1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Th c tr ng v n ng l c c nh tranh v t nh h nh u t n ng cao kh n ng c nh tranh c a T ng c ng ty th p Vi t Nam

85 164 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 597 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Th c tr ng v n ng l c c nh tranh v t nh h nh u t n ng cao kh n ng c nh tranh c a T ng c ng ty th p Vi t Nam tài liệu, gi...

Trang 1

http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ

án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cảmọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp củaquý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý kháchgửi về luanvanpro.com@gmail.com

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/Đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, người ta bắt đầu đề cập nhiều đến vấn đề cạnh tranh dưới cácgóc độ khác nhau Mối quan tâm đó bắt đầu từ thực tế là năng lực cạnh tranh của hầu hếtcác hàng hoá do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất còn yếu kém trên cả thị trườngtrong nước và quốc tế Vấn đề cạnh tranh lại càng trở lên bức xúc khi áp lực cạnh tranh

do quá trình tự do hoá thương mại trong khu vực và toàn cầu ngày càng gia tăng.Trongkhi đó nhiều doanh nghiệp nước ta lại chưa cảm nhận và sẵn sàng đối mặt với nhữngthách thức của cuộc cạnh tranh khốc liệt đó Nếu tình hình này không được cải thiện,năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp không được nâng cao, tụt hậu xa của nền kinh

tế Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới không chỉ dừng lại ở nguy cơ mà

sẽ trở thành thực tế Chính vì vậy nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cóvai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế

Công nghiệp thép luôn có một vai trò quan trọng trong quá trình CNH-HĐH đất nước.Cùng với những thành tựu của hơn 16 năm đổi mới nền kinh tế nước ta, ngành côngnghiệp thép đã đạt được những thành tựu quan trọng, có mức tăng trưởng liên tục cao,đáp ứng nhu cầu về sản phẩm thép xây dựng cho nền kinh tế Cũng giống như nhiềungành kinh tế khác, công nghiệp thép đang đứng trước những thời cơ và thách thức doquá trình đổi mới nền kinh tế và đặc biệt khi mà quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thếgiới đang diễn ra với tốc độ và cường độ nhanh và mạnh hơn bao giờ hết Để thành công,nhiệm vụ quan trọng và khẩn cấp mang tính sống còn đối với ngành thép là nâng cao sứccạnh tranh ít nhất ngay tại thị trường trong nước Tổng công ty thép Việt Nam là mộtdoanh nghiệp nhà nước, đóng vai trò trung tâm trong ngành công nghiệp thép Việt Nam.Nâng cao khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam trong giai đoạn hiện naythực sự là một đòi hỏi cấp thiết Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi đãmạnh dạn lựa chọn đề tài nghiên cứu : Đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của Tổngcông ty thép Việt Nam làm đề tài luận văn tốt nghiệp

Đề tài này tập trung đánh giá về tình hình đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh tạiTổng công ty thép Việt Nam trong giai đoạn vừa qua từ đó thấy được những ưu và nhượcđiểm để đưa ra những phương hướng và giải pháp thực hiện trong thời gian tới

Nội dung của đề tài gồm 3 chương :

Trang 3

Chương I : Cơ sở lý luận về đầu tư và cạnh tranh

Chương II: Thực trạng về năng lực cạnh tranh và tình hình đầu tư nâng cao khả năngcạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam

Chương III: Phương hướng và một số giải pháp đầu tư nhằm nâng cao khả năng cạnhtranh của Tổng công ty thép Việt Nam trong thời gian tới

Lời cuối, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Từ QuangPhương và các chú, các anh phòng Kế toán tài chính - Tổng công ty thép Việt Nam đãgiúp em hoàn thành bài viết này

Em xin chân thành cảm ơn !

CHƯƠNG I

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ CẠNH TRANH

I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TRONG DOANH NGHIỆP

1 Khái niệm về đầu tư và đầu tư phát triển trong doanh nghiệp

1.1 Khái niệm đầu tư

Trên giác độ tài chính: Đầu tư là chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ đầu tư nhận về mộtchuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn và sinh lời

Trên giác độ tiêu dùng :Đầu tư là các hình thức hi sinh (hạn chế tiêu dùng) hiện tại để thuđược mức tiêu dùng cao hơn trong tương lai

Đối với các nhà kinh tế: Đầu tư trong doanh nghiệp là việc chi dùng vốn nhằm thay đổiquy mô dự trữ hiện có

Trang 4

Theo nghĩa chung nhất: Đầu tư là việc bỏ vốn hoặc chi dùng vốn cùng với các nguồn lựckhác trong hiện taị để tiến hành một hoạt động nào đó (tạo ra) hoặc khai thác sử dụng mộttài sản nhằm thu về các kết quả có lợi trong tương lai

1.2 Khái niệm đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển là hình thức đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hànhcác hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế,làm tăng tiềm lực sản xuất kinhdoanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đờisống cho mọi người dân trong xã hội .Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữanhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị công nghệ và lắp đặt chúng trênnền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư cho việc nghiên cứu khoa học ,thựchiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trìtiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội

2 Vốn đầu tư và nguồn vốn đầu tư phát triển doanh nghiệp

2.1 Khái niệm về vốn đầu tư

Vốn đầu tư là nguồn lực tích luỹ được của xã hội ,của cá cơ sở sản xuất kinhdoanh, tiết kiệm của dân và huy động của nhà nước, được biểu hiện dưới dạng tiền tệ cácloại ,hiện vật hữu hình hiện vật vô hình và các hiện vật khác

Trên giác độ vi mô:

Vốn đầu tư là nguồn lực tự tích luỹ của cơ sở bao gồm tài sản thừa kế, lợi nhuận giữ lạivốn góp

2.2 Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp

2.2.1 Nguồn vốn trong nước

2.2.1.1 Vốn đầu tư của Nhà nước

Vốn ngân sách Nhà nước

Đây là nguồn vốn Nhà nước cấp cho các đơn vị doanh nghiệp quốc doanh để thực hiệncác dự án đầu tư đòi hỏi vốn lớn thời gian thu hồi vốn lâu và ít lợi nhuận, chủ yếu manglại lợi ích cho xã hội, Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng,

hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có sự tham gia của Nhà

Trang 5

nước Chi cho công tác lập và thực hiện quy hoạch các dự án quy hoạch tổng thể pháttriển kinh tế xã hội và vùng lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn Trong thời

kỳ bao cấp

Nhà nước quản lý bằng các chỉ tiêu pháp lệnh từ đầu vào đến đầu ra Đối với hoạt độngsản xuất kinh doanh vốn ngân sách được cấp phát trực tiếp hàng năm không theo dự án

do vậy đã gây lãng phí trong khi các dự án lại không đạt hiệu quả cao

Kể từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường thì nguồn vốn ngân sáchkhông còn đóng vai trò quyết định mà chỉ đóng vai trò định hướng hỗ trợ phát triển 2.2.1.2 Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước

Nguồn vốn này là một hình thức quá độ chuyển từ phương thức cấp phát ngânsách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp.Những doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn này phải thực hiện nguyên tắc vay trả

Tác dụng của nguồn vốn này :

Giảm đáng kể sự bao cấp của Nhà nước nhưng lại có thể hỗ trợ cho doanh nghiệpphát triển

Chi phối chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá.Khuyến khích phát triển kinh tế xã hội, ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướngchiến lược của mình ,thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế , phát triển xã hội

2.2.1.3 Vốn đầu tư từ doanh nghiệp Nhà nước

Đây là nguồn vốn sở hữu và tiết kiệm của doanh nghiệp nhà nước Nguồn vốn này

có thể do doanh nghiệp phát hành cổ phiếu mới hoặc hỗ trợ

của Nhà nước từ Ngân sách Chính phủ

2.2.1.4 Nguồn vốn của khu vực tư nhân

Nguồn vốn này đầu tư gián tiếp vào nền kinh tế thông qua thị trường vốn ,chủ yếuvào các lĩnh vực thương mại , dịch vụ

Quy mô của nguồn vốn này phụ thuộc vào thu nhập của các hộ ,tập quán tiêu dùngcủa dân cư

2.2.1.5 Thị trường vốn

Thị trường chứng khoán là nơi thu gom mọi nguồn vốn của dân cư ,các tổ chứctài chính ,các doanh nghiệp ,chính quyền các cấp

Trang 6

Tuy nhiên ở Việt Nam hịên nay thị trường chứng khoán chưa phát triển vì vậy việc huyđộng từ thị trường chứng khoán rất hạn chế

2.2.2.Nguồn vốn nước ngoài

Nguồn vốn này diễn ra dưới nhiều hình thức, mỗi hình thức có một đặc

điểm riêng, mục tiêu và điều kiện thực hiện riêng Nguồn vốn huy động từ nước ngoàibao gồm vốn đầu tư gián tiếp và vốn đầu từ trực tiếp

2.2.2.1 Vốn đầu tư gián tiếp :

Là vốn của Chính Phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ được thực hiệndưới các hình thức khác nhau, là viện trợ hoàn lại, không hoàn lại, cho vay ưu đãi vớithời hạn dài và lãi suất thấp, kể cả vay theo hình thức thông thường Một hình thức phổbiến của đầu tư gián tiếp tồn tại dưới loại hình ODA- viện trợ phát triển chính thức củacác nước công nghịêp phát triển.Vốn đầu tư gián tiếp thường lớn cho nên có tác dụngmạnh, nhanh đối với việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu phát triển kinh tế

2.2.2.2 Vốn đầu tư trực tiếp (FDI)

Là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài đầu tư sang nước khác và trực tiếpquản lý hoặc tham gia quản lý quá trình sử dụng và thu hồi vốn bỏ ra Vốn này thườngkhông đủ lớn để giải quyết dứt điểm các vấn đề kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư Tuynhiên với nguồn vốn đầu tư trực tiếp, nước nhận đầu tư không phải no trả nợ, lại có thể

dễ dàng có được công nghệ ( do người đầu tư đem vào góp vốn và sử dụng), trong đó có

cả công nghệ cấm xuất theo con đường ngoại thương, vì lý do cạnh tranh hay cấm vậnđối với nước nhận đầu tư ,học tập được kinh nghiệm quản lý, tác phong làm việc theo lốicông nghiệp của nước ngoài, gián tiếp có chỗ đứng trên thị trường thế giới nhanh chóngđược thế giới biết đến thông qua con đường làm ăn với nhà đầu tư, Nước nhận đầu tư trựctiếp phải chia sẻ lợi ích kinh tế do đầu tư đem lại với người đầu tư theo mức độ góp vốncủa họ

3 Những đặc điểm của hoạt động đầu tư

Tiền vốn vật tư lao động cần thiết cho một công cuộc đầu tư thường là rất lớn Thời gian kể từ khi bắt đầu tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi công cuộcđầu tư bắt đầu phát huy tác dụng đem lại lợi ích kinh tế xã hội thường kéo dài

Trang 7

Thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng thường kéo dài và nhiều khi là vĩnhviễn

Các thành quả của hoạt động đầu tư nếu là các công trình xây dựng vật kiến trúcnhư nhà máy, hầm mỏ, các công trình thuỷ lợi hay đường xá Thì sẽ vận động ở ngaynơi mà nó được tạo dựng lên do đó các điều kiện về địa lý, địa hình tại đó có ảnh hưởnglớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như quá trình khai thác các kết quả đầu tư saunày

Với đặc điểm đầu tư kéo dài vốn lớn thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài

do đó hoạt động đầu tư thường chịu mức độ rủi ro cao, do tầm quan trọng của hoạt độngđầu tư, đặc điểm sự phức tạp về mặt kỹ thuật, hậu quả và hiệu quả tài chính, kinh tế xãhội của hoạt động đầu tư đòi hỏi để tiến hành một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bịcẩn thận và nghiêm túc Sự chuẩn bị này được thể hiện ở việc soạn thảo các dự án đầu tư

có nghĩa là mọi công cuộc đầu tư phải được thực hiện theo dự án mới đạt hiệu quả mongmuốn

4 Đầu tư và vai trò của đầu tư trong doanh nghiệp

4.1 Đầu tư trong doanh nghiệp

Để tiến hành các hoạt động kinh doanh cũng như các hoạt động bổ trợ khác, doanhnghiệp cần phải có các cơ sở về vốn, tài sản vật chất, nhân lực Các cơ sở đó có đượcchính là nhờ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp

Đầu tư trong doanh nghiệp là việc doanh nghiệp chi dùng vốn và các nguồn lựckhác trong hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm thu về được kết quả trongtương lai lớn hơn chi phí đã bỏ ra

Nội dung của hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp được xác định dựa trên các đốitượng bao gồm :

*Đầu tư đổi mới, hiện đại hoá máy móc thiết bị, nhà xưởng

Công nghệ có vai trò rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước Nó là chía khoá để nâng cao năng lực cạnht tranh của mọi doanh nghiệp Côngnghệ hiện đại sẽ góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiêuhao nhiên liệu giảm, lao động giảm, quản lý giảm

Trang 8

Đầu tư đổi mới máy móc thiết bị công nghệ là một hình thức đầu tư phát triểnnhằm hiện đại hoá dây chuyền công nghệ, tăng năng lực sản xuất kinh doanh và nâng caokhả năng cạnh tranh của sản phẩm.

