1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Th c tr ng xu t kh u h ng gi y d p Vi t Nam v o th tr ng EU

67 266 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Th c tr ng xu t kh u h ng gi y d p Vi t Nam v o th tr ng EU tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài...

Trang 1

http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/ là website chia sẻ miễn phí luận văn, đồ

án, báo cáo tốt nghiệp, đề thi, giáo án… nhằm phục vụ học tập và nghiên cứu cho tất cảmọi người Nhưng số lượng tài liệu còn rất nhiều hạn chế, rất mong có sự đóng góp củaquý khách để kho tài liệu chia sẻ thêm phong phú, mọi sự đóng góp tài liệu xin quýkhách gửi về luanvanpro.com@gmail.com

Tài liệu này được tải miễn phí từ website http://luanvanpro.com/ và http://tailieupro.vn/Thực trạng xuất khẩu hàng giầy dép Việt Nam vào thị trường EU

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Đẩy mạnh xuất khẩu là chủ trương kinh tế lớn của Đẳng và nhà nướcViệt Nam đã đượckhẳng định tại Đại hội Đảng VIII và trong Nghị quyết 01 NQ/TƯ của Bộ chính trị, vớimục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa hướng vềxuất khẩu Với vị trí là một trong 3 ngành xuất khẩu chủ lực , ngành giầy dép Việt Namluôn là một trong những ngành được quan tâm hàng đầu trong chiến lược đẩy mạnh xuấtkhẩu Đẩy mạnh xuất khẩu hàng giầy dép Việt Nam là phù hợp với điều kiện nước tatheo xu hướng phát triển chung của khu vực và thế giới

Trong hệ thống các thị trường xuất khẩu của hàng giầy dép Việt Nam, thị trường Eu hiệnđang là thị trường đầy hứa hẹn EU là thị trường lớn với 15 quốc gia thành viên, thịtrường EU có tốc độ tăng trưởng cao và khá ổn định Kể từ sau khi Nhà nước có chínhsách mở của đến nay, hàng giầy dép Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các nước trong liênminh EU Đẩy mạnh xuất khẩu hàng giầy dép sang EU, Việt Nam không chỉ có được sựtăng trưởng ổn định về ngoại thương mà còn thực hiện chiến lược đa dạng hoá thị trườngxuất khẩu Vì vậy, xuất khẩu g\hàng giầy dép sang EU luôn là một trong những vấn đềquan tâm của Đảng và nhà nước ta

Nhận thức được vấn đề cso ý nghĩa trên đây và với mong muốn nghiên cứu tìm hiểu sâu

về thị trường EU và hoạt động xuất khẩu hàng giầy dép Việt Nam, em đã chọn đề tài:

“Xuất khẩu hàng giầy dép Việt Nam sang EU:Thực trạng và giải pháp” để viết chuyên

đề tốt nghiệp này

Nội dung của chuyên đề gồm 3 phần:

Chương I: Lý luận chung về xuất khẩu và sự cần thiết phải tăng cường khả năng xuấtkhẩu

Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng giầy dép Việt Nam vào thị trường EU

Chương III: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng giầy dép ViệtNam vào thị trường EU

Em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Thị Hường và Th.S Tạ Lợi đã tận tình hướngdẫn, trực tiếp giúp đỡ em thực hiện chuyên đề này Đồng thời, xin chân thành cảm ơncác cô chú trong ban Kinh tế thế giới-Viện Chiến lược &Phát triển-Bộ Kế hoạch &Đầu

tư đã nhiệt tình giúp đỡ em thong quá trình thực hiện chuyên đề này và trong suốt quátrình thực tập tại Viện

Trang 3

Hoạt động xuất khẩu hiện nay diễn ra trên phạm vi toàn cầu, trong đó tất cả các lĩnh vực,các ngành của nền kinh tế, từ vật phẩm tiêu dùng đến tư liệu sản xuất, từ các chi tiết linh

Trang 4

kiện rất nhỏ bé đến các loại máy móc khổng lồ, các loại công nghệ kỹ thuật cao, khôngchỉ có hàng hoá hữu hình mà cả hàng hoá vô hình và với tỷ trọng ngày càng cao.

Như vậy, thông qua hoạt động xuất khẩu có thể làm gia tăng ngoại tệ thu được, cải thiệncán cân thanh toán, tăng thu ngân sách cho nhà nước, kính thích đổi mới công nghệ, cảibiến cơ cấu kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm và nâng cao mức sống người dân

2 Các hình thức xuất khẩu chủ yếu

Với mục tiêu là đa dạng hoá các hình thức xuấta khẩu nhằm phân tán và chia sẽ rủi ro,các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế có thể chọn lựa nhiều hình thức xuất khẩu khácnhau Sau đây là một số hình thức xuất khẩu chủ yếu:

2.1 Xuất khẩu trực tiếp

Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các loại hàng hoá và dịch vụ do chính doanhnghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng nướcngoài thông qua các tổ chức của mình

Về nguyên tắc, xuất khẩu trực tiếp có thể làm tăng thêm rủi ro trong kinh doanh, songlại có những ưu điểm nổi bật sau:

- Giảm bớt chi phí trung gian do đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp

- Có thể liên hệ trưc tiếp và đều đặn với khách hàng và với thị trường nước ngoài,biết được nhu cầu của khách hàng và tìhn hình bán hàng ở đó để có thể thay đổi sảnphẩm và các điều kiện bán hàng trong điều kiện cần thiết

2.2 Xuất khẩu uỷ thác

Xuất khẩu uỷ thác là hình thức kinh doanh quốc tế trong đó đơn vị kinh doanh quốc tếđóng vai trò là người trung gian thay mặt cho đơn vị sản xuất tiến hành các thủ tục cầnthiết để xuất khẩu hàng hoá cho các nhà sản xuất và qua đó thu được một số tiền nhấtđịnh ( thường là tỷ lệ phần trăm giá trị lô hàng xuât khẩu)

Ưu điểm của hình tưc này là:

- Mức độ rủi ro thấp

- Khong cần bỏ vốn vào trong kinh doanh

- Tạo được việc làm cho người lao động đồng thời thu được một khoản lợi nhuậnđáng kể

- Trách nhiệm trong việc tranh chấp và khiếu nại thuộc về người sản xuất

Trang 5

2.3 Xuất khẩu tại chỗ.

Xuất khẩu tại chỗ là hình thức xuất khẩu mới nhưng đang được phát triển và có xuhướng phổ biến rộng rãi

Ưu điểm của hình thức này là:

- Hàng hoá không cần phải vượt biên giới quốc gia mà khách hàng vẫn có thể muađược

- Doanh gnhiệp không cần phải tiến hành làm các thủ tục xuất khẩu như làm thủ tụchải quan, mua bảo hiểm hàng hoá, thuê phương tiện vận tỉa… do đó có thể giảm đượcmột lượng chi phí khá lớn

2.4 Xuất khẩu gia công uỷ thác

Xuất khẩu gia công uỷ thác là hình thưc xuất khẩu mà trong đó đơn vị kinh doanh quốc

tế đứng ra nhận nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm cho xí nghiệp gia công, sau đó thuhồi thanhg phẩm để xuất lại cho bên nước ngoài Đơn vị được hưởng phí uỷ thác theothoả thuận với các xí nghiệp sản xuất

Ưu điểm của hình thức này là:

- Doanh nghiệp không cần bỏ vốn mà vẫn thu được lợi nhuận

- Rủi ro ít hơn

Tuy nhiên hình thức này cũng có nhược điểm:

- Phải tiến hành nhiều công việc, nhiều thủ tục xuất nhập

- Cán bộ kinh doanh phải có nghiệp vụ và kinh nghiệm kể cả trong quá trình giámsát và kiểm tra công việc gia công

2.5 Buôn bán đối lưu

Buôn bán đối lưu là phương thức giao dịch trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhậpkhẩu, người bán đồng thời là người mua và lượng hàng hoá mang ra trao đổi có giá trịtương đương

Mục đích xuất khẩu ở đây không phải thu về một khoản ngoại tệ mà nhằm mục đích cóđược một lượng hàng hoá có giá trị tương đương với giá trị của lô hàng xuất khẩu

Hình thức xuất khẩu này có ưu điểm:

- Tránh được những rủi ro về sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thị trường ngoạihối

Trang 6

- Có lợi khi các bên không có đủ ngoại tệ để thanh toán cho lô hàng nhập khẩu củamình.

- Làm cân bằng hạng mục thường xuyên trong cán cân thanh toán ở một quốc gia.2.6 Xuất khẩu theo nghị định thư( xuất khẩu trả nợ)

Xuất khẩu theo nghị định thư là hình thức mà doanh nghiệp xuất khẩu theo chỉ tiêu nhànước giao, tiến hành xuất khẩu một hay một số mặt hàng nhất định cho chính phủ nướcngoài trên cơ sở nghị định thư đã ký giữa hai chính phủ

Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là:

- Không có sự rủi ro trong thanh toán

- Cho phép các doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí trong công việcnghiên cứu thị trường, tìm kiếm bạn hàng

Trên thực tế, hình thức xuất khẩu này xuất hiện rất ít, thường trong một số nước xãa hộichủ nghĩa trước đây và trong một số doanh nghiệp nhà nước

2.7 Gia công quốc tế

Gia công quốc tế là hình thức kinh doanh trong đó một bên ( gọi là bên nhận gia công )nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên ( bên đặt gia công) để chế biến

ra thành phẩm, giao lại cho bên đặt gia công và qua đó thu được một số tiền nhất định( gọi là phí gia công)

Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là:

- Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động

- Có điều kiện cải tiến và đổi mới máy móc thiết bị, kỹ thuật công nghệ nhằm nângcao năng suất lao động

- Giá lao động và nguyên liệu tương đối rẻ

Hình thức này áp dụng chủ yếu trong những ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động vànguyên vật liệu như dệt may, da giầy…

2.8 Tái xuất khẩu

Tái xuất khẩu là hình thức xuất khẩu những hàng hoá mà trước đây đã nhập khẩu vàchưa tiến hành hoạt động chế biến

Ưu điểm của hình thức này là:

Trang 7

- Doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao mà không phải tổ chức sản xuất, đầu

tư vào nhà xưởng, máy móc thiết bị…

- Khả năng thu hồi vốn cũng nhanh hơn

Chủ thể tham gia vào hoạt động này nhất thiết phải có sự tham gia của ba quốc gia: nướcxuất khẩu, nước nhập khẩu và nước tái xuất khẩu

II NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

Hoạt động trên thị trường quốc tế, tất cả các doanh nghiệp dù đã có kinh nghiệm hay mớichỉ bắt đầu tham gia vào kinh doanh đều phải tuân theo một cách nghiêm túc các côngđoạn của thương vụ làm ăn thì mới có khả năng tồn tại lâu dài được Công tác tổ chứcxuất khẩu tương đối phức tạp, có thể thay đổi theo mỗi loại hình xuất khẩu Song tựuchung lại, cần phải tuân theo một trình tự gồm các công đoạn sau:

1 Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu

Đây là một trong những nội dung cơ bản ban đầu, nhưng quan trọng và cần thiết để cóthể tiến hành được hoạt động xuất khẩu Khi doanh nghiệp có ý định tham gia vào thịtrường quốc tế thì doanh nghiệp cần xác định mặt hàng mình định kinh doanh

Trên thực tế doanh nghiệp có thể lựa chọn xuất khẩu những mặt hàng sau:

- SWYG ( Sell What You Got ) doanh nghiệp xuất khẩu những sản phẩm mà mìnhsản xuất

- SWAB ( Sell What Actually Buy): doanh nghiệp xuất khẩu những sản phẩm màthị trường cần

- GLOB ( Sell Things Globaly Disregarding National Frontiers): doanh nghiệp xuấtkhẩu những mặt hàng giốn nhau ra thị trường thế giới, không phân biệt sự khác nhau vềvăn hoá xã hội, ngôn ngữ, phong tục tập quán…và biên giới quốc gia

Ngày nay, xu hướng xuất khẩu những sản phẩm mà thị trường cần và xuất khẩu nhữngmặt hàng giống nhau ra tất cả các thị trường là phổ biến Còn xuất khẩu những sản phẩm

mà doanh nghiệp sản xuất chỉ bó hẹp trong một số lĩnh vực như: sản phẩm kỹ thuật cao,thiết bị toàn bộ… Để lựa chọn được đúng mặt hàng mà thị trường cần đòi hỏi doanhnghiệp phải có một quá trình nghiên cứu tỷ mỷ, phân tích một cách có hệ thống về nhucầu thị trường cũng như khả năng của doanh nghiệp Đồng thời doanh nghiệp cần dự

Trang 8

đoán xu hướng biến động của thị trường cũng như những cơ hội và thách thức mà mìnhcần gặp phải trên thị trường thế giới.

Hoạt động này không những đòi hỏi phải có một thời gian dài mà còn tốn nhiều chi phí,song bù lại doanh nghiệp lại xâm nhập được vào những đoạn thị trường tiềm năng và cókhả năng tăng doanh số bán và lợi nhuận kinh doanh

2 Lựa chọn thị trường xuất khẩu

Sau khi đã lựa chọn được mặt hàng xuất khẩu doanh nghiệp cũng cần phải tiến hành lựachọn thị trường xuất khẩu mặt hàng đó Trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không thểhoạt động trên nhiều thị trương của một quốc gia nào đó mà chỉ có thể hoạt động trênmột đoạn hoặc một số đoạn thị trường trên cơ sở các tiêu thức dùng để phân đoạn thịtrường Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp có thể hoạt động trên phạm viquốc gia, khu vực hoạt toàn cầu

Việc lựa chọn thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải phân tích, tổng hợp nhiều nhân tốbao gồm cả nhân tố vi mô, nhân tố vĩ mô và khả năng cạnh tranh của doan nghiệp.Thông thường đó là nhân tố thuộc về văn hoá xã hội, pháp luật, kinh tế, khoa học côngnghệ, đồng tiền thanh toán, cạnh tranh, hàng rào thương mại và các nhân tố thuộc môitrường tìa chính Đây cũng là một quá trònh đòi hỏi rất nhiều thời gian và chi phí

3 Lựa chọn đối tác giao dịch

Sau khi lựa chọn được mặt hàng và thị trường giao dịch, doanh nghiệp muốn xâm nhậpvào những đoạn hoặc thị trường đó, doanh nghiệp cần phải lựa chọn những đối tác đanghoạt động trên thị trường đó để thực hiện các kế hoạch kinh doanh của mình

Việc lựa chọn đúng đối tượng giao dịch sẽ tránh cho doanh nghiệp nhiều phiền toái,những mất mát, rủi ro mà doanh nghiệp gặp phải trên thị trường quốc tế., đồng thời cóđiều kiện thực hiện thành công các kế hoạch kinh doanh của mình Các tốt nhất là doanhnghiệp các đối tác có đặc điểm sau:

- Thương nhân quen biết hay đã từng có quan hệ giao dịch với doanh nghiệp của ta,

có uy tín trong kinh doanh

- Thương nhân có khả năng , thực lực về tài chính

- Có thiện chí trong quan hệ buôn bán với ta, không biểu hiện hành vi lừa đảo

- Những người chịu trách nhiệm đại diện trong kinh doanh và có phạm vi tráchnhiệm của họ đối với các nghĩa vụ của công ty hoặc các tổ chức

Trang 9

Trong quá trình lựa chọn đối tác giao dịch, doanh nghiệp có thể thông qua thương vụ củaViệt Nam ở nước đó, văn phòng đại diện của Cục xúc tiến thương mại Việt Nam (nếucó), các bạn hàng đã có quan hệ kinh doanh với doanh nghiệp trước đó, các tin tức màmình thu thập và điều tra được, các phòng thương mại và công nghiệp, các ngân hàng,các tổ chức tài chính để hỗ trợ và trợ giúp.

4 Lựa chọn phương thức giao dịch

Phương thưc giao dịch là những cách thức mà doanh nghiệp sử dụng để thực hiện các kếhoạch và mục tiêu kinh doanh của mình trên thị trường thế giới Những cách thức nàyquy định thủ tục tiến hành, các điều kiện giao dịch, các thao tác và chứng từ cần thiết củaquan hệ giao dịch kinh doanh Có rất nhiều phương thức giao dịch khác nhau như: giaodịch thông thường, giao dịch qua khâu trung gian, giao dịch tại hội chợ triển lãm, giaodịch tại sở giao dịch hàng hoá, dấu gia và đấu thầu quốc tế Tuy nhiên phổ biến nhất vàđược sử dụng rộng rãi nhất vẫn là phương thức thông thường

Giao dịch thông thường là một trong những phương thức giao dịch mà ở đó người bán( hoặc người mua ) bàn bạc, thoả thuận trực tiếp hoặc gián tiếp với người mau (hoặcngười bán) về hàng hoá và các điều kiện giao dịch…

Phương thức giao dịch này cho phép hai bên bàn bạc trực tiếp hoạc gián tiếp với nhau,

do đó dễ dàng đi đến thống nhất và ít xảy ra chuyện hiểu lầm nhau, do đó dễ dàng đi đếnthống nhất và ít xảy ra chuyện hiểu lầm nhau Xét về mặt hiệu quả thì giảm được chi phítrung gian, làm tăng thêm lợi nhuận cho doanh nghiệp Thêm vào đó, hình thức này còntạo điều kiện cho cả người mua lẫn người bán chủ động trong việc sản xuất kinh doanh.Nói chung với những loại hàng hoá khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm của thị trường vàkhả năng của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể lựa chọn phương thức giao dịch phùhợp

Trang 10

đối tác khác kết quả của đàm phán sẽ là hợp đồng được ký kết Mọi cam kết trong hợpđồng sẽ là căn cứ pháp lý quan trọng, vững chắc và đáng tin cậy để các bên thực hiệncam kết của mình Đàm phán có thể thực hiện thông qua thư tín, điện tín và đàm phántrực tiếp.

Tiếp sau công việc đàm phán các bên tiến hành ký kết các hợp đồng mua bán hàng hoá.Hợp đồng mau bán hàng hoá là một văn bản có tính chất pháp lý được tiến hành trên cơ

sở thoả thuận một cách bình đẳng, tự nguyện giữa các chủ thể nhằm xác lập, thực hiện vàchấm dứt mối quan hệ trao đổi hàng hoá

Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng, là sản phẩm của quá trình lao động, được sản xuất

ra nhằmn mục đích mua bán, trao đổi nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội: Thông qua traođổi và mua sản phẩm của lao động đã nối kết sản xuất và tiêu dùng bằng khâu phân phối,lưu thông mà nội dung pháp lý của nó chính là hợp đồng mua bán hàng hoá

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu) là loại hợpđồng mau bán đặc biệt trong đó quy định người bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữucho người mua, người mua có nghĩa vụ trả cho người bán một số tiền ngang với giá trịhàng hoá bằng các phương thức thanh toán quốc tế

Khác với hợp đồng mua bán nội địa, hợp đồng xuất khẩu phải được hình thành giữa cácdoanh nghiệp có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau, hàng hoá phải được dịchchuyển qua biên giới quốc gia và đồng tiền thanh toán phải là ngoài tệ đối với ít nhất mộtbên

6 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu, giao hàng và thanh toán tiền

Sau khi ký kết hợp đồng,, các bên sẽ thực hiện các điều kiện mà mình cam kếy trong hợpđồng Sau đây là trình tự những công việc chung nhất cần tiến hành để thực hiện hợpđồng xuất khẩu Tuy nhiên, trong thực tế tuỳ theo thoả thuận của các bên trong hợp đồng

mà người xuất khẩu có thể bỏ qua một hoặc vài công đoạn

6.1 Dục mở và kiểm tra thư tín dụng

Trong hoạt động buốn bán quốc tế ngày nay, việc sử dụng thư tín dụng (L/C) phổ biếnhơn cả do những lợi ích mà nó mang lại Sau khi nhà nhập khẩu mở thư tín dụng, nhà skphải kiểm tra cẩn thận , tỉ mỉ và chi tiết các điều kiện trong L/C xem có phù hợp với cácđiều kiện trong hợp đồng hay không Nếu không phù hợp hoặc có sai sót thì cần boángay cho nhà nhập khẩu biết để sửa chữa kịp thời Bởi vì khi người mua (nhà nhập khẩu)

Trang 11

đã mở L/C thì lúc này L/C trở thanhhf trái vụ độc lập và các bên sẽ thực hiện các điềukiện trong L/C chứ không căn cứ vào hợp đồng nữa.

