Thu nhập bình quân của cán bộcông nhân viên là 1.550.000 đồng/tháng Trước xu thế phát triển chung của thị trường trong và ngoài nước cũng như nhu cầu ngàycàng tăng của khách hàng về vấn
Trang 1http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ
án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cảmọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp củaquý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quý khách
gửi về luanvanpro.com@gmail.com
Thực trạng xuất nhập khẩu của Công ty sản xuất - dịch vụ và xuất nhập khẩu Nam Hà Nội
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế nước ta đang ở giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường có sự quản lý củaNhà nước Việc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế hoạtđộng theo sự vận hành của cơ chế thị trường đã mở ra một thời kỳ mới đầy những cơ hộiphát triển cũng như là những thách thức lớn lao cho các doanh nghiệp, các thành phầnkinh tế ở Việt Nam
Đứng trước những cơ hội và thách thức đó, nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đã thamgia tích cực vào hoạt động kinh doanh không chỉ bó hẹp ở thị trường nội địa mà còn mởrộng vươn ra thị trường nước ngoài Trong những năm gần đây, nhờ vào chính sáchkhuyến khích, hỗ trợ các thành phần kinh tế nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh,nhất là hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu đã giúp cho nhiều doanh nghiệp đạt đượckết quả kinh doanh tốt góp phần đáng kể thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế nước nhà.Một trong những doanh nghiệp khá thành công hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh nộiđịa cũng như xuất nhập khẩu đó là Công ty sản xuất - dịch vụ & xuất nhập khẩu Nam HàNội (HAPROSIMEX SÀI GÒN)
Công ty HAPROSIMEX SÀI GÒN là một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Sở ThươngMại Hà Nội, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ,nông lâm sản Nhờ sự quan tâm, giúp đỡ của UBND Thành phố Hà Nội và các cơ quanquản lý cấp trên, Công ty đã không ngừng vận động và phát triển lớn mạnh Hiện nay,Công ty là doanh nghiệp hạng nhất, hoạt động sản xuất -kinh doanh đa dạng trong đóxuất nhập khẩu là chủ yếu Công ty đã thiết lập được quan hệ thương mại rộng lớn vớikhách hàng quốc tế ở 53 nước và khu vực trên thế giới, thương hiệu HAPROSIMEX SAIGON đã được các doanh nhân, thương nhân trên khắp thế giới biết đến và coi trọng
I QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY HAPROSIMEX SÀI GÒN :
1 Sự hình thành của Công ty sản xuất - dịch vụ & Xuất nhập khẩu Nam Hà Nội (Haprosimex Sài Gòn) :
Ngày 14-08-1991 có mặt tại Thành phố Hồ Chí Minh, có 1 thành viên và chưa có condấu, với số vốn pháp định chỉ có 50 triệu đồng
Trang 3Tháng 1 năm 1992, tiền thân của Công ty sản xuất- dịch vụ và xuất nhập khẩu Nam Hà
Nội là Ban đại diện phía Nam của Liên hiệp Sản xuất - dịch vụ và Xuất nhập khẩu Tiểu thủ công nghiệp Hà Nội được thành lập và đã xin được con dấu, trực thuộc sự
quản lý của Liên hiệp sản xuất - dịch vụ & xuất nhập khẩu Qui mô của Công ty vào thờiđiểm này còn rất nhỏ bé, khiêm tốn : số lượng cán bộ chỉ có 10 người, với kim ngạchxuất nhập khẩu đạt: 500.000 USD, doanh số 5 tỷ đồng
Chức năng nhiệm vụ: thời điểm này Công ty chủ yếu hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Cơ cấu hoạt động xuất nhập khẩu chủ yếu trong thời gian này là hàng thủ công mỹ
nghệ, ngoài ra còn có một số hàng nông sản mà chủ yếu là cafê, chè, tiêu, lạc nhân
2 Quá trình phát triển của Công ty Haprosimex Sài Gòn:
2.1 Giai đoạn đầu của Công ty(1992-1998)
Sau khi được thành lập với tên gọi là Ban đại diện phía Nam của Liên hiệp Sản xuất dịch vụ và Xuất nhập khẩu Tiểu thủ công nghiệp Hà Nội, đến tháng 8 năm 1992 đã đổi
-tên thành Chi nhánh Liên hiệp Sản xuất - dịch vụ và Xuất nhập khẩu Tiểu thủ công nghiệp Hà Nội Thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên là 600.000 đồng / tháng.
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tăng dần và quy mô của công ty ngày càng lớn Năm 1993, số lượng cán bộ công nhân viên là 20 người, kim ngạch xuất nhập khẩu tănglên con số hàng triệu USD và đạt 3.100.000 USD, với doanh số là 35 tỷ đồng Năm 1993,
Công ty đã đổi tên thành : Chi nhánh Công ty sản xuất - xuất nhập khẩu Nam Hà Nội.
Thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên là 800.000 đồng/ tháng
Năm 1994, số lượng cán bộ công nhân viên là 35 người, kim ngạch xuất nhập khẩu lầnđầu tiên đạt ở mức hàng chục triệu USD và đạt 15.000.000 USD, với doanh số kinhdoanh của Công ty là 108 tỷ đồng, thu nhập bình quân của mỗi cán bộ là 950.000 đồng/tháng
Năm 1995, số lượng cán bộ công nhân viên là 50 người, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt14.000.000 USD, với doanh số kinh doanh của Công ty là 95 tỷ đồng, thu nhập bình quâncủa mỗi cán bộ đã đạt trên 1 triệu đồng/tháng và đạt là 1.050.000 đồng/ tháng
Trang 4Năm 1996, số lượng cán bộ công nhân viên là 80 người, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt
14.500.000 USD, với doanh số kinh doanh của Công ty là 181,125 tỷ đồng, thu nhập bình
quân của mỗi cán bộ là 1.100.000 đồng/ tháng
Năm 1997, số lượng cán bộ công nhân viên là 95 người, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt
14.500.000 USD, với doanh số kinh doanh của Công ty là 270 tỷ đồng, thu nhập bình
quân của mỗi cán bộ là 1.200.000 đồng/ tháng
Năm 1998, số lượng cán bộ công nhân viên là 120người, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt
15.000.000 USD, với doanh số kinh doanh của Công ty là 295 tỷ đồng, thu nhập bình
quân của mỗi cán bộ là 1.300.000 đồng/ tháng
Qua bảng 1 cho ta thấy, số lượng lao động của Công ty qua các năm đều tăng Vì
đây là giai đoạn đầu hoạt động của Công ty (1992-1998) nên số lượng lao động của Công
ty qua các năm đều được bổ sung để đáp ứng được chức năng nhiệm vụ hoạt động kinh