*Đầu tư vào nguồn nhân lực

Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển Điều đó nói lên tầmquan trọng số một trong chiến lược đầu tư phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp.Những chiến lược đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý sẽ trở thành giấy trắng nếunhư không có những người tốt thực hiện chúng

Đầu tư vào nhân lực là việc bỏ tiền để tiến hành các hoạt động đào tạo, đào tạo lạicho người lao động nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, giúp họ thực hiện những côngviệc được giao một cách tốt nhất Ngoài công việc đào tạo chuyên môn ra doanh nghiệpcòn phải thực hiện các công việc đầu tư nhằm cải thiện môi trường, điều kiện làm việccho người lao động, đồng thời tiến hành các hoạt động hỗ trợ, trợ cấp cho người laođộng Ngoài ra có thể cử lao động sang nước ngoài học tập để nâng cao trình độ chuyênmôn cho họ

Cùng với việc đào tạo và đào tạo lại cho người lao động thì doanh nghiệp phảithường xuyên tiến hành các biện pháp tinh giảm lao động Có như vậy doanhnghiệp mới có khả năng nâng cao sức cạnh tranh và đứng vững trên thị trường

*Đầu tư vào dự trữ

Đối với mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì trong mọi công cuộc đầu

tư không thể thiếu việc đầu tư cho hàng dự trữ Đây là việc bỏ tiền để đầu tư xây dựngnhà xưởng cùng với việc mua hàng hoá để dự trữ khi cần thiết tức là khi hàng hoá trên thịtrường có giá tăng cao khi đó doanh nghiệp sẽ tiến hành bán hàng hoá đó và lúc đó doanhnghiệp sẽ có được lợi nhuận cao đồng thời doanh nghiệp có thể giữ được thị phần củamình cũng như giữ được khách hàng của mình

*Đầu tư vào tài sản vô hình

Có thể nói đối với mỗi doanh nghiệp ngoài những tài sản hữu hình chúng có thểmang lại những khoản lợi nhuận trực tiếp cho doanh nghiệp thì có thể nói có một thứ tàisản cũng góp một phần không nhỏ giúp cho doanh nghiệp có thể kiếm được rất nhiều lợinhuận đó là tài sản vô hình Tài sản vô hình đó chính là thương hiệu sản phẩm của doanh

Trang 9

nghiệp, là uy tín của doanh nghiệp , là mẫu mã hàng hoá, là bí quyết công nghệ và nhữngkinh nghiệp quản lý Mà những thứ này không thể ngẫu nhiên mà có và nó cũng phảiđược đầu tư một cách thích đáng như những hiện vật hữu hình khác nếu các doanhnghiệp biết quan tâm đúng mức cho đầu tư vào tài sản vô hình thì không những doanhnghiệp sẽ có được lợi nhuận lớn mà khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng khôngngừng được nâng cao trên thị trường.

Tất cả các nội dung trên đều hết sức quan trọng và chúng có mối liên hệ tác độngqua lại lẫn nhau Chẳng hạn đầu tư đổi mới máy móc thiết bị thì cùng với nó là việc đầu

tư phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu sử dụng, vận hành các quy trình côngnghệ đó một cách có hiệu quả, phát huy tối đa những tính năng ưu việt của máy móc thiết

bị đó

4.2 Vai trò của đầu tư trong doanh nghiệp

Đầu tư có vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp ,nó quyết định sự ra đời ,tồntại và phát triển của doanh nghiệp Có thể khái quát lại một số vai trò của đầu tư trongdoanh nghiệp như sau

Đầu tư tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là nguồn lực để doanh nghiệp tiếp tục dấnbước trên con đường hội nhập kinh tế Các chính sách đầu tư cho sản phẩm ,đầu tư chođổi mới máy móc thiết bị là những nhân tố quan trọng đi đầu để thúc đẩy tăng khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp

Đầu tư tạo điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ Để có được sản phẩmdịch vụ có chất lượng ngày càng cao hoặc ngày càng đổi mới hàm lượng công nghệ trongsản phẩm, phải có sự đầu tư chi dùng vốn cho việc nghiên cứu sáng tạo ra các sản phẩm

có chất lượng ngày càng cao hơn để đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người

Đầu tư góp phần đổi mới công nghệ, trình độ khoa học kỹ thuật trong sản xuất.Nhờ có đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ, con người sẽ không phải làm nhữngcông việc nặng nhọc, nguy hiểm Tỷ trọng lao động giản đơn giảm dần thay vào đó là laođộng phức tạp, lao động mang nhiều yếu tố chất xám Từ đó nâng cao năng xuất laođộng, hạ giá thành hàng hoá sản phẩm

Trang 10

Đầu tư góp phần nâng cao chất lượng nguôn lực,nhờ có đầu tư phát triển trongdoanh nghiệp, nguồn lao động ngày càng được nâng cao trình độ tay nghề, phương phápquản lý để phù hợp với trình độ đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ.

5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp:

Trong doanh nghiệp để tiến hành một hoạt động đầu tư, thông thường người ta căn

cứ vào nhiều yếu tố khác nhau, cụ thể bao gồm các yếu tố sau:

Tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư, tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư hay còn gọi là lợinhuận thuần thu được từ hoạt động đầu tư Đầu tư và lợi nhuận thuần thu được từ hoạtđộng đầu tư có mối quan hệ đồng biến, các nhà đầu tư sẽ gia tăng quy mô đầu tư nếu nhưlợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tăng và ngược lại, nếu lợi nhuận thu được giảm

6 Đánh giá kết quả và hiệu quả đầu tư ở doanh nghiệp

6.1 Kết quả của hoạt động đầu tư

Kết quả của hoạt động đầu tư được thể hiện ở khối lượng vốn đầu tư đã thựchiện ,ở tài sản cố định được huy động hoặc năng lực sản xuất kinhdoanh phục vụ tăngthêm ,

6.1.1 Khái niệm vốn đầu tư thực hiện

Khối lượng vốn đầu tư thực hiện là tổng số tiền đã chi để tiến hành các hoạt động của cáccông cuộc đầu tư bao gồm các chi phí cho công tác xây lắp, chi phí cho công tác mua sắmmáy móc thiết bị và các chi phí khác theo quy định của thiết kế dự toán và được ghi trong

dự án được duyệt

6.1.2 Phương pháp tính khối lượng vốn đầu tư thực hiện

I= Qxi Pxi m Qli Pli Cin W VAT

Qxi :Khối lượng công tác xây dựng hoàn thành thứ i

Qli :Khối lượng công tác lắp đặt máy móc thiết bị đã hoàn thành thứ i

Pxi :Đơn giá tính cho một đơn vị khối lượng của công tác xây dựng đã hoànthành thứ i

Pli :Đơn giá tính cho một đơn vị khối lượng công tác lắp đặt máy móc thiết bị

đã hoàn thành

Cin :Chi phí chung được tính theo tỷ lệ %so với chi phí nhân công trong dựtoán xây lắp, khoản chi phí này được quy định theo từng loại công trình

Trang 11

W :Lãi định mức được tính theo tỷ lệ % so với gia thành công tác xây dựng doNhà nước quy định cho từng loại công trình

VAT : thuế giá trị gia tăng

6.1.3 Khái niệm tài sản cố định huy động

Tài sản cố định huy động là công trình hoặc hạng mục công trình đối tượng củaxây dựng có thể phát huy tác dụng một cách độc lập (nghĩa là làm ra sản phẩm hoặc tiếnhành các hoạt động dịch vụ cho xã hội được ghi trong kế hoạch đầu tư) và đến giờ đã kếtthúc quá trình xây dựng mua sắm và đã làm xong thủ tục nghiệm thu, sử dụng và có thểđưa vào hoạt động được ngay

6.1.4 Phương pháp tính :

F=Ivb + Ivr - C - Ive

F :Giá trị tài sản cố định được huy động trong kỳ

Ivb :Lượng vốn đầu tư được thực hiện ở các kỳ trước nhưng chưa được huyđộng và phải chuyển sang kỳ nghiên cứu (xây dựng dở dang đầu kỳ

Ive :Vốn đầu tư được thực hiện ở trong kỳ nghiên cứu nhưng chưa được huyđộng và phải chuyển sang kỳ sau (xây dựng dở dang cuối kỳ )

C :Chi phí trong kỳ và không làm tăng giá trị tài sản cố định

Ivr :Vốn đầu tư thực hiện trong kỳ

*Một số chỉ tiêu khác

Chỉ tiêu hệ số huy động tài sản cố định

Hệ số huy động TSCĐ = Ivb F Ivr

Hệ số này nó phản ánh trên một tổng vốn lớn có bao nhiêu %vốn đầu tư hình thành lêntài sản cố định Hệ số này càng lớn càng tốt có nghĩa là tình trạng tràn lan trong thực hiệnđầu tư được khắc phục, tình trạng ứ đọng vốn càng ít, vốn bắt đầu phát huy tác dụng, chỉtiêu này luôn nhỏ hơn 1

Chỉ tiêu về tình trạng thi công

ive= Ivr Iveive :là mức vốn đầu tư thực hiện chưa được huy động ở cuối kỳ so với toàn bộvốn đầu tư thực hiện trong kỳ chỉ tiêu này càng nhỏ càng tốt chứng tỏ việc thi công dứtđiểm

Trang 12

6.2 Hiệu quả đầu tư

6.2.1 Hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp

Hiệu quả tài chính (Etc) của hoạt động đầu tư là mức độ đáp ứng nhu cầu pháttriển hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống của người lao động trong các

cơ sở sản xuất ,kinh doanh dịch vụ trên cơ sở số vốn đầu tư mà cơ sở đã sử dụng so vớicác kỳ khác, các cơ sở khác hoặc so với định mức chung Chúng ta có thể biểu diễn kháiniệm này thông qua công thức sau :

Các kết quả mà cơ sở thu được

do thực hiện đầu tư

Etc =

Số vốn đầu tư mà cơ sở đã thực hiện

để tạo ra các kết quả trên

Etc được coi là có hiệu quả khi Etc  Etc0

 Chỉ tiêu giá trị sản xuất tăng thêm trên tổng vốn đầu tư (GTSXTT/VĐT)

Chỉ tiêu này phản ánh giá trị sản xuất tăng thêm trên 1 đơn vị vốn đầu tư Chỉ tiêu nàycàng lớn càng tốt, chứng tỏ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp có hiệu quả

GTSXi : Là giá trị sản xuất năm i

GTSXi-1: Là giá trị sản xuất năm i-1

VĐTi : Là vốn đầu tư năm i

Trang 13

 Chỉ tiêu lợi nhuận tăng thêm trên tổng vốn đầu tư (LNTT/VĐT).

Chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận tăng thêm trên 1 đơn vị vốn đầu tư có nghĩa là với 1 đơn

vị vốn đầu tư có thẻ tạo ra bao nhiêu đơn vị lợi nhuận tăng thêm Chỉ tiêu này càng lớncàng tốt, nó cũng phản ánh được hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp

LNi : Là lợi nhuận năm i

LNi-1 : Là lợi nhuận năm i-1

Tuy nhiên để tính hiệu quả của hoạt động đầu tư của doanh nghiệp ta không thể tính chỉmột trong các chỉ tiêu đó mà phải tính tất cả các chỉ tiêu đó để từ đó có những nhận xétkhách quan hơn về hiệu quả của hoạt động đầu tư

6.2.2 Hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp:

Hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động đầu tư là chênh lệch giữa các lợi ích mà nền kinh

tế và xã hội thu được với các chi phí mà nền kinh té xã hội bỏ ra khi thực hiện đầu tư

Xuất phát từ góc độ doanh nghiệp, lợi ích kinh tế xã hội của hoạt động đầu tưđược thể hiện qua các chỉ tiêu sau :

 Chỉ tiêu nộp ngân sách tăng thêm /vốn đầu tư

Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt chứng tỏ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp cóhiệu quả và doanh nghiệp đã thực hiện ngày một tốt hơn nghĩa vụ đối vơí Nhà nước đóchính là mức đóng góp vào ngân sách Nhà nước

NNSi-1: Là mức nộp ngân sách năm i-1

*Số chỗ làm việc tăng lên /Vốn đầu tư

Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, chứng tỏ doanh nghiệp đã góp phần vào việc tạocông ăn việc làm cho người lao động.Chỉ tiêu này cũng phản ánh số chỗ làm việc tăng

Trang 14

thêm trên một đơn vị vốn đầu tư tức là với một đơn vị vốn đầu tư kỳ này sẽ tạo ra baonhiêu chỗ việc làm tăng thêm.

*Số ngoại tệ thu được tăng thêm/VĐT

*Mức tăng năng suất lao động sau khi đầu tư so với trước khi đầu tư

*Mức nâng cao trình độ nghề nghiệp của người lao động

*Tạo thị trường mới và mức độ chiếm lĩnh thị trường do tiến hành đầu tư

*Nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất

*Nâng cao trình độ quản lý của lao động quản lý

*Các tác động đến môi trường

*Các tác động khác

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH

1 Khái niêm về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh

Có thể nói cạnh tranh chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường Ngày nay có lẽkhông ai còn nghi ngờ về sự phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường ở nước ta vì vậycạnh tranh đã được nhìn nhận như là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế Cạnh tranhcũng chỉ diễn ra khi được pháp luật thừa nhận và bảo hộ tính đa dạng của các loại hình sởhữu, khi có tự do hoá thương mại và theo đó là tự do kinh doanh và quyền tự chủ của các

cá nhân được thừa nhận và bảo đảm Cạnh tranh chỉ xuất hiện khi không có độc quyềndưới bất kỳ hình thức nào Tất cả những tiền đề đó đã hình thành ở nước ta từ khi chuyểnsang cơ chế thị trường và từ khi đảng và Nhà nước ta chủ trương thúc đẩy kinh tế pháttriển

Có thể có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, song nhìn chung cạnh tranh

là sự ganh đua hay chạy đua giữa các thành viên trong một thị trường hàng hoá, sản phẩm

cụ thể nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng ,thì trường và thịphần của một thị trường Như vậy về phương diện kinh tế, cạnh tranh được hình thànhtrên cơ sở của tiền đề đó là có sự hiện diện của các thành viên, có cuộc chạy đua vì mụctiêu kinh tế giữa các thành viên và chúng đều diễn ra trên cùng một thị trường hàng hoá

cụ thể

Trang 15

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể duy trì

vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận thấpnhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp

Khả năng cạnh tranh được các nhà kinh tế học diễn đạt theo nhiều quan điể khácnhau:

Theo Fafchams: Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng doạnhnghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của

nó trên thị trường.Theo cách hiểu này, doạnh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sảnphẩm có chất lượng tương tự doanh nghiệp khác nhưng chi phí thấp hơn được coi là khảnăng cạnh tranh cao hơn

Theo Randall: Khả năng cạnh tranh là khả năng dành được và duy trì được thịphần trên thị trường khác mà không phân biệt nơi bố trí sản xuất của doanh nghiệp đó

Nhìn chung các khái niệm về cạnh tranh của các nhà kinh tế học tuy được diễn đạtkhác nhau, song đều có chung hai khía cạnh là khả năng chiếm lĩnh thị trường và lợinhuận

Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây cũng là cuộc cạnh tranh gau goquyết liệt nhất để dành lấy khách hàng về phía mình Cuộc cạnh tranh này sẽ quyết địnhdoanh nghiệp nào tồn tại và doanh nghiệp nào sẽ bị đào thải khỏi thị trường Chính vì lẽ

đó tất cả các doanh nghiệp đều muốn dành giật lợi thế cạnh tranh về phía mình Để làmđược điều này mỗi doanh nghiệp cần phải lỗ lực phấn đấu, tìm ra hướng đi riêng chomình

Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường người ta chia cạnh tranh ra các loạihình sau

Trang 16

Cạnh tranh hoàn hảo: Là loại hình cạnh tranh trong đó có nhiều người mua vàngười bán độc lập với nhau Tất cả các đơn vị hàng hoá trao đổi coi là giống nhau Cácdoanh nghiệp tham gia trên thị trường này chủ yếu tìm biện pháp cắt giảm chi phí sảnxuất sản phẩm để hưởng lợi nhuận từ chênh lệch giá đầu vào.

Cạnh tranh không hoàn hảo: Là cạnh tranh trên thị trường mà phần lớn các sảnphẩm là không đồng nhất với nhau Người bán có thể ấn định giá linh hoạt theo khu vựcbán sản phẩm, khách hàng và mức lợi nhuận mong muốn

Tóm lại, cạnh tranh là cuộc chạy đua quyết liệt giữa các chủ thể hoạt động trongthị trường nhằm giành giật những điều kiện sản xuất và tiêu thụ hàng hoá có lợi nhất vềphía mình.Cạnh tranh được coi là động lực của quá trình phát triển

Cạnh tranh luôn có mục tiêu lâu dài là thu hút về phía mình ngày càng nhiềukhách hàng nên buộc các nhà sản xuất công nghiệp, dịch vụ ngày càng phải tạo ra nhữngsản phẩm có chất lượng tốt hơn và giá thành phải hạ thấp Vì vậy, cạnh tranh là cơ hộicho doanh nghiệp cải tiến, đổi mới máy móc thiết bị, áp dụng những cộng nghệ mới vàotrong sản xuất do vậy cạnh tranh là nguồn gốc, là động lực cho sự phát triển khoa học kỹthuật và công nghệ cao

3 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp do nhiều yếu tố hình thành nên, các yếu tố

đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một thể thống nhất giúp doanh nghiệp cóthế đứng vững chắc trước những biến động của thị trường, trước sự cạnh tranh gay gắtdành giật khách hàng về phía mình của các đổi thủ cạnh tranh Các yếu tố góp phần tạolên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm

 Tình hình sản xuất và năng lực sản xuất

 Tình hình phân phối và tiêu thụ sản phẩm

 Trình độ công nghệ và trang thiết bị

 Trình độ cán bộ quản lý và lao động

 Khả năng quảng cáo và tiếp thị sản phẩm

Tình hình sản xuất và năng lực sản xuất

Với một doanh nghiệp ta không thể khẳng định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

đó cao khi mà tình hình sản xuất và năng lực sản xuất của doanh nghiệp thấp kém Nănglực sản xuất của doanh nghiệp phản ánh quy mô sản xuất của doanh nghiệp đó là lớn hay

Trang 17

nhỏ, mức độ hiện đại ra sao Với một doanh nghiệp bất kỳ khi mà năng lực sản xuất thấpthì có thể nói khả năng đứng vững trên thị trường của doanh nghiệp đó là rất khó khăn.Tình hình sản xuất của doanh nghiệp nó cũng phản ánh được tốc độ tăng trưởng trongquá trình sản xuất, đồng thời nó cũng phản ánh được quy mô sản xuất mở rộng hay thuhẹp, năng suất lao động tăng nhanh hay chậm.

Tình hình phân phối và tiêu thụ sản phẩm

Khi mà sản phảm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ một cách dễ dàng, đồng thời sản phẩmđược phân bố một cách tốt nhất, khách hàng ưa chuộng sản phẩm và như vậy sản phẩm

có thế đứng vững chắc trên thị trường, thị phần của doanh nghiệp ngày càng tăng Nhờviệc bán được nhiều hàng doanh nghiệp có thể tối đa hoá lợi nhuận

Ngược lại nếu như doanh nghiệp không bán được sản phẩm tức là sản phẩm của doanhnghiệp không có khả năng cạnh tranh khi đó thị phần của doanh nghiệp sẽ bị mất dầnvàdành chỗ cho các đối thủ cạnh tranh Sản phẩm của doanh nghiệp đến một lúc nào đócũng sẽ bị giệt vong và doanh nghiệp khó có thể tồn tại Điều đó cho thấy, việc phân phốisản phẩm đối với một doanh nghiệp là hết sức quan trọng nó là chìa khoá để doanhnghiệp nên mở rộng hay thu hẹp sản xuất đồng thời là một nhân tố quan trọng ảnh hưởngđến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trình độ công nghệ và trang thiết bị

Có thể nói đây là một nhân tố quan trọng bậc nhất trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp

Công nghệ mới hiện đại sẽ tạo ra sản phẩm mới có chất lượng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn,giá thành sản phẩm thấp, sức cạnh tranh cao

Ngược lại công nghệ lạc hậu không những tiêu hao nhiều nguyên nhiên liệu mà còn cóthể gây ô nhiễm môi trường, chi phí sản xuất lớn sản phẩm không có tính cạnh tranh,khách hàng khó chấp nhận sản phẩm Khi đó sản phẩm rất khó tiêu thụ, khả năng cạnhtranh của sản phẩm giảm, do vậy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng sẽ giảm.Mặt khác công nghệ tiên tiến hiện đại sẽ tạo ra năng suất lao động tăng, lao động ít dovậy chi phí đầu vào giảm

Ngày nay khi mà khoa học công nghệ phát triển thì hàm lượng chất xám trong sản phẩmcũng ngày một tăng lên do vậy doanh nghiệp nếu không có chiến lược đầu tư một cáchhợp lý cho máy móc thiết bị công nghệ thì doanh nghiệp không thể nâng cao năng lực

Trang 18

cạnh tranh của mình do vậy doanh nghiệp khó có thể phát triển được Như vậy trình độcông nghệ có thể nói là nhân tố trung tâm tạo lên năng lực cạnh tranh cho mỗi doanhnghiệp.