6.2 Xin giấy phép xuất khẩu

Trong một sô trường hợp, mặt hàng xuất khẩu thuộc danh mục mặt hàng nhà nước quản

lý, doanh nghiệp phải tiến hành xin giấy phép xuất khẩu Việc cấp giấy phép xuất khẩu

do phòng cấp giấy phép xuất khẩu của Bộ thương mại đảm nhiệm

6.3 Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu

Đối với các doanh nghiệp sản xuất và nhập khẩu trực tiếp việc chuẩn bị hàng hoá xuấtkhẩu là tương đối đơn giản sau khi đã tiến hành sản xuất ra sản phẩm, doanh nghiệp chỉcần lựa chọn, đóng gói, kẻ ký mã hiệu và vận chuyển tới nới quy định

Đối với các doanh nghiệp chuyên kinh doanh xuất khẩu thì các công việc cần tiến hànhtrong công tác chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu là:

- Thu gom hàng xuất khẩu: để thực hiện công việc này, doanh nghiệp xuất khẩu cầnphải ký hợp đồng với các nhà sk trong nước, các hợp đồng có thể là:

+ Hợp đồng mua đứt bán đoạn

+ Hợp đồng đổi hàng

+ Hợp đồng đại lý thu mua

+ Hợp đồng nhận uỷ thác xuất khẩu

+ Hợp đồng liên doanh, liên kết xuất khẩu

- Đóng gói hàng xuất khẩu: hàng hoá có thể được đóng gói trong hòm, thngf bao,chai, lọ… xép vào các containers

- Kẻ ký mã hiệu

6.4 Kiểm định hàng hoá

Trước khi xuất khẩu, các nhà xuất khẩu phải có nghĩa vụ kiểm tra số lượng, phẩm chất,trọng lượng của hàng hoá Nếu hàng hoá là động thực vật cần kiểm tra mức độ vệ sinh antoàn thực phẩm và mức độ gây bệnh

6.5 Thuê phương tiện vận chuyển

Doanh nghiệp xuất khẩu có thể tự thuê phương tiện vận chuyển hoặc uỷ thác cho mộtcông ty uỷ thác thuê tàu

Việc lựa chọn thuê phương tiện vận chuyển nà, phương tiện vận chuyển ra sao căn cứvào ba nhân tố sau đây:

Trang 12

- Những điều kiện của hợp dồng xuất khẩu.

- Đặc điểm của hàng hoá

- Điều kiện vận chuyển

Cơ sở pháp lý điều tiết môit qua hệ giữa bên uỷ thác thuê tàu và bên nhận uỷ thác thuêtàu là hợp đồng uỷ thác thuê tàu có hai loại hợp đồng uỷ thác thuê tàu là hợp đồng uỷthác thuê tàu cả năm và hợp đồng uỷ thác thuê tàu chuyến Nhà xuất khẩu căn cứ vào đặcđiểm của hàng hoá để lựa chọn hợp đồng thuê tàu cho thích hợp

6.6 Mua bảo hiểm cho hàng hoá

Hàng hoá trong buôn bán quốc tế thường được chuyên chở chủ yếu bằng đường biển.Tuy vậy, vận chuyển bằng đường biển cũng gây cho doanh nghiệp không ít rủi ro nênphải mua bảo hiểm cho hàng hoá Việc mua bảo hiểm hàng hoá được thực hiện thôngqua hợp đồng boả hiểm Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá chuyên chở bằng đường biển làmột văn bản trong đó nhà bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm cáctổn thất theo các điều kiện bảo hiểm được ký kế, nếu người được bảo hiểm dã đóng phíbảo hiểm

Có hai loại hợp đồng bảo hiểm: hợp đồng bảo hiểm bao và hợp đồng bảo hiểm chuyến

- Hợp đồng bảo hiểm bao : là hợp đồng bảo hiểm nhiều chuyến hàng trogn mọtkhoản thời gia nhất định, thưòng là một năm hoặc đối với một giá trị bảo hiểm nhất định,không kể đến thời gian

- Hợp đồng bảo hiểm chuyến: là hợp đồng bảo hiểm được ký kết cho từng chuyếnhàng chuyên chở từ địa điểm này đến địa điểm khác ghi trong hợp đồng bảo hiểm

Có ba loại điều kiện bảo hiểm chính là điều kiện bảo hiểm A, điều kiện bảo hiểm B,điều kiện bảo hiểm C, ngoài ra có bảo hiểm chiến tranh và bảo hiểm đình công

6.7 Làm thủ tục hải quan

Hàng hoá khi vượt qua biên giới quốc gia để xuất khẩu đều phải làm thủ tục hải quan.Việc là thủ tục hải quan bảo gồm ba bước sau dây:

- Khai báo hải quan: doanh nghiệp khai báo tất cả những đặc điểm của hàng hoá về

số lượng, chất lượng, giá trị, tên phương tiện vận chuyển, nước nhập khẩu Các chứng từcần thiết phải được xuất trình kèm theo là : giấy phép xuất nhập khẩu, bảng kê khai chitiết hàng hoá, phiếu đòng gói…

- Xuât trình hàng hoá

Trang 13

- Thực hiện các quyết định của hải quan.

6.8 Giao hàng lên tàu

Trong khâu này, các doanh nghiệp cần đăng ký với người vận tải và nhận hồ sơ xếphàng, sau đó gặp gỡ các cơ quan điều đọ của cảng để nhận lịch xếp hàng, bố trí cácphương tiện vận tải để đưa hàng vào cảng, xếp hang len tàu và cuối cùng là lấy vận đơn.6.9 Thanh toán

Đây là bước cuối cùng của việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu nếu như không có sự tranhchấp và khiêu nại giữa các bên, nó là thước đo, là nhân tố ảnh hương trực tiếp đến hiệuquả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trong buôn bán quốc tế có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau:

- Phương thức chuyển tiền

- Phương thức bảo đảm trả tiền

- Phương thức mở tài khoản

+ Người bán muốn thực hiện đúng hạn

+ Người bán không muốn có những luồng tiền không cần thiết Thông thường người bánmuốn được thực hiện bằng các loại ngoại tệ mạnh hợc đồng tiền dẽ dàng chuyển đổi.Chính vì vậy, với nhà xuất khẩu phương thức thanh toán noà mà mang lại ít rủi ro chomình là tốt nhất Tren bình diện quốc tế, hai phương thức thanh toán là nhờ thu và tíndụng chứng từ là phổ biến hơn cả

6.10 Giải quyết khiếu nại (nếu có)

Nếu sau khi nhận hàng hoặc thanh toán tiền hàng, bên mua khiếu nại vè hàng hoá , thanhtoán, bao bì hoặc về giao hàng (thời hạn giao hàng, địa điểm giao hàng, thông báo giaohàng…) thì bên bán có trách nhiệm giải quyết đến nơi đến chốn các khiếu nại đó Việcgiải quyết khiếu nại thường trải qua nghiên cứu, xem xét một cách tỉ mỉ, thận trọngnhưng không kéo dài Sau khi xác định việc khiếu nại là có cơ sở, bên bán có thể giải

Trang 14

quyết bằng các biện pháp như: giao bù hàng thiếu, giao thêm hàng để thay thế bộ phận

hư hỏng, biến chất, giảm giá hàng hay trả lại tiền cho người mau…

III CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

Hoạt động trên thị trường thế giới có nghĩa là doanh nghiệp đang hoạt độnh trong mộtmoi trường kinh doang xa lạ và đày những thách thức, có ảnh hưởng rất lớn đến hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới hoạt độngxuất khẩu bao gồm:

1 Các nhân tố kinh tế

Thứ nhất, ảnh hưởng của cán cân thanh toán và chính sách tài chính tiền tệ

Nhân tố này quyết định phương án kinh doanh, mặt hàng và quy mô sản xuất của doanhnghiệp Sự thay đổi của những nhân tố này gây ra sự xáo trộn lớn trong tỷ trọng xuấtnhập khẩu

Nhân tố tỷ giá cũng ảnh hưởng mạnh đến conog tác xuất nhập khẩu của doanh nghiệp

Đó là nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu qủa hoạt động thương mại quốc tế Nếu tỷ giáhối đoái tương đối ổn định và ở mức thấp thì mới khuyến khích được doanh nghiệp trongnước tích cực đầu tư sản xuất chế biến hàng xuất khẩu

Thứ hai, ảnh hưởng của hệ thống tài chính, ngân hàng

Hệ thống tài chính, nân hàng chi phối rất lớn đến hoạt động xuất khẩu thông qua lãi suấttiền cho vay, hoạt động Hiện nay, lợi ích của các doanh nghiệp phụ thuộc vào các nhânhàng do hình thức thanh toán của các hợp đồng mau bán đều được thực hiện thông quacác ngân hàng Nếu các nghiệp vụ ngân hàng được bảo đảm thuận lợi và chính xác thì sẽtránh được rất nhiều rủi ro cho doanh nghiệp

Các nhân tố trên tương đối ổn định vàc ó thrẻ là cơ hội hoặc nguy cơ nên doanh nghiệpphảinhận bỉêt được các tác động cụ thể, trực tiếp đến doanh nghiệp

Thứ ba, các nhân tố thuộc về chính sách

Thương mại quốc tế nói chung đem lại lợ ích to lớn và vì lý do khác nhau mà hầu hết cácquốc gia đều có chính sách thương mại quốc tế thể hiện ý chí và mục tiêu của nhà nước

đó trong việc can thiệp và điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế có liên quan đếnnên kinh tế quốc dân Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là sự can thiệp của chínhphủ theo chiều hướng tiêu cực Ngược lại, bằng việc sử dụng các công cụ và biện phápkhác nhau, sự tác động này góp phần thucs đẩy quá trình tái sản xuất xã hội và sự tham

Trang 15

gia của nền kinh tế vào quá trình phân công lao động quốc tế, tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp tiếp cận những thị trường mới, với những khách hàng mới và mở rộng hoạtđộng thương mại quốc tế.

