Th c tr ng v m t s gi i ph p nh m n ng cao n ng l c c nh tranh c a ng nh c ng nghi p t t i Vi t Nam trong qu tr nh gia n...
Trang 1http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn,
đồ án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất
cả mọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng gópcủa quý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quýkhách gửi về luanvanpro.com@gmail.com
Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành côngnghiệp ô tô tại Việt Nam trong quá trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá cùng với xu thế hội nhập nền kinh tếcủa mỗi nước với khu vực và toàn thế giới,Việt Nam đang hết sức nỗ lực để cùng hộinhập và phát triển các vấn đề về kinh tế,chính trị,ngoại giao ,văn hoá, Việc tham gia vào
tổ chức thương mại thế giới WTO sẽ buộc chính phủ Việt Nam phải có những bước đi
và chính sách thích hợp để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam thích ứng đượcvới tiến trình hội nhập và đảm bảo khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam.Mặc dù
là một ngành công nghiệp còn rất non trẻ, ngành công nghiệp ôtô của Việt Nam sẽ phảiđối đầu với rất nhiều thách thức trong lộ trình tham gia WTO Có thể nói ngành côngnghiệp ôtô của Việt Nam mới khởi đầu từ năm 1991 với sự thành lập của hai liên doanhôtô đầu tiên của Việt Nam là Liên doanh ôtô Mekong và Xí nghiệp sản xuất ôtô HoàBình(VMC) cho đến nay đã có 14 Liên doanh ôtô tại Việt Nam và hiện chính thức có 11liên doanh đang hoạt động Mặc dù số lượng liên doanh ôtô của Việt nam nhiều như vậynhưng ngành công nghiệp hiện mới chỉ dừng lại ở công nghệ lắp ráp(CKD), chưa có nhàmáy lớn sản xuất xe ôtô dạng IKD Vì vậy có thể thấy trước rằng các liên doanh ôtô ViệtNam sẽ gặp rất nhiều khó khăn và thách thức trong tiến trình tham gia WTO Do vậycác doanh nghiệp trong ngành công nghiệp ô tô phải cùng nhà nước có những hướng điđúng đắn để có thể cùng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài trong xu thế hộinhập
Với sự giúp đỡ tận tình và chu đáo của thầy giáo-Tiến sỹ :Trương Đức Lực và nhữngkiến thức được học trong thời gian qua nên em đã quyết định chọn đề tài : ’’Thực trạng
và một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô tạiViệt Nam trong quá trình gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO”
Đây là một đề án mang tính thời sự nóng bỏng trong thời gian hiện nay và do còn hạnchế về năng lực và thời gian nên không tránh khỏi nhiều khiếm khuyết nên em rất mongđược nhận những ý kiến đóng góp từ thầy cùng các bạn để em có thể hoàn thành tốt hơn
đề án môn học này Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 3MỤC LỤC
I…Tính tất yếu của toàn cầu hoá trong quá trình gia nhập Tổ chức thương mại thếgiới WTO
1.1 Hội nhập là xu hướng tất yếu của thế giới nói chung và của Việt Nam nói chung
1.1.1.Toàn cầu hoá là một xu thế khách quan của thế giới nói chung và Việt N`amnói chung
1.1.2.Gia nhập tổ chức thương mại quốc tế sẽ tạo ra một bộ mặt mới cho các doanhnghiệp nước ta
Trang 41.2.Mối quan hệ giữa toàn cầu hoá với nền công nghiệp ô tô ở Việt Nam.
1.2.1 Sự điều chỉnh chính sách phát triền của ngành công nghiệp ô tô của thế giới 1.2.2 Chính sách của các hãng sản xuất ôtô trên thế giới trong xu thế toàn cầuhoá
1.2.2.1 Chính sách sáp nhập tạo thành một liên minh vững chắc
1.2.2.2.Chia sẻ công nghệ và chí phí nghiên cứu
1.2.2.3 Mở rộng phạm vi địa lý đối với việc mua vào phụ tùng phụ kiện và bán
ra sản phẩm hoàn chỉnh
II Thực trạng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Namtrong thời kì hội nhập
2.1.Tình hình chung của ngành sản xuất ô tô tại Việt Nam trong thời kì hội nhập
2.1.1.M t s thông tin chính v tình hình ho t ột số thông tin chính về tình hình hoạt động của một số ố thông tin chính về tình hình hoạt động của một số ề tình hình hoạt động của một số ạt động của một số đột số thông tin chính về tình hình hoạt động của một số ng c a m t s ủa một số ột số thông tin chính về tình hình hoạt động của một số ố thông tin chính về tình hình hoạt động của một số công ty l p r p ô tô t i Vi t Nam ắp rắp ô tô tại Việt Nam ắp rắp ô tô tại Việt Nam ạt động của một số ệt Nam.