Trình độ cán bộ quản lý và lao động

Nếu như máy móc thiết bị, công nghệ là nhân tố trung tâm tạo nên năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp thì con người lại có một vai trò càng quan trọng để nâng cao năng lựccạnh tranh cho doanh nghiệp Mọi máy móc thiết bị công nghệ dù có hiện đại đến mứcnào đi chăng nữa, nếu như không có sự tham gia của con người thì công nghệ, máy mócthiết bị đó cũng trở thành giấy trắng

Con người tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý sản xuất và trực tiếp tạo ra của cải vậtchất Quá trình sản xuất muốn phát triển, quy mô sản xuất muốn mở rộng thì phải cónhững cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn cao, có đội ngũ lao động có tay nghề tốt

Do tầm quan trọng đó ngày nay các doanh nghiệp đều rất quan tâm đến vấn đề đào tạo,đào tạo laị cho người lao động nhằm giúp họ nâng cao trình độ chuyên môn để có thể sửdụng một cách tốt nhất các thiết bị công nghệ hiện đại, đồng thời nâng cao trình độ quản

lý đó cũng là nhân tố quan trọng để doanh nghiệp có thể nâng cao năng lực cạnh tranhcủa mình

Khả năng quảng cáo và tiếp thị sản phẩm

Sản phẩm muốn tiêu thụ tốt thì sản phẩm đó phải được thông báo, giới thiệu cho kháchhàng được biết Phải làm như thế nào để khi mà khách hàng mới tiếp xúc với sản phẩm

đã cảm nhận được hình ảnh cuả doanh nghiệp, đã thích thú với sản phẩm đó, cảm thấyyên tâm về sản phẩm và ra quyết định mua sản phẩm đó Muốn như vậy không nhữngchiến lược quảng cáo sản phẩm phải tốt mà còn phải độc đáo, khác biệt với các doanhnghiệp khác

Mặt khác, sản phẩm muốn tiêu thụ được đồng thời tiêu thụ trong thời gian dài thì doanhnghiệp cần phải có những chế độ tiếp thị sản phẩm, khuyến mãi để tạo ra những lợi íchcho người tiêu dùng bởi lợi ích cho người tiêu dùng cũng sẽ là lợi ích của doanh nghiệp.Khi mà người tiêu dùng ưa chuộng sản phẩm của doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ làm

ăn có lãi và có hiệu quả hơn, sản phẩm có vị thế trên thị trường và doanh nghiệp ngàycàng chiếm lĩnh được thị trường, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ không ngừngđược nâng cao

Trang 19

Như vậy có thể nói với mỗi doanh nghiệp muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của mìnhtrên thị trường thì doanh nghiệp không chỉ quan tâm đầu tư đến một trong những yếu tốtrên mà phải biết quan tâm đâu tư đúng mức tất cả các yếu tố đó bởi chúng có mối quan

hệ chặt chẽ, có như vậy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mới thực sự vững mạnhtrên thị trường

III ĐẦU TƯ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1 Đầu tư vào tài sản cố định ,đổi mới máy móc thiết bị ,công nghệ

Công nghệ là tập hợp các công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực sản xuấtthành sản phẩm nhằm mục đích sinh lời Công nghệ gồm hai phần là phần cứng và phầnmềm Phần cứng của công nghệ là máy móc thiết bị, công cụ, dụng cụ Phần mềm củacông nghệ là kỹ năng, bí quyết công nghệ, kinh nghiệm quản lý Đầu tư đổi mới máy mócthiết bị công nghệ là một hình thức của đầu tư phát triển nhằm hiện đại hoá dây chuyệncông nghệ và trang thiết bị công nghệ, tăng năng lực sản xuất kinh doanh cũng như khảnăng cạnh tranh của sản phẩm Để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng và phongphú của khách hàng và đối phó với các đối thủ cạnh tranh tạo chỗ đứng vững chắc trênthị trường, doanh nghiệp cân phải quan tâm đổi mới máy móc thiết bị công ngệ, tăngnăng suất lao động

Khi đầu tư đổi mới máy móc thiết bị các doanh nghiệp cần phải quan phân tíchthực trạng của doanh nghiệp cũng như phân tích các yếu tố liên quan đến máy móc thiết

bị

Các yếu tố trong nội bộ doanh nghiệp ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn côngnghệ đó là khả năng tài chính của doanh nghiệp, quy mô vốn có thể huy động và đặcđiểm kinh tế kỹ thuật đặc thù của ngành Một nhân tố nữa cũng rất quan trọng cần phảixem xét là trình độ của đội ngũ lãnh đạo, nhất là năng lực lãnh đạo, kỹ thuật và trình độnghề nghiệp cuả công nhân trực tiếp sản xuất

2 Đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là một nhân tố hết sức quan trọng để có thể nâng cao khảnăng canh tranh của doanh nghiệp Chất lượng sản phẩm đảm bảo, đạt tiêu chuẩn quyđịnh thì khách hàng sẽ ưa chuộng hơn Đặc biệt là khi nền kinh tế phát triển như hiện naythì yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm sẽ cao hơn buộc các doanh nghiệp phải tìmcách nâng cao chất lượng hàng hoá sản phẩm của mình Chẳng hạn tăng cường đầu tư

Trang 20

chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị công nghệ để tăng hàm lượng chất sám trong sảnphẩm, thực hiện đo lường, kiểm tra các tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm trước khi xuấtxưởng Do vậy có thể nói đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm là một công việc rất quantrọng đối với mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường.

3 Đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Trong thời đại ngày nay, trí tuệ, tri thức đã trở thành yếu tố bao chùm quyết địnhtính chất, đặc trưng của thời đại và ảnh hưởng to lớn đến sự phát triền của tất cả các quốcgia Quốc gia nào nắm được nhiều tri thức, quốc gia đó sẽ ở vị trí chi phối nền kinh tếtoàn cầu ,khu vực nào hội tụđược nhiều tri thức nhất khu vực đó sẽ trở thành trung tâmcủa nền kinh tế thế giới Chính điều này đã tạo ra những thời cơ, những vận hội lớn chobất kỳ quốc gia nào biết đầu tư có hiệu quả làm tăng nhanh chất lượng của nguồn lực conngười trong quá trình cạnh tranh Bên cạnh đó nó cũng đặt ra những thách thức mới,những nguy cơ tụt hậu, lạc hậu ngày càng xađối với các quốc gia đang trên đà phát triển

Việt Nam đang ở vào giai đoạn đẩy mạnh phát triển công nghiêp hoá hiện đại hoáđất nước Chính vì thế nhân tố con người ngày càng được coi trọng hơn bao giờ hết Đầu

tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một đòi hỏi khách quan và vô cùng cấp báchtrong giai đoạn hiện nay

4 Đầu tư cho công tác tiếp thị bán hàng

Hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường không thể thiếu các hoạt độngmarketing Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải nắm vững những kiếnthức và kỹ năng của hoạt động marketing Đó là marketing mix Nó bao gồm chiến lượcsản phẩm, chiến lược phân phối, chiến lược giá cả và chiến lược chiêu thị Trong đóchiến lược chiêu thị là rất quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến quyết định mua hàng củangười tiêu dùng Hoạt động chiêu thị bao gồm 4 yếu tố :quảng cáo, bán hàng trực tiếp,khuyến mãi và quan hệ công chúng Mỗi yếu tố đều có những vai trò đặc trưng riêngnhưng chúng luôn luôn kết hợp lại trong một lỗ lực nhằm thông báo cho người tiêu dùng

về sự có mặt của những sản phẩm và nhắc nhở họ tiêu dùng những sản phẩm đó Mộtchiến lược chiêu thị thích hợp bao giờ cũng mang lại cho doanh nghiệp những thuận lợi

cơ bản giúp gia tăng doanh số, sự ưa thích và trung thành với nhãn hiệu

Xuất phát từ vai trò quan trọng đó, đầu tư cho hoạt động chiêu thị (quảng caó, bánhàng, khuyến mãi ) là hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp trong thời đại kinh tế

Trang 21

thị trường hiện nay Quan tâm đầu tư đúng mức, có trọng tâm cho công tác này là cách đểdoanh nghiệp có vị thế cạnh tranh hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác trền cùng một

IV SỰ CẦN THIẾT ĐẦU TƯ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦANGÀNH THÉP VIỆT NAM

1 Quá trình phát triển của ngành thếp Việt Nam

Ngành sản xuất thép ở Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm xâydựng từ rất sớm Ngay sau khi hoà bình lặp lại trên miền Bắc, Đảng và Chính phủ đãquyết định xây dựng khu liên hiệp gang thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúp đỡ vàonăm 1959 và đã cho ra đời mẻ gang đầu tiên năm 1963

Năm 1973, nhà máy luyện và cán thép Gia Sàng công suất 30.000 tấn/ năm doCHDC Đức giúp đỡ đã ra đời, góp phần bổ xung, hoàn thiện dây chuyền luyện và cán,đảm bảo công suất thiết kế 10 vạn tấn/năm cho cả khu liên hiệp gang thép Thái Nguyên

Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 công ty luyện kim đen Miền Nam đượcthành lập trên cơ sở tiếp quản các nhà máy luyện cán thép mini của chế độ cũ ở thành phốHCM và Biên Hoà, với tổng công suất cán 80.000 tấn thép cán/năm

Từ năm 1976 đến năm 1989, ngành thép gặp rất nhiều khó khăn do kinh tế đấtnước lâm vào khủng hoảng Mặt khác nguồn thép nhập khẩu từ Liên Xô và các nướcXHCN vẫn còn dồi dào, vì vậy ngành thép chỉ duy trì mức sản lượng 40.000-85.000tấn/năm

Từ năm 1989 –1995, thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, ngành thép đã đượckhắc phục khó khăn và bắt đầu tăng trưởng mạnh, sản lượng thép trong nước đã vượtngưỡng 100.000 tấn/năm Năm 1990, Liên Xô và khối SEV tan rã, nguồn cung ứng thépcho Việt Nam bị cắt giảm cũng là nhân tố quan trọng thúc đẩy ngành thép phải phát triểnmạnh để bù sự thiếu hụt Năm 1990, Tổng công ty thép Việt Nam thuộc Bộ công nghiệpnặng được thành lập, thống nhất quản lý ngành sản xuất thép quốc doanh trong cả nước.Đây là thời kỳ phát triển sôi động, nhiều dự án đầu tư theo chiều sâu và liên doanh vớinước ngoài được thực hiện Các ngành và các thành phần kinh tế khác đua nhau sản xuấtthép mini Sản lượng thép cán năm 1995 đã tăng gấp 4 lần năm 1990, đạt 450.000tấn/năm

Trang 22

Tháng 4 năm 1995, Tổng công ty Thép Việt Nam theo mô hình Tổng công ty 91được thành lập trên cơ sở hợp nhất Tổng công ty thép Việt Nam thuộc Bộ công nghiệp vàtổng công ty kim khí thuộc Bộ thương mại.