Nhà nước sử dụng các công cụ chủ yếu sau để quản lý hoạt động xuất khẩu:

- Công cụ thuế quan: thuế quan xuất khẩu là lạo thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoáxuất khẩu Mục đích chủ yếu của đánh thuế xuất khẩu là nhằm điều tiết lượng hàng xuấtkhẩu, đièu tiết cung cầu hàng hoá trong nước và để hạn chế những mặt hàng mà nhànước không khuyến khích xuất khẩu Tuỳ thuộc vào hoàn cảnh của mỗi nước, ở các giaiđoạn khác nhau mà mức thuế thay đổi cho phù hợp

- Công cụ Quota ( hạn ngạch xuất nhập khẩu) : hình thức này được áp dụng như làmột công cụ chủ yếu trong hàng rào thuế quan và ngày càng có vị trí quan trọng Hạnngạch được hiểu như là quy định của nhà nước về số lượng cao nhất của một mặt hànghoặc một nhóm hàng được phép xuất khẩu hay nhập khẩu ừ một thị trường trong mộtkhoản thời gian nhất định thông qua cấp giấy phép Mục đích của chính phủ khi sử dụngQuota là nhằm quản lý hoạt động kinh doanh có hiệu quả và điều chỉnh lại hàng hoá xuấtkhẩu Hơn nữa, có thể bảo hộ nền sản xuất trong nước, bảo vệ tài nguyên và cải thiệncán cân thanh toán

2 Các nhân tố chính trị, luật pháp của nước sở tại

Mỗi quốc gia lại có một môi trường chính trị, luật pháp riêng Do vậy, để đạt được hiệuquả kinh doanh tối ưu, các doanh nghiệp cần phải chú ý đến các nhân tố chính trị luậtpháp đó, bao gồm:

- Thái độ của chính phủ đối với việc mau hàng ngoại: một số nước có thái độ rấtthiện cảm, thậm chí còn khuyến khích mua hàng ngoại, một số nước thì không ưa

- Sự ổn định chính trị: sự ổn định chính trị là điều rất cần thiết cho kinh doanh.Kinh doanh ở một nước mà đường lối căn bản của chính phủ không thay đổi đột ngột,luật lệ rõ ràng giúp cho doanh nghiệp tính toán được tương đối chính xác lợi ích tài chínhcủa họ, đặc biêt là lợi ích khi đầu tư lâu dài

- Chính sách tài chính tiền tệ: Điều doanh nghiệp xuất khẩu cần phải biết để kinhdoanh có hiệu quả là vấn đề hạn chế và chuyển đổi ngoại tệ của nước bạn hàng Tiền bánhàng có được tự do chuyển đổi san ngoại tệ khác hay bất kỳ một nước nào khác không ?

Trang 16

Ngoài hạn chế về tiền ra, sự biến động về tỷ giá hối đoái là một rủi ro lớn đối với ngườibán khi kinh doanh trên các thị trường nước ngoài.

- Bộ máy nhà nước: cần phải biết bộ máy nhà nước tại thị trường buôn bán có thái

độ như thế nào khi giải quyết các thủ tục xuất nhập khẩu tức là tổ chức hải quan có làmviệc hiệu quả hay không, có đầy đủ thông tin thị trường và những nhân tố khác tạo nênđiều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh Nếu ở một nơi nào đó, mọi trở ngại chohoạt động buôn bán nhanh chóng biến mất khi những quan chức ở nước sở tại nhận đượcmột khoản tiền lót tay tương xứng thì đó là một tai hoạ

3 Các nhân tố văn hoá, xã hội, môi trường tự nhiên

Mỗi quốc gia đều có phong tục tập quán, những quy tắc, những điều cấm kỵ của riêngmình Để hoạt động kinh doanh xuất khẩu khỏi thất bại, nhà xuất khẩu phải nghiên cứuthật kỹ xem những người mua ở nước ngoài chấp nhậ mặt hàng này hay mặt hàng kianhư thế nào và họ sử dụng chúng ra sao

Môi trường tự nhiên như thời tiết, khí hậu, thường gây ra những đột biến khó lường Vìvậy doanh nghiệp phải xem xét và dự đoán được xu hướng biến động của chúng để pháthiện cơ hội hay nguy cơ của doanh nghiệp

4 Các nhân tố khoa học công nghệ

Hiện nay, nhiều công nghệ tiên tiến ra đời, tạo ra nhiều cơ hội cũng như không ít nguy

cơ cho doanh nghiệp nói riêng và các nành cong nghiệp nói chung Nhìn chung, cácdoanh nghiệp đều pahỉ cố gắng tìm tòi các giải pháp kỹ thuật mới nhằm giải quyết nhữngvấn đề còn tồn tại và những công nghệ hiện có trên thị trường, vì nó có thể làm ch sảnphẩm của doanh nghiệp bị lạc hậu một cách trực tiếp trên thị trường, nó có thể làm chosản phẩm của doanh nghiệp bị lạc hậu một cách trực tiếp hay gián tiếp do đa dạng vềchủng loaị hàng hoá và nhiều loại sản phẩm mới ra đời

Nhân tố công nghệ có tác động làm tăng hiệu quả công tác xuất nhập khẩu của doanhnghiệp Ví dụ, nhờ sự phái triển của hệ thống dịch vụ bưu chính viến thông giúp doanhnghiệp có thể đàm phán trực tiếp với khách hàng qua telex, điện tín, fax…giảm bớt chiphí đi lại, hơn nữa doanh nghiệp có khả năng nắm bắt thông tin mới nhất về thị trường.Khoa học công nghệ còn tác động vào các lĩnh vực như vận tải hàng hoá, kỹ nghệ,nghiệp vụ ngân hàng…Đó cũng là nhân tố tác động tới xuất nhập khẩu

Trang 17

5 Các nhân tố cạnh tranh.

Cạnh tranh một mặt buộc doanh nghiệp phải đầu tư máy móc thiết bị, nâng cao chấtlượng và hạ ía thành sản phẩm, tăng cường các dịch vụ hỗ trợ, tăng khả năng chiếm lĩnhthị trường, nhưng mặt khác, nó dễ dàng “đẩy lùi” các doanh nghiệp không có khả năngphản ứng hoặc phản ứng chậm với sự thay đổi của môi trường kinh doanh Tuy nhiên, dotrình độ phát triển kinh tế ở các quốc gia khác nhau nên khả năng cạnh tranh giữa cácdoanh nghiệp tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế cũng khác nhau Các nhân tốcạnh tranh tác động đến hoạt động xuất khẩu bao gồm:

- Mối đe doạ của đối thủ cạnh tranh tiềm tàng: khi một doanh nghiệp tham gia vàocạnh tranh trong một ngành thì có hai vấn đề cần xem xét là: những cản trở xâm nhập đốivới doanh nghiệp vào một ngành kinh doanh và phản ứng của các doanh nghiệp đangcạnh tranh trong ngành đó

Có bảy cản trở quan trọng dùng để ngăn cản hoặc gây khó khăn cho các doanh nghiệpmới xuất hiện là: phân hoá sản phẩ; mạng lưới kênh phân phối; tăng sản lượng sản phẩm;nhu cầu về vốn; chi phí đặt cọc, tiến cược; lợi thế chi phí cố định; chính sách của nhànước

Việc xâm nhập thị trường của doanh nghiệp mới dễ bị thất bại nếu các đối thủ cạnh tranhphản ứng quyết liệt

- Cường độ cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện có: khi phân tích cường độ cạnhtranh giữa các đối thủ hiện có trên thị trường cần xem xét kỹ các vấn đề sau đây:

+ Số lượng doanh nghiệp cạnh tranh và các đối thủ nganh sức

+ Tốc độ tăng trưởng của ngành

+ Các đối thủ khác nhau

+ Những cản trở khi rút lui

- Sự đe doạ của các sản phẩm và dịch vụ thay thế: sản phẩm thay thế là những sảnphẩm có thể thoả mãn nhu cầu tương tự của khác hàng nhưng nó lại có những đặc trưngriêng biệt khác sản phẩm thay thế đạt ra một giới hạn về giá mà doanh nghiệp cần quantâm

- Quyền lực của khách hàng: những khách hàng mua sản phẩm của một ngành nào

đó thì họ có thể làm giảm lợi nhuận của ngành ấy bàn cách yêu cầu chất lượng sản phẩm

Trang 18

cao hơn hay dịch vụ nhiều hơn hoặc có thể bằng cách dùng doanh nghiệp này chống lạidoanh nghiệp kia.

- Quyền lực của nhà cung cấp: các nhà cung cấp yếu tố đầu vào của sản xuất có thểchia sẻ lợi nhuận của một doanh nghiệp trong các trường hợp khi họ là nhà cung cấp độcquyền, khi các yếu tố đầu vào được cung cấp không có khả năng thay thế, khi các nhàsản xuất khép kín sản xuất…

6 Các nhân tố về bản thân doanh nghiệp

Các nhân tố chủ quan là những nhân tố phản ánh nỗ lực chủ quan của doanh nghiệptrong kinh doanh nhằm duy trì và mở rộng thị trường thông qua các chính sách, chiếnlược, biện pháp nó bao gồm các nhân tố chủ yếu sau:

6.1 Sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Phản ánh tương quan lực lượng giữa thế và lực của doanh nghiệp và của các đối thủ cạnhtranh trên thị trường quốc tế Nó biểu hiện khả năng duy trì phần thị trường hiện có vàchiếm lĩnh thị trường mới Sức cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở ba yếu tố cơ bảnsau:

- Chất lượng sản phẩm: theo quan điểm tổ chức tiêu chuẩn quốc tế (ISO –International Standard Organization): “ Chât lượng là tổng thê các chỉ tiêu, những đặctrưng của nó thể hiện sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng nhất định,phù hợp với công dụng của sản phẩm mà người tiêu dùng mong muốn”

Chất lượng sản phẩm là vấn đề cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sản xuất cùng một loạisản phẩm trên thị trường Nền kinh tế ngày một phát triển, đời sồng nhân dân ngày đượcnâng cao thì nhu cầu của họ ngày một cao hơn sản phẩm với chất lượng cao, mẫu mãđẹp thì ngày càng được ưa chuộng Chất lượng sản phẩm đương nhiên trở thành công cụquản cáo hữu hiệu tạo uy tín cho công ty Ngược lại, chất lượng sản phẩm không đượcđảm bảo thì dù có giá rẻ cũng không thể tiêu thụ được, sản phẩm bị ứ đọng làm ảnhhưởng đến quá trình sản xuất của công ty Để giữ vững và mở rộng xuất khẩu đòi hỏiphải luôn luôn nâng cao chất lượng sản phẩm, khai thác tối đa những thay đổi trong nhucầu của từng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của thị trường

- Giá cả của sản phẩm: giá cả có ảnh hưởng to lớn đến khối lượng sản phẩm đượctiêu thụ Nó là một trong những nhân tố quan trọng quyết định việc mua bán và lựa chọnsản phẩm của khách hàng Giá cả phụ thuộc vào mức độ cạnh tranh trên thị trường

Trang 19

Trong cơ chế thị trường, để thoả mãn một nhu cầu của khách hàng có hàng trăm ngànloại sản phẩm có thể thay thế cho nhau xuất hiện trên thị trường, cạnh tranh là một lẽđương nhiên vì mục tiêu sản xuất ra là để bán, doanh nghiệp sử dụng giá như một vũ khícạnh tranh trên thị trường quốc tế do giá cả khác nhau rất nhiều Bởi vậy khi doanhnghiệp muốn xâm nhập hoặc giữ vững thị trường xuất khẩu của mìnhcần phải có mộtchính sách giá linh hoạt và thích ứng kịp thời những thay đổi chung của giá cả.