2.1.1.1.Công ty ôtô Ford Việt Nam
2.1.1.2 Công ty ôtô Toyota Việt Nam
2.1.1.3 Công ty ôtô Mêkong Việt Nam
2.1.2.Bức tranh về ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam trong quá trình hội nhập tổ chứcthương mại thế giới WTO
2.2 Thực trạng trong ngành sản xuất ô tô tại Việt Nam trong thời kì hội nhập WTO.2.2.1.Doanh số quá thấp so với công xuất thiết kế
2.2.2.Thiếu sự tập trung chuyên môn hoá
2.2.3 Các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn trongviệc cạnh tranh với các doanh nghiệp có thương hiệu trên thế giới
2.2.4.Công nghệ sản xuất còn thấp ,lạc hậu …so với thế giới dẫn đến năng suất sản xuấtcòn thấp và chưa đảm bảo về chất lượng
2.2.5.Đối tượng khách hàng còn giới hạn
2.2.6.Do cơ sở hạ tầng về giao thông ở Việt còn kém, việc đi lại bằng ôtô còn chưa thuận
Trang 5tiện(Đường phố chật hẹp, thiếu nơi đỗ xe ).
2.2.7.Về chính sách thuế của nhà nước vẫn chưa ổn định và vẫn còn quá cao so vớinhiều nước trên thế giới
2.2.8 Nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam chưa đáp ứng
đủ nhu cầu về trình độ và tay nghề và kinh nghiệp sản xuất
2.2.9 Các doanh nghiệp còn ỷ lại do được bảo hộ nhiều nên chưa đầu tư nâng cao nănglực cạnh tranh
2.2.10 Do nguồn vốn của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế
2.3 Thực trạng về khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp ô tô tại Việt Nam trongthời kỳ hội nhập
2.3.3.3.Các chi phí liên quan đến sản xuất cao:
2.3.3.4.Tỷ lệ nội địa hoá thấp do Ngành công nghiệp phụ tùng trong nước gần như chưa
có
2.3.4.Về hệ thống dịch vụ cung cấp sản phẩm và bảo hành bảo dưỡng
III Mục tiêu và một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanhnghiệp sản xuất ô tô tại Việt Nam trong quá trình hội nhập tổ chức thương mại thế giớiWTO
3.1.Mục tiêu trong những năm tới
Trang 63.2 Biện pháp để tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại ViệtNam
3.2.1 Nâng cao chất lượng sản phẩm
3.2.2.Đưa ra những sản phẩm phù hợp thị trường nhất
3.2.3.Chuyên môn hoá sản xuất
3.2.4 Thiết lập một mạng lưới dịch vụ bán hàng và bảo hành bảo dưỡng sửa chữa thuậntiện cho người sử dụng
3.2.5.Liên kết sáp nhập:
3.2.6.Nâng cao uy tín và hình ảnh của công ty trong cộng đồng
3.2.7 Xây dựng các chiến lược Marketing quốc tế
3.2.8 Chính phủ cam kết phát triển ngành công nghiệp ôtô
3.2.9 Có chính sách khuyến khích đầu tư vào ngành công nghiệp sản xuất phụ tùng, linhkiện ôtô
3.2.10 Xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng tốt(phát triển mạng lưới đường bộ, phát triển
hệ thống giao thông tĩnh như điểm đỗ xe, nhà để xe )
3.2.11 Tạo thuận lợi và mở rộng các dịch vụ tài chính đối với người tiêu dùng: như dịch
vụ trả góp, cho thuê tài chính )
KẾT LUẬN
I…Tính tất yếu của toàn cầu hoá trong quá trình gia nhập Tổ chức thương mại thế giớiWTO
1.1 Hội nhập là xu hướng tất yếu của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng
1.1.1.Toàn cầu hoá là một xu thế khách quan
Trang 7
Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan.Bất kỳ một quốc gia nào cũng khôngthể tránh khỏi xu hướng này nếu muốn phát triển kinh tế và không bị tụt hậu Đối vớicác nước phát triển thì quá trình hội nhập sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu,chuyển vốn đầu tư sang các nước và trong các lĩnh vực thu được nhiều lợi nhuận Cònđối với các nước đang phát triển thì hội nhập cũng sẽ tạo điều kiện cho hàng hoá củacác nước này với giá cả rất cạnh tranh thâm nhập thị trường mới Ngoài ra các nướcđang phát triển có thể thu hút vốn đầu tư và công nghệ của các nước phát triển Thực tế
đã cho thấy những kết quả tuyệt vời đối với việc thành lập các khối thị trường tự do mậudịch: Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Liên Minh Châu Âu(EU), Hiệp hội các nước Đông Nam Á(ASEAN), Liên Minh Australia và New Zealan Và trong thời gian vừa qua nước ta cũng
là một ví dụ điển hình cho sự hội nhập đó bằng việc tham gia vào thị trường mậu dịch tự
do AFFTA Đặc biệt hơn nữa là cuối tháng 12 năm 2006 Việt Nam đã có những bướcnhảy vọt trong quá trình đàm phán để được gia nhập vào tổ chức thương mại quốctế Điều đó đã làm cho Việt Nam có những cơ hội mới trên con đường phát triển nềnkinh tế
Mặc dù lợi ích của toàn cầu hoá kinh tế thế giới là không thể phủ nhận được, cơ hội dànhcho các quốc gia có rất nhiều nhưng đồng thời thách thức cũng vô cùng to lớn đặc biệtđối với những quốc gia đang phát triển như Viật Nam Là thành viên của WTO, ViệtNam phải cố gắng hơn nữa trong quá trình hội nhập đặc biệt là với các doanh nghiệptrong ngành sản xuất ô tô hiện nay
1.1.2 Gia nhập tổ chức thương mại quốc tế sẽ tạo ra một bộ mặt mới cho các doanhnghiệp Việt Nam
Trong quá trình gia nhập tổ chức thương mại quốc tế Việt Nam gặp rất nhiều nhữngkhó khăn trước mắt do những yếu tố chủ quan cũng như những yếu tố khách quan…Cácdoanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với những doanh nghiệp lớn trên thế giới,nhữngdoanh nghiệp đã có rất nhiều những kinh nghiệm trên thương trường,và đã có nhữngthời gian dài phát triển trên khắp thị trường thế giới
Việt Nam đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt và đã bị tàn phá quánhiều,những tàn tích để lại sau chiến tranh vẫn chưa thể nào khắc phục lại được chính vìthế Việt Nam đã phải đi sau những cường quốc khác khoảng 30 năm về kinh tế,xãhội Điều đó đã dẫn đến nhiều khó khăn trong nguồn vốn , nguồn nhân lực, công nghệ và
Trang 8nhiều những thách thức mới nữa mà em sẽ đề cập nhiều trong những phần tiếp theo của
đề án này
Tuy nhiên trong quá trình hội nhập đã giúp Việt Nam có nhiều thay đổi lớn trong nềnkinh tế , chính trị,ngoại giao,văn hoá…Việt Nam sẽ có được một nguồn vốn khổng lồ từnhững doanh nghiệp lớn trên thế giới,họ đầu tư vào những cơ sở hạ tầng của đất nướcnhư cầu cống,đường xá,những khu đô thị mới được mọc lên tạo bộ mặt mới cho đấtnước Ngoài ra một lượng lớn những kĩ sư giỏi và những doanh nhân giỏi đã có mặt hầuhết trên những tỉnh thành của đất nước ,họ mang đến cho Việt Nam những kinh nghiệmthật quý báu và những công nghệ mang lại năng suất lao động thật lớn cho đất nước…Chính vì thế Việt Nam cần phải nắm bắt thời cơ này để có thể đưa đất nước từ một nướccòn lạc hậu so với thế giới thành một nước phát triển ,có tầm cỡ trong khu vực và trênthế giới