Thời kỳ từ năm 1996 đến 2002, ngành Thép vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng khácao.Tiếp tục đầu tư đổi mới và đầu tư chiều sâu mạnh mẽ Đã hình thành và đưa vào hoạtđộng 13 dự án liên doanh, trong đó có 12 nhà máy liên doanh cán thép và gia công chếbiến sau cán Sản lượng thép cả nước năm 1999 đạt 1,4 triệu tấn/năm gấp hơn 3 lần năm

1995 và gấp 14 lần năm 1990

Có thể nhận thấy rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hơn 40 năm qua ngành thépViệt Nam đã không ngừng phát triển, góp phần đáng kể vào sự nghiệp giải phóng đấtnước và xây dựng XHCH Quá trình xây dựng sản xuất và phát triển lâu dài của ngànhthép Việt Nam đã đào tạo được một đội ngũ công nhân, cán bộ lành nghề, giàu kinhnghiệm Đây là vốn quý của ngành Thép, là nhân tố quan trọng trong sự phát triển củangành thép Việt Nam Bước sang thời kỳ mới, thực hiện chủ trương CNH-HĐH đất nướccủa Đảng và tham gia hội nhập quốc tế, ngành thép Việt Nam cần được phát triển mạnh

mẽ hơn để tương xứng với vị trí và vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân

Về cơ cấu sản xuất trong nghành thép hiện nay

Hiện nay ngành thép Việt Nam mới chỉ sản xuất các loại sản phẩm dài phục vụchủ yếu trong ngành xây dựng (thép tròn trơn, tròn vằn dạng thanh dài  10ữ40 mm,thép cuộn dây 6-10 và thép hình cỡ nhỏ và cỡ vừa) và gia công sản xuất ống hàn, tôn

mạ, hình uốn nguội, cắt xẻ từ sản phẩm dẹt nhập khẩu Các sản phẩm dài sản xuất trongnước cũng phần lớn được cán từ phôi thép nhập khẩu Khả năng tự sản xuất phôi théptrong nước còn nhỏ bé, chỉ đáp ứng được khoảng 25%, còn lại 75% nhu cầu phôi thépcho các nhà máy phải nhập từ bên ngoài Trong nước chưa có các nhà máy cán sản phẩmdẹp (tấm, lá cán nóng, cán nguội)

Phôi thép và thép cán sản xuất trong nước có chất lượng thông thường và còn phụthuộc vào chất lượng phôi thép nhập khẩu Khả năng xuất khẩu còn hạn chế mà sản phẩmchủ yếu được tiêu thụ trong nước và thay thế nhập khẩu Chưa có cơ sở tập trung sản xuấtthép đặc biệt phục vụ chế tạo cơ khí Hiện nay chỉ sản xuất một số loại thép đặc biệt vớiquy mô nhỏ ở một số nhà máy cơ khí và nhà máy thép của Tổng công ty Thép Việt Nam

Trang 23

Nhìn chung trong thời gian qua, do hạn chế vốn đầu tư và do thị trường trong nươccòn nhỏ bé, ngành thép Việt Nam mới chỉ đầu tư tập trung vào các sản phẩm dài để đápứng nhu cầu cấp bách trong nước Đây là các sản phẩm có thuận lợi về thị trường, cầnvốn đầu tư ít, thời gian xây dựng nhà máy ngắn, hiệu quả đầu tư khá cao thu hút đượcnhiều đối tác nước ngoài bỏ vốn kinh doanh Đối với các sản phẩm thép dẹt do nhu cầucòn thấp trong khi đó để đảm bảo hiệu quả thì công suất của nhà máy phải đủ lớn, vốnđầu tư lớn cho nên ít hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài tham gia liên doanh mà bản thânngành thép chưa đẻ sức đầu tư Do vậy nhìn chung cơ cấu sản xuất của ngành thép hiệnnay là thiếu đồng bộ, mất cân đối giữa sản xuất phôi với cán thép, giữa cơ cấu mặt hàng

và cơ cấu chất lượng sản phẩm Vì vậy trong thời gian tới ngành thép cần phải có nhữngchiến lược đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu để hiện đại hoá nâng cao năngsuất và chất lượng sản phẩm tăng cường sức cạnh tranh, giảm dần và tiến tới khắc phục

sự mất cân đối trong cơ cấu sản xuất hiện nay

2 Vai trò đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các doanh nghiệp

Toàn cầu hoá đang là một xu thế phát triển chủ yếu của nền kinh tế thế giới trongthời kỳ mới

Quá trình khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra nhanh chóng, trong đó cácquốc gia trên thế giới đều đang tích cực đan xen và phối hợp chính sách kinh tế theohướng mở cửa, giảm và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan và phi thuế quannhằm tạo điều kiện và tiến tới tự do hóa thương mại, hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, tự do hoátài chính tiền tệ, vốn và lao động Nền kinh tế các nước đang tiến tới nền kinh tế toàn cầutrên cơ sở phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ và vai trò thenchốt trong các hoạt động kinh tế quốc tế của các công ty xuyên quốc gia (TNC)

Áp lực từ phía khách hàng

Trong nền kinh tế thị trường với sự phát triển phong phú và đa dạng của các mặthàng, của nhiều hãng thì khách hàng sẽ có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn Họ có thể muasản phẩm nào hợp thị hiếu, vừa túi tiền và chất lượng sản phẩm ở bất kỳ nhà sản xuấtnào Đó cũng chính là một vấn đề thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnhtranh, kéo được khách hàng đến với sản phẩm của mình bằng mọi hình thức để tiêu thụnhanh sản phẩm tránh ứ đọng vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn Do có quyền chọn trongtay, yêu cầu của khách hàng đối với sản phẩm ngày càng cao và chi tiết hơn về chất

Trang 24

lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ, phương thức thanh toán Xu hướng này là một bấtlợi đối với các doanh nghiệp nhưng cũng là các yếu tố buộc các doanh nghiệp phải cóchiến lược cạnh tranh phù hợp và phát triển sản xuất

Đe doạ của các sản phẩm thay thế

Sản phẩm thay thế là sản phẩm có tính năng và công dụng tương tự các sản phẩmcủa doanh nghiệp Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ như ngàynay, các sản phẩm được sản xuất ra luôn được cải tiến Một sản phẩm có thể đáp ứngđược nhiều mục đích tiêu dùng khác nhau của người mua Chính vì thế, mức độ tham giavào thị trường của các sản phẩm thay thế là rất lớn Đứng trước sản phẩm của doanhnghiệp có mức giá cao và các sản phẩm khác có tiện ích tương tự nhưng gía rẻ hơn,người tiêu dùng chắc chắn sẽ không lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp mà sẽ ưu tiêncho sản phẩm có khả năng thay thế kia Chính sự xuất hiện của xu thế này đã đòi hỏi cácdoanh nghiệp muốn có được khách hàng hay nói cách khác muốn tiêu thụ được sản phẩmhàng hoá, dịch vụ thì phải bằng mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mình

Đe doạ của người nhập cuộc

Khi mà nền kinh té ngày càng phát triển, mọi tổ chức các nhân đều có thể dễ dànggia nhập thị trường của ngành Mặt khác sự tự do hoá không chỉ diễn ra trong nước màcòn mở rộng trên toàn thế giới Hàng hoá một nước có thể tự do ra vào nước khác Sức épcủa các đối thủ mới gia nhập (trong nước cũng như ngoài nước)

Với những lợi thế từ thiết bị công nghệ đến phương pháp quản lý tiên tiến hiệu quả sẽkhông chỉ gây bất lợi đối với doanh nghiệp mà còn đối với toàn ngành Để đối phó vớivấn đề này doanh nghiệp cũng cần phải có những giải pháp không chỉ ở trước mắt màcòn là ở lâu dài, phải có những chiến lược đầu tư mang tính định hướng để khẳng định sựtồn tại của doanh nghiệp trên thị trường

3 Sự cần thiết phải đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép ViệtNam

Sau hơn 10 năm đổi mới, Tổng công ty thép Việt Nam đã tạo cho mình một thế vàlực mới Tổng công ty với vai trò là nhân vật trung tâm của ngành thép Việt Nam đã gópphần đáp ứng cơ bản nhu câù thép xây dựng trong nước, trình độ công nghệ đã được nânglên Là một trong số 17 Tổng công ty 91, Tổng công ty thép Việt Nam đã được Nhà nướcđầu tư cơ sở vật chất tương đối lớn so với các doanh nghiệp sản xuất thép khác

Trang 25

Qua mấy chục năm phát triển, các đơn vị đầu đàn như công ty Gang thép Thái Nguyên,công ty thép Miền Nam, đã đào tạo được đội ngũ kỹ thuật có tay nghề cao, đây thực sự làmột tài sản quý mà Tổng công ty thép Việt Nam cần phải giữ gìn và phát huy trong cuộccạnh tranh

Mặt khác tham gia hội nhập nền kinh tế thế giới đã và đang tạo điều kiện cho Tổng công

ty thép Việt Nam nhanh chóng tiếp thu được công nghệ sản xuất thép và công nghệ quản

lý tiên tiến trền thế giới Nó giúp cho Tổng công ty thép Việt Nam có thể rút ngắn đượcthời gian hiện đại hoá được cơ sở sản xuất của mình

Bên cạnh những thuận lợi trên, trong giai đoạn tới Tổng công ty thép Việt Nam phảiđương đầu với những khó khăn và thách thức không nhỏ Do ngành thép nói chung còn ởtrong tình trạng kém phát triển so với các nước trong khu vực và trên thế giới Tổng công

ty thép Việt Nam vẫn còn ở trong tình trạng kém phát triển Cơ sở vật chất kỹ thuật tuylớn song phần lớn trang thiết bị công nghệ đều được đâù tư từ những năm 60,70 đã cũ vàlạc hậu Do vậy các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật còn thấp hơn nhiều so với các liên doanh,các nước trong khu vực và trên thế giới, năng suất lao động thấp, tiêu hao vật tư lớn Điềunày đã dẫn đến khả năng cạnh tranh của Tổng công ty thép Việt Nam trong giai đoạn vừaqualà rất thấp Khả năng xuất khẩu sản phẩm thép còn hạn chế , mạng lưới các cơ sởphân phối có ở khắp đất nước song tổ chức chưa hợp lý, phân tán không phát huy đượcsức mạnh liên kết giữa sản xuất và lưu thông Chủng loại sản phẩm còn đơn điệu, laođộng và dư thừa nhiều là một gánh nặng cho Tổng công ty thép Việt Nam trong nỗ lựchiện đại hoá doanh nghiệp Thị phần của Tổng công ty thép Việt Nam có xu hướng giảm

và hiện tại sản lượng thép của Tổng công ty chỉ còn khoảng 30 % thị phần thép của cảnước

Tóm lại, Tổng công ty thép Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ mất dần vị trí chủlực trong ngành thép Việt Nam, mất dần vị trí trung tâm trong cuộc cạnh tranh gay gắtngay tậi thịu trường trong nước và không đủ khả năng cạnh tranh khi tham gia hội nhậpkinh tế khu vực và trên thế giới

Do vậy việc đầu tư nâng cao khả năng cạnh tranh đối với Tổng công ty thép Việt Namtrong giai đoạn hiện nay là một yêu cầu vô cùng cấp thiết đối với sự toòn tại và phát triểncủa Tổng công ty

4 Đặc điểm hoạt động đầu tư trong ngành thép

Xuất phát từ đặc điểm tài nguyên phục vụ cho ngành thép thì hoạt động

đâù tư trong ngành thép cũng mang những nét đặc trưng riêng với những ngành khác

Thứ nhất, vốn đầu tư lớn: nguyên liệu phục vụ ngành thép phải được lấy từ các mỏkhoáng sản như than mỡ antraxit,khí thiên nhiên và các quặng sắt tuy nhiên để khai thácđược nguồn tài nguyên này thì phải đòi hỏi một lượng vốn đầu tư tương đối lớn Chẳng

Trang 26

hạn mỏ quặng sắtThạch Khê (Hà Tĩnh) có trữ lượng lớn, hàm lượng cao, song lại nằmsâu dưới mực nước biển chính vì thế đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở và xây dựng mỏ lớn,chi phí khai thác cao do phải bơm tháo khô mỏ, khai thác với công suất lớn thì mới hiệuquả cao.