doanh ngày càng mở rộng của Công ty Nhưng sự phát triển lực lượng lao động của Công
ty là chưa ổn định, tốc độ phát triển không đồng đều qua các năm, trong đó tốc độ phát
triển trong hai năm 1993 và 1998 là khá cao: năm 1993, số lượng lao động tăng 100% so
với năm 1992 (tức là tăng gấp hai lần), và năm 1998, số lượng lao động tăng 89 % so với
Trang 5Kim ngạch xuất nhập khẩu của Cụng ty tăng dần nhanh năm 1992-1998, năm 1992 kimngạch xuất nhập khẩu mới chỉ đạt 500 nghỡn USD thỡ đến những năm 94-98 kim ngạchxuất nhập khẩu đều đạt hàng chục triệu USD Kết quả này chứng tỏ Cụng ty đó đi đỳnghướng, đang phỏt triển mạnh hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, thị trường xuất nhậpkhẩu được mở rộng Tuy nhiờn tốc độ tăng kim ngạch xuất nhập khẩu của Cụng ty quacỏc năm khụng đồng đều, trong đú năm 1993 và năm 1994 cú tốc độ tăng cao nhất tươngứng là 520% và 384%, cỏc năm 94-98 kim ngạch xuất nhập khẩu của Cụng ty đều tăngnhưng với tốc độ nhỏ, khụng đều và chỉ đạt ở mức vài phần trăm
Theo số liệu tổng kết của bảng trờn cho thấy, chỉ riờng năm 1995 doanh số kinh doanhcủa Cụng ty đạt 95 tỷ đồng, giảm 13 tỷ đồng so với năm 1994, cũn lại doanh số kinhdoanh của Cụng ty qua cỏc năm đều tăng cho thấy hoạt động kinh doanh của Cụng tyđang phỏt triển khỏ cao, gúp phần tăng lợi nhuận cho Cụng ty Tuy nhiờn tốc độ tăngdoanh số kinh doanh qua cỏc năm khụng đồng đều, tốc độ tăng nhanh trong năm 1993 vànăm 1994, từ năm 1996 -1998 doanh số kinh doanh đều tăng nhưng tốc độ tăng lại giảmdần
Hỡnh 1: Tỡnh hỡnh hoạt động kinh doanh của cụng ty (1992-1998)
108
95 181
270 295
Số lao động
Kim ngạch XNK (triệu$)
Doanh số kinh doanh (tỷ đồng)
Trang 6Bảng 2: Thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên của Công ty
Có được kết quả này là nhờ sự phát triển không ngừng của công ty từ khi được thành lập
2.2 Giai đoạn từ năm 1999-nay:
Đây là giai đoạn phát triển có nhiều biến động của Công ty trên cơ sở sát nhập với cácCông ty và xí nghiệp khác
-Ngày 02/01/1999, theo Quyết định số 07/QĐUB của Uỷ ban nhân dân thành phố
Hà Nội, Chi nhánh Công ty sản xuất - xuất nhập khẩu Hà Nội đã tiến hành sát nhập với
Xí nghiệp Phụ tùng xe đạp xe máy Lê Ngọc Hân và Công ty đã đổi tên với tên gọi mới là:Công ty sản xuất - Xuất nhập khẩu Nam Hà Nội ra đời
Trụ sở chính : 28B Lê Ngọc Hân -Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Có thể nói, sau khi ra đời công ty đã vấp phải rất nhiều khó khăn do đổi mới về cơ chếlàm việc, bộ máy tổ chức hành chính và đặc biệt là những khó khăn về con người mớichưa kịp nắm bắt những công việc mới và hoạt động của công ty Song với một ban lãnhđạo có tài năng và kinh nghiệm cũng như một đội ngũ nhân viên nhiệt tình với công việc,hoạt động kinh doanh của công ty đã dần đi vào thế ổn định Sau khi sát nhập, số lượngcán bộ công nhân viên của Công ty là 296 người, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanhđạt 19,1 triệu USD và doanh số kinh doanh đạt mức 255 tỷ đồng, trong đó doanh số thực
Trang 7tự doanh (tổng doanh thu) là 96,1 tỷ đồng Thu nhập bình quân của một cán bộ công nhânviên là 1.500.000 đồng/tháng
-Năm 2000, số lượng cán bộ công nhân viên và người lao động của Công ty là 332 người,kim ngạch xuất nhập khẩu tăng và đạt 20 triệu USD, doanh số kinh doanh đạt 286 tỷđồng, trong đó doanh số thực tự doanh là 139 tỷ đồng Thu nhập bình quân của cán bộcông nhân viên là 1.550.000 đồng/tháng
Trước xu thế phát triển chung của thị trường trong và ngoài nước cũng như nhu cầu ngàycàng tăng của khách hàng về vấn đề dịch vụ và đặc biệt là sức ép từ các đối thủ cạnhtranh ở cả trong và ngoài nước, tháng 12/2000, UBND Thành phố Hà Nội ra Quyết định
số 6908/QĐ-UB ngày 12/12/2000 sát nhập Công ty ăn uống dịch vụ bốn mùa vào Công
ty sản xuất -XNK Nam Hà Nội, đổi tên Công ty sản xuất -Xuất nhập khẩu Nam Hà Nộithành Công ty sản xuất-dịch vụ và Xuất nhập khẩu Nam Hà Nội, và chuyển Công ty vềtrực thuộc Sở Thương Mại để thực hiện quản lý về mặt Nhà nước
Tên giao dịch : Haprosimex Sai Gon
Tên viết tắt : Hapro
Trụ sở giao dịch chính của Công ty: chuyển đến 38-40 Lê Thái Tổ, Quận Hoàn Kiếm, HàNội
E-mail: hap@fpt.vn & haprosaigon@hn.vnn.vn
-Năm 2001, số lượng cán bộ công nhân viên của Công ty đã là 500 người, kim ngạchxuất nhập khẩu đạt 20 triệu USD, doanh số kinh doanh đạt 288 tỷ đồng, trong đó doanh
Trang 8số thực tự doanh là 169 tỷ đồng Thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên đạt mức1.600.000 đồng /tháng
-Năm 2002, số lượng cán bộ công nhân viên và người lao động tăng nhanh và đạt 661người, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh và đạt 28 triệu USD, thị trường ngày càngđược mở rộng, doanh số thực tự doanh là 265 tỷ đồng Thu nhập bình quân của cán bộcông nhân viên là 1.650.000 đồng /tháng
Tháng 3/2002 để triển khai dự án xây dựng Xí nghiệp Liên hiệp chế biến thực phẩm HàNội, UBND thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 1757/QĐ-UB ngày 20/3/2002 về việcsát nhập Xí nghiệp giống cây trồng Toàn Thắng thuộc Công ty giống cây trồng Hà Nộivào Công ty sản xuất - dịch vụ & xuất nhập khẩu Nam Hà Nội Xí nghiệp giống câytrồng Toàn Thắng có 133 người và với diện tích là 66 ha
Từ khởi điểm với số vốn rất nhỏ bé là 50 triệu đồng nhưng đã được bổ sung tích luỹ từngbước Cho tới nay, thời gian hoạt động phát triển chưa phải là dài, song hiện nayHaprosimex Sài Gòn là một trong những Công ty sản xuất kinh doanh hàng đầu củathành phố Cho đến năm 2002 vốn cố định của công ty đã lên đến 20 triệu USD Công ty
đã có trụ sở riêng, văn phòng riêng, kho bãi, nhà xưởng phương tiện đi lại Tài sản cốđịnh của Công ty gồm có:
*Hai toà nhà trụ sở : một ở Hà Nội và một ở TP HCM
-Trụ sở 38-40 Lê Thái Tổ Hà Nội : 2.160 m2 nhà
-77/79 Phó Đức Chính TP HCM : nhà 7 tầng với 1.000 m2
*Ba nhà xưởng sản xuất thủ công mỹ nghệ và xí nghiệp sản xuất sắt
*Một nhà máy chế biến thực phẩm tại Quận Gia Lâm HN