1.2.Mối quan hệ giữa toàn cầu hoá với nền công nghiệp ô tô ở Việt Nam
1.2.1 Sự điều chỉnh chính sách phát triền của ngành công nghiệp ô tô của thế giới
Có nhiều nước đã phát triển ngành công nghiệp ôtô của mình theo qui luật thị trường tựdo(Chính phủ tham gia vào rất ít) thông qua các chính sách khuyến khích thương mại,đầu tư và cạnh tranh.Tại các thị trường này thì người tiêu dùng(sử dụng xe ôtô) sẽ có lợirất nhiều: nhiều sự lựa chọn, chất lượng hàng hoá cao, giá thành thấp Đồng thời ngànhcông nghiệp ôtô do phải cạnh tranh tự do nên bắt buộc phải có nhiều đổi mới để nângcao hiệu quả sản xuất hơn bằng cách: tiết kiệm chi phí, khai thác nguồn nguyên liệu vànhân công rẻ, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm Đồng thời cũng sẽ thu hút được côngnghệ và vốn đầu tư nước ngoài từ các hãng sản xuất ôtô lớn trên thế giới
Các nước thực hiện các chính sách cho ngành công nghiệp ôtô theo định hướng này là:
Mỹ, Canada, Mexico, Australia, Thai Lan, Đài Loan
1.2.2 Chính sách của các hãng sản xuất ôtô trên thế giới trong xu thế toàn cầu hoá.1.2.2.1 Chính sách sáp nhập
Xu hướng hiện tại của ngành công nghiệp ôtô thế giới là giảm bớt các tập đoàn sản xuấtôtô đa quốc gia bằng việc sáp nhập vào với nhau nhằm thu được hiệu quả caonhất.Trong vài năm qua, ngành công nghiệp ôtô thế giới đã chứng kiến một loạt các vụsáp nhập do sức ép cạnh tranh Ta có thể thấy sự sát nhập của giữa Daimler Benz và
Trang 9Chrysler, giữa Ford và Volvo, giữa GM và Saab, giữa Renault và Nissan Trong năm
2000 sáu tập đoàn sản xuất ôtô lớn nhất trên Thế Giới là General Motor, Ford, Toyota,Volkswagen, Daimler Chrysler và Renault đã kiểm soát 70% năng lực sản xuất của toànngành công nghiệp ôtô thế giới Tỷ lệ này đã tăng lên khi so sánh với thời điểm mườinăm trước thì sáu tập đoàn là(General Motor, Ford, Toyota, Nissan, Volkswagen vàPeugeot) chỉ kiểm soát có 58% năng lực sản xuất của toàn ngành công nghiệp ôtô
1.2.2.2.Chia sẻ công nghệ và chí phí nghiên cứu
Các nhà sản xuất ôtô lớn trên thế giới cũng đang phải đối mặt với một nhu cầu ngàycàng tăng đối với các loại xe ôtô an toàn hơn, ít gây ô nhiễm môi trường hơn, tiết kiệmnhiên liệu hơn nhằm thoả mãn những nhu cầu mục đích sử dụng và thị hiếu ngày càngtăng của khách hàng Áp lực về việc thay đổi công nghệ này xuất phát từ nhiều phíatrong đó có các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và người tiêu dùng Điều đó đã làmtăng chi phí lên đáng kể cho việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm
Để giải quyết vấn đề này, nhiều hãng sản xuất ôtô đã buộc phải thu hẹp ngân sáchcho các chương trình nghiên cứu nhằm cải tiến và phát triển sản phẩm bằng cách cùngchia sẻ chi phí nghiên cứu và công nghệ thông qua các đối tác chiến lược có cùng nhucầu và tương đồng về công nghệ