- Biện pháp Marketing nhằm nâng cao thế và lực của doanh nghiệp trước đối thủcạnh tranh Nó bao gồm khả năng nắm bắt nhu cầu sản phẩm mới, các biện pháp quảncáo, xúc tiến bán hàng, dịch vụ sau bán hàng, chính sách phân phối, khuyến mại…Cácbiện pháp này giúp cho doanh nghiệp tạo được chữ tín với khách hàng, giúp người tiêudùng quan tâm đến sản phẩm của doanh nghiệp, qua đó thu hút khách hàng về phíamình

6.2 Trình độ quản lý của doanh nghiệp

Bộ máy năng động, gọn nhẹ sẽ giúp doanh nghiệp luôn biến đổi để thích nghi với điềukiện kinh doanh mới, doanh nghiệp dễ dàng vượt qua những khóp khăn trong cạnh tranh.Một đoàn thể nhất trí, đoàn kết sẽ giúp doanh nghiệp phát huy tói đa năng lực, trí tuệ vàomục đích giữ vững và mở rộng thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp Trình độ quản lýtốt của doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong giao dịch và ký kết các hợp đồngxuất khẩu, tạo niềm tin với khách hàng

6.3 Trình độ kỹ thuật và công nghệ của doanh nghiệp

Đó là năng lực của đội ngũ cán bộ kỹ thuật, trình độ tay nghề của công nhân, thiết bịmáy móc và công nghệ mà doanh nghiệp áp dụng và sử dụng cho việc sản xuất và chếbiến những mặt hàng xuất khẩu Điều này phản ánh tiềm năng của doanh nghiệp, trình

độ công nghệ của doanh nghiệp có mối liên hệ mật thiết với chất lượng và giá thànhphẩm Có trình độ kỹ thuật tiên tiến hiện đại thì mới có điều kiện tăng năng suất, tăngkhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế

IV SỰ CẦN THIẾT PHẢI TĂNG CƯỜNG XUẤT KHẨU GIẦY DÉP CỦA VIỆTNAM

Xuất khẩu giầy dép vào EU hiện nay có một vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nóichung và toàn nghành giầy dép nói riêng Do vậy, càng phải nhấn mạnh sự cần thiết phải

Trang 20

tăng cường thúc đẩy sự hàng giầy dép Việt Nam sang EU, biểu hiện bởi các nguyên nhânsau:

Thứ nhất, EU không những là một thị trường lớn, là một trong ba trung tâm kinh tế lớnnhất trên thế giới, mà đây còn là thị trường nhập khẩu lớn nhất đối với hàng giầy dépViệt Nam Đây còn là thị trường có mức độ tieu dùng giầy dép tương đối cao ( 4-5đôi/người/năm) và là thị trường lý tưởng cho bất kỳ quốc gia nào trên thế giới

Thứ hai, EU là thị trường rất khó tính với các rào cản kỹ thuật tương đối cao, thị hiếungười tiêu dùng EU lại tương đối cao, nhu cầu giầy dép đi lại ít mà làm đẹp thì nhiều Dovậy nếu vượt qua được các rào cản kỹ thuật, đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng thìkhông những chúng ta có thể chiếm được thị phần trên thị trường EU mà còn có thểthâm nhập dễ dàng các thị trường khác trên thế giới

Thứ ba, xuất khẩu hàng giầy dép Việt Nam sang EU hiện nay đang đóng góp mọt nguồnthu đáng kể vào ngân sách quốc gia Nếu như năm 1995, kim nghạch xuất khẩu giầy dépchỉ đúng thứ 6 trong số 10 mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam thì nay đã vươn lên đứnghàng thứ 3, chỉ sau có dầu khí và dệt may

Thứ tư, cùng với việc tăng cường xuất khẩu sang thị trường EU, chúng ta có thể tận dụngđược sự chuyển giao công nghệ từ các nước công nghiệp hiện đại của EU nay không còn

ưu thế về đất đai, lao động, muốn chuyển giao các công nghệ đó cho các nước kém pháttriển hơn Do vậy, nó sẽ đảm bảo cho hàng giầy dép Việt Nam có thể vượt qua được cácrào cản kỹ thuật của EU

Thứ năm, ngành giầy dép là ngành sử dụng nhiều lao động, việc tăng cường xuất khẩuvào EU đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ sử dụng thêm nhiều lao động, giải quyết thêmcông ăn việc làm cho người dân

Thứ sáu, hàng giầy dép Việt Nam sở dĩ cạnh tranh được với hàng của các nước khác trênthị trường EU, nguyên nhân chính là chúng ta đang được hưởng mức htuế quan ưu đãiGSP mà EU dành cho Việt Nam Nhưng đến năm 2005, khi mà Trung Quốc đạt đượcthoả thuận với EU và cũng được hưởng GSP thì khi đó hàng giầy dép Việt Nam sẽ gặpphải những khó khăn về cạnh tranh về giá rất lớn Để tranh đi nguy cơ này, buộc cácdoanh nghiệp giầy dép Việt Nam phải tìm cách giảm chi phí để giảm giá thành sảnphẩm Một trong những nguyên nhân chính đẩy giá thành sản phẩm giầy dép của ta lêncao đó chính là việc chúng ta đã phải nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài Một giải

Trang 21

pháp đưa ra là chúng ta sẽ phát triển các đàn bò và xây dựng các nhà máy thuộc da đểcung cấp nguyên liệu với giá thành rẻ hơn cho các doanh nghiệp sản xuất giầy dép

Chương II:

THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG GIẦY DÉP VIỆT NAM VÀO THỊ TRƯỜNGEU

I KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG EU

1 Quá trình hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu

Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, một mặt, trước yêu cầu cấp thiết phải khôiphục và phát triển nền kinh tế bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh, các nước Tây Âunhận thấy cần phải có sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa giữa các nước Tây Âu với nhau đểxây dựng và ngăn chặn chiến tranh xảy ra sau này có thể nổ ra giữa các nước châu Âu,đặc biệt là phải đổi mới kinh tế, lấy sự hợp tác về sản xuất thay thế cho sự đối địch vềkinh tế Mặt khác, quá trình khách quan xuất phát từ sự đòi hỏi phát triển của lực lượngsản xuất,do đời sống kinh tế quốc tế hoá ngày càng rộng rãi, do sự phát triển vũ bão củacuộc cách mạng khoa học công nghệ đã ảnh hưởng sâu sắc tới lực lượng sản xuất và đờisống kinh tế Tây Âu

Lịch sử hình thành Liên minh châu Âu (EUropean Union - EU): được đánh dấu từ ngày18/4/1951 khi 6 nước: Pháp, Bỉ, CHLB Đức, Italia, Hà Lan, Lucxămbua đã đi tới ký hiệpước thiết lập cộng đồng than thép châu Âu (CECA) Mục tiêu của CECA là đảm bảoviệc sản xuất và tiêu thụ than của các nước thành viên trong những điều kiện thống nhất,

Trang 22

đẩy mạnh tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, phân phối, tiêu thụ và nâng cao năngsuất lao động Trên cơ sở những kết quả mà CECA mang lại về mặt kinh tế cũng nhưchính trị, Chính phủ các nước thành viên thấy cần thiết phải tiếp tục con đường đã chọn

để sớm đạt được “thực thể châu Âu mới” Ngày 25/3/1957, hiệp ước thiết lập cộng đồngkinh tế châu Âu (EUropean Economic Community-EEC) và cộng đồng năng lượngnguyên tử châu Âu (CEEA) đã được ký kết tại Roma Trong đó, CEEA chỉ điều chỉnhmột lĩnh vực của công nghiệp và kinh tế, nhiệm vụ của nó chỉ là đẩy mạnh việc sáng tạo

và phát triển công nghiệp nguyên tử và đảm bảo việc cung cấp nguyên liệu, bảo vệ môitrường EEC bao trùm lĩnh vực kinh tế chung, bảo đảm hoà nhập kinh tế, tiến tới một thịtrường thống nhất, tạo ra tự do lưu thông hàng hoá và con người trong toàn khối Năm

1967, CECA, CEEA,EEC chính thức hợp nhất thành một tổ chức chung gọi là “Cộngđồng châu Âu” (EUorpean Community-EC)

Nhờ những thành công đã đạt được về kinh tế cũng như về mặt chính trị, cộng đồng kinh

tế châu Âu đang tiếp tục mở rộng các quá trình liên kết rộng rãi giữa các nước và các dântộc Đỉnh cao những nỗ lực của quá trình thống nhất được thể hiện qua cuộc họp thượngđỉnh các nước thuộc Cộng đồng kinh tế châu Âu tổ chức tại Maastrict (Hà Lan) ngày 9

và 10 thàng 12 năm 1991 Hội nghị đã thông qua hiệp ước Maastrict thống nhất EEC, vềviệc thành lập Liên minh kinh tế và tiền tệ (Economic and Monetary Union-EMU) vàLiên minh chính trị (EUopean Pplitical Union-EPU) Và ngày 1/1/1993, Hiệp ướcMaastrict chính thưc có hiệu lực EC gồm 12 nước trở thành EU (Liên minh châu Âu)đặt nền móng tiến tới “một hợp chủng quốc châu Âu” như mơ ước của nhiều chínhkhách châu Âu hồi đầu thế kỷ Bắt đầu từ 1/1/1995, EU bước vào thời kỳ mới gồm 15thành viên trong đó 3 thành viên mới là Áo, Phần Lan và Thụy Điển Điều đó cho thấybước tiến quan trọng trong tiến trình hoà nhập châu Âu và ảnh hưởng của EU không chỉđến tình hình kinh tế và chính trị của từng nước trong EU mà còn đến cả châu Âu

2 Đặc điểm của thị trường EU

2.1 Tập quán, thị hiếu tiêu dùng của thị trường EU

EU là một thị trường rộng lớn, với 377,3 triệu người tiêu dùng (2000) Thị trường EUthống nhất cho phép tự do lưu chuyển sức lao động, hàng hoá, dịch vụ và vốn giữa cácnước thành viên Thị trường này còn mở rộng sang các nước thuộc Hiệp hội mậu dịch tự

Trang 23

do châu Âu (EUropean Free Trade Association-EFTA) tạo thành một thị trường rộng lớntrên 380 triệu người tiêu dùng.