-Văn phòng 28B Lê Ngọc Hân Hà Nôị : 400 m2 nhà
-Kho, xưởng sản xuất xã An Phú, Thuận An, Bình Dương : Nhà + Kho : 4000 m2 đất8.000 m2
-Phương tiện xe : 5 chiếc, thiết bị văn phòng hoàn chỉnh
-Hai phòng trưng bầy trong các toà nhà
Từ năm 1999-2002 là giai đoạn có nhiều sự biến động, số lượng cán bộ công nhân viêntăng nhanh, kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty cũng như doanh số kinh doanh đạt
Trang 9được những kết quả cao, thu nhập của cỏn bộ cụng nhõn viờn của Cụng ty tăng giỳp cảithiện đời sống cho cỏn bộ cụng nhõn viờn Sự biến động này được thể hiện qua cỏc bảngsau:
Bảng 3: Tỡnh hỡnh kinh doanh của Cụng ty từ năm 1999-2002
Hỡnh 2 : Tỡnh hỡnh hoạt động kinh doanh của cụng ty (1999-2002)
Doanh số kinh doanh của cụng ty từ năm 1999-2002 đều tăng điều này phản ỏnh hoạtđộng kinh doanh ngày càng phỏt triển nhưng với tốc độ tăng khụng đồng đều Cú đượckết quả này là nhờ cú sự chỉ đạo tận tỡnh của Ban Giỏm đốc Cụng ty và mỗi cỏn bộ cụng
Doanh số kinh doanh Tỷ
đồng
Trang 10nhân viên đều nỗ lực cố gắng hết mình để đưa công ty ngày càng phát triển trở thành mộttrong những đơn vị hàng đầu của Thành phố
Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty từ năm 1999-2002 phát triển khá, năm sau đạtkết quả cao hơn so với năm trước, chứng tỏ Công ty đã hoạch định chiến lược kinh doanhđúng hướng Để có được kết quả như vậy, Công ty đã không ngừng cải tiến, phát triểnquan hệ bạn hàng cả trong và ngoài nước nhằm tăng dần doanh thu và lợi nhuận, thu hútnhiều cán bộ công nhân viên có nghiệp vụ và tay nghề cao về với Công ty, từ đó nâng cao
uy tín và sự tin tưởng của khách hàng khi làm ăn với Công ty, hiện tại Công ty đã cóquan hệ bạn hàng với 53 nước và khu vực trên thế giới
2.3 Chức năng, nhiệm vụ hoạt động của Công ty Haprosimex SaiGon:
Theo nhiệm vụ và quyền hạn của Công ty đã được ghi trong điều lệ Công ty và mục tiêukinh doanh là đáp ứng nhanh chóng và kịp thời cả về số lượng và chất lượng, dịch vụ chomọi nhu cầu của khách hàng Có thể khái quát chức năng, nhiệm vụ hoạt động kinhdoanh chủ yếu của công ty như sau:
-Xuất khẩu các mặt hàng nông lâm hải sản, thủ công mỹ nghệ dựa trên điều kiện và tiềmnăng to lớn về hàng xuất khẩu của các tỉnh
-Nhập khẩu nguyên liệu, thiết bị vật tư kỹ thuật phục vụ đời sống của nhân dân thủ đô vàcác tỉnh trong nước
-Mục đích hoạt động của công ty là góp phần phát triển sản xuất thông qua liên doanhliên kết tạo thêm hàng xuất khẩu thu ngoại tệ để nhập khẩu vật tư kỹ thuật, hàng tiêudùng nhằm phục vụ yêu cầu của sản xuất và đời sống của nhân dân
Nội dung hoạt động của công ty bao gồm:
Công tác xuất khẩu là hoạt động kinh doanh chính, trọng tâm và là quan trọng nhất cótính chiến lược quyết định sự phát triển của công ty
-Tổ chức sản xuất, khai thác chế biến, kinh doanh và xuất khẩu các mặt hàng Thủ công
mỹ nghệ, hàng nông sản, lâm sản
-Đưa hàng công nghiệp từ Hà Nội xuống các địa phương, cơ sở các tỉnh phía Nam để traođổi lấy hàng xuất khẩu
Trang 11-Công ty được quyền xuất nhập khẩu trực tiếp, uỷ thác cho các đơn vị kinh tế khác Công
ty có quyền ký kết các Hợp đồng với các tổ chức kinh tế nước ngoài, đồng thời được dựcác hội chợ giới thiệu sản phẩm, đàm phán quyết giá mua, giá bán với tất cả các tổ chứckinh tế nước ngoài và các tổ chức kinh tế trong nước
-Sản xuất - kinh doanh các mặt hàng Thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát
-Các dịch vụ thương mại, du lịch, khách sạn, ăn uống, quảng cáo
2.4 Ngành nghề kinh doanh (lĩnh vực hoạt động) của Công ty:
Dựa vào mục tiêu hoạt động và chức năng nhiệm vụ của Công ty, các ngành nghề lĩnhvực kinh doanh của Công ty là :
-Năm 1999, những ngành nghề kinh doanh Công ty tham gia:
+Sản xuất kinh doanh hàng nội thất, gia công các mặt hàng phục vụ cho tiêu dùng trongnước và xuất khẩu
+Sản xuất thu mua chế biến(kinh doanh) và xuất khẩu các mặt hàng nông sản, lâm sản,hải sản, khoáng sản, tiểu thủ công mỹ nghệ và hàng công nghiệp
+Nhập khẩu máy móc, thiết bị nguyên vật liệu phục vụ cho các ngành sản xuất và tiêudùng bao gồm cả ngành sản xuất nước giải khát
+Dịch vụ giao nhận vận chuyển hàng hoá trong và ngoài nước
+Kinh doanh xuất nhập khẩu trang thiết bị y tế
+Dịch vụ hội chợ quảng cáo thương mại
+Sản xuất, kinh doanh xe đạp các loại và phụ tùng xe đạp, xe máy
+Kinh doanh khách sạn, vũ trường, dịch vụ ăn uống, du lịch lữ hành
+Đại lý, đại diện cho thuê văn phòng
+Nhập khẩu dây chuyền thiết bị toàn bộ
+Dịch vụ tư vấn thương mại, chuyển giao công nghệ
-Ngày 14/5/2001, Công ty đã đăng ký bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh sau:
+Dịch vụ cung ứng lao động cho các nhu cầu về lao động giản đơn theo nhu cầu xã hội( theo quyết định số 2717/QĐUB ngày 14/5/2001 của UBND thành phố HN)
Trụ sở giao dịch : như trên
Trang 12-Ngày 14/11/2001, Công ty đã đăng ký kinh doanh bổ sung thêm ngành nghề kinh doanhmới: kinh doanh bất động sản ; dịch vụ tư vấn môi giới nhà đất ( theo quyết định số 6817/QĐUB ngày 14/11/2001 của UBND thành phố HN)
-Ngày 3/4/2002, Công ty đã đăng ký bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh: xây dựng dândụng và công nghiệp ( theo quyết định số 2179/QĐUB ngày 3/4/2002 của UBND thànhphố HN)
-Ngày 8/11/2002, Công ty đã đăng ký bổ sung thêm các ngành nghề kinh doanh mới sau:+Sản xuất kinh doanh các mặt hàng thực phẩm được chế biến từ động vật thực vật
+Sản xuất kinh doanh rượu bia, nước uống tinh khiết, các loại nước giải khát
+Sản xuất kinh doanh các loại chè uống
(Có quyết định số 7666/QĐUB ngày 08/11/2002 của UBND Thành phố HN)
II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY HAPROSIMEX SÀI GÒN:
1.Sản phẩm:
1.1 Trong lĩnh vực Xuất khẩu
Sản phẩm xuất khẩu chính là yếu tố quyết định sự thành bại của bất cứ hoạt động kinhdoanh xuất nhập khẩu nào Để đảm bảo cho xuất khẩu, công ty có một nguồn hàng dồidào cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu, thị hiếu của khách