+ Cũng trong năm 2000, hai tập đoàn Toyota và Honda cũng cam kết trang bị hệ thốngthông tin Onstar của tập đoàn General Motor cho một số loại xe của mình Hệ thống này
có thể xác định vị trí của xe ôtô có sử dụng hệ thống định vị toàn cầu(GPS) trong trườnghợp xe bị tai nạn và ứng cứu kịp thời
1.2.2.3 Mở rộng phạm vi địa lý đối với việc mua vào phụ tùng phụ kiện và bán ra sảnphẩm hoàn chỉnh
Môi trường tự do hoá đầu tư đã cho phép các hãng sản xuất ôtô mở rộng phạm vi thịtrường nhanh hơn và rộng lớn hơn cùng với sự cạnh tranh cao về nguồn cung cấp sảnphẩm đầu vào và hệ thống phân phối sản phẩm đầu ra Kết quả là các hãng sản xuất ôtôđang chuyển sang việc mua phụ tùng và dịch vụ từ nhiều nguồn khác nhau trên thế giới.Vào năm 1998 sáu tập đoàn ôtô hàng đầu Thế Giới là General Motor, Ford, Toyota,Daimler Chrysler và Volkswagen được xếp hạng trong 10 tập đoàn trên Thế Giới có tàisản ở nước ngoài cao nhất Sáu tập đoàn này đóng góp 5% tổng giá trị đầu tư trực tiếptrên toàn thế giới
Trang 10Kết luận: từ các kinh nghiệm thành công của một số nước nêu trên cho thấy tiến hànhchính sách mở cửa hội nhập và dám chịu thách thức cạnh tranh là một hướng đi đúngđắn và là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển Tuy nhiên mỗi một quốc gia hay khuvực có những đặc điểm và đặc thù khác nhau vì vậy các quốc gia cần có những chínhsách và bước đi thích hợp với điều kiện và khả năng của mình nhằm khai thác tối đanhững lợi ích mà mở cửa và hội nhập có thể đem lại.
II…Thực trạng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất ô tô tại Việt Namtrong thời kì hội nhập
2.1.Tình hình chung của ngành sản xuất ô tô tại Việt Nam trong thời kì hội nhập
2.1.1.M t s thông tin chính v tình hình ho t ột số thông tin chính về tình hình hoạt động của một số ố thông tin chính về tình hình hoạt động của một số ề tình hình hoạt động của một số ạt động của một số đột số thông tin chính về tình hình hoạt động của một số ng c a m t s ủa một số ột số thông tin chính về tình hình hoạt động của một số ố thông tin chính về tình hình hoạt động của một số công ty l p r p ô tô t i Vi t Nam ắp rắp ô tô tại Việt Nam ắp rắp ô tô tại Việt Nam ạt động của một số ệt Nam.
2.1.1.1.Công ty ôtô Ford Việt Nam
- Giấy phép đầu tư: Số 1365/GP, cấp ngày 5/9/1995
- Tổng Vốn đầu tư: 102.700.000 USD
- Vốn pháp định: 72.000.000 USD
- Phía đối tác nước ngoài: Công ty Ford Motor(Hoa Kỳ) chiếm 75%
- Phía đối tác Việt Nam: Công ty Diesel Sông Công chiếm 25%
- Địa chỉ nhà máy lắp ráp: Tỉnh Hải Dương
- Công xuất thiết kế: 14.000 xe/năm(2 ca làm việc/ngày)
- Các loại sản phẩm: Xe du lịch: Laser
Xe thương mại: xe minibuýt Transit, xe bán tải thùngkín Transit, xe tải nhẹ Transit, tải 4 tấn Trader và xebán tải pickup Ranger
- Thời gian hoạt động: 40 năm
- Thời điểm bắt đầu bán
Trang 11sản phẩm: cuối năm 1997
- Hệ thống phân phối: Hệ thống đại lý: miền Bắc(1), miền Trung(1), miền
Nam(2)