Thứ hai, hoạt động đầu tư chịu tác động của điều kiện tự nhiên: do các mỏ và điểmquặng phân bố rải rác ở các miền, đa số ở vùng sâu, vùng xa, không thuận lợi để đầu tưkhai thác bằng cơ giới, chính vì thế các công trình đầu tư của ngành thép được xây dựng

ở vị trí của từng mỏ, điểm quặng đó Đây là nguyên nhân dẫn đến các công trình đầu tưnày chịu tác động không nhỏ của điều kiện tự nhiên như mưa, lũ, sự bất ổn của địa chất

Thứ ba, thời gian thực hiện đầu tư cũng như thời gian thu hồi vốn đâu tư bỏ ra làrất lớn: thời gian bắt đâù một công cuộc đầu tư từ khi bắt đầu đến khi phát huy tác dụngthường đòi hỏi nhiều năm tháng, thời gian vận hành để thu hồi vốn cũng kéo dài Khôngtính đến hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp sản xuất thép tư nhân, hộ gia đình thì đểhoàn thành một nhà máy sản xuất thép cần từ 5 đến 10 năm, thậm chí còn lâu hơn Đó làchưa kể đến những rủi ro có thể gặp trong quá trình xây dựng do kéo dài thời gian thicông Bên cạnh đó, đối với ngành thép, vốn đầu tư bỏ ra ban đầu là rất lớn do đó để cóthể thu hồi được thì cần phải có thời gian dài, thậm chí có khi hàng chục năm

Thứ tư, Hoạt động đầu tư chịu nhiều rủi ro: do thời gian đầu tư kéo dài và vốn đầu

tư lớn nên đầu tư trong ngành thép gặp nhiều rủi ro, đặc biệt là các rủi ro sau:

Rủi ro về xây dựng và hoàn thành công trình: thường là các rủi ro kéo dài thờigian thi công do bỏ vốn chậm

Rủi ro về kỹ thuật và vận hành: đây cũng là rủi ro hay gặp trong quá trình sử dụngmáy móc để sản xuất Đặc biệt là đối vơi Tổng công ty thép Việt Nam do máy móc thiết

bị lạc hậu nên không đáp ứng được yêu cầu sản xuất và không thể vận hành với công suấtthiết kế

Rủi ro về thị trường: do quy mô, thời gian thực hiện đầu tư trong ngành thép là rấtlớn và dài nên có thể phải hứng chịu các rủi ro về thị trường, chẳng hạn như hàng hoá sảnxuất ra không bán được dẫn đến ứ đọng vốn, giảm hiệu quả đầu tư Nếu không nghiêncứu kỹ, dự báo nhu cầu một cách chính xác thì rủi ro về thị trường sẽ là một trở ngại lớnđối với ngành thép

Từ những đặc điểm trên ta thấy đầu tư trong ngành thép là hết sức khó khăn vàchịu nhiều rủi ro Chính vì vậy để hoạt động đầu tư có hiệu quả, mang về những lợi íchnhất định trong ngành thép thì ngành phải có sự quan tâm, chuẩn bị một cách tốt nhất cáccông đoạn của quá trình đầu tư để làm sao khi tiến hành một dự án nào đó thì phải hoànthành và đạt kết quả cao Tránh tình trạng bỏ dở, gây lãng phí thất thoát vốn, vật tư và vậtlực

Trang 27

p nhập khẩu) nên tính cạnh tranh chưa cao Khả năng xuất khẩu sản phẩm thép còn hạnchế vì vậy trong thời gian tới, Tổng công ty thép Việt Nam cần phải đầu tư mạnh mẽ đểhiện đại hoá, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm ,tăng cường sức cạnh tranh,giảm dần, tiến tới khắc phục sự mất cân đối trong cơ cấu sản xuất

Trang 28

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ NÂNG CAOKHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA

TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM

I THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆTNAM

1 Quá trình hình thành và phát triển của tổng công ty

Công nghiệp thép đã và đang đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển nền kinh

tế quốc dân Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa ,hiện đại hoá đất nước,Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và trú trọng phát triển công nghiệp thép Điều đó thểhiện rõ trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội đã được các đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII, IX của Đảng thông qua Quán triệt quan điểm của Đảng ta về xây dựngchính sách kinh tế nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo ,xâydựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty Nhà nước, tổng công tythép Việt Nam được thành lập năm 1990 trên cơ sở sát nhập 2 nhà sản xuất thép lớn nhấtcủa Việt Nam, công ty Gang thép Thái Nguyên ở phía Bắc và công ty thép Miền Nam ởphía Nam

Năm 1995 Tổng công ty thép Việt Nam được tái thành lập và cơ cấu lại trên cơ sởsát nhập hai tổng công ty nhà nước , Tổng công ty thép Việt Nam và Tổng công ty kimkhí theo quyết định số 255/TTg ngày 29/4/1995 của Thủ tướng Chính phủ Chính phủ đã

có nghị định số 03/CP ngày 25/1/1996 phê duyệt đIều lệ tổ chức và hoạt động của Tổngcông ty thép Việt Nam

Tổng công ty thép Việt Nam là một doanh nghiệp Nhà nước có trách

Nhiệm sản xuất và phân phối thép ở Việt Nam

Xét về cơ cấu tổ chức, Tổng công ty thép Việt Nam hiện có 14 đơn vị thành viên(tính đến tháng 12 năm 2002)được chia thành 3 khối như sau

1.1 Khối các đơn vị sản xuất (4 đơn vị )

- Công ty Gang thép Thái Nguyên

- Công ty thép Miền Nam

- Công ty thép Đà Nẵng

- Công ty vật liệu chịu lửa và khai thác đất sét Trúc Thôn

1.2 Khối các đơn vị thương mại (8 đơn vị)

- Công ty kim khí Hà Nội

Trang 29

- Công ty kim khí Bắc Thái

- Công ty kim khí Quảng Ninh

- Công ty kim khí Hải Phòng

- Công ty kim khí và vật tư tổng hợp Miền Trung

- Công ty kim khí thành phố Hồ Chí Minh

- Công ty kinh doanh thép và vật tư thiết bị công nghiệp

1.3 Khối các đơn vị sự nghiệp

- Viện luyện kim đen

- Trường dạy nghề mỏ và luyện

Qua năm năm hoạt động theo mô hình tổng công ty 91Tổng công ty thép Việt Nam đã đạtđược những kết quả quan trọng, có mức tăng trưởng khá cao ,năng lực sản xuất tăngmạnh nhờ đầu tư chiều sâu Năm 2000 sản lượng thép cán của tổng công ty thép ViệtNam và các đơn vị liên doanh có vốn của tổng công ty đạt hơn 1,3 triệu tấn, tăng 3 lần sovới năm 1995 và 14 lần so với năm 1990 Tổng doanh thu bán hàng của tổng công tynăm 2000 đạt trên 6000 tỷ đồng Sau hai năm bị thua lỗ, từ năm 1998 tổng công ty bắtđầu có lãi, năm 2000 lợi nhuận của tổng công ty vào khoảng trên 100 tỷ đồng Tổng số laođộng hiện có của tổng công ty năm 2000 là 18390 người và năm 2002 là 17522 ngườiTrong lĩnh vực hợp tác với nước ngoài, trong giai đoạn từ năm 1993 đến nay tổng công tythép Việt Nam liên doanh với các công ty sản xuất thép của Hàn Quốc, Đaì Loan, NhậtBản, Australia thành lập các liên doanh sản xuất và gia công thép Tính đến thời điểmhiện nay Tổng công ty góp vốn thành lập 14 liên doanh với nước ngoài (trong đo 13 liêndoanh sản xuất và gia công thép) gồm một số liên doanh chính như: VINAKYOEI,VSP , VINAUSTEEL, TÂY ĐÔ, NATSTEELVINA

2 Năng lực và tình hình sản xuất hiện tại

2.1 Năng lực sản xuất

Xét về năng lực luyện thép, Tổng công ty thép Việt Nam hiện có 2 lò cao cỡ nhỏ côngsuất 100m3 được xây dựng từ những năm 1960 (tuy nhiên, hiện tại chỉ có một lò cao đangvận hành), 20 lò điện hồ quang phần lớn là lò có công suất nhỏ, lò có công suất nhỏ nhất

là 1,5T/ mẻ và lò lớn nhất với công suất 30T/mẻ Tổng năng lực luyện thép của công tyvào khoảng 350.000 tấn thép/ năm Số máy đúc liên tục phôi vuông với công suất330.000 tấn/ năm

Năng lực cán của Tổng công ty bao gồm 5 dàn cán bán liên tục sản xuất thép tròn và hìnhnhỏ, 7 dàn cán mini tổng công suất cán khoảng 760.000 tấn/ năm

2.2 Tình hình sản xuất

Trang 30

Trong những năm qua nhờ có những thành tựu phát triển chung của nền kinh tế và nỗ lựccủa Tổng công ty trong việc đầu tư chiều sâu, hiện đại hoá các cơ sở hiện có, Tổng công

ty thép Việt Nam đã có sự phát triển ổn định

Số liệu về tình hình sản xuất phôi thép, thép cán và thép tiêu thụ, giai đoạn 1998 -2002của Tổng công ty thép Việt Nam được thể hiện ở bảng 1

Qua bảng số liệu ta thấy sản lượng luyện thép (phôi thép) trong 5 năm qua không có sựtăng trưởng đáng kể, chỉ giữ ở mức khoảng 329.000 tấn, bằng 94% công suất luyện hiện

có của tổng công ty Việc không phát huy hết công suất luyện thép chủ yếu do thiếunguyên liệu thép phế

Đối với sản xuất thép cán trong giai đoạn qua mặc dù khá ổn định, song mức tăng trưởngthấp Năm 1998,1999 sản lượng thép cán ổn định ở mức 464.000 tấn Năm 2000 có tốc

độ tăng trưởng khoảng 13% so với năm 1998, năm 2002 có mức tăng trưởng cao khoảng65,3% so với 1998, sản lượng thép cán đạt 767.000 tấn

Bảng 1: Sản lượng phôi thép và thép cán của Tổng công ty thép

Việt Nam giai đoạn 1998 -2002

3080,98

3050

3184,26

41034,42

4640

52412,9

65942,02

76765,3

4673,3

52716,59

62638,49

69052,65Nguồn: Phòng kế toán tài chính (Bộ phận đầu tư)

2.3 Hệ thống phân phối và tình hình tiêu thụ

Trực thuộc tổng công ty thép Việt Nam có 8 công ty Thương mại có nhiệm vụ chủ yếu làphân phối thép trên thị trường trong nước Hoạt động của các công ty kim khí này là bánbuôn các sản phẩm thép nội địa và nhập khẩu Tuy nhiên, trong thời gian qua tỷ lệ nhậpkhẩu của các công ty Thương mại có xu hướng tăng Tỷ lệ tiêu thụ thép do các đơn vịthuộc khối sản xuất của Tổng công ty thép Việt Nam còn thấp, chỉ chiếm khoảng 30% sảnlượng thép cán của Tổng công ty

Chính vì vậy, ngoài bán cho các đơn vị lưu thông trong Tổng công ty thép Việt Nam, cáccông ty sản xuất vẫn phải thiết lập hệ thống bán hàng riêng của mình Tỷ lệ tiêu thụ thôngqua hệ thống đại lý riêng khá cao, vào khoảng 65 -70% tổng số tiêu thụ

Trang 31

Những phân tích trên cho thấy giữa hai khối sản xuất và lưu thông chưa có sự gắn bó, hỗtrợ nhau chặt chẽ, chưa thực sự tạo thành sức mạnh liên kết giữa sản xuất và lưu thôngnhư chiến lược ban đầu khi thành lập Tổng công ty.

