1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

y m nh ho t ng xu t kh u thu s n c a Vi t Nam sang th tr ng EU

53 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 518 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

y m nh ho t ng xu t kh u thu s n c a Vi t Nam sang th tr ng EU tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án,...

Trang 1

http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ

án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cảmọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp của quýkhách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý khách gửi

về luanvanpro.com@gmail.com

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hiện nay, thuỷ sản đang trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ViệtNam Hàng năm, ngành thuỷ sản nói chung và hoạt động xuất khẩu thuỷ sản nói riêng đónggóp hàng tỷ USD vào GDP, góp phần thu hút và tạo việc làm cho hàng triệu lao động Thuỷsản vươn lên trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước

Mặc dù vậy, trong những năm gần đây cũng đánh dấu rất nhiều những vấn đề đặt ra đối vớihoạt động xuất khẩu thuỷ sản ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng sản xuất và xuất khẩunhững mặt hàng thuỷ sản Ngành thuỷ sản Việt Nam đã chứng kiến và trực tiếp là bị đơntrong nhiều vụ kiện bán phá giá đồng thời đang phải đối mặt với rất nhiều diễn biến bất lợitrên rất nhiều thị trường Bên cạnh đó, các vấn đề về hàng rào kỹ thuật - thương mại, vớicác quy định về dư lượng kháng sinh, về nguồn gốc các sản phẩm thuỷ sản, về kiểm dịch đang là những thách thức lớn đối với ngành thuỷ sản hiện nay

Vì vậy, để tìm hiểu thêm và đưa ra một số đề xuất về vấn đề này, em đã chọn đề tài: “ Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU” Đây là một

trong những thị trường xuất khẩu thuỷ sản trọng điểm của Việt Nam, có tính chất tác độngrất lớn đối với các thị trường xuất khẩu khác và trong tương lai có rất nhiều tiềm năng pháttriển mạnh

Mục đích nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU từ năm 2000đến nay Xem xét những thành tựu đạt được, hạn chế, những quy định của EU và nhữngvấn đề đặt ra đối với hoạt động xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam hiện nay Từ đó, đề xuất một

số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam trong thời giantới

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tình hình sản xuất, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường EU từ năm 2000 đếnnay

Phương pháp nghiên cứu

Trang 3

Dựa vào phương pháp nghiên cứu của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vậtlịch sử Ngoài ra, bài viết còn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: phương pháp thống

kê, phân tích, so sánh, tổng hợp, diễn dịch

Đóng góp của đề tài

Cho biết thực trạng hoạt động xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam nói chung và sang thị trường

EU nói riêng hiện nay

Những kết quả đạt được và hạn chế trong việc sản xuất và xuất khẩu thuỷ sản

Những vấn đề đặt ra đối với hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam hiện nay

Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sangthị trường EU trong thời gian tới

Kết cấu của bài viết

Bài viết được chia thành 3 phần như sau:

Chương 1: Tổng quan chung về ngành thuỷ sản

Chương 2: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang thị trường EU hiện nay

Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thuỷ sản Việt nam sang

thị trường EU

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng song vì kiến thức còn có nhiềuhạn chế nên bài viết khó tránh khỏi được những hạn chế và sai sót Em rất mong có được

sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bài viết hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn Th.S.Đỗ Thị Hương đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em thựchiện bài viết này Em xin chân thành cảm ơn

Trang 4

NỘI DUNG Chương 1: Tổng quan chung về ngành thuỷ sản 1.1 Đặc điểm chung về ngành thuỷ sản xuất khẩu

1.1.1 Tận dụng lớn nguồn tài nguyên lãnh thổ quốc gia

Nước là điều kiện sản xuất cơ bản cho sự phát triển nghề nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản.Tài nguyên nước của Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong phần tài nguyên lãnh thổquốc gia Việt nam với hệ thống sông ngòi dày đặc đi sâu vào lãnh thổ quốc gia nên rấtthuận lợi cho phát triển thuỷ sản đến từng vùng

Mặc khác, phát triển ngành nuôi trồng và khai thác thuỷ sản không những không chiếmdụng đất nông nghiệp mà còn có thể tác động trợ giúp cho sự phát triển của các ngành khácnhư nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc Những năm gần đây, Việt Nam tăngcường phát triển môi trường kinh tế hộ gia đình, áp dụng cách thức “đào ao, cải tạo ruộng”

ở nhiều vùng nông thôn để tiến hành khai thác tổng hợp Việc làm này không phải lấnchiếm đất canh tác mà còn tạo ra đất canh tác, coi việc phát triển ngành nuôi trồng và khaithác thuỷ sản làm động lực kéo theo các ngành khác cùng phát triển như: ngành trồng cây

Trang 5

công nghiệp, ngành trồng cây ăn quả, ngành chăn nuôi gia súc và phụ công nghiệp Bêncạnh đó, trong nhiều năm gần đây những vùng ven biển vốn không có khă năng canh táctrồng trọt nay đã được chuyển hướng sang nuôi trồng thuỷ sản đem lại hiệu quả kinh tế cao.

1.1.2 Hoạt động xuất khẩu thủy sản mang lại hiệu quả kinh tế cao

Ngành thuỷ sản không cần phải đầu tư quá nhiều vào nơi sản xuất, tận dụng sự sẵn có vềđiều kiện tự nhiên như tại các vùng biển cạn, bãi bồi, diện tích mặt nước đất liền, đất phèntrũng nếu biết khai thác tốt thì có thể phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản, vừa có lợitrong việc xây dựng hợp lý hệ thống sinh thái, tăng nhanh tốc độ phát triển nông nghiệp lạivừa tăng thêm thu nhập cho ngư dân và nông dân Bên cạnh đó, lao động trong ngành thuỷsản không đòi hỏi kỹ thuật và tay nghề cao (chủ yếu là kinh nghiệm và cách học hỏi nhanhchóng) nên không mất thêm chi phí đào tạo Thêm vào đó, đầu tư vào ngành thuỷ sảnnhanh chóng đem lại nguồn lợi nhanh do thời gian quay vòng vốn nhanh mà giá các mặthàng thuỷ sản xuất khẩu lại cao