2.1.1.2 Công ty ôtô Toyota Việt Nam
- Giấy phép đầu tư: Số 167/GP, cấp ngày 5/9/1995
- Tổng Vốn đầu tư: 89.606.490 USD
- Vốn pháp đinh: 49.140.000 USD
- Phía đối tác nước ngoài: Tập đoàn ôtô Toyota(Nhật Bản) chiếm 70%
Công ty Kuo asia Pte của Sing ga po chiếm 10%
- Phía đối tác Việt Nam: Tổng công ty máy nông nghiệp và động lực Việt
Nam chiếm 20%
- Địa chỉ nhà máy lắp ráp: Huyện Mê Linh, Tỉnh Vĩnh Phúc(diện tích 21 héc ta)
- Công xuất thiết kế: 20.000 xe/năm
- Các loại sản phẩm: Xe du lịch: Corolla 1.3L, Corolla 1.6L, Camry 2.2L,
Camry 3.0L
Xe thương mại: xe mini buýt Hiace 12 chỗ và 16chỗ, xe 7 chỗ Zace, xe bán tải thùng kín Hiace và xe
2 cầu Landcruiser
- Thời gian hoạt động: 40 năm
- Thời điểm bắt đầu bán
- Hệ thống phân phối: Phòng trưng bày của công ty: miền Bắc(1), miền
Nam(1)Đại lý: miền Bắc(5), miền Trung(1) và miền Nam(6)
Trang 122.1.1.3 Công ty ôtô Mêkong Việt Nam
- Giấy phép đầu tư: Số 208 GP cấp ngày 26/4/1991
- Tổng Vốn đầu tư: 36.000.000 USD
- Vốn pháp đinh: 10.000.000 USD
- Phía đối tác nước ngoài: Saelo Machenical Inc.(Nhật Bản) chiếm 70%
- Phía đối tác Việt Nam: Nhà máy cơ khí Cổ Loa và Sakyno chiếm 30%
- Địa chỉ nhà máy lắp ráp: Có hai nhà máy: 01 tại Thành phố Hồ Chí Minh và
01 ở Đông Anh - Hà Nội
- Công xuất thiết kế: 10.000 xe năm(cả hai nhà máy)
- Các loại sản phẩm: Xe du lịch: Fiat Tempra, Fiat Siena 1.3 và 1.6
Xe thưong mại: Iveco Turbodaily mi ni buýt 17 và
21 chỗ, Iveco Turbodaily bán tải thùng kín, IvecoTurbodaily tải loại 2,5 và 3,3 tấn, xe buýt cỡ lớn 30
và 50 chỗ, xe hai cầu Ssangyong Musso
- Thời gian hoạt động: 20 năm
- Thời điểm bắt đầu bán
- Hệ thống phân phối: Có hai phòng bán và trưng bày sản phẩm của công ty
tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Có 22 đại lý bán hàng uỷ quyền trên toàn quốcMiền Bắc(14), Miền Trung(2), Miền Nam(6)
………
2.1.2.Bức tranh về ngành công nghiệp ô tô tại Việt Nam trong quá trình hội nhập tổ chứcthương mại thế giới WTO
Trang 13
Điều dễ nhận là hầu hết các sản phẩm ôtô đều là nhập khẩu, rất ít được sản xuất, chế tạo
ở Việt Nam mà nếu có thỡ cũng chỉ là lắp rỏp Cho dự ở đâu đó người ta nói tỷ lệ nội địahóa lên đến mấy chục phần trăm có chăng là ở chủng loại xe tải và phần lớn là những bộphận đơn giản, cũn ở chủng loại xe con thỡ chẳng bao nhiờu, nhiều lắm cũng chỉ hơnchục phần trăm Hơn nữa, những mẫu xe của các DN trong nước cũng không nhiều vàxem ra không mấy thu hút khách tham quan Nhiều khách tham quan nhận xét rằng,AutoExpo 2007 đó trở thành nơi thăm dũ thị trường cho các thương hiệu ôtô đến từTrung Quốc Quả thực, các thương hiệu ôtô mới đến từ Trung Quốc như Zotye, ZXAuto
và Brilliance đó trở thành tõm điểm của AutoExpo 2007 Cho dù cũn nghi ngại về chấtlượng xe của Trung Quốc, song nhiều khách thăm quan thừa nhận rằng, xét về mẫu móthỡ xe Trung Quốc khụng thua kộm gỡ cũn về giỏ thỡ khỏi bàn