Trang 13hàng Hàng xuất khẩu của Công ty hiện nay đã và đang xuất khẩu được sang 53 nước vàkhu vực trên thế giới Trong những năm tới công ty sẽ phát triển thêm những mặt hàngxuất khẩu và gia tăng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng đặc biệt là các mặt hàng chủ lựcsang các thị truờng cũ và những thị trường mới Các sản phẩm xuất khẩu chính của công
-Hàng công nghiệp nhẹ: giầy dép, túi xách, đồ nhựa, may mặc
Trên đây là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực hiện nay của công ty
Qua số liệu thống kê bảng 4, giá trị xuất khẩu các mặt hàng của công ty theo các năm đềutăng so với năm trước cho thấy hoạt động xuất khẩu của công ty ngày càng được mở rộngvới tốc độ tăng trưởng cao, các mặt hàng xuất khẩu được đa dạng hơn Tỷ trọng kimngạch xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ và mặt hàng nông sản chiếm tỷ trọng lớn(trên 90%) trong kim ngạch xuất khẩu của Công ty, tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng côngnghiệp nhẹ khá nhỏ bé (dưới 10%) Từ đó có thể khẳng định được mặt hàng xuất khẩuchủ lực của Công ty là thủ công mỹ nghệ (chủ yếu là mây tre và gốm sứ) và hàng nôngsản (chủ yếu là tiêu, lạc)
Đáng chú ý là giá trị xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ đều tăng qua các năm songtốc độ tăng ngày càng giảm và tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ năm2000-2002 cũng có xu hướng giảm (năm 2000 là 47,12%, năm 2002 chỉ đạt 37,19% ),phản ánh mức độ cạnh tranh khó khăn của mặt hàng thủ công mỹ nghệ, tuy nhiên công tyvẫn được đánh giá là một trong những đơn vị đứng đầu cả nước về xuất khẩu hàng thủcông mỹ nghệ Trong khi đó tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng nông sản ngày càng tăng (năm
2000 chỉ ở mức 40,44% đến năm 2002 đạt mức 60,77%), đặc biệt là năm 2002 giá trịxuất khẩu mặt hàng nông sản đã tăng đột biến (hơn 60%) Có được kết quả này một phần
là nhờ vào biện pháp hỗ trợ tài chính của Nhà nước để khuyến khích xuất khẩu nông sản
Trang 14Điều này chứng tỏ mặt hàng nông sản ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong kimngạch xuất khẩu của Công ty và nó cũng phản ánh được sự phát triển mạnh của ngànhnông sản
Bên cạnh những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Công ty nói trên, gần đây công ty còn
mở rộng xuất khẩu một số mặt hàng và thị trường mới như:
Bảng 5 : Một số mặt hàng xuất khẩu mới của Công ty năm 2002
n v tính : USD Đơn vị tính : USD ị tính : USD
1 Vách ngăn nội thất bằng sản phẩm trúc Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ 229.496
2 Đồ chơi giả làm từ sắt phế liệu Nhật, Bỉ, TBN, Isaren 109.836
3 Bộ đồ ăn bằng tre ép Singapo, Nauy, Đức, Anh,
Thái lan, TBN, ý, Canada,Achentina
177.083
4 Rương bộ 3 đựng quần áo làm từ mây
guột
TBN, Bỉ, P.Lan, Đức ý,Isaren, Colombia, Pháp ,Đ.Mạch,Hà Lan, Hy Lạp
267.770
Trang 151.2 Lĩnh vực Nhập khẩu
Việc nhập khẩu các sản phẩm chủ yếu là máy móc thiết bị, nguyên liệu phục vụ cho sảnxuất nước giải khát, cho các dự án xây dựng do phòng nhập khẩu, trung tâm XNK Máy &thiết bị, Trung tâm kinh doanh hàng tiêu dùng của Công ty Bên cạnh đó Công ty cũngtham gia làm dịch vụ nhập khẩu uỷ thác dựa trên nhu cầu của khách hàng trong nước ởtất cả các tỉnh thành
Thị trường hàng Nhập khẩu thường từ các nước Công nghiệp phát triển và mặt hàng nhậpkhẩu thường là những máy móc kỹ thuật cao nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của Công
ty theo yêu cầu của người uỷ thác
Bảng 6 : Kim ngạch nhập khẩu đối với một số mặt hàng của công ty
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh
1.3 Lĩnh vực sản xuất kinh doanh và tiêu thụ nội địa :
Như đã trình bầy, chức năng và nhiệm vụ trọng tâm của công ty là nằm trong hoạt độngkinh doanh xuất nhập khẩu Song với những con người mới, năng động, chủ trương vàphương hướng hoạt động mới, công ty nhận thấy rằng không thể bỏ qua thị trường trongnước Từ định hướng đúng đắn về việc phải quan tâm đến thị trường trong nước, một thịtrường tiêu thụ có tiềm năng dồi dào và sức mua lớn (hơn 80 triệu dân) Do vậy, mànhững năm gần đây công ty đã bắt đầu có những hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêuthụ nội địa để mở rộng phạm vi hoạt động của công ty, nâng cao đời sống cho cán bộcông nhân viên và cũng là để phục vụ cho hoạt động xuất khẩu
Công ty chủ yếu sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ và chế biến thực phẩm
Trang 16Đối với thị trường trong nước, Công ty chủ yếu kinh doanh loại hình dịch vụ như ănuống, giải khát, khách sạn, du lịch, văn phòng cho thuê và tìm kiếm lao động cho cácCông ty Công ty mới triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh các mặt hàng sau:
-Các mặt hàng chế biến thực phẩm : như thịt hộp, xúc xích
-Các mặt hàng đồ uống : rượu nếp Hapro, các loại nước giải khát
Công ty đang có nhiều kế hoạch dự định mở thêm nhiều loại hình dịch vụ khác nhằmtăng mức doanh thu và lợi nhuận, và đang tiến hành chủ trương Cổ phần hoá doanhnghiệp
Bảng 7: Hoạt động kinh doanh và tiêu thụ nội địa
+Châu Âu : Pháp, Đức, Italia, Anh, Bỉ Đây là một thị trường tương đối khó tính Đối
với thị trường này, khách hàng thường có xu hướng tìm hiểu kỹ mặt hàng mà mình dựđịnh đặt hàng, để tìm ra nơi đáng tin cậy để đặt hàng và nhận chào giá từ các Công ty, từ
đó đi đến quyết định đặt hàng đối với Công ty nào và họ thường có xu hướng đặt sốlượng nhiều ngay từ đầu
+Châu Á : Nhật, Hồng Kông, Singapo, Malaysia, Trung Đông Đây là thị trường cực kỳ
khó tính, khách hàng thường tìm hiểu kỹ về con người, cách thức tổ chức và cách làmviệc, sau đó tìm ra một khách hàng đáng tin cậy để đặt hàng Lúc đầu, họ thường đặt với
số lượng ít sau đó tăng dần lên khi họ cảm thấy nhà cung cấp làm hài lòng họ, điều này
Trang 17đặc biệt đúng với các khách hàng người Nhật Nắm bắt được điều này, Hapro đã chủđộng đưa ra các phương hướng, đối sách phù hợp để bắt kịp với tâm lý của khách hàng.