1.1.3 Hoạt động sản xuất hàng thủy sản xuất khẩu mang tính chất phức tạp

Ngành thuỷ sản mang nặng tính thời vụ Do đối tượng của sản xuất nuôi trồng thuỷ sản làcác loại động thực vật kinh tế thuỷ sinh nên phải thích ứng với điều kiện nhất định bênngoài mới có thể thúc đẩt khả năng sinh trưởng và phát triển của nó Các biện pháp kỹ thuậtsản xuất nuôi trồng chỉ khi nào phù hợp quy luật sinh trưởng phát triển và sinh sản củađộng thực vật mới có thể đạt được sản lượng cao Hơn nữa, hoạt động nuôi trồng thuỷ sản

là hoạt động ngoài trời, giữa các điều kiện tự nhiên như khí hậu, vùng nước và sinh vật cóảnh hưởng qua lại lẫn nhau đồng thời luôn có sự biến đổi khó lường Do đó, tác độngkhông nhỏ tới việc khai thác, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản Bởi do tính phức tạp và thời

vụ ảnh hưởng rất đến khả năng đáp ứng các hợp đồng cung cấp thuỷ sản lớn và ổn định

1.1.4 Ngành thuỷ sản là một ngành nghề sản xuất mang tính chuyên nghiệp hoá

Điều này được thể hiện ở chỗ: kể từ khâu nuôi trồng, sản xuất đến chế biến và xuất khẩuphải tuân theo một quy trình xuyên suốt đảm bảo tính đồng bộ và đạt chất lượng cao Bởisản phẩm thuỷ sản là những sản phẩm tươi sống nên đảm bảo tính chuyên biệt cao qua mỗi

Trang 6

giai đoạn của quy trình sản xuất Nếu như sản phẩm của ngành bị hỏng, biến chất thì coinhư mất đi giá trị sử dụng.

1.1.5 Hàng thuỷ sản là mặt hàng được ưa chuộng và có giá trị xuất khẩu cao

Hàng thuỷ sản là mặt hàng đựơc khắp nơi trên thế giới ưu thích tiêu dùng Tại các nướcphát triển, người tiêu dùng đặc biệt thích ăn thuỷ sản vì mặt hàng thuỷ sản đảm bảo tươisống, bổ dưỡng, cách chế biến nhanh Các mặt hàng thuỷ sản chế biến thường có gía báncao hơn mặt hàng tươi sống, đem lại giá trị gia tăng nhanh hơn cho nhà xuất khẩu Vì vậy,

mà quốc gia nào có điều kiện tự nhiên và khí hậu thuận lợi cho việc nuôi trồng và khai thácthuỷ sản như Việt Nam thường nhanh chóng đẩy mạnh phát triển ngành thuỷ sản để tạo kimngạch xuất khẩu cao và thu ngoại tệ về để phát triển đất nước

1.2 Vai trò của ngành thủy sản đối với nền kinh tế Việt Nam

1.2.1.Ngành Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia

Theo số liệu đã công bố của Tổng Cục Thống kê, GDP của ngành Thuỷ sản giai đoạn 1995

- 2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.125 tỷ đồng Tính tới tháng 12/2007, kim ngạch xuấtkhẩu thủy sản đạt trên 2,5 tỷ USD, ngành thủy sản chiếm 21% GDP nông - lâm - ngưnghiệp và chiếm hơn 4% GDP trong nền kinh tế quốc dân (Nguồn: Sở thủy sản Hải Phòngngày 4/12/2007) Trong các hoạt động của ngành, khai thác hải sản giữ vị trí rất quan trọng.Sản lượng khai thác hải sản trong 10 năm gần đây tăng liên tục với tốc độ tăng bình quânhằng năm khoảng 7,7% (giai đoạn 1991 - 1995) và 10% (giai đoạn 1996 - 2003) (Nguồn:Tổng cục Thống kê) Nuôi trồng thuỷ sản đang ngày càng có vai trò quan trọng hơn khaithác hải sản cả về sản lượng, chất lượng cũng như tính chủ động trong sản xuất Điều nàytất yếu dẫn đến sự chuyển đổi về cơ cấu sản xuất - ưu tiên phát triển các hoạt động kinh tếmũi nhọn, đem lại hiệu quả kinh tế cao

Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọi miền đất nước

cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt Đến năm 2003, đã sử dụng 612.778 hanước mặn, lợ và 254.835 ha nước ngọt để nuôi thuỷ sản Trong đó, đối tượng nuôi chủ lực

là tôm với diện tích 580.465 ha Năm 2006, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đã tăng lên1.050.000 ha (Nguồn: Trích Trung Tâm Tin học Bộ Thủy sản ngày 18/1/2006)

Trang 7

Bên cạnh những tiềm năng đã biết, Việt Nam còn có những tiềm năng mới được xác định

có thể sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản như sử dụng vật liệu chống thấm để xây dựng côngtrình nuôi trên các vùng đất cát hoang hoá, chuyển đổi mục đích sử dụng các diện tích trồnglúa, làm muối kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản…Nuôi biển là một hướng mở mớicho ngành Thuỷ sản, đã có bước khởi động ngoạn mục với các loài tôm hùm, cá giò, cá mú,

cá tráp, trai ngọc,… với các hình thức nuôi lồng, bè Đồng thời với sự xuất hiện hàng loạtcác trang trại nuôi chuyên canh (hoặc canh tác tổng hợp nhưng lấy nuôi trồng thuỷ sản làmhạt nhân) chuyển đổi phương thức nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến sang bán thâmcanh và thâm canh đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp và nông thôn

Ngành Thuỷ sản có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh tế khác Tỷ trọngGDP của ngành Thuỷ sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng, từ 2,9% (năm 1995) lên3,4% (năm 2000) và đạt 3,93% vào năm 2003 ( Nguồn: Trung Tâm Tin hoc Bộ Thủy sản).Tính tới tháng 9/ 2007, tốc độ tăng GDP của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng3.02% (Nguồn: www.hoinhap.gov.vn ngày 5/2/2007)

1.2.2.Vai trò của ngành thuỷ sản trong việc mở rộng quan hệ thương mại quốc tế

Từ đầu những năm 1980, ngành thuỷ sản đã đi đầu trong cả nước về mở rộng quan hệthương mại sang những khu vực thị trường mới trên thế giới Năm 1996, ngành thuỷ sảnmới chỉ có quan hệ thương mại với 30 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Đến năm 2001,quan hệ này đã được mở rộng ra 60 nước và vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùnglãnh thổ Năm 2006, hàng thủy sản của Việt Nam đã có mặt trên 105 quốc gia và vùng lãnhthổ trên thế giới ( Nguồn: Trung Tâm Tin học Bộ Thủy sản)

Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngành thuỷ sản đã tạo dựngđược uy tín lớn Những nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nhật và các nước trong khối

EU đã chấp nhận làm bạn hàng lớn và thường xuyên của ngành Năm 2003, xuất khẩu thuỷsản của Việt Nam vào bốn thị trường chính là Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc chiếmtrên 75% tổng giá trị kim ngạch, phần còn lại trải rộng ra gần 60 nước và vùng lãnh thổ.Tháng 7/2007, các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn

Trang 8

Quốc, các nước ASEAN, Trung Quốc- Hồng Kông, Nga (Nguồn: Trung tâm tin học BộThủy sản).