Thu hỳt nhiều khỏch nhất chớnh là mẫu sedan Zhonghua Nhỡn lướt qua, mẫu xe này códáng vẻ và nét thiết kế ngoại thất khá sang trọng Cùng thương hiệu Brilliance là chiếcmini bus Haise Cỏi tờn cựng với hỡnh dỏng Haise đó làm khụng ớt khỏch tham quanphải giật mỡnh khi nú giống đến bất ngờ mẫu mini bus Hiace của Toyota Ngoài ra, chỉcần nhỡn lướt qua nhiều người cũng có thể nghĩ ngay đến logo của hóng ôtô hàng đầuđến từ Nhật Bản Chiếc Zhonghua có mức giá CIF tại cảng Hải Phũng là 17.100 USD vàHaise cú mức 11.500 USD Điểm nhấn thứ 2 là thương hiệu ZXAuto được đưa về thăm
dũ thị trường thông qua Công ty Bảo Minh JSC với mẫu SUV Landmark và pick-upGrandTiger Nằm trong một khu nhỏ, hai chiếc thể thao đa dụng của Zotye 2008 dungtích động cơ 1.3 có cái giá ấn tượng, 13.500 USD (giá sau thuế) Chiếc Zotye 2008 1.6không trưng bày nhưng có giá 13.900 USD Gương mặt mới thứ 3 đến từ Trung Quốc làchiếc thể thao đa dụng SUV Zotye 2008 Mẫu xe này có bản động cơ xăng 1.3 lít có gắnlogo Mitsubishi, công suất 84 mó lực, mụ men xoắn cực đại 107 Nm Zotye 2008 trang
bị hộp số sàn 5 cấp Zotye 2008 có mức giá sau thuế 13.500 USD cho bản 1.3 lít và13.900 USD cho bản 1.6 lớt
Đó là về xe, cũn khu vực cụng nghiệp phụ trợ thỡ sao? Tại triển lóm cú tới gần 100 giantrưng bày song số DN trong lĩnh vực này chỉ đếm được trên đầu ngón tay Chỉ có mộtvài DN với những sản phẩm mang tính độc lập cao như Casumina, Pinaco, Tia sáng thực
sự trở thành nhà cung cấp nội địa có uy tín cũn phần lớn chỉ sản xuất những sản phẩmđơn giản hoặc là đại diện cho các công ty nước ngoài Mặc dù đó cú quy hoạch về cụng
Trang 14nghiệp phụ trợ song đó mới chỉ là mong muốn của những nhà chiến lược Chẳng nhữngthế mà tại Hội thảo Phương tiện giao thông và công nghiệp phụ trợ, PGS.TS Phan ĐăngTuất, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách chiến lược công nghiệp đó bắt đầu thamluận của mỡnh là: “Con đường nào cho những nhà phụ trợ nội địa ôtô trong bối cảnh hộinhập WTO”
Theo ông Tuất, một chiếc xe ôtô có từ 20.000-30.000 chi tiết và để sản xuất ra nó cần tớihàng ngàn nhà cung cấp linh kiện Thực tế ở Đài Loan có đến 2.013 nhà phụ trợ Theotính toán, mỗi DN lắp ráp cần tối thiểu 20 nhà cung cấp, trong khi ở Việt Nam, hiện chỉ
có khoảng 40 nhà cung cấp linh kiện trên tổng số 50 nhà lắp ráp Tuy nhiên, để phát triểncông nghiệp phụ trợ không phải dễ Với sản lượng lắp ráp của các DN trong nước nhưhiện nay thỡ khụng đủ hấp dẫn để các DN đầu tư vào lĩnh vực phụ trợ Cũn để xuất khẩuthỡ làm sao dỏm cạnh tranh với cỏc nhà cung cấp của Thỏi Lan, Trung Quốc Chớnh vỡđiều này nên thời gian qua các DN chủ yếu đầu tư vào lắp ráp để tranh thủ thị trườngtrong nước Con đường công nghiệp phụ trợ vẫn cũn là cõu hỏi và bức tranh công nghiệpôtô chưa thể sáng hơn
Theo trang báo số ra ngày : Chủ nhật, 5/3/2006, 13:46 GMT+7 đã đề cập đến vấnđề:
Hóy nhỡn nhận đúng về công nghiệp ôtô VN
Theo tụi, việc cho phộp nhập khẩu ụtụ đó qua sử dụng là một quyết định đúng Xin đượcnhỡn vấn đề này ở 2 góc độ, quyết định này có hại gỡ cho cỏc doanh nghiệp và ngànhsản xuất ụtụ trong nước và lợi ích của Nhà nước và đông đảo người dân là gỡ?