Từ đó tạo cơ sở cho việc ký hợp đồng từ nhỏ đến lớn
+Châu Úc : Australia: Thị trường này có vẻ dễ tính hơn so với hai thị trường trên, cáchthức làm việc của họ có vẻ dễ dàng hơn Tuy nhiên, vì làm việc với khách hàng nướcngoài thường có khuôn khổ pháp luật dày đặc nên Công ty cũng chủ động trong việc làmhàng có chất lượng, mẫu mã đẹp nhằm nâng cao uy tín của mình, đồng thời giữ đượckhách hàng buôn bán lâu dài với Công ty, tạo lòng tin với khách hàng
+Châu Mỹ : Hoa Kỳ, Brazil, Argentina
Bắc Mỹ có xu hướng làm ăn chặt chẽ Kinh doanh với thị trường này đòi hỏi phải hết sứccẩn thận để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả Công ty luôn có chiến lược cụ thể làm việc
để làm sao đạt kết quả cao nhất và thu lợi nhuận
Nam Mỹ thì dễ tính hơn nhưng họ thường thiên về giá cả rẻ mà chất lượng đảm bảo.Chính điều này đòi hỏi Công ty rất cẩn thận với loại khách hàng này để làm sao chi phí
bỏ ra rẻ, nhưng cũng đảm bảo về mặt chất lượng
Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng nước ngoài và mở rộng thị trường kinh doanh, Công
ty có 1 số trang Web riêng giới thiệu cho từng mặt hàng vì thực tế giao dịch trên thịtrường quốc tế khách hàng thường chọn đối tác kinh doanh chuyên sâu vào một số mặthàng để mua và cứ 6 tháng /lần sẽ thay đổi mẫu mã hàng trên mạng như:
Trang 18Nguồn: Báo cáo kết quả 1999-2002, Phòng khu vực thị trường
Nhìn chung, thị trường xuất khẩu của công ty trong những năm gần đây khá ổnđịnh, kim ngạch xuất khẩu trên từng thị trường có xu hướng tăng lên theo từng năm, đặcbiệt mặt hàng xuất khẩu sang các thị trường này là thủ công mỹ nghệ và nông sản Tuynhiên trên thực tế giá trị xuất khẩu trên từng thị trường vẫn còn ở mức khá thấp so vớitiềm năng mà công ty có thể khai thác được, chỉ có một số thị trường như Singapore,Hongkong, Malaysia, Nhật Bản là có mức kim ngạch xuất khẩu khá cao Trong khi đóvới những thị trường lớn như Tây Âu, Bắc Âu, Trung Quốc là những thị trường rất lớn,
có tiềm năng cao thì công ty lại chưa khai thác được Chẳng hạn như giá trị xuất khẩusang thị trường Trung Quốc -một thị trường có sức tiêu thụ lớn (hơn một tỷ dân) lại chưavượt quá con số 1 triệu USD/ năm, hay như thị trường các nước Bắc Âu thì kim ngạchxuất khẩu của công ty vẫn còn rất hạn chế trung bình chỉ đạt khoảng trên nửa triệuUSD/năm, trong khi đó thị trường xuất khẩu chủ yếu của công ty vẫn tập trung vào khuvực Đông Nam Á (Singapore, Malaysia ) Về mặt số lượng thị trường thì kể từ năm 1999cho đến 2002, số lượng các thị trường mà công ty có mối quan hệ buôn bán đã tăng lênđáng kể, đặc biệt là việc mở rộng sang các thị trường như Trung Đông, Nga và đặc biệt làthị trường Trung Quốc Vì vậy, công ty cần phải luôn xác định được những thị trườngnào là thị trường chiến luợc và xuất khẩu mặt hàng gì được coi là mặt hàng mũi nhọn Chiến lược thị trường trong những năm tới của Công ty là : Tiếp tục đẩy mạnh xúc tiếnthương mại, tăng cường kim ngạch xuất khẩu sang nhiều thị trường, giữ vững những thịtrường truyền thống, đồng thời phát triển sang các thị trường lớn tiềm năng như thịtrường Mỹ, Đông Âu, Châu Phi và Trung Đông Để có được kết quả cao, điều quan trọngnhất mà công ty phải luôn ý thức được rằng để giữ uy tín và mối quan hệ lâu dài thì giá
cả hợp lý và chất lượng hàng hoá phải luôn được đặt lên hàng đầu Đảm bảo được hai yếu
Trang 19tố này thì công ty có thể giữ được mối quan hệ bạn hàng lâu dài cũng như có thể xâmnhập được vào một thị trường mà có đòi hỏi hết sức khắt khe như Mỹ, Nhật Bản
2.2 Khách hàng trong nước : Công ty có quan hệ bạn hàng với nhiều Công ty hoạt động
trong nhiều lĩnh vực khác nhau:
+ Hàng thủ công Mỹ nghệ và nông sản : Công ty Mây Tre Ngọc Sơn, Công ty Gốm sứBát Tràng, Công ty TNHH Đại Lộc, Tổ sản xuất mây tre Huyền Thu, Công ty chè MộcChâu, Công ty chè Thái Nguyên
+Trong lĩnh vực dịch vụ Công ty phục vụ tất cả các khách hàng trong nước
Trong thị trường này Công ty chủ động kinh doanh trên tất cả các tỉnh thành, đặc biệtCông ty chú trọng đến những khu vực đông dân cư và có mức thu nhập cao
Nhìn chung, thị trường hoạt động của Công ty rất rộng lớn, chỉ trong vòng 10 năm Công
ty đã thiết lập được mối quan hệ làm ăn rất nhiều đối tác tin cậy, vừa có thể đáp ứng đượcnhu cầu khách hàng, vừa tạo điều kiện mở rộng kinh doanh của Công ty, góp phần nângcao mức thu nhập của anh em cán bộ công nhân viên
3 Bộ máy tổ chức của công ty :
Như đã trình bầy ở trên, sau nhiều lần sát nhập Công ty luôn có sự thay đổi về cơ cấu tổchức để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về ngành hàng, đi sâu triển khai một số chứcnăng nhiệm vụ để phục vụ tốt hoạt động sản xuất kinh doanh
Tổ chức bộ máy của công ty sản xuất - dịch vụ & xuất nhập khẩu Nam Hà Nội hiện nayđược thiết kế theo mô hình phân cấp quản lý và tập trung lãnh đạo nhằm phát huy tối đanăng lực điều hành của các cấp quản lý và khả năng sáng tạo của cán bộ công nhân viênđáp ứng nhanh, chính xác các yêu cầu nhiệm vụ trong sản xuất - kinh doanh Cơ cấu tổchức bộ máy quản lý của công ty được thiết kế như sau: Sơ đồ
Ban Giám đốc Công ty bao gồm: Giám đốc và 4 Phó Giám đốc:
-Giám đốc là người đứng đầu công ty được UBND Thành phố Hà Nội bổ nhiệm, là cóquyền hành cao nhất, có quyền ra mọi quyết định liên quan đến sự ổn định và phát triểncủa công ty và là người phải chịu mọi trách nhiệm trực tiếp trước Nhà nước, Sở ThươngMại Hà Nội về việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