Các công ty thép Miền Nam, gang thép Thái Nguyên đều được cấp giấy chứng nhận hệthống quản lý chất lượng ISO 9002

Trong nước chưa có cơ sở sản xuất các sản phẩm thép dẹp như tấm, lá cán nóng, cánnguội

Thị trường chính của Tổng công ty thép Việt Nam là thị trường trong nước Sản phẩmcủa Tổng công ty có mặt khắp đất nước, cả ba miền Bắc, Trung, Nam Hệ thống các đơn

vị thành viên của cả hai khối sản xuất và lưu thông trải dài khắp đất nước Trong nhữngnăm gần đây thị phần của Tổng công ty thép Việt Nam có xu hướng giảm, nếu năm 1995sản lượng của Tổng côngty thép Việt Nam chiếm khoảng 87% thị phần thép xây dựngcủa cả nước, thì tỷ lệ đó năm 2000 đã giảm xuống còn 33%, năm 2002 còn khoảng 30%.Thị trường xuất khẩu rất hạn chế, chỉ giới hạn ở một số nước như Campuchia, Lào, ĐàiLoan Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là gang đúc Hai năm gần đây mới xuất khẩu đượcthép cán sang Campuchia và Lào với một số lượng rất nhỏ vào khoảng 16.000 tấn năm

2002 Tổng giá trị xuất khẩu của Tổng công ty năm 2002 đạt hơn 4 triệu USD

4 Thực trạng công nghệ và thiết bị

4.1 Thiết bị và công nghệ luyện thép

Ở Việt Nam duy nhất chỉ có Tổng công ty thép Việt Nam là có quy trình luyện gang vàthép Công ty gang thép thái nguyên là cơ sở duy nhất có dây chuyền sản xuất thép khépkín theo công nghệ truyền thống Hiện tại, công ty có 2 lò cao dung tích 100m3 Nguyênliệu cho sản xuất là quặng sắt khai thác tạo các mỏ ở Thái Nguyên và một số tỉnh lân cậnnhư Tuyên Quang và Cao Bằng Toàn bộ dây chuyền luyện thép ở công ty do TrungQuốc giúp đỡ thiết kế và xây dựng từ những năm 1960

Trang 32

Ngoài công nghệ truyền thống sử dụng tại Công ty gang thép Thái Nguyên, Tổng công tythép Việt Nam áp dụng công nghệ lò điện sản xuất thép bằng thép phế trong nước vànhập khẩu Như trên đã nêu, hiện nay Tổng công ty thép Việt Nam có 20lò điện hồ quangcông suất từ 1,5 tấn/mẻ đến 30 tấn/mẻ Số lượng và công suất các lò điện hiện có củaTổng công ty thép Việt Nam được liệt kê ở bảng 2.

Các lò điện đều có quy mô nhỏ và lạc hậu do Trung Quốc hoặc Việt Nam tự sản xuất.Tổng công suất lò điện của Tổng công ty thép Việt Nam là khoảng 350.000 tấn/năm, tuynhiên thực tế các năm gần đây sản lượng phôi thép vá thỏi sản xuất chỉ ở mức 300.000tấn/năm Qua đánh giá các lò điện hiện đang vận hành tại Tổng công ty ty thép Việt Nam

có thể đưa ra một số nhận xét sau:

Nguyên liệu thép phế trong nước không đủ cung cấp cho nhu cầu sản xuất, đặc biệt làkhu vực phía Bắc Điều này ảnh hưởng đến khả năng khai thác thiết bị lò điện hiện có.Hơn thế nữa, chất lượng thép phế trong nước rất thấp, dẫn đến thời gian nấu luyện kéodài, tỷ lệ thu hồi thép lỏng thấp, tiêu hao điện năng, điện cực cao

Dung lượng lò quá nhỏ, lại phân bố không tập trung

Trong những năm qua, các đơn vị thành viên của Tổng công ty thép Việt Nam đã đẩymạnh đầu tư chiều sâu, hiện đại hoá các dây chuyền hiện có, áp dụng các biện pháp kỹthuật như đầu tư thiết bị gia công, chế biến thép phế, thay thế các biến lò có công suấtthấp bằng những biến thế có công suất cao, trang bị thiết bị làm mát tường, nắp lò, đầu tư

bổ xung lò, thùng, máy sản xuất ô xy, máy phun than… Nhờ vậy các chỉ tiêu kinh tế và

kỹ thuật được cái thiện Tuy nhiên so với các nhà sản xuất thép trên thế giới, các chỉ tiêukinh tế kỹ thuật của Tổng công ty thép Việt Nam còn một khoảng cách xa Bảng 2 dướiđây đưa ra so sánh một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chính giữa Tổng công ty thép ViệtNam và mức bình quân thế giới

Bảng2: Chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của khâu luyện thép

1 Thời gian nấu luyện, phút/ mẻ 90-180 45 -70

Trang 33

7 Tiêu hao dầu, l/t 0 0-12

Nguồn: Phòng kế toán tài chính (Bộ phận đầu tư)

Qua bảng 2 cho thấy, thời gian nấu luyện của các lò điện của Tổng công ty thép ViệtNam giao động từ 90 -180 phút/mẻ, cao gấp 2 -3 lần so với thời gian nấu luyện của các lòđiện trên thế giới (từ 45 -70 phút/ mẻ)

Tiêu hao điện cực 3,6 -6 kg/tấn, điện năng 710 – 800 kwh/t cao gấp hơn hai lần các chỉtiêu đó của thế giới

4.2 Thiết bị và công nghệ cán thép

Tổng số máy cán của Tổng công ty thép Việt Nam là 10 dàn cán, trong đó một số dàn cán

có công suất trên 100.000t/ năm như ở các nhà máy Gia Sàng (công suất 100.000t/ năm),Lưu Xá (công suất 120.000t/ năm) thuộc Công ty gang thép Thái Nguyên, nhà máy BiênHoà (Công suất 90.000t/ năm), nhà Bè số 1 (công suất 50.000t/ năm) thuộc Công ty thépMiền Nam được đầu tư từ những năm 70

Bảng 3: Các dây chuyền cán thép của Tổng công ty thép Việt Nam

Nhà máy Công suất

- Dây:14

Bán liên tục Thép thanh,

thép dây vàthép gócNhà Bè số 1 50.000 - Dây:8

Góc:5

Thủ công Thép dây và

gócNhà Bè số 2 150.000 - Góc: 9,8

- Hình :8

Bán liên tục Thép góc,

thép hình

Thủ Đức 2 120.000 - Thanh:10 Bán liên tục Thép thanh

Biên Hòa 90.000 - Thanh: 6

Trung

30.000 Thanh :4,5 Bán liên tục Thép thanh

Trang 34

Nguồn: Phòng kế toán tài chính (Bộ phận đầu tư)

Những dàn cán khác được đầu tư trong những năm 1990 Tổng công suất thiết kế là760.000 tấn/năm Công nghệ cán là thủ công và bán liên tục có tốc dộ cán thấp Số lượng

và một số chỉ tiêu chủ yếu của các dàn máy cán của Tổng công ty thép Việt Nam đượctrình bày ở bảng 3.Thiết bị và công nghệ cán của Tổng công ty thép Việt Nam chủ yếu là

cũ và lạc hậu so với các dâychuyền cán thép của các liên doanh cán thép và một số nhàmáy cán thép tư nhân mới đầu tư trong vài năm gần đây

Thiết bị và công nghệ cán của Tổng công ty thép Việt Nam chủ yếu là cũ và lạc hậu sovới các dâychuyền cán thép của các liên doanh cán thép và một số nhà máy cán thép tưnhân mới đầu tư trong vài năm gần đây

Bảng 4 đưa ra so sánh một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật giữa các dây chuyền cán của Tổngcông ty thép Việt Nam, các liên doanh cán thép và chỉ tiêu trung bình trên thế giới Bảng

4 cho thấy thiết bị và công nghệ cán của Tổng công ty thép Việt Nam chủ yếu đã lạc hậu,công suất nhỏ hàng chục lần so với các dây chuyền cán trên thế giới Các chỉ tiêu tiêu haokim loại, điện, dầu FO đều cao hơn so với thế giới

Bảng 4: Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và dây chuyền cán thép

Chỉ tiêu KTKT Tổng công ty thép

Việt Nam

Các liên doanh Thế giới

Nguồn: Phòng kế toán tài chính (Bộ phận đầu tư)

Đặc biệt tiêu hao dầu FO cao gấp gần 3 lần so với thế giới, 1,5 – 2 lần so với các liêndoanh

Qua những phân tích ở trên cho thấy năng lực cạnh tranh của tổng công ty ThépViệt Nam trong giai đoạn vừa qua rất thấp do một số nguyên nhân sau

 Thứ nhất, thiết bị và công nghệ có quy mô nhỏ và lạc hậu Các thiết bị chủ yếucủa công ty Gang thép Thái Nguyên ,công ty thép Miền Nam ,công ty thép ĐàNẵng ,công ty kim khí Miền Trung đều không đạt đến quy mô phù hợp với các thiết bịsản xuất thép do đó không phát huy được hiệu quả của sản xuất quy mô lớn ,năng xuấtthấp Trong 20 lò điện hồ quang , lò có công suất lớn nhất cũng chỉ đạt 96.000 tấn/năm,

Trang 35

các lò còn lại đều thấp hơn 50.000 tấn/năm, lò cao duy nhất của Việt Nam do công tyGang thép Thái Nguyên vận hành cũng chỉ có dung tích là 100 m2 Trong khi đó ở cácnước công nghiệp phát triển lò cao thường có dung tích trên 2000 m2, trong những nămgần đây tiêu chuẩn trung bình đã vượt quá 3000 m2 Trong các công nghệ sử dụng cónhiều công nghệ đã rất lạc hậu

 Thứ hai là quy trình sản xuất không đồng bộ Điều này được thể hiện rõ nét ởcông ty Gang thép Thái Nguyên Mặc dù thiết kế là một khu sản xuất thép khép kín theocông nghệ lò cao, nhưng năng lực lò điện lại lớn hơn năng lực lò cao, năng lực sản xuấtcủa thiết bị đúc liên tục và cán lại lớn hơn năng lực của lò điện Nguyên liệu vừa thiếulại vừa có chất lượng thấp ,chi phí vận chuyển cao do khu vực này nằm khá sâu trong đấtliền Tất cả điều này dẫn đến chi phí sản xuất của các đơn vị thuộc tổng công ty thép ViệtNam đều cao hơn so với các liên doanh với nước ngoài, sản phẩm cạnh tranh kém

Thứ ba, một tồn tại lớn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của tổng công ty thépViệt Nam đó là dư thừa nhân công, cơ cấu lao động không hợp lý đặc biệt là trường hợpcủa công ty Gang thép Thái Nguyên Do lịch sử của thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tậptrung ,có nhiều bộ phận trung gian và phúc lợi xã hội như trường học, bệnh viện được

cơ cấu trong tổ chức của doanh nghiệp dẫn đến số lương công nhân quá dư thừa Trongnhững năm qua ,do sự hỗ trợ của Chính phủ ,công ty GTTN đã tiến hành một loạt cácbiện pháp tinh giảm biên chế tuy nhiên lực lượng lao động của công ty vẫn còn ở mứccao

 Thứ bốn, tồn tại sự chênh lệch quá lớn về cơ cấu, năng lực giữa các đơn vị thànhviên sản xuất của tổng công ty thép Việt Nam Đối với công ty GTTN ,thách thức lớnnhất là công nghệ lạc hậu và dư thừa nhân công, thì hai đại diện của Miền Trung là công

ty thép Đà Nẵng và công ty kim khí Miền Trung đối mặt với vấn đề quy mô nhà máy quánhỏ cùng với công nghệ lạc hậu.Tình hình của công ty thép Miền Nam có sáng sủa hơn,thiết bị và công nghệ của công ty so với các đơn vị khác tương đối hiện đại ,ngoài ra công

ty còn nằm ở khu vực chiếm 65% lượng thép tiêu thụ của cả nước và lượng lao động chỉ

có khoảng 4000 người Hiệu suất sử dụng công nghệ thiết bị của công ty thép Miền Namcũng đứng đầu

 Thứ năm, cơ cấu các công ty thương mại phụ trách phân phối thép của tổng công

ty thép Việt Nam không hợp lý Trong một khu vực có nhiều đơn vị với chức năng vànhiệm vụ gần như nhau, việc phân công thị trường theo địa bàn ,mặt hàng không hiệu quả.Trong khu vực phía Bắc có 5 đơn vị lưu thông ,trong đó 2 ở Hà Nội, 1 ở Thái Nguyên, 1

