phẩm may đã chuyển sang Trung Quốc
vì có giá cạnh tranh hơn Do vậy, Công ty cần có chiến lược tiếp thị có hiệu quả để duy trìcác khách hàng cũ thu hút thêm khách hàng mới Ngoài ra, Công ty còn phải cạnh tranhvới các nước đang phát triển khác, đặc biệt là các nước xuất khẩu mới ở Nam Á, Asean 1.3- Sản phẩm cạnh tranh chủ yếu trên thị trường quốc tế :
Sản phẩm cạnh tranh chủ yếu của Công ty may xuất khẩu là các trang phục maymặc thời trang, trang phục may mặc thông thường, bảo hộ lao động và các sản phẩm sửdụng chất liệu tự nhiên
2- Những lợi thế cạnh tranh :
- Là một Công ty xuất khẩu hàng may mặc có uy tín
- Thuế nhập khẩu hàng may mặc của Việt Nam là 50 % nên khi giảm thuế nhập khẩu thì
áp lực cạnh tranh tuy tăng song có thề nâng cao sức cạnh tranh của Công ty
- Sản phẩm của Công ty sản xuất ra với giá nhân công rẻ
3- Những bất lợi thế :
- Hàng may mặc của công ty có bất lợi đó là máy móc thiết bị nghành may mặc của công
ty chủ yếu nhập khẩu từ các đối thủ cạnh tranh của mình như: Ý, Hàn Quốc, Đài Loan,Hồng Kông, Trung Quốc , còn các nguyên liệu chính là các loại sợi, vải cũng đượcnhập khẩu từ các đối thủ cạnh tranh khác như: Thái Lan, Indonesia, Malasia, TrungQuốc Thêm vào đó, các nước này lại phát triển trước Việt Nam từ 15 – 20 năm, có nhiềukinh nghiệm trong sản xuất hơn, cho nên hàng may mặc của các nước này có chất lượngcao hơn hàng may mặc công ty là một điều chắc chắn
- Nếu xét về mặt giá cả, trước đây chúng ta thường tự hào rằng hàng may mặc của công tynói riêng và của toàn nghành dệt may nói chung có khả năng cạnh tranh về giá cả do giá
Trang 21nhân công của ta thấp nhưng gần đây điều này không còn đúng nữa vì giá nhân công củaTrung Quốc còn thấp hơn của ta, hơn nữa ta còn phải chịu chi phí cao vì phải nhậpnguyên liệu và máy móc Như vậy, giá của ta chỉ có thể cạnh tranh được với giá của TháiLan, Indonesia, Malasia, Hàn Quốc, Hồng Kông Tuy nhiên, sức cạnh tranh này cũngđang giảm dần vì sự sụt giá của đồng tiền của các nước này so với đồng đôla Mỹ trong khiđồng Việt Nam lại giảm rất ít.
- Điểm hạn chế của công ty chính là ở chỗ công ty chưa khẳng định được mình qua nhãnhiệu hàng hoá danh tiếng hay nghệ thuật marketing Các sản phẩm của Công ty khi xuất ranước ngoài chủ yếu là do được khách hàng thuê may gia công Do đó Công ty may khôngđược gắn nhãn hiệu của mình trên sản phẩm mà mình sản xuất Các khách hàng thuê công
ty gia công là lực lượng tiêu thụ chính mới là người có quyền gắn nhãn hiệu lên sản phẩm,đối với các sản phẩm bán theo giá FOB cũng chưa có ngoại lệ Đây là một bất lợi rất lớnđối với sản phẩm của công ty vì công ty không thể tự quảng cáo cho sản phẩm của mìnhtrên thị trường thế giới Như vậy, so với các đối thủ cạnh tranh trên các thị truờng có khảnăng thanh toán cao thì sản phẩm của công ty có sức cạnh tranh yếu, vì trên thị trường nàyyếu tố chất lượng và nhãn mác sản phẩm được chú ý hơn là giá cả
II – THỰC TRẠNG SỨC CẠNH TRANH SẢN PHẨM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓTỚI HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY :
2- Sức cạnh tranh về giá cả :