Trang 20-Giúp việc cho Giám đốc là các Phó Giám đốc, các Phó Giám đốc là những người trựctiếp truyền đạt mọi mệnh lệnh và quyết định của Giám đốc tới từng phòng ban và từngcán bộ công nhân viên, được Giám đốc giao nhiệm vụ trực tiếp phụ trách một mảng hoặcmột bộ phận hoạt động của Công ty, bên cạnh đó các Phó Giám đốc còn là người ký Hợpđồng giấy tờ có liên quan khi được Giám đốc uỷ quyền Hiện nay Công ty có 4 Phó Giámđốc
Phòng tổ chức hành chính : là phòng tổ chức quản lý về lao động tiền lương, thanh trapháp chế và có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên trongcông ty Phòng tổ chức hành chính gồm một đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, có trình độchuyên môn Đây là phòng cơ bản thuộc bộ máy hoạt động của bất kỳ công ty nào Phòng
tổ chức hành chính có chức năng nhiệm vụ như sau:
-Có nhiệm vụ tổ chức tuyển dụng, sắp xếp và quản lý lao động nhằm sử dụng hợp
lý và có hiệu quả cao lực lượng lao động của Công ty
-Nghiên cứu, xây dựng, đưa ra các đề xuất và các phương án nhằm thực hiện việctrả lương, phân phối tiền lương, nâng hệ số lương, tiền thưởng hợp cho cán bộ công nhânviên một cách hợp lý để trình Giám đốc
-Giúp Giám đốc trong việc tổ chức và thực hiện chế độ chính sách của Nhà nước
và công ty đối với cán bộ công nhân viên và người lao động
Phòng Kế toán tài chính : với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn vững vàng, hoànthành tốt những nhiệm vụ được công ty giao, và cũng là phòng cơ bản trong bộ máy hoạtđộng của công ty Phòng kế toán tài chính có các chức năng nhiệm vụ chủ yếu sau:
-Chỉ đạo các công tác kế toán thống kê, thông tin kinh tế và hạch toán kế toán ởcông ty theo cơ chế quản lý
-Khai thác và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn vốn nhằm đảm bảo đủ vốn cho hoạtđộng kinh doanh của Công ty
-Tham mưu cho Giám đốc xét duyệt các phương án kinh doanh có hiệu quả vàphân phối thu nhập
-Kiểm tra số liệu thực tế, thủ tục cần thiết của toàn bộ các chứng từ và việc thanhtoán tiền hàng Phòng sẽ hướng dẫn các đơn vị mở sổ sách theo dõi tài sản, hàng hoá, chi
Trang 21phí xác định lỗ lãi, phân phối lãi của từng đơn vị.
Phòng tổng hợp : được phát triển trên cơ sở Bộ phận tổng hợp Phòng tổng hợp có cácchức năng và nhiệm vụ sau:
-Nghiên cứu đề xuất với GĐ Công ty xây dựng chương trình phát triển ngắn hạn, dài hạnhoặc chuyên đề đột xuất nhằm phát triển : thị trường, ngành hàng, mặt hàng, thương hiệu, của Công ty
-Nghiên cứu để tham mưu vận dụng các chế độ chính sách của nhà nước vào hoạt độngkinh doanh của Công ty
-Tổng hợp, đôn đốc, kiểm tra các chỉ thị, quyết định, chủ trương của GĐ xuống cấp dưới -Nghiên cứu, kiểm tra, đề xuất với GĐ nâng cao chất lượng toàn diện
-Đôn đốc, quản lý thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá, tiêu chuẩn chất lượng đảm bảo antoàn trong sản xuất kinh doanh, giữ uy tín nhãn hiệu trên thị trường
-Giúp GĐ giải quyết các tranh chấp giữa các phòng ban, đơn vị, giữa đơn vị với kháchhàng
-Lưu trữ 1 số tài liệu phục vụ sản xuất kinh doanh
Các đơn vị sản xuất kinh doanh khu vực Hà Nội:
+Phòng Xuất nhập khẩu 1: có chức năng
-Tham mưu giúp Giám đốc tổ chức kinh doanh Xuất nhập khẩu, dịch vụ Xuất nhập khẩu,dịch vụ giao nhận khu vực phía Bắc Từng bước mở rộng thị trường, trước mắt là khuvực Hà Nội và vùng phụ cận tiến tới toàn khu vực miền Bắc Tăng cường tiếp thị, pháttriển khách hàng và vùng cơ sở củng cố chữ tín và không ngừng nâng cao chất lượng dịch
Trang 22-Nhận làm dịch vụ đăng ký tờ khai, làm các thủ tục cho các lô hàng thông quan qua cảng,
tổ chức vận chuyển, giao nhận theo sự uỷ nhiệm của khách hàng
-Nhận vận chuyển, bảo quản, giao tới địa điểm chỉ định của khách hàng trong phạm vikhu vực phía Bắc đối với các hàng hoá, vật tư, nguyên liệu, tư trang, vật dụng
+Phòng xuất nhập khẩu 2:
-Tham mưu giúp Giám đốc tổ chức kinh doanh Xuất nhập khẩu, dịch vụ Xuất nhậpkhẩu
- Xây dựng nguồn hàng, tìm kiếm khách hàng để xuất khẩu mặt hàng nông sản
- Nhận làm dịch vụ Xuất nhập khẩu uỷ thác trọn gói hoặc từng phần
+Phòng xuất nhập khẩu 3: được thành lập trên cơ sở phát triển từ Tổ thêu may, tổ chức
kinh doanh theo các hướng sau:
-Xuất khẩu hàng thêu ren, may mặc, đan móc
-Xuất khẩu các hàng tạp phẩm ( trừ mây tre, gốm sứ, thảm, sơn mài, sắt, gỗ)
-Tự khai thác thị trường để xuất nhập khẩu tổng hợp
-Có thể tham gia xuất khẩu các mặt hàng nông sản, dược liệu khi vào vụ
+Phòng Khu vực thị trường : đây là phòng có vai trò và nhiệm vụ hết sức quan trọng, có ý
nghĩa chiến lược đối với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty, có chứcnăng:
-Nghiên cứu, khảo sát, tiếp cận thị trường, duy trì và tìm ra nguồn hàng mới, tìm kiếmkhách hàng, thực hiện quy trình xử lý thông tin, chào bán hàng xuất khẩu khu vực phíaBắc
-Lên khách hàng, triển khai, theo dõi quá trình thực hiện Hợp đồng Xuất khẩu, tổ chứcgiao hàng, lập chứng từ thanh toán, giải quyết tranh chấp
-Thực hiện xúc tiến thương mại, công tác lễ tân và xã giao đối ngoại
-Quảng cáo, tiếp thị, hội chợ, quản lý phòng mẫu
-Phối hợp chặt chẽ với phòng đối ngoại để đảm bảo giao dịch, chào bán theo khu vựckhông chồng chéo, thực hiện tốt chính sách khách hàng của Công ty
Mối quan hệ giữa các phòng xuất nhập khẩu 1, 2, 3, 4 với phòng khu vực thị trường: Làcác phòng trực tiếp chịu trách nhiệm triển khai các hợp đồng mà phòng khu vực thị