ở Hải Phòng và 1 ở Quảng Ninh Ở Tp Hồ Chí Minh cũng có 2 đơn vị lưu thông cùng

Trang 36

hoạt động trên một địa bàn Trong những năm gần đây, hiệu quả hoạt động của các đơn

vị lưu thông có xu hướng giảm sút ,không phát huy được lợi thế về vốn ,cơ sở vật chấtcủa đơn vị Quan trọng hơn là chưa tạo ra được sự gắn bó và liên kết hỗ trợ giữa khối sảnxuất và lưu thông trong tổng công ty thép Việt Nam

II TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦATỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM THỜI KỲ 1998 -2002

1 Vốn và nguồn vốn đầu tư

1.1 Vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư của Tổng công ty

Vốn đầu tư của tổng công ty thép Việt Nam được chia theo các khoản mục chính:

- Vốn cho công tác xây lắp (vốn xây lắp)

- Vốn cho công tác mua sắm máy móc thiết bị (vốn thiết bị)

- Vốn đầu tư cho tài sản vô hình

Cơ cấu vốn đầu tư của Tổng công ty được thể hiện trong bảng 5

Bảng 5 cho ta thấy, tổng vốn đầu tư huy động trong thời kỳ này cũng có nhiều biến động.Năm 2000 vốn đầu tư huy động 66.386 Đến năm 2001 tổng vốn đầu tư lại tăng và đạt1.106.920 triệu đồng Cao nhất là năm 2002, tổng vốn đầu tư đạt 1.400.000 triệu đồng.Nguyên nhân tăng nhanh như vậy là do trong các năm 2001, 2002 tổng công ty đã thựchiện rất nhiều dự án đầu tư chiều sâu quan trọng, chẳng hạn dự án đầu tư chiều sâu cảitạo, nâng cấp các cơ sở hiện có ở công ty GTTN,

Trang 37

Bảng 5: Vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư của Tổng công ty thép Việt Nam thời kỳ 1998 2002.

Tỷlệ(%)

Sốtiền

Tỷlệ(%)

Sốtiền

Tỷlệ(%)

Sốtiền

Tỷlệ(%)

Sốtiền

Tỷlệ(%)

Số tiền Tỷ

lệ(%)Tổng VĐT 816

31

100 95809

100 66386

100Trong đó

1 Vốn xây

lắp

20758

25,43

21559

22,5

15810

23,82

261012

23,58

137940

22,71

66,72

64432

67,25

43177

65,04

800856

72,35

1050000

75,00

1997592

72,62

7,85

Nguồn: Báo cáo tổng kết giai đoạn 1998 -2002, VSC

công ty thép Miền Nam, Đà Nẵng, nhà máy cán thép Phú Mỹ, dự án cải tạo là nung phôinhà máy thép Nhà Bè

Nhìn vào cơ cấu vốn đầu tư của Tổng công ty trong giai đoạn này ta nhận thấy rằng, vốnđầu tư cho thiết bị luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn đầu tư năm 1998, vốn đầu

tư cho thiết bị chiếm 66,72% tổng vốn đầu tư, năm 1999 chiếm 67,25% tổng vốn đầu tư.Năm 2000 vốn đầu tư cho thiết bị có giảm nhưng vẫn chiếm 65,04% tổng vốn đầu tư.Năm 2001 vốn đầu tư cho thiết bị chiếm tới 72,35% tổng vốn đầu tư và đến năm 2002vốn đầu tư cho thiết bị đạt ở mức cao nhất chiếm tới 75% tổng vốn đầu tư

Điều này chứng tỏ rằng trong khả năng hạn hẹp về vốn đầu tư, Tổng công ty vẫn chútrọng đến công tác đầu tư cho máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, ngày càng nâng caohơn nữa hàm lượng công nghệ trong cơ cấu sản phẩm, giảm dần tiêu hao vật chất đầu vàocho sản xuất

Do nhu cầu về vốn đầu tư rất lớn, lượng vốn trong nước không đủ để cung cấp cho cáccông cuộc đầu tư Vì vậy tổng công ty thép Việt Nam đã góp vốn liên doanh liên kết với

Trang 38

nước ngoài nhằm tận dụng vốn đầu tư và tiếp thu được công nghệ hiện đại, phương phápquản lý tiên tiến trên thế giới.

Trong thời gian qua đã có 14 liên doanh được thành lập với vốn góp của tổng công ty(trong đó có 13 liên doanh sản xuất và gia công thép) gồm một số liên doanh chính nhưVINAKYOEI, VPS VINASTEEL, TÂY ĐÔ, NATSTEEL VINA Tổng vốn đầu tư củacác liên doanh khoảng 486 triệu USD Trong đó vốn pháp định là 100 triệu USD (phíatổng công ty chỉ đóng góp khoảng 40 triệu USD)

Như vậy ta thấy trong thời gian qua nguồn vốn đầu tư cũng như cơ cấu vốn đầu tư củaTổng công ty còn nhiều bất cập Trong thời gian tới Tổng công ty cần phải có những điềuchỉnh cho phù hợp từ đó thúc đẩy hoạt động đầu tư của Tổng công ty phát triển mạnh mẽhơn

1.2 Nguồn vốn đầu tư của Tổng công ty

Nguồn vốn đầu tư của tổng công ty bao gồm :Vốn ngân sách Nhà nước cấp ,vốn tín dụngtrong nước , nguồn vốn tích luỹ từ nội bộ doanh nghiệp ,nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài

Tỷlệ(%)

Sốtiền

Tỷlệ(%)

Sốtiền

Tỷlệ(%)

Sốtiền

Tỷlệ(%)

Sốtiền

Tỷlệ(%)

Số tiền Tỷ

lệ(%)Tổng VĐT 816

31

100 95809

100 66386

100Trong đó

NSNN

6670

8,17

11715

12,22

5654 8,52 5500 0,50 9000 0,64 38539 1,40

2 Vốn tín

dụng

49521

60,66

70999

74,1

24170

36,41

429380

38,79

554662

39,61

1128732

41,03

KHCB

11235

13,76

1185 1,2

4

19 0,03 48828 4,41 56966 4,09 107610 3,91

Trang 39

5 Vốn nước

ngoài

2918

3,57

2047 2,1

4

513358

55,41

767107

54,79

1385430

50,37

6 Vốn khác 106

75

13,03

4060 4,2

5

26757

40,3 2334 0,21 3400 0,24 47226 1,72

Nguồn: Báo cáo tổng kết giai đoạn 1998 -2002, VSC

* Vốn NSNN (1) bảng 6

Đây là nguồn vốn Nhà nước cấp cho các doanh nghiệp quốc doanh để thực hiện các dự

án đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu và ít lợi nhuận, chủ yếu mang lại lợi ích xãhội cho quốc gia Trong thời kỳ bao cấp, Nhà nước quản lý bằng các chỉ tiêu pháp lệnh từđầu vào đến đầu ra Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh,vốn ngân sách được cấp pháttrực tiếp hàng năm không theo dự án do vậy đã gây lãng phí rất lớn trong khi các dự ánlại không đạt hiệu quả cao

Kể từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường thì nguồn vốn ngân sách không cònđóng vai trò quyết định mà chỉ đóng vai trò định hướng, hỗ trợ phát triển

Trong thời kỳ 1998 -2002 tổng vốn ngân sách Nhà nước cấp cho Tổng công ty thép ViệtNam là 38539 triệu đồng Trong năm 2002 vốn ngân sách Nhà nước cấp cho Tổng công

ty chỉ đạt 9000 triệu đồng, chiếm khoảng 0,64% Tổng vốn đầu tư Điều đó cho thấynguồn vốn ngân sách mà Nhà nước cấp cho Tổng công ty thép Việt Nam ngày càng giảm

cả về số tuyệt đối và tương đối

Tuy rằng nguồn ngân sách chiếm tỷ trọng không lớn song nó vẫn đóng một vai trò rấtquan trọng để tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho ngành thép phát triển

* Nguồn vốn tín dụng Nhà nước (2) bảng 6

Trong điều kiện nguồn vốn hạn hẹp, để có thêm vốn đầu tư, chủ động trong công tác đầu

tư cả về chiều rộng và chiều sâu của các đơn vị thành viên thuộc Tổng công ty Tổngcông ty thép Việt Nam đã tranh thủ sự hỗ trợ của Nhà nước dưới hình thức cho vay ưuđãi với mức lãi suất thấp và thời gian ân hạn dài Qua các năm từ 1998 – 2002, tỷ trọngnguồn vốn này luôn chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng vốn đầu tư, điều đó đã chứng tỏtầm quan trọng của nguồn vốn này đối với hoạt động đầu tư của tổng công ty Nguồn vốnnày thường được công ty sử dụng cho những dự án đầu tư có quy mô lớn, thời gian đầu

tư kéo dài

Tình hình thực hiện vốn tín dụng trong thời gian này được thể hiện thông qua bảng 7 Bảng 7 cho thấy, tình hình thực hiện vốn tín dụng của Tổng công ty đạt tỷ lệ tương đốicao Riêng năm 2000, tỷ lệ này đạt mức thấp, nguyên nhân do dự án đầu tư chiều sâu củacông ty gang thép Thái Nguyên không triển khai được trong năm 2000 mà phải chuyểnsang năm 2001 để thực hiện

Trang 40

Có thể thấy, nguồn vốn tín dụng trong nước đóng một vai trò hết sức quan trọng tronghoạt động đầu tư của Tổng công ty.

Trong thời gian tới Tổng công ty cần khai thác triệt để hơn nữa nguồn vốn này để tạo ranguồn cung cấp dồi dào về vốn cho Tổng công ty để hoạt động đầu tư được tiến hànhhiệu quả hơn

Bảng 7: Tình hình thực hiện vốn tín dụng của Tổng công ty thép Việt Nam thời kỳ 1998 2002

Nguồn: Phòng kế toán tài chính (Bộ phận đầu tư)

* Nguồn vốn tích luỹ của doanh nghiệp (3) Bảng 6)

Nguồn này được hình thành chủ yếu từ hai bộ phận

+ Nguồn vốn khấu hao cơ bản

+ Lợi nhuận giữ lại sau thuế

Nhìn chung mấy năm gần đây do Tổng công ty hoạt động không có hiệu quả do vậy lợinhuận giảm, kéo theo nguồn vốn này cũng giảm và rất nhỏ so với các nguồn vốn khác.Chẳng hạn năm 2000, vốn lấy từ lợi nhuận giữ lại sau thuế chỉ có 19 triệu, chiếm 0,03%tổng vốn đầu tư Nguồn vốn này chỉ đủ để cải tạo một số cơ sở có quy mô nhỏ

* Nguồn vốn nước ngoài (5) bảng 6)

Nguồn vốn này được huy động chủ yếu thông qua các hình thức liên doanh, liên kết hoặcvay ưu đãi Đây là nguồn vốn rất quan trọng cùng với nguồn vốn tín dụng trong nước, nó

có một ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển của Tổng công ty thép Việt Nam

Trong thời gian qua, Tổng công ty thép Việt Nam đã thu hút khoảng trên150 triệu USDnguồn vốn FDI, chủ yếu từ các đối tác trong khu vực như Đài Loan, Hàn Quốc, NhậtBản

Ngoài vốn FDI, Tổng công ty còn tranh thủ tận dụng vốn vay ưu đãi của nước ngoài từcác tổ chức quốc tế như JIBIC (Nhật Bản) WB, ADB Tuy nhiên với nguồn vốn này

Ngày đăng: 20/10/2017, 03:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w