Có thể thấy rằng sự mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của ngành thuỷ sản đã gópphần mở ra những còn đường mới và mang lại nhiều bài học kinh nghiệm để nền kinh tếViệt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào khu vực và thế giới

1.2.3.Vai trò của ngành thuỷ sản trong an ninh lương thực quốc gia, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo:

Thuỷ sản được đánh giá là nguồn cung cấp chính đạm động vật cho người dân Năm 2001,mức tiêu thụ trung bình mặt hàng thuỷ sản của mỗi người dân Việt Nam là 19,4 kg, cao hơnmức tiêu thụ trung bình sản phẩm thịt lợn 17,1 kg/người và thịt gia cầm 3,9 kg/người( Nguồn: Trung Tâm Tin học Bộ Thủy sản) Cũng giống như một số nước châu Á khác, thunhập tăng đã khiến người dân có xu hướng chuyển sang tiêu dùng nhiều hơn mặt hàng thuỷsản Có thể nói ngành thuỷ sản có đóng góp không nhỏ trong việc bảo đảm an ninh lươngthực quốc gia

Ngành thuỷ sản với sự phát triển nhanh của mình đã tạo ra hàng loạt việc làm và thu hútmột lực lượng lao động đông đảo tham gia vào tất cả các công đoạn sản xuất, làm giảm sức

ép của nạn thiếu việc làm trên phạm vi cả nước

Đặc biệt do sản xuất của nhiều lĩnh vực như khai thác, nuôi trồng thuỷ sản chủ yếu là ở quy

mô hộ gia đình nên đã trở thành nguồn thu hút mọi lực lượng lao động, tạo nên nguồn thunhập quan trọng góp phần vào sự nghiệp xoá đói giảm nghèo Các hoạt động phục vụ như

vá lưới, cung cấp thực phẩm, tiêu thụ sản phẩm… chủ yếu do lao động nữ thực hiện, đã tạo

ra thu nhập đáng kể, cải thiện vị thế kinh tế của người phụ nữ, đặc biệt là ở các vùng nôngthôn, miền núi Riêng trong các hoạt động bán lẻ thuỷ sản, nữ giới chiếm tỉ lệ lên đến 90%

1.3.Những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu thuỷ sản

1.3.1 Năng lực sản xuất hàng thuỷ sản của Việt Nam

1.3.1.1 Điều kiện tự nhiên trong việc nuôi trồng và khai thác thuỷ sản

Điều kiện địa lý:

Trang 9

Việt Nam có diện tích đất liền rộng khoảng trên 330369 km2 Đường bờ biển của Việt Nam

kéo dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang), đi qua hơn 13 vĩ độ vớinhiều vùng sinh thái khác nhau, nhìn ra Vịnh Bắc Bộ ở phía Bắc, Thái Bình Dương ở miềnTrung và Vịnh Thái Lan ở miền Tây Nam Bộ Diện tích vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng 226nghìn km2, diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế hơn 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đấtliền Vùng biển Việt Nam thuộc phạm vi ngư trường Trung tây Thái Bình Dương, có nguồnlợi sinh vật phong phú, đa dạng, là một trong những ngư trường có trữ lượng hàng đầutrong các vùng biển trên thế giới

Trong vùng viển có 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có những đảo lớn có dân cư, có nhiềuvịnh, vũng, eo ngách, các dòng hải lưu, vừa là ngư trường khai thác hải sản thuận lợi, vừa

là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên để phát triển nuôi biển và xây dựng các khu căn cứ hậucần nghề cá Bên cạnh điều kiện tự nhiên vùng biển, Việt Nam còn có nguồn lợi thuỷ sảnnước ngọt ở trong 2.860 con sông lớn nhỏ, nhiều triệu hecta đất ngập nước, ao hồ, ruộngtrũng, rừng ngập mặn, đặc biệt là ở lưu vực sông Hồng và sông Cửu Long Do đó, ViệtNam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên khắp mọi miền đất nước cả

về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt

Trang 10

Điều kiện tự nhiên

Đối với thủy sản, có nhiều nhân tố khí hậu như: gió, nhiệt độ, không khí, môi trường nước,chế độ mưa, độ mặn,… đã ảnh hưởng đến điều kiện sống khả năng sinh sản và sự di trú củađàn cá, do đó sản lượng đánh bắt cá cũng bị thay đổi theo Do ảnh hưởng bão, lũ nên cáccửa biển không ổn định làm ảnh hưởng đến môi trường của vùng đầm phá, dẫn đến suygiảm đa dạng sinh học

Lũ lụt, nước biển dâng sẽ tác động mạnh đến hệ thống ao hồ nuôi trồng thủy sản, làm tăngnhững điều kiện bất lợi cho việc nuôi tôm, cua, cá nước lợ do bờ đê, đập bị phá vỡ ENSO

là hiện tượng có ảnh hưởng đến nghề cá ở Việt Nam Biến đổi khí hậu làm tăng thêmcường độ của hiện tượng này, do đó cũng sẽ góp phần đáng kể đến sự thay đổi vị trí và mật

độ các bãi cá thông qua cấu trúc các dòng hải lưu và vùng nước trồi, nước trụt

Nguồn tài nguyên thủy sản

- Vùng biển Việt Nam được đánh giá là có chủng loại các động thực vật biển khá đa dạng

và phong phú với khoảng 2000 loại cá biển( trong đó có 130 loài có giá trị kinh tế), 1647loại giáp xác (trong đó có hơn 70 loài tôm mang lại giá trị kinh tế cao và cho sản lượngkhai thác 50-60 nghìn tấn/năm) Ngoài ra, vùng biển Việt Nam còn có hơn 2500 loài nhiễmthể như mực, bạch tuộc cho sản lượng khai thác từ 60-70 nghìn tấn/năm Bên cạnh đó,Việt Nam không chỉ phong phú với những động thực vật biển có khả năng mang lại nguồnlợi kinh tế cao mà còn phong phú đa dạng không kém với những nguồn lợi trong vùng đấtliền

- Nguồn lợi cá nước ngọt bao gồm 554 loài trong 18 bộ, 57 họ, 228 giống với thành phầngiống loài hết sức phong phú

- Nguồn lợi cá nước lợ, mặn bao gồm 186 loài chủ yếu với nhiều loài có giá trị kinh tế caonhư: cá song, cá hồng, cá vược, cá măng, cá cam

Lực lượng lao động trong ngành thuỷ sản

Thực tế cho thấy, nguồn lao động trong ngành thuỷ sản khá dồi dào với số lượng ngày cànggia tăng và khả năng thu hút mạnh từ nguồn lao động của quốc gia Số lao động của ngành

Trang 11

thuỷ sản tăng liên tục từ 3,12 triệu người (năm 1996) lên khoảng 3,8 triệu người năm 2001

kể cả lao động thời vụ Như vậy mỗi năm đã tăng thêm 100 nghìn người Tỷ lệ tăng bìnhquân số lao động thường xuyên của ngành thuỷ sản là 2,4%/ năm, cao hơn mức tăng bìnhquân của cả nước là 2%/ năm Riêng lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, năm 2006 đã thu hút1.400.000 lao động (Nguồn: Trung Tâm tin học Bộ Thủy sản) Đặc biệt, do việc sản xuấtthuộc nhiều lĩnh vực như nuôi trồng, khai thác chủ yếu là quy mô hộ gia đình nên ngànhthuỷ sản trở thành nguồn thu hút lực lượng lao động đáng kể do kết quả hoạt động sản xuấtđem lại hiệu quả kinh tế cao Bên cạnh đó, lao động trong ngành thuỷ sản không ngừngđược nâng cao tay nghề, hầu hết lao động trong ngành thuỷ sản đều thạo nghề và có kinhnghiệm lâu năm

Hệ thống cơ sở kỹ thuật

Từ năm 1991 đến nay, đánh dấu những bước phát triển trong việc cung cấp hệ thống cơ sở

kỹ thuật phục vụ cho việc khai thác và đánh bắt thuỷ sản Nếu như trong những năm đầu,chúng ta chủ yếu sử dụng những tàu thuyền thủ công thì hiện nay khối lượng tàu thuyềnmáy ngày càng được sử dụng nhiều Năm 1991, tàu thuyền máy có 44.347 chiếc, chiếm59,6%; thuyền thủ công 30.284 chiếc, chiếm 40,4%; đến năm 2003 tổng số thuyền máy là83.123 chiếc, tổng công suất đã đạt tới 3.497.457 CV, gấp 5 lần so với năm 1991 Số tàuthuyền có công suất cao tăng khá nhanh, năm 1997- thời điểm bắt đầu triển khai chươngtrình vay vốn tín dụng đầu tư đóng tàu đánh bắt xa bờ, cả nước có khoảng 5.000 tàu đánh

cá xa bờ, đến năm 2000 đã có 5.896 chiếc, năm 2003 có 6.258 chiếc Năm 2004, toànngành thuỷ sản Việt Nam có 85340 tàu thuyền máy chiếm 85% tổng số tàu thuyền các loạivới tổng công suất 4721701 CV trong đó có trên 6075 tàu có công suất 90 CV trở lên.Tổng số tàu khai thác xa bờ là 6258 chiếc với tổng công suất trên 1 triệu CV Do đó, tỷtrọng sản phẩm khai thác xa bờ đã tăng nhanh chóng, năm 2003 đã đạt 38,8% Năm 2005,tổng số tàu thuyền khai thác là 90.880 tàu nâng tổng sản lượng khai thác hải sản lên1.995.400 tấn ( Nguồn: Báo cáo Tổng kết hàng năm Bộ Thủy sản)

Thêm nữa, cơ sở dịch vụ cho việc khai thác thuỷ sản trong những năm gần đây đã có bướcphát triển nhanh chóng, đáp ứng được yêu cầu cơ bản phát triển ngành trong giai đoạn đổi

Trang 12

mới Việc hình thành và xây dựng các cơ sở dịch vụ phục vụ cho việc khai thác thuỷ sảndiễn biến trên 3 lĩnh vực đó là cơ khí đóng sửa tàu thuyền; bến cảng và dịch vụ cung cấpnguyên vật liệu; thiết bị và hệ thống tiêu thụ sản phẩm.

1.3.1.2 Năng lực khai thác, nuôi trồng và chế biến thuỷ sản

Khai thác thuỷ sản

Khai thác thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển ngành thuỷ sản Tổng sảnlượng khai thác hải sản trong 10 năm qua liên tục tăng Năm 1990, tổng sản lượng khai thácmới chỉ đạt 790000 tấn thì đến năm 1997 sản lượng khai thác đã vượt con số 1 triệu tấn,năm 2000, sản lượng khai thác đạt 1280,6 nghìn tấn, gần gấp đôi sản lượng năm 1990 và kể

từ đó tiếp tục tăng( Trích: Báo cáo Tổng kết hàng năm Bộ Thủy sản)

Biểu đồ 1.1 : Tổng sản lượng khai thác thủy sản từ năm 2000-2006

Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của Bộ Thuỷ sảnTính tới tháng 7/2007, tổng sản lượng của Ngành thủy sản đạt 2.165.485 tấn tăng 6,21% so với cùng kỳ năm 2006, trong đó sản lượng khai thác tăng 2,21% đạt 1.247.900 tấn

( Nguồn: Trung tâm Tin học Bộ Thủy sản)

Nuôi trồng thuỷ sản

Trang 13

Nghề nuôi trồng thuỷ sản từ chỗ là một nghề sản xuất phụ, mang tính chất tự cấp tự túc đãtrở thành một ngành sản xuất hàng hoá tập trung với trình độ kỹ thuật tiên tiến, phát triển ởtất cả các thuỷ vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường,hài hoà với các ngành kinh tế khác Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng đều đặn theo cácnăm Cụ thể, năm 1991 diện tích nuôi trồng thuỷ sản mới đạt 520.000 ha, sản lượng đạt335.910 tấn, đến năm 1996 diện tích nuôi trồng thuỷ sản là 585.000 ha, sản lượng nuôitrồng đạt 411.000 tấn, năm 2000, diện tích nuôi là 652.000 ha, sản lượng đạt 723.110 tấn,năm 2003 sản lượng nuôi trồng đã đạt 1.110.138 tấn với diện tích nuôi trồng 902.900 ha( Nguồn: Bộ Thủy sản- Tổng cục Thống kê) Năm 2006, toàn ngành thủy sản đã sử dụng1.050.000 ha diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản nâng sản lượng nuôi trồng lên3.695.927 tấn ( Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm Bộ Thủy sản) Tính tới tháng 7/2007,sản lượng nuôi trồng thủy sản đã tăng 12,19% so với cùng kỳ năm 2006 đạt 917.585 tấn( Nguồn: Trung tâm Tin học Bộ Thủy sản)

Biểu đồ 1.2 : Tổng sản lượng và diện tích nuôi trồng thuỷ sản năm 2000-2006

723.11 879.1 976.1

1110.1 1150.1

1437.4 1694.3652

Nguồn:Báo cáo tổng kết hàng năm của Bộ Thuỷ sản

Nuôi trồng thuỷ sản đang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất hàng hoáchủ lực, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng và đang tiến đến xây dựng các vùngsản xuất tập trung Các đối tượng có giá trị cao có khả năng xuất khẩu đã được tập trung

Trang 14

đầu tư, khuyến khích phát triển, hiệu quả tốt Phát huy được tiềm năng tự nhiên, nguồn vốn

và sự năng động sáng tạo trong doanh nghiệp và ngư dân

Chế biến hàng thủy sản xuất khẩu

Chế biến xuất khẩu là lĩnh vực phát triển rất nhanh, Việt Nam đã tiếp cận với trình độ côngnghệ và quản lý tiên tiến của khu vực và thế giới trong một số lĩnh vực chế biến thuỷ sản.Sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu đảm bảo chất lượng và có tính cạnh tranh, tạo dựng được uytín trên thị trường thế giới Các cơ sở sản xuất không ngừng được gia tăng, đầu tư, đổi mới,được mở rộng ra khắp vùng miền và huy động được sự tham gia của nhiều thành phần kinh

tế khác nhau Đến tháng 11/2007, cả nước đã có 439 nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu.Chất lượng sản phẩm thuỷ sản không ngừng được nâng lên do các cơ sở chế biến ngày cànghiện đại, công nghiệp tiên tiến, quản lý theo tiêu chuẩn quốc tế Từ 18 doanh nghiệp năm

1999, đến nay đã có 171 doanh nghiệp Việt Nam được đưa vào danh sách I xuất khẩu vào

EU, 300 doanh nghiệp áp dụng quy trình quản lý chất lượng sản phẩm theo HACCP, đủtiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường Mỹ, 222 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sảnphẩm vào Hàn Quốc, 295 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào Trung Quốc (Nguồn: Sở Thủy sản Hải Phòng) Bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệpchế biến xuất khẩu thuỷ sản của tư nhân phát triển mạnh trong thời gian qua, nhiều doanhnghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân đã có giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản hàngđầu, một số doanh nghiệp chế biến xuất khẩu đã có kim ngạch xuất khẩu trên dưới 100 triệuUSD mỗi năm

Bên cạnh đó, hiện nay ngành thuỷ sản đang từng bước áp dụng phương pháp quản lý an toàn chất lượng tiên tiến HACCP vào sản xuất Đây là phương pháp quản lý chất lượng tiên tiến của Mỹ và EU, Canada để nâng cao chất lượng và giá trị xuất khẩu hàng thuỷ sản

1.3.2 Hàng rào kỹ thuật của quốc gia nhập khẩu

Rào cản kỹ thuật là các yêu cầu hàng hoá nhập khẩu phải đáp ứng một hệ thống các tiêuchuẩn về quy cách, mẫu mã, bao bì, nhãn mác, chất lượng, an toàn, vệ sinh, mức độ ônhiễm, an toàn đối với người lao động, quy định về quản lý Tùy theo tình hình kinh tế

Trang 15

của từng quốc gia mà mỗi quốc gia lại áp dụng những tiêu chuẩn kỹ thuật khác nhau trong

+ Tiêu chuẩn về quy cách, bao bì, nhãn mác: Về quy cách sản phẩm, các quốc gia đưa ranhững quy cách khác nhau liên quan đến kích thước, hình dạng thiết kế, chức năng sảnphẩm, về bao bì và nhãn mác, các quốc gia yêu cầu ghi đầy đủ thông tin về sản phẩm đồngthời quy định bao bì phải đảm bảo có khả năng tái sinh và không ô nhiễm môi trường

Trang 16

1.3.3 Hệ thống luật pháp và chính sách quản lý của nhà nước

Hệ thống luật pháp và chính sách quản lý của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt độngxuất khẩu thủy sản thông qua các rào cản thương mại của chính phủ:

- Hàng rào thuế quan

- Hàng rào phi thuế quan: Cấp giấy phép, hạn ngạch, các quy định về bảo vệ môitrường, môi sinh, bảo vệ người tiêu dùng, an toàn cho sản xuất cũng như những quy định

về phân phối và tiêu dùng sản phẩm

Ngoài ra, hệ thống luật pháp minh bạch, thông thoáng cũng như các chính sách điều phốinền kinh tế đúng đắn, đặc biệt là chính sách đối ngoại sẽ là nhân tố quyết định tới khả năngthu hút, tìm kiếm và hợp tác với các đối tác kinh tế, lựa chọn thị trường tiêu thụ cho các sảnphẩm thủy sản xuất khẩu

1.3.4 Thị hiếu của người tiêu dùng

Đối với các sản phẩm thuỷ sản, đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng là rấtquan trọng Tuỳ thuộc và từng thị trường mà nhu cầu và thị hiếu là khác nhau Thôngthường, đối với những sản phẩm thuỷ sản, người tiêu dùng ưu thích sử dụng những sảnphẩm tươi sống, đảm bảo chất lượng và thời gian chế biến nhanh Mức tiêu thụ thuỷ sảnbình quân đầu người trên thế giới năm 2006 là 16,3kg/ năm, trong đó mức tiêu thụ thủy sảncủa các nước EU đạt 23,4 kg/người/năm ( Nguồn: Trung tâm Tin học Bộ Thủy sản) Do giátrị của thuỷ sản cao nên mức tiêu thụ phụ thuộc rất nhiều vào mức sống của người dân trênthế giới

1.4 Tầm quan trọng của việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường EU

- Thị trường EU là thị trường có nhu cầu lớn về hàng hóa thủy sản với sự đa dạng và phongphú về sản phẩm xuất khẩu Đây là mặt hàng mà EU luôn phải nhập siêu vì sản xuất trongnước không đáp ứng đủ cho nhu cầu của thị trường nội địa Số liệu của EC cho biết, tổngkim ngạch xuất khẩu nông sản và thủy sản của EU năm 2005 là 33 tỷ USD nhưng nhập

khẩu hai loại ngành này đến 51,6 tỷ USD Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu nông sản và thủy

Trang 17

sản đạt 8%/năm, riêng cá tăng trưởng trung bình hàng năm từ 2000 - 2005 là 4,4% và thủysản chế biến là 4,8% Tính riêng 2005, EU nhập khoảng 1,3 tỷ Euro thủy sản Xuất khẩuthủy sản vào EU là cơ hội của các nước phát triển trong đó có Việt Nam (Nguồn: Thời báokinh tế Việt Nam, ngày 20/6/2006).

- Thủy sản đang trở thành món ăn lựa chọn ưu tiên của người Châu Âu Khu vực ĐôngNam Á là nhà cung cấp thủy sản lớn của EU với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của ASEAN

là 38%/năm Chính vì vậy, hiện nay EC rất quan tâm đến khu vực xuất khẩu này và cả cácnước đang phát triển khác có tiềm năng bán cá và thủy sản chế biến của EU Bên cạnh đó,

EC đang có những biện pháp để xúc tiến đưa con cá, con tôm của nước nghèo vào nhữngnước giàu trong EU Hỗ trợ kỹ thuật là một trong những biện pháp mà EU đã và đang ápdụng để giúp các quốc gia trong đó có Việt Nam xuất khẩu hàng thủy sản sang thị trườngnày Ngoài ra, với luật mới của Eu năm 2006 thì các nước xuất khẩu chỉ cần tiếp cận vàthương lượng với một nhà nhập khẩu chính là EC nhưng lại được tiêu thị sản phẩm ở toàn

EU Do vậy, nó sẽ đem lại nhiều thuận lợi cho Việt Nam khi tiếp cận vào thị trường EUtrong thời gian tới

- Trong những năm gần đây, hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam luôn đạt đượcnhiều thành tích đáng kể Việt Nam luôn có mặt trong top 10 nước dẫn đầu về xuất khẩuthủy sản trên thế giới Những kết quả đó đã tạo ra một vị thế mới cho ngành thủy sản ViệtNam Cùng với sự tăng trưởng chung của hoạt động xuất khẩu thủy sản trên các thị trườngthì hoạt động xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU thời gian gần đây đã có những bướckhả quan Đến 6/2007, EU hiện là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam,chiếm 24,7% tỷ trọng xuất khẩu thủy sản (Nguồn: Trung tâm Tin học Bộ Thủy sản) Bêncạnh đó, xét về khả năng cạnh tranh của hàng thủy sản Việt Nam trên thị trường EU thì tathây: hàng thủy sản của Việt Nam trên thị trường EU có khả năng cạnh tranh với hàng củaThái Lan trên khía cạnh giá: hàng tôm của Việt Nam đưa vào Eu được hưởng mức thuếnhập khẩu là 4%, Thái Lan chịu mức 14% gấp 3,5 lần Việt Nam (Nguồn: Tạp chí Thươngmại Thủy sản, số 2/2007) Do vậy, đây sẽ là cơ hội cho Việt Nam trong thời gian tới để đẩymạnh hoạt động xuất khẩu sang thị trường EU rộng lớn Đồng với, với việc đầy mạnh hoạtđộng xuất khẩu thủy sản nói chung và đầy mạnh hoạt động xuất khẩu thủy sản sang thị

Trang 18

trường EU nói riêng sẽ tạo điều kiện phát triển các vùng kinh tế, đặc biệt là những vùngkinh tế ven biển theo hướng: tận dụng được nguồn tài nguyên thủy sản, giải quyết tìnhtrạng thất nghiệp, tạo việc làm, phát triển con người và công nghiệp hóa ngành kinh tế mũinhọn.

Chương 2: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang

thị trường EU hiện nay 2.1 Khái quát chung về xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam trong thời gian qua

2.1.1.Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam

Kể từ năm 2000 trở lại đây, đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc của ngành thuỷ sản ViệtNam cả về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu Thuỷ sản vươn lên trở thành một trong 3 mặthàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam hiện nay

Biểu đồ 2.1: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam

trong những năm qua

Đơn vị: Triệu USD

Trang 19

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006

(Nguồn: Tổng hợp Tạp chí Thương mại thủy sản - www.fistenet.gov.vn)

Năm 2000 là một năm đáng nhớ của xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam với việc kim ngạch xuấtkhẩu vượt 1 tỷ USD (đạt 1,4786 tỷ USD về giá trị và 52,3% về tốc độ tăng) Nguyên nhânchủ yếu làm cho kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản năm 2000 tăng mạnh là do giá thuỷ sản trênthế giới tăng và xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Mỹ tăng nhanh Theo số liệu biểu đồ 2.1cho thấy, năm 2003 kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạt 2,227 tỷ USD tăng 10,74% so vớinăm 2002 Năm 2004, giá trị kim ngạch đạt 2,4 tỷ USD tăng 7,14% so với năm 2003 Năm

2005, mặc dù thủy sản Việt Nam tiếp tục chịu những ảnh hưởng sau các vụ kiện bán phágiá tại thị trường Mỹ, song kim ngạch xuất khẩu chung của toàn ngành vẫn đạt 2,739 tỷUSD tăng 10,4% so với năm 2004 Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu đạt mức trên 3 tỷUSD, tăng 22,2% so với năm 2005 Tính tới tháng 7/2007, kim ngạch xuất khẩu thủy sản

đã đạt 1,987 tỷ USD Bên cạnh đó, những năm vừa qua cũng nhìn nhận sự tăng lên của sảnlượng xuất khẩu các mặt hàng thủy sản Theo bảng số liệu 2.1 cho thấy, năm 2000 mức sảnlượng thủy sản xuất khẩu đạt 291,92 nghìn tấn tăng 26,95% so với năm 1999; thì tới năm

2004 đạt sản lượng gần gấp đôi 518,747 nghìn tấn và tới năm 2006 sản lượng xuất khẩu đãtăng lên 811,51 nghìn tấn tăng 29,42 % so với năm 2005

Trang 20

Bảng 2.1 : Mức độ tăng trưởng sản lượng xuất khẩu thủy sản

(Nguồn: Tổng hợp Tạp chí Thương mại thủy sản - www.fistenet.gov.vn)

2.1.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản

Cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam trong vài năm qua có nhiều thay đổitheo hướng phù hợp hơn so với thế mạnh trong việc nuôi trồng, khai thác và nhu cầu thịtrường ngày càng cao Các doanh nghiệp xuất khẩu đã chú ý nhiều hơn đến các mặt hànggiá trị gia tăng và đặt trọng tâm vào việc đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu Song songvới việc phát huy tối đa các mặt hàng chủ lực, nhiều mặt hàng mới đã được đưa vào danhmục xuất khẩu và đáp ứng được các yêu cầu chất lượng hàng hóa ở các thị trường khácnhau

Trang 21

Mặc dù phải chịu nhiều áp lực cạnh tranh mạnh mẽ từ các nước xuất khẩu thủy sản và cáchàng rào kỹ thuật tại các nước nhập khẩu song ngành thủy sản Việt Nam đã rất nỗ lực tìmhướng đi trong việc giải quyết vấn đề thị trường cho các mặt hàng thủy sản Vì vậy, trongnhững năm qua đánh dấu sự chuyển biến tích cực trong cơ cấu các mặt hàng thủy sản xuấtkhẩu Năm 2004, cơ cấu mặt hàng xuất khẩy thủy sản chủ yếu của Việt Nam như sau:

- Đối với các sản phẩm tôm: Tôm vẫn giữ vai trò chủ lực, liên tục tăng về giá trị xuất khẩu

và sản lượng Giá trị xuất khẩu tôm chiếm 52%, tăng 17,3% về giá trị xuất khẩu, tăng11,8% về khối lượng so với cùng kỳ năm 2003

- Đối với các sản phẩm cá: Giá trị xuất khẩu các chiếm 22,8%, tăng 16,2% về giá trị, tăng35% về khối lượng so với cùng kỳ Giá trị xu hướng giảm Riêng cá tra, cá basa chiếm12,51% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành và bằng 55,3% nhóm sản phẩm

- Đối với nhóm mực và bạch tuộc: Giá trị xuất khẩu mực và bạch tộc chiếm 6,7%, tăng40,2% về giá trị và tăng 32,1% về khối lượng so với cùng kỳ

- Đối với sản phẩm thủy sản khô: Giá trị xuất khẩu thủy sản khô chiếm 4,2%, tăng 32,2%

về giá trị, tăng 52,4% về khối lượng so với cùng kỳ

- Các sản phẩm thủy sản khác: Sản lượng các sản phẩm thủy sản khác không ổn định, giátrị xuất khẩu chưa cao (Nguồn: Bộ KH&ĐT, Tạp chí dự báo- Kinh tế xã hội Việt Namtrước thềm hội nhập)

Sang năm 2006, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu đã có sự thay đổi đánh kể Theo bảng sốliệu 2.2, năm 2006 tôm vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nước ta, chiếm hơn 44% sảnlượng thủy sản xuất khẩu ; cá đông lạnh chiếm hơn 33% tăng gấp đôi năm 2004, mực vàbạch tuộc đông lạnh chiếm hơn 6% Trong đó, lượng các mặt hàng khô và các mặt hàngthủy sản khác mặc dù kim ngạch xuất khẩu tăng nhưng tăng nhẹ và chiếm tỷ trọng trong cơcấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu ngày càng thấp Cụ thể, mặt hàng khô từ 14,29 % (năm2000) xuống còn 4,24 % năm 2004 và 4,2 % năm 2006; đối với các mặt hàng thủy sản khác

tỷ trọng giảm từ 14,07% năm 2000 xuống còn 13,4 % năm 2004 và 11,3% năm 2006

Bảng 2.2 : Giá trị kim ngạch thủy sản xuất khẩu theo ngành

Đơn vị: Triệu USD

Trang 22

(Nguồn: Tạp chí Thương mại thủy sản (VASEP)- www.fistenet.gov.vn)

Bảng 2.3: Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu theo ngành

n v : %Đơn v ị: % ị: %

Trước đây, các sản phẩm thủy sản của Việt Nam xuất khẩu ở dạng sơ chế chiếm hơn 90%lượng hàng xuất khẩu, tỷ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng thấp Do có nhiều nỗ lực trong

Trang 23

việc đa dạng hóa sản phẩm thủy sản nên hiện nay cơ cấu xuất khẩu thủy sản đã có sựchuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tăng tỷ trọng nuôi trồng, tăng tỷ trọng sản phẩm có giá trịcao Nếu năm 2000, tỷ trọng sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng chỉ đạt gần 8% thì đếnnăm 2001 đã tăng lên 35% và đến năm 2006 là 40-45% Tới năm 2006 giá trị xuất khẩuthủy sản đạt 3348,3 triệu USD (Tạp chí Thương mại Thủy sản ( VASEP)- Bộ Thủy sản2006).

2.1.3 Thị trường xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam

Trong những năm gần đây, cùng với việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu, thị trường xuấtkhẩu thuỷ sản của Việt Nam cũng ngày càng được mở rộng và đa dạng Đến nay, hàng thủysản xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt tại 105 quốc gia và vùng lãnh thổ Tuy nhiên, giá trịkim ngạch xuất khẩu chỉ tập trung vào một số thị trường chính, trong đó riêng 5 thị trườngNhật, EU, Mỹ, Trung Quốc và ASEAN chiếm hơn 80% kim ngạch xuất khẩu thủy sản của

cả nước

Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam

sang các thị trường năm 2006

19.9

25.2 21.6

4.5

4.3

24.5

My Nhat Ban EU ASEAN Trung Quoc Nuoc khac

Trang 24

(Nguồn: Tạp chí Thương Mại Thủy sản số tháng 2/2007)Nhìn vào biểu đồ 2.2 ta thấy, năm 2006, thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của ViệtNam là Nhật Bản với kim ngạch đạt 842,614 triệu USD chiếm 25,2%, thứ hai là thị trường

EU với kim ngạch 723,505 triệu USD chiếm 21,6% và đứng thứ ba là Mỹ với kim ngạchđạt 664,340 triệu USD chiếm 19,9% Trong thời gian gần đây, Trung Quốc (cả HồngKông) đang nổi lên như một thị trường thu hút hàng xuất khẩu thủy sản Việt Nam với kimngạch tăng từ 291,730 triệu USD năm 2000 đã tăng lên tới 145,573 triệu USD năm 2006(Trung tâm Tin học- Bộ Thủy sản) Bên cạnh đó, thị trường ASEAN là thị trường truyềnthống và rất gần chúng ta về mặt địa lý song giá trị kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN cònkhá nhỏ so với tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước và có xu hướng giảm trongvài năm trở lại đây Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trườngASEAN là 165,681 triệu USD (chiếm 7,02%) đã giảm xuống còn 150,961 triệu USD năm

2006 (chiếm 4,5%)

Tính tới tháng 7/2007, trong cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có nhiều

sự thay đổi Thị trường EU từ vị trí thứ 2 năm 2006 đã vươn lên vị trí thứ 1, đạt 500 triệuUSD, chiếm 25,17% thị phần về giá trị (năm 2006 là 21,6%) Thị trường Mỹ trở lại với vịtrí thứ 2, chiếm tỷ trọng 19,58% về giá trị (389,06 triệu USD) Thị trường Nhật Bản tụtxuống vị trí thứ 3, chiếm 18,7% về giá trị , đạt 371,5 triệu USD nguyên nhân là nhữngtháng đầu năm Nhật Bản tiến hành kiểm soát nghiêm ngặt đối với thủy sản Việt Nam Kimngạch xuất khẩu vào thị trường ASEAN đạt 103,6 triệu USD, chiếm thị phần 5,21% về giátrị, tăng 33,14% so với cùng kỳ năm trước Thị trường Trung Quốc và Hồng Kông tăng25,04%, đạt 93,24 triệu USD chiếm 4,7% Điều này cho thấy một sự tăng trưởng khả quancủa hàng thủy sản Việt Nam trong thời gian tới (Thống kê của Bộ Thủy sản)

2.2 Tình hình xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường EU hiện nay

2.2.1.Những nét chung về thị trường thuỷ sản EU

2.2.1.1 Tình hình xuất nhập khẩu thủy sản của EU hiện nay

Liên minh Châu Âu (EU) hiện nay bao gồm 27 thành viên, là một khối liên kết kinh tế chặtchẽ và sâu sắc nhất thế giới và cũng là một khu vực phát triển kinh tế ổn định và có đồng

Trang 25

tiền riêng khá vững chắc Mặt khác, thị trường EU được xác định là một thị trường có nhucầu lớn, đa dạng và phong phú về sản phẩm Đây là thị trường liên kết chặt chẽ thành mộtkhối mậu dịch thống nhất mạnh hạng nhất thế giới, có sức mua lớn, ổn định và cũng là mộtthị trường khó tính về tiêu dùng các mặt hàng nói chung và mặt hàng thủy sản nói riêng Trong những năm gần đây, EU là một trong ba thị trường xuất nhập khẩu thủy sản lớnnhất thế giới cùng với Nhật Bản và Mỹ Đặc điểm nổi bật trong hoạt động thương mại thủysản của các nước EU là kinh doanh xuất nhập khẩu thủy sản chủ yếu được diễn ra trong nội

bộ các nước thành viên nội khối (83%) Hiện nay, EU nhập khẩu thủy sản từ trên 180 quốcgia trên thế giới và là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất với sản lượng là 9,7 triệu tấnvới giá trị là 23.791 triệu EUR (số liệu năm 2004) Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Italy, Anh lànhững thị trường nhập khẩu chính, giá trị nhập khẩu thủy sản hàng năm vượt 1 tỷ USD vàcác nước này cũng chiếm gần 80% giá trị nhập khẩu thủy sản của EU

Bảng 2.4.Giá trị nhập khẩu thủy sản của EU

n v : tri u ECU/ EURĐơn v ị: % ị: % ệu ECU/ EUR

Trang 26

Bảng 2.5: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU năm 2005

( Nguồn: Trung tâm Tin học Thủy sản ngày 2/7/2007)

Năm 2006, nhập khẩu thủy sản của EU (25 nước) đạt mức kỷ lục 28,2 tỷ EUR (38,9 tỷUSD), tăng 10,7% so với 25,5 tỷ EUR năm 2005 Trong khi đó, xuất khẩu thủy sản chỉ đạt15,7 tỷ EUR (21,7 tỷ USD) cho thấy thâm hụt thương mại thủy sản của EU ngày càng lớn

Ba nước nhập khẩu thủy sản lớn nhất trong khối EU là Tây Ban Nha với kim ngạch nhậpkhẩu đạt 4,9 tỷ EUR (6,8 tỷ USD), Pháp (3,9 tỷ EUR), và Italia (3,6 tỷ EUR) Nhập khẩuthủy sản của 3 nước này chiếm tới 45% tổng nhập khẩu vào EU Bỉ là nước duy nhất có giátrị xuất khẩu cao gấp đôi giá trị nhập khẩu nhờ ngành chế biến và thương mại phát triển Banhà cung cấp thủy sản hàng đầu cho thị trường EU là Na Uy (2,7 tỷ EUR), Trung Quốc (1,1

tỷ EUR) và Aixơlen (1,1 tỷ UR) Ngoài ra, Mỹ, Marốc, Áchentina và Việt Nam cũng lànhững nhà cung cấp lượng lớn thủy sản cho thị trường EU Bên cạnh đó, 80% thủy sảnđược sản xuất tại EU dành cho tiêu thụ nội địa, 20% còn lại được xuất khẩu sang các nướcngoài EU Trong đó, Nhật Bản là thị trường nhập khẩu lớn nhất (Nguồn:http://www.agifish.com.vn tháng 8/2007)

Ngày đăng: 20/10/2017, 02:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Kinh tế Quốc tế - NXB Lao động - Xã hội, GS.TS Đỗ Đức Bình và PGS.TS Nguyễn Thường Lạng Khác
2. Quan hệ Kinh tế quốc tế - NXB Thống kê, GS.TS. Võ Thanh Thu Khác
3. Thâm nhập thị trường EU (Những điều cần biết) – Hà Nội: NXB Thống kê 2004, Đoàn Thị Hồng Vân Khác
4. Thị trường xuất - nhập khẩu thủy sản - Hà Nội: NXB Thống kê 2005, Nguyễn Văn Nam Khác
5. Tổng cục Thống kê. Niêm giám thống kê từ năm 2000-2006 Khác
6. Xuất khẩu sản phẩm thủy sản (Hướng dẫn nghiên cứu và tiếp thị ở các thị trường chính của Châu Âu) – NXB Nông nghiệp 2005, Profound – Nhà Tư vấn phát triển7. Diễn đàn Doanh nghiệp Khác
8. Tạp chí Thương mại thủy sản các năm t ừ 2000-2007 9. Thời báo Kinh tế Việt Nam10. Website Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w