Trang 23trường đã ký kết được với khách hàng nước ngoài, đảm bảo chất lượng sản phẩm, thờigian giao hàng đúng như quy cách mà khách hàng nước ngoài yêu cầu Các phòng xuấtnhập khẩu còn làm công tác khảo sát, tìm kiếm mẫu mã mới, độc đáo để phòng khu vựcthị trường chủ động chào bán, tìm kiếm khách hàng Các phòng xuất nhập khẩu là cầu nốigiữa công ty với các cơ sở sản xuất, là các phòng hiểu rõ nhất về các thuận lợi, khó khăn
mà cơ sở đang gặp phải qua đó sẽ báo cáo, tham mưu cho lãnh đạo công ty để công ty cócác biện pháp hỗ trợ giải quyết kịp thời
+Phòng quảng cáo :
-Chủ động xây dựng chiến lược, trực tiếp tổ chức thực hiện công tác quảng cáo, tiếp thịnhằm xây dựng và phát triển thương hiệu, nhãn hiệu hàng hoá, thúc đẩy thị trường sảnphẩm trên thị trường trong nước và nước ngoài
-Nghiên cứu thiết kế, cái tiến, tạo mẫu mã hàng hoá, bao bì, kiểu dáng, nhãn hiệu đápứng nhu cầu thị trường
-Tổ chức quảng bá, trưng bầy, giới thiệu sản phẩm tại các phòng triển lãm, tổ chức hộcchợ trong nước
-Đặc trách khâu in ấn phẩm quảng cáo, catalogue
+Trung tâm kinh doanh hàng tiêu dùng: kinh doanh nội địa các mặt hàng gia dụng, tiêu
thụ các sản phẩm gia dụng do công ty sản xuất ra để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trongnước Trung tâm có chức năng, nhiệm vụ sau:
-Xây dựng, khai thác nguồn hàng để tổ chức kinh doanh bán buôn, bán lẻ hàng tiêudùng và hàng công nghệ thực phẩm
-Nhận nhập uỷ thác hoặc làm đại lý phân phối tiêu thụ cho các hãng sản xuất trong vàngoài nước
-Nghiên cứu đề xuất để mở rộng mặt hàng mới bằng cách nhập khẩu hoặc sản xuấttrong nước phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng để cung cấp cho thị trường
-Tổ chức hệ thống đại lý bán hàng trong thành phố và các tỉnh, thành phố khác trênphạm vi cả nước
-Trung tâm là đơn vị hạch toán báo sổ, lấy thu bù chi, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả
Trang 24+Trung tâm xuất nhập khẩu máy và thiết bị : nhập khẩu các thiết bị máy móc cho công
ty, bên cạnh đó cũng nhận nhập khẩu uỷ thác cho các đơn vị và cá nhân trong nước cónhu cầu Trung tâm có chức năng nhiệm vụ:
-Chủ động xây dựng thị trường, tìm kiếm đối tác trong và ngoài nước, tiến hành thươngthảo các điều kiện kinh doanh trên cơ sở an toàn và đúng pháp luật
-Lập phương án kinh doanh theo từng thương vụ và trình Giám đốc hoặc cán bộ được uỷquyền duyệt
-Xây dựng Hợp đồng KT trên cơ sở phương án kinh doanh trình Giám đốc hoặc cán bộđược uỷ quyền duyệt
-Tổ chức thực hiện Hợp đồng đã ký kết
-Thực hiện thanh lý Hợp đồng và đánh giá kết quả kinh doanh cho từng thương vụ cụ thể -Xây dựng và quản lý phòng trưng bầy, quảng cáo giới thiệu, quy trình công nghệ, dịch
vụ và chức năng tư vấn của thị trường
-Tổ chức sắp xếp và lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ kinh doanh
+Trung tâm thương mại -dịch vụ - du lịch Bốn mùa:
-Tổ chức sản xuất, chế biến xây dựng mạng lưới để kinh doanh mặt hàng kem Bốn mùatruyền thống và các mặt hàng ăn uống, nước giải khát khác cho khách du lịch Hồ Gươm-Tổ chức kinh doanh các mặt hàng công nghệ phẩm, thực phẩm công nghệ hàng tiêudùng phục vụ đời sống
-Tổ chức kinh doanh văn phòng, phòng nghỉ, du lịch, các dịch vụ khác
-Thực hiện các dịch vụ nội bộ theo yêu cầu của Công ty
+Xí nghiệp Gốm Chu Đậu(tỉnh Hải Dương):
-Sản xuất các mặt hàng gốm mỹ nghệ để tạo nguồn hàng cho xuất khẩu và kinh doanhnội địa
-Sản xuất hàng mẫu theo yêu cầu trưng bầy và chào bán
+Xí nghiệp sinh thái
-Tổ chức quy hoạch xây dựng khu sinh thái trên diện tích mặt bằng hiện có để thu hútkhách vãng lai, khách nghỉ cuối tuần, khách du lịch trong và nước ngoài với các dịch vụ :
Trang 25trồng và kinh doanh hoa cây cảnh, điều dưỡng phục hồi sức khoẻ, kinh doanh ẩm thực,quà tặng, thể thao vui chơi giải trí
-Có kế hoạch đầu tư đơn giản độc đáo mang tính dân tộc truyền thống tạo môi trường hấpdẫn đặc biệt đối với khách du lịch và khách nghỉ bằng cảnh quan thiên nhiên sạch đẹp,không khí trong lành, hoa lá tốt tươi, món ăn dân dã phù hợp với thị hiếu của khách -Tổ chức khu điều dưỡng sức khoẻ và chữa bệnh bằng thảo dược có chất lượng cao, đúngpháp luật
-Xây dựng kế hoạch và triển khai các mảng hoạt động của khu sinh thái từng bước vữngchắc và tiến tới phát triển thành điểm du lịch sinh thái với các dịch vụ hoàn hảo
-Xí nghiệp là đơn vị hạch toán phụ thuộc, có con dấu riêng và có tài khoản tại Ngânhàng, xí nghiệp hoạt động trên nguyên tắc lấy thu bù chi, đảm bảo kinh doanh có hiệuquả
+Xí nghiệp liên hiệp chế biến thực phẩm Hà Nội:
-Tổ chức quy hoạch vùng nguyên liệu để sản xuất chế biến các mặt hàng thực phẩm từthịt gia súc, gia cầm, các loại ngũ cốc ,rau quả với công nghệ tiên tiến, thiết bị dâychuyền hiện đại đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng cao, vệ sinh an toàn thực phẩm
-Xây dựng nhãn hiệu độc quyền "Hapro" cho các sản phẩm chế biến thực phẩm Hà Nộicủa xí nghiệp
-Xây dựng kế hoạch sản xuất -kinh doanh, tổ chức bố trí nhân sự phù hợp với nhiệm vụđược giao đạt hiệu quả cao nhất
-Tổ chức hệ thống bán hàng
-Nghiên cứu nhu cầu thị trường
-Hạch toán phụ thuộc
Các đơn vị sản xuất kinh doanh khu vực phía Nam
+Phòng nhập khẩu : với chức năng chủ yếu là tìm nguồn hàng nhập khẩu uỷ thác cho các
đơn vị, ngoài ra phòng nhập khẩu có thể tham gia hoạt động xuất khẩu
+Phòng nông sản : chuyên hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu mặt hàng nông sản, xây
dựng nguồn hàng ổn định và tìm kiếm khách hàng
Trang 26Do mặt hàng nông sản thường xuyên có biến động về giá và mức độ biến động cao, hơnnữa số lượng, chất lượng hàng hoá lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố thiên nhiên, hàng hoákhó bảo quản mau hỏng nên quá trình chào bán cũng như thực hiện hợp đồng đòi hỏiphòng nông sản phải tính toán kỹ lưỡng, dự đoán nhanh nhạy, tránh tối đa rủi ro tổn thất
+Phòng thủ công mỹ nghệ : được giao nhiệm vụ tổ chức và xây dựng nguồn hàng thủ
công mỹ nghệ, tìm kiếm khách hàng để xuất khẩu, xây dựng hệ thống đại lý kinh doanh
+Xí nghiệp sản xuất hàng sắt mỹ nghệ (Bình Dương):
-Tổ chức sản xuất các mặt hàng sắt, tre mỹ nghệ để tiêu thụ tại thị trường trong nước
và xuất khẩu theo yêu cầu của Công ty
-Thực hiện kho hàng - tiếp nhận hàng hoá, tổ chức kiểm hoá, tái chế, đóng container phục
vụ yêu cầu Xuất khẩu theo khách hàng của Công ty
-Sản xuất hàng mẫu theo yêu cầu trưng bầy và chào bán
-Xí nghiệp là một đơn vị hạch toán báo sổ, lấy thu bù chi, đảm bảo chi phí và giá thànhhợp lý nhất phục vụ nghiên cứu Kinh doanh của Công ty
Ngoài ra Công ty còn tổ chức theo mô hình đa sở hữu, thành lập một số công ty cổ phầnnhư: Xí nghiệp gốm sứ cổ phần Bình Dương, Công ty cổ phần Mành trúc Hapro- BìnhMinh
4 Cơ cấu lao động:
Trong những năm qua, công ty luôn có sự thay đổi về cơ cấu tổ chức sau các cuộcsát nhập, lực lượng cán bộ công nhân viên của công ty cũng có sự biến động để phù hợpvới tình hình hoạt động thực tiễn
B ng 9: S l ảng 1: Tình hình hoạt động của Công ty từ năm 1992-1998 ố lượng cán bộ công nhân viên của Công ty (1999-2002) ượng cán bộ công nhân viên của Công ty (1999-2002) ng cán b công nhân viên c a Công ty (1999-2002) ộng của Công ty từ năm 1992-1998 ủa Công ty từ năm 1992-1998
Trang 27nhưng không đều qua các năm trong đó năm 1999 có tốc độ tăng cao nhất (64,44 %) sovới năm 1998 Tháng 3 năm 2002 sau khi sát nhập Xí nghiệp giống cây trồng ToànThắng Công ty tiếp nhận thêm 133 lao động và đưa số lượng cán bộ công nhân viên toàncông ty lên 750 lao động Mặc dù phát triển nhanh về lực luợng lao động xong công ty đãtriển khai kịp thời các giải pháp phát triển sản xuất - kinh doanh và bố trí việc làm cho100% số lao động, 133 lao động nông nghiệp tại Xí nghiệp Toàn Thắng được đào tạo vàđiều chuyển về các phòng ban của công ty Sự tăng lên về số lượng nhân viên qua cácnăm là kết quả của công tác thực hiện chủ trương của Ban Giám đốc Công ty đã tiến hànhtriển khai đầu tư sản xuất, mở rộng các ngành nghề kinh doanh như Xí nghiệp Gốm ChuĐậu, Xí nghiệp Liên hiệp thực phẩm, các hoạt động dịch vụ Chính vì vậy đã thu hútđược nhiều cán bộ và người lao động và tổ chức sắp xếp lao động hợp lý hơn Khôngnhững lực lượng lao động của công ty tăng lên về số lượng mà về chất cũng được nângcao
Cơ cấu cán bộ công nhân viên của công ty được bố trí như sau :
B ng 10: C c u lao ảng 1: Tình hình hoạt động của Công ty từ năm 1992-1998 ơn vị tính : USD ấu lao động của công ty theo giới tính động của Công ty từ năm 1992-1998 ng c a công ty theo gi i tính ủa Công ty từ năm 1992-1998 ới tính
GT (người) TT (%) GT (người) TT (%) GT (người) TT (%)
Nguồn: Báo cáo phòng tổ chức hành chính
*Số liệu trên không bao gồm lao động hợp đồng không chính thức
Cơ cấu lao động theo giới tính: lực lượng lao động là nam giới chiếm tỷ trọng lớn hơn sovới lực lượng lao động nữ giới một phần là do khối lượng công việc của công ty rất nặng,đòi hỏi phải có những cán bộ năng động rất phù hợp với nam giới
B ng 11: C c u lao ảng 1: Tình hình hoạt động của Công ty từ năm 1992-1998 ơn vị tính : USD ấu lao động của công ty theo giới tính động của Công ty từ năm 1992-1998 ng theo động của Công ty từ năm 1992-1998 ổi tu i
GT (người) TT (%) GT (người) TT (%) GT (người) TT (%)
Trang 28Tổng 332 100 500 100 694 100
Cơ cấu lao động theo độ tuổi: công ty có một lực lượng cán bộ công nhân viên trẻ (dưới
30 và 30-40) chiếm tỷ trọng lớn cho thấy đội ngũ cán bộ công nhân viên của công tyngày càng được trẻ hoá bên cạnh đội ngũ cán bộ có nhiều kinh nghiệm công tác lâu năm
có trình độ cao đặc biệt là kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh hàng xuất khẩu nêncông ty đã đạt được những kết quả tốt trong quá trình kinh doanh
Bảng 12: Cơ cấu lao động theo trình độ
GT (người) TT (%) GT (người) TT (%) GT (người) TT (%)
có trình độ Đại học, Cao đẳng tăng lên qua các năm chứng tỏ công ty đang rất chú trọng
sử dụng những đội ngũ cán bộ có trình độ, năng động để đạt hiệu quả cao trong hoạt độngkinh doanh Số lượng lao động có trình độ phổ thông và công nhân kỹ thuật tăng nhanhqua các năm để bổ xung cho lực lượng lao động tại các xí nghiệp mà công ty mới xâydựng Tuy nhiên đội ngũ cán bộ có trình độ trên Đại học còn khiêm tốn: năm 2000: chưa
có cán bộ nào có trình độ trên Đại học, năm 2001 có 4 cán bộ, năm 2002 có 6 cán bộ.Trong những năm tới cùng với sự phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của công tyđòi hỏi phải có nhiều hơn nữa những cán bộ có trình độ cao
Công ty đang trong giai đoạn tăng trưởng, phát triển do vậy mà quy mô lao động sẽ cònthay đổi nhiều qua từng năm
Nhờ hoạt động kinh doanh của công ty đạt kết quả tốt, đời sống cán bộ công nhân viêncũng ngày càng được ổn định hơn với mức thu nhập khá
Bảng 13: Thu nhập bình quân của cán bộ công nhân viên từ 1999-2002