EU gồm 15 quốc gia, mỗi thị trường lại có đặc điểm tiêu dùng riêng Do vậy, có thể thấyrằng thị trường EU có nhu cầu rất đa dạng và phong phú về hàng hoá Có những loạihàng rất được ưa chuộng ở thị trường Pháp, Italia, Bỉ nhưng lại không được người tiêudùng Anh, Ailen, Đan Mạch đón chào Tuy có những khác biệt nhất định về tập quán vàthị hiếu tiêu dùng giữa các thị trường quốc gia trong khối EU, nhưng 15 nước thành viênđều là những quốc gia nằm ở khu vực Tây và Bắc Âu nên có những đặc điểm tươngđồng về kinh tế và văn hoá Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các nước thành viênkhá đồng đều, cho nên người tiêu dùng trong khối EU có những đặc điểm chung về sởthích và thói quen tiêu dùng

Người tiêu dùng EU có sở thích và thói quen sử dụng các sản phẩm có nhãn hiệu nổitiếng trên thế giới Họ cho rằng những nhãn hiệu này gắn liền với chất lượng sản phẩm

và có uy tín từ lâu đời, cho nên dùng những sản phẩm mang nhãn hiệu nổi tiếng thế giới

sẽ rất an tâm về chất lượng và an toàn cho người sử dụng Đặc biệt, đối với những sảnphẩm của các nhà sản xuất không có danh tiếng hay nói cách khác những sản phẩm cónhãn hiệu ít người biết đến thì rất khó tiêu thụ trên thị trường này Người tiêu dùng EUrất sợ mua những sản phẩm như vậy, vì họ cho rằng sản phẩm của các nhà sản xuấtkhông có danh tiếng sẽ không đảm bảo về chất lượng, vệ sinh và an toàn cho người sửdụng do đó không an toàn đối với sức khoẻ và cuộc sống của họ

EU là một trong những thị trường lớn trên thế giới, sở thích và nhu cầu của họ cũng cao,

họ có thu nhập, mức sống cao, khá đồng đều và yêu cầu rất khắt khe về độ an toàn củasản phẩm nói chung Yếu tố trước tiên quyết định tiêu dùng của người châu Âu là chấtlượng và thời trang của hàng hoá sau đó mới đến giá cả của đại đa số mặt hàng được tiêuthụ trên thị trường này

Hàng năm EU nhập khẩu một lượng lớn hàng hoá chủ yếu là hàng tiêu dùng từ các nướcđang phát triển như thuỷ sản, dệt may, giầy dép Nhu cầu nhập khẩu một số sản phẩmtiêu dùng chính của EU từ 1995 đến 1999 được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1: Nhu cầu nhập khẩu một số sản phẩm tiêu dùng chính của EU từ các nước đangphát triển

Đơn vị : triệu USD

Trang 24

* Nguồn: Thống kê hải quan,Vụ xuất nhập khẩu, Bộ thương mại.

Niêm giám thống kê, Tổng cục thống kê (2000)& Tổng cục hải quan

Số liệu từ bảng 1 cho thấy EU là một thị trường nhập khẩu hàng tiêu dùng rất lớn Song

để vào được thị trường EU, hàng tiêu dùng của các nước đang phát triển phải thoả mãnnhững điều kiện khá ngặt nghèo Cụ thể với 3 sản phẩm tiêu dùng chính như sau:

Đối với hàng thuỷ sản: hàng năm Liên minh châu Âu chiếm từ 25-30% nhập khẩu thuỷsản của thế giới Mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân đầu người ở EU là 17 kg/năm Thịtrường thuỷ sản EU có tính đa dạng cao với nhiều nhóm dân cư có yêu cầu rất khác nhautrong thói quen tiêu thụ các sản phẩm thuỷ sản Tuy nhiên thị trường EU thật sự là mộtthị trường khó tính, có chọn lọc cao với những yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh an toànthực phẩm (với hàng thuỷ sản đóng gói phải ghi rõ tên sản phẩm, thành phẩm, trọnglượng thời gian và cách sử dụng sản phẩm, nơi sản xuất, các điều kiện bảo quản và sửdụng, mã số, mã vạch để nhận dạng lô hàng) Liên minh châu Âu có riêng một hệ thốngluật trong lĩnh vực thuỷ sản được xác định nhằm kiểm soát các điều kiện đảm bảo antoàn vệ sinh từ nuôi trồng, đánh bắt, vận chuyển, chế biến cho đến bảo quản và đưa ra thịtrường tiêu thụ (Đặc biệt cấm nhập những sản phẩm thuỷ sản bị nhiễm độc do tác độngcủa mội trường hoặc do các chất phụ gia không được phép sử dụng)

Đối với hàng dệt may: EU lập ra một hệ thống thống nhất về mã hiệu cho biết các loạisợi cầu thành nên loại vải hay lụa đưa bán trên thị trường EU Bất cứ loại vải hoặc lụanào được sản xuất ra trên cơ sở hai hay nhiều sợi mà một trong các loại ấy chiếm tốithiểu 85% tổng trọng lượng, thì trên mã hiệu có thể đề tên loại sợi đó kèm theo tỷ lệ vềtrọng lượng, hoặc đề tên các loại sợi đó kèm theo tỷ lệ tối thiểu 85% hoặc ghi cấu thànhchi tiết của sản phẩm Nếu sản phẩm gồm hai hoặc nhiều loại sợi mà không loại sợi nàođạt tỷ lệ 85% tổng trọng lượng thì trên nhãn hiệu ít ra phải ghi tỷ lệ của hai loại sợi quantrọng nhất kèm theo tên các loại vải sợi khác đã được sử dụng

Trang 25

Đối với hàng giầy dép: thị hiếu của người tiêu dùng trong thị trường EU được đánh giá

là khá khó tính và chọn lọc Các nhà nhập khẩu châu Âu luôn tìm kiếm những thị trường

rẻ nhưng phải đẹp Họ luôn cố gắng hạ giá thành sản phẩm tới mức thấp nhất tại nơi đặt

cơ sở gia công

Thị trường EU về cơ bản cũng giống như một thị trường quốc gia, do vậy nó có 3 nhómngười tiêu dùng khác nhau: (1) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức cao, chiếm gần20% dân số EU, dùng hàng chất lượng tốt nhất và giá cả cũng đắt nhất, hoặc những mặthàng hiếm và độc đáo; (2) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức trung bình chiếm 68%dân số, sử dụng mặt hàng có chất lượng kém hơn một chút so với nhóm 1 và giá cả cũng

rẻ hơn; (3) Nhóm có khả năng thanh toán ở mức thấp, chiếm hơn 10% dân số, tiêu dùngnhững loại hàng có chất lượng và giá đều thấp hơn so với hàng của nhóm 2 Hàng hoáđáp ứng cho thị trường này gồm cả hàng hoá cao cấp lẫn bình dân phục vụ cho mọi đốitượng

Yêu cầu về mẫu mốt và kiểu dáng hàng hoá thay đổi nhanh, đặc biệt đối với những hàngthời trang (giầy dép, quần áo )

2.2 Năng lực nội tại của thị trường EU về khả năng sáng tạo mốt, khả năng sản xuất vàxuất khẩu

Từ xưa đến nay, châu Âu vẫn được coi là kinh đô thời trang của thế giới bởi các trungtâm tạo mốt thời trang nổi tiếng như Pháp, Italia với các hãng nổi tiếng của thế giới màgiới sành mốt đều biết đến Ngành công nghiệp giầy dép châu Âu nói chung và EU nóiriêng có lịch sử phát triển lâu đời, sản phẩm giầy dép chiếm tỷ trọng khá cao trong tổngsản phẩm xã hội và kim ngạch xuất khẩu

Do ảnh hưởng của qúa trình quốc tế hoá và do việc tăng cường nhập khẩu hàng hoá rẻhơn vào thị trường nội địa, ngành giầy dép châu Âu nói chung và EU nói riêng giảmđáng kể cả về khối lượng sản xuất và thị phần Một phần cũng bởi sự cạnh tranh của sảnphẩm giầy dép của các nước kém phát triển vốn có thuận lợi về giá nhân công rẻ

Hiện nay hơn 60% khối lượng hàng giầy dép xuất khẩu trên thế giới đều xuất phát từ cácnước đang phát triển, châu Á là khu vực xuất khẩu lớn nhất, chiếm 32% khối lượng giầydép xuất khẩu toàn thế giới Nhưng xét về giá trị thị trường, EU vẫn đóng một vai trò hếtsức quan trọng trên thị trường giầy dép thế giới Hàng giầy dép của EU vẫn đứng đầu thếgiới về chất lượng Sở dĩ như vậy là do EU là trung tâm thiết kế về mẫu mốt, trung tâmthông tin về thời trang và giầy dép EU cũng là khu vực tuyệt vời về kỹ thuật thuộc da

Trang 26

Mặc dù khối lượng sản xuất cũng như thị phần của hàng giầy dép EU đang giảm, nhưngtrên thực tế EU đang mở rộng ngành giầy dép của mình dưới hình thức sản xuất vàmarketing tại nhiều nước, nhất là các nước châu Á Hình thức liên kết này chủ yếu làgiao nguyên liệu thuê gia công theo mẫu mã mà các nhà tạo mốt EU đã thiết kế sẵn Nhưvậy, thực tế khả năng chi phối thị trường giầy dép của EU vẫn rất lớn.