From: Nguyen Minh Quan
To: vne-kinhdoanh
Subject: Can bao nhieu nam nua de canh tranh voi o to cu?
Nếu nói việc cho nhập khẩu ôtô cũ khiến cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước khókhăn, vậy các doanh nghiệp này cần thời gian bao lâu để có thể đủ sức cạnh tranh lànhmạnh với xe cũ?
Suốt một quóng thời gian rất dài Nhà nước bảo hộ cho ngành sản xuất ôtô trong nướcnhưng mói cho tới thời điểm hiện nay, các doanh nghiệp ngành này vẫn cũn than là khúkhăn, là cũn non trẻ Chưa kể, giá bán của ôtô trong nước cũng cao gấp nhiều lần giá
Trang 15thành sản xuất và giá ôtô nhập khẩu (đó là chưa nói tới chất lượng của ôtô sản xuất trongnước thấp hơn nhiều)
Nếu trừ tất cả cỏc khoản chi phớ và thuế thỡ chắc chắn lợi nhuận của cỏc liờn doanh này
là một con số khổng lồ Rừ ràng, họ đang lợi dụng sự bảo hộ ưu đói của Nhà nước đểkinh doanh trục lợi mà không quan tâm tới việc đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh.Theo tôi, nếu tiếp tục bảo hộ cho ngành công nghiệp ôtô thỡ e rằng 5 hay thậm chớ 10năm nữa tỡnh hỡnh cũng khụng khỏc mấy so với hiện nay
Theo tôi, việc cho phép nhập khẩu hợp lý xe đó qua sử dụng sẽ thổi một luồng giú cạnhtranh vào thị trường ôtô Điều này sẽ buộc các công ty sản xuất ôtô trong nước phải tỡmmọi cỏch để giảm chi phí và giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ hậu mói
để tồn tại và phát triển
Chỳng ta cú thể thấy một bằng chứng rừ ràng là trước khi S-Fone được phép cung cấpdịch vụ điện thoại di động vào năm 2003, người tiêu dùng Việt Nam đó phải trả mộtmức cước phí cao đến vô lý cho "đại gia" VNPT Chính sự có mặt của S-Fone và saunày là các doanh nghiệp khác như Viettel đó giỳp người tiêu dùng có cơ hội được sửdụng dịch vụ điện thoại di động với mức cước phí tương đối hợp lý hơn và chất luợngcũng ngày càng được nâng cao hơn Trong khi suốt trong một thời gian dài truớc đó, vớicon số kết dư đến hàng nghỡn tỷ đồng mỗi năm, VNPT nào có đầu tư để nâng cao chấtlượng hoặc giảm giá dịch vụ của mỡnh?
Thời gian vừa qua, mọi người đó chứng kiến những bước phát triển rừ rệt của ngànhcông nghiệp ô tô Việt Nam với sự mở rộng quy mô kinh doanh như thành lập thêmtrung tâm thương mại, các văn phũng đại diện, showroom (Mecerdes…), sự “hồi hương”của tập đoàn Daihatsu, sự tham gia sâu của Honda… Tuy nhiên, sự phát triển và lớnmạnh này là của các DN nước ngoài và những chiếc xe nhập khẩu nguyên chiếc Sự pháttriển này không làm cho ngành công nghiệp ô tô ViệtNam phát triển được
Theo ông Trịnh Minh Tuấn đại diện cho tập đoàn MAN ferrostaal AG tại ViệtNam, đểngành công nghiệp ôtô phát triển cần có 3 yếu tố là kỹ thuật, con người và thị trường.ViệtNam có 2 yếu tố là con người và thị trường, nhưng thực tế chúng ta đó khụng cú kếhoạch thực hiện Cụ thể là thị trường rất tiềm năng nhưng hiện tại thỡ quỏ nhỏ hẹp Giỏ
xe quỏ cao không phù hợp với khả năng thanh toán của đại bộ phận người tiêu dùng Hệ