2.3 Nhu cầu nhập khẩu hàng giày dép

EU là một thị trường rộng lớn với hơn 375 triệu dân, nhu cầu tiêu dùng hàng giầy dép rấtlớn, vào hàng thứ hai thế giới (sau Mỹ) Thị trường EU có tiềm năng sản xuất và xuấtkhẩu hàng giầy dép đứng hàng đầu thế giới Đồng thời, các nước EU cũng đứng đầu thếgiới về nhập khẩu hàng giầy dép Ở thị trường EU, người ta có thể thấy đủ các mặt hànggiầy dép từ khắp các quốc gia trên thế giới như Mỹ, Trung quốc, Singapore

2.4 Hệ thống phân phối của hàng giầy dép trên thị trường EU

Trong nền thương mại châu Âu , hệ thống phân phối là yếu tố quan trọng trong khâu lưuthông và xuất khẩu hàng hoá sang thị trường này Hệ thống phân phối EU chủ yếu baogồm các hình thức sau: các trung tâm thu mua, các đơn vị chế biến, dây truyền phânphối, các nhà bán buôn, bán lẻ và người tiêu dùng

Trong xu hướng hiện nay, nhập khẩu trực tiếp hàng giầy dép vào EU tăng lên do yêu cầu

về cạnh tranh trong khâu bán lẻ Hệ thống bán lẻ ngày càng chiếm ưu thế trong hệ thốngphân phối hàng giầy dép vào thị trường EU

Hàng giầy dép tại các nước EU cơ bản được phân phối qua hệ thống bán lẻ như sau:(1) Các dây truyền chuyên doanh hàng giầy dép

(2) Các cửa hàng chuyên doanh hàng giầy dép liên nhánh

(3) Các trung tâm bán hàng qua bưu điện

Trang 27

đương đầu với sức ép cạnh tranh của các nước Đông Âu và Trung Đông do các nước này

có ưu thế hơn hẳn trong khả năng tiếp cận hệ thống bán lẻ của các nước EU

2.5 Các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng của EU

Một đặc điểm nổi bật trên thị trường EU là quyền lợi của người tiêu dùng rất được bảo

vệ, khác hẳn với thị trường của các nước đang phát triển Để đảm bảo quyền lợi chongười tiêu dùng, EU tiến hành kiểm tra các sản phẩm ngay từ nơi sản xuất và có các hệthống báo động giữa các nước thành viên, đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra các sản phẩm ởbiên giới EU đã thông qua các quy định bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng về độ antoàn chung của các sản phẩm được bán ra, các hợp đồng quảng cáo, bán hàng tận nhà,nhãn hiệu…Các tổ chức chuyên nghiên cứu đại diện cho giới tiêu dùng sẽ đưa ra các quychế định chuẩn quốc gia hoặc châu Âu Hiện nay ở EU có 3 tổ chức định chuẩn: Uỷ banchâu Âu về định chuẩn, Uỷ ban châu Âu về định chuẩn điện tử, Viện định chuẩn viễnthông châu Âu Tất cả các sản phẩm chỉ có thể bán được ở thị trường này với điều kiệnphải bảo đảm tiêu chuẩn an toàn chung của EU, các luật và định chuẩn quốc gia được sửdụng chủ yếu để cấm buôn bán sản phẩm được sản xuất ra từ các nước có những điềukiện sản xuất chưa đạt được mức an toàn ngang với tiêu chuẩn của châu Âu

Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, EU tích cực tham gia chống nạn hàng giả bằngcách không cho nhập khẩu những sản phẩm đánh cắp bản quyền

Ngoài việc ban hành và thực hiện quy chế trên, EU còn đưa ra các Chỉ thị kiểm soát từngnhóm hàng cụ thể về chất lượng và an toàn đối với người tiêu dùng

2.6 Chính sách thương mại

EU được coi là một đại quốc gia của châu Âu Bởi vậy, chính sách thương mại của EUgiống như chính sách thương mại của một quốc gia Nó bao gồm chính sách thương mạinội khối và chính sách ngoại thương

Chính sách thương mại nội khối: chính sách nội khối tập trung vào việc xây dựng và vậnhành thị trường chung châu Âu, xoá bỏ việc kiểm soát biên giới lãnh thổ quốc gia, biêngiới hải quan( xoá bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan ) để tự do lưu thông vốn, hànghoá, dịch vụ và vốn, điều hoà các chính sách kinh tế - xã hội của các nước thành viên.Chính sách ngoại thương: gồm chính sách thương mại tự trị và chính sách thương mạidựa trên cơ sở Hiệp định được xây dựng trên những nguyên tắc sau: không phân biệt đối

xử, minh bạch, có đi có lại và đối xử công bằng Các biện pháp bảo hộ chủ yếu được áp

Trang 28

dụng phổ biến trong chính sách này là thuế quan, hạn chế về số lượng, chống bán phá giá

và trợ cấp xuất khẩu

Tất cả các nước thành viên EU cùng áp dụng một chính sách ngoại thương chung đối vớicác nước ngoài khối Uỷ ban châu Âu (EC) là người đại diện duy nhất cho Liên minhtrong việc đàm phán, ký kết các Hiệp định thương mại và dàn xếp tranh chấp trong lĩnhvực này

EU đang thực hiện chương trình mở rộng hàng hoá: đẩy mạnh tự do hoá thương mại(giảm dần thuế quan đánh vào hàng hoá xuất khẩu và tiến tới xoá bỏ hạng nghạch, GSP).Hiện nay, 15 nước thành viên EU cùng áp dụng một biểu thuế quan chung đối với hànghoá xuất nhập khẩu Đối với hàng nhập khẩu vào khối, mức thuế trung bình đánh vàohàng nông sản là 18%, còn hàng công nghiệp chỉ là 2%

Các chính sách phát triển ngoại thương của EU từ 1951 đến nay là những nhóm chínhsách chủ yếu sau: chính sách khuyến khích xuất khẩu, chính sách thay thế nhập khẩu,chính sách tự do hoá thương mại và chính sách hạn chế xuất khẩu tự nguyện Việc bánhàng và thực hiện các chính sách này có liên quan chặt chẽ đến tình hình phát triển kinh

tế, tiến trình nhất thể hoá châu Âu và khả năng cạnh tranh trong từng thời kỳ của các sảnphẩm của Liên minh trên thị trường thế giới

Để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thương mại, EU đã thực hiện các biện pháp:Chống bán phá giá (Anti-dumping), chống trợ cấp xuất khẩu và chống hàng giả EU đãban hành các chính sách chống bán phá giá và áp dụng thuế “Chống bán phá giá” để đấutranh với những trở ngại trong buôn bán với thế giới thứ ba Ví dụ: đánh thuế 30% đốivới những sản phẩm điện tử của Hàn quốc và Singapore, nhôm của Nga,xe hơi của Nhật,giầy dép của Trung Quốc; đánh thuế 50-100% đối với các xí nghiệp sản xuất Cameratruyền hình của Nhật Bản Trong khi đó, các biện pháp chống hàng giả của EU chophép ngăn chặn việc nhập khẩu những hàng hoá đánh cắp bản quyền

Không chỉ dừng lại ở việc áp dụng các biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnhtrong thương mại, EU còn sử dụng một biện pháp để đẩy mạnh thương mại với các nướcđang phát triển và chậm phát triển Đó là Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP)- mộtcông cụ quan trọng của EU để hỗ trợ các nước nói trên Bằng cách này, EU tạo diều kiệncho các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển dễ dàng xâm nhập vào thịtrường của mình

3 Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của EU dành cho các nước đang phát triển

Trang 29

Hàng hoá từ các nước đang phát triển nếu thoả mãn nhưng quy định của EU sẽ đượchưởng ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) Một trong những nguyên tắc cơ bản của tổ chứcthương mại thế giới (WTO) là không phân biệt đối xử và đối ứng Nguyên tắc này thểhiện qua việc các nước đối xử tối hụê quốc( Most Favour Nation – MFN) Nhưng dotrình độ phát triển kinh tế của các nước thành viên WTO rất khác nhau nên việc tôntrọng nguyên tắc không phân biệt đối xử sẽ làm cho hàng hoá của các nước đang pháttriển và đặc biệt là các nước chậm phát triển ( dưới đây gọi chung là các nước đang pháttriển ) không có khả năng cạnh tranh với hàng hoá của các nước phát triển Do vậy cầnphải có biện pháp nới lỏng nguyên tắc trên cho các nước đang phát triển, chiếm đa sốtrong WTO.

Theo nghị quyết 21 của Hội nghị Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển ( UnitedNations Conference on Trade and Development-UNCTAD) thông qua năm 1968 - bắtđầu từ năm 1971 các nước phát triển (trong đó có Liên minh châu Âu) dành cho cácnước đang phát triển ưu dãi về thuế quan (GSP) : miễn giảm thuế tối huệ quốc (MostFavour Nation -MFN) đối với hàng hoá xuất xứ từ các nước đang phát triển Nguyên tắc

cơ bản của GSP là tự nguyện, không đòi hỏi có đi có lại, đơn phương quyết định Mụcđích của GSP là giúp cho hàng hoá của các nước đang phát triển tăng được khả năngthâm nhập vào thị trường các nước phát triển, từ đó thúc đẩy kinh tế của các nước đangphát triển Nội dung của GSP là miễn giảm thuế so với thuế MFN đối với hàng hoá cácnước đang phát triển nhập khẩu vào nước dành GSP Người nhập khẩu khi xuất trình đủcác giấy tờ theo quy định sẽ được giảm hoặc miễn thuế nhập khẩu Tất cả các nước đang

và chậm phát triển- theo tiêu chí của Liên Hợp Quốc- đều được hưởng GSP Tuy nhiêntuỳ theo mối quan hệ song phương của mình, từng nước dành GSP quyết định danh sáchcác nước được hưởng GSP EU cho Việt Nam được hưởng GSP từ trước khi hai bên kýHiệp định thương mại vào năm 1995 Các nước được hưởng GSP được chia thành hainhóm: nhóm các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam và nhóm các nước chậmphát triển Nhóm các nước thứ hai được hưởng ưu đãi hơn so với nhóm thứ nhất

3.1 Quy định của EU đối với hàng hoá được hưởng GSP:

Thứ nhất, tuỳ theo cơ cấu kinh tế, tình hình xuất nhập khẩu, mỗi nước xác địnhmột danh mục hàng nhập khẩu được miễn giảm thuế Danh mục này được lập theo mã số

HS và được áp dụng chung đối với các nước được hưởng GSP của nước liên quan Hàng

Trang 30

hoá thuộc danh mục được hưởng GSP của nước liên quan là những sản phẩm ít có khảnăng cạnh tranh với hàng của nước cho hưởng GSP

Thứ hai, cách công bố danh mục hàng hhưởng GSP:

- Công bố cụ thể danh mục hàng được hưởng GSP với các mức thuế cụ thể vàdanh mục hàng không được hưởng GSP

- Phân chia hàng thuộc diện được hưởng ưu đãi thành các nhóm với mức ưu đãivới từng nhóm EU chia hàng được hưởng GSP thành 4 nhóm:

Nhóm rất nhạy cảm: giảm 15% thuế MFN

Nhóm nhạy cảm : giảm 30% thuế MFN

Nhóm bán nhạy cảm : Giảm 65% thuế MFN

Nhóm không nhạy cảm : miễn thuế

Thứ ba, giới hạn số lượng được hưởng GSP (Quota GSP) Trước đây nhiều nướcquy định giới hạn (tính theo số lượng hoặc tổng giá trị) được hưởng GSP đối với từngnhóm hàng cụ thể Theo quy định này, một mặt hàng nhập khẩu vượt quá giới hạn quyđịnh thì phần vượt phải chịu thuế MFN Mười năm gần đây, nhiều nước đã bỏ quy địnhnày Ở đây cần chú ý phân biệt quota ưu đãi thuộc hệ thống GSP với quota thuế nhậpkhẩu theo thoả thuận song phương và đa phương trong khuôn khổ WTO

Mục đích của GSP là giúp hàng của các nước hưởng ưu đãi tăng khả năng thâmnhập thị trường nước dành GSP, góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, phát triển kinh tế củacác nước này Do đó khi một mặt hàng đã dành được thị phần lớn và một nước đã đạtđược trình độ phát triển cao thì mặt hàng và nước liên quan sẽ không còn lý do gì để tiếptục được hưởng ưu đãi Hầu hết các nước quy định tổng trị giá một mặt hàng của mộtnước nếu đạt trên 25% trị giá nhập khẩu mặt hàng đó từ tất cả các nước hưởng GSP thìmặt hàng đó của nước có liên quan sẽ bị loại khỏi danh mục hàng hưởng GSP hay mộtmặt hàng nhập khẩu ồ ạt gây khó khăn hoặc có nguy cơ gây khó khăn cho sản xuất hàngtương tự hoặc hàng cạnh tranh trực tiếp của nước nhập khẩu sẽ phải chịu thuế MFN Bêncạnh đó, EU còn căn cứ vào trình độ phát triển để xem xét cho hưởng GSP thông qua chỉtiêu thu nhâp quốc nội (thông thường những nước có GDP/người là 8000 USD sẽ khôngđược hưởng GSP) Ngoài tiêu chí thu nhập bình quân đầu người EU còn căn cứ vào chỉ

số phát triển (Human Development Index –HDI-tinhd theo GDP/người, trình độ giáodục, tuổi thọ bình quân) Trong khi các nước khác áp dụng tiêu chí trình độ phát triển vàthị phần (25%) đối với tất cả các mặt hàng và tất cả các nước hưởng GSP thì EU chỉ áp

Trang 31

dụng đối với một số nhóm hàng và một số nước Bên cạnh nguyên tắc loại trừ nói trên,

EU còn quy định cụ thể những trường hợp tạm ngừng cho hưởng GSP:

- Áp dụng dưới mọi hình thức nô lệ hoặc lao động khổ sai

- Thiếu sự kiểm tra của hải quan đối với xuất khẩu hoặc quá cảnh ma tuý, khôngtôn trọng công ước quốc tế về ưu tiên

- Thiếu sự hợp tác trong kiểm tra xác minh giấy chứng nhận xuất xứ mẫu A-C/

O form A

- EU cũng quy định khi xác định rõ mặt hàng được hưởng GSP nhưng nếu bánphá giá thì sẽ không được hưởng GSP nữa

3.2 Các biện pháp khuyến khích trong GSP của EU:

So với ưu đãi các nước khác dành cho các nước đang phát triển thì mức ưu đãicủa EU vào loại thấp nhất Có lẽ vì thế đã tồn tại trong hệ thống GSP của EU quy địnhkhuyễn khích tăng thêm mức ưu đãi: 10%, 20%, 30% đối với hàng nông sản và 15% ,25%, 35% đối với hàng công nghệ phẩm Theo GSP của EU bắt đầu có hiệu lực từ1/7/1999 thì những trường hợp sau sẽ được hưởng ưu đãi thêm:

- Bảo vệ quyền lợi của người lao động: nước hưởng GSP cần chứng minh trongcác văn bản pháp quy của mình có quy định về áp dụng các tiêu chuẩn của các công ước

80, 98 của Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour Organization-ILO) và việc

áp dụng các nguyên tắc về quyền tổ chức, đàm phán tập thể và tuổi lao động tối thiểu

- Bảo vệ môi trường: các văn bản pháp quy của nước hưởng GSP phải có cácquy định áp dụng các tiêu chuẩn của OIBT về bảo vệ môi trường

3.3 Các điều kiện hưởng GSP của EU:

Hàng hoá của các nước nằm trong danh sách các nước được hưởng GSP muốnđược miễn giảm thuế phải đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất, hàng phải được vận chuyển thẳng từ các nước hưởng GSP tới nước chohưởng GSP Trong trường hợp hàng hoá quá cảnh hoặc lưu kho trên lãnh thổ một nướcthứ ba thì hàng hoá không được gia công hoặc tái chế, phải chịu sự giám sát của hải quannước thứ ba và phải chứng minh việc quá cảnh, lưu kho là cần thiết

Thứ hai, quy tắc về xuất xứ: hàng của nước được hưởng GSP muốn được miễn,giảm thuế phải có xuất xứ từ nước đó Các nước dựa trên quy tắc về xuất xứ của WTO

để quy định các tiêu chí xác định xuất xứ hưởng GSP của một sản phẩm yêu cầu cao hơntiêu chí để xác định xuất xứ thông thường từ sản phẩm đó

Trang 32

- Những tiêu chí chính để xác định xuất xứ hưởng GSP:

+ Sản phẩm hoàn toàn được sản xuất trên lãnh thổ nước hưởng GSP như: khoángsản, động thực vật, thuỷ sản đánh bắt trong lãnh hải và các hàng hoá sản xuất từ các sảnphẩm đó

+ Sản phẩm có thành phần nhập khẩu: Nói chung các nước dành GSP đều quy địnhhàm lượng trị giá sản phẩm sáng tạo tại nước hưởng GSP (tuỳ theo giá xuất xưởng).Hàm lượng này thay đổi tuỳ theo mặt hàng và mỗi nước quy định mỗi khác Song phầnlớn các nước đều yêu cầu phần giá trị sáng tạo tại nước nước hưởng GSP phải đạt 60%tổng giá trị hàng liên quan EU quy định cụ thể tỷ lệ trị giá và công đoạn gia công đối vớicác nhóm hàng Ví dụ: sản phẩm chất dẻo không dưới 50%; quần áo với hai công đoạngia công: nhập sợi để dệt và may quần áo Do trình độ kỹ thuật của các nước chậm pháttriên còn rất thấp, hàng hoá của các nước này rất khó hội tụ đủ các tiêu chuẩn xuất xứ đểhưởng GSP cho nên các nước dành GSP quy định giảm nhẹ tiêu chuẩn cho hàng hoá cácnước chậm phát triển EU quy định rõ một số hàng của một số nước được giảm bớt sốcông đoạn được gia công

+ Xuất xứ gộp: hầu hết các nước dành GSP đều quy định xuất xứ cộng gộp, theo đóhàng của một nước có thành phần xuất xứ từ một nước khác trong cùng một tổ chức, khuvực thương mạo tự do cũng được hưởng GSP thì các thành phần đó cũng được xem là cóxuất xứ từ nước được hưởng GSP

Trong khuôn khổ vòng đàm phán Urugoay của WTO các nước đều thoả thuận sẽ giảmdần thuế quan, do đó ý nghĩa của GSP cũng giảm dần vì mức chênh lệch giữa thuế MFN

và GSP vẫn là một thuận lợi cho hàng xuất khẩu của các nước đang phát triển nói chung

và của Việt Nam nói riêng Nắm vững mức thuế quan GSP và các nội dung cụ thể củachế độ ưu đãi thuế quan này, các doanh nghiệp sẽ xác định được phương hướng sản xuấtmột mặt hàng cụ thể để xuất khẩu vào một thị trường của nước phát triển cho hưởngGSP Hơn nữa, khi nắm vững thuế GSP, các nhà xuất khẩu có thể thương lượng bánđược giá rẻ hơn Ý nghĩa của GSP tuy không còn lớn như khi mới ra đời, song vẫn làmột ưu đãi giúp các doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất khẩu tăng khả năng thâm nhậpthị trường EU trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt

4 Các quy định của EU đối với hàng giầy dép xuất khẩu của Việt Nam

4.1 Các quy định về các mức thuế

Trang 33

Ngày 21/12/1998 Hội đồng châu Âu đã thông qua quy chế số 2820/98 về hệ thống ưu đãithuế quan phổ cập (GSP) áp dụng từ 01/07/1999 đến 31/12/2001 Trong quy chế này,mặt hàng giầy dép xuất khẩu của Việt Nam được xếp vào nhóm nhạy cảm do đó đượcgiảm 30% thuế MFN.

Như vậy, cách tính mức thuế cụ thể mà nhà nhập khẩu EU phải nộp cho sản phẩm giầythể thao có xuất xứ từ Việt Nam là:

- Giầy thể thao: thuế tối huệ quốc (MFN) 17%

- Mức thuế ưu đãi = 70% thuế MFN

- Thuế phải nộp: 17%*70% = 11,9%

Như vậy so với các quốc gia khác, dù đã được hưởng GSP nhưng mức thuế đánh vàogiầy thể thao nhập khẩu từ Việt Nam của EU khá cao Cụ thể, nếu được hưởng GSP thìthuế suất của giầy thể thao nhập khẩu từ Việt Nam của Nhật Bản là 4,25%, của Canada

là 0%, Thuỵ sĩ là 0%

Để được hưởng GSP của EU sản phẩm giầy dép xuất khẩu của Việt Nam phải đáp ứngđược tiêu chuẩn về xuất xứ như sau: giầy dép chỉ được hưởng GSP nếu các bộ phận(mũi, đế…) ở dạng rời sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu từ các nước cũng đượchưởng GSP Nói cách khác, sản phẩm giầy dép xuất khẩu phải được giấy chứng nhậnxuất xứ hàng hoá mẫu A (Certificate of Origin Form A viết tắt là C/O From A) đượcdùng để hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của cộng đồng châu Âu cho hàng hoá cóxuất xứ từ Việt Nam Yêu cầu về xuất xứ của C/O From A đòi hỏi cao hơn so với C/OFrom B (Chứng nhận xuất xứ àng hoá thông thường không được hưởng ưu đãi thuếquan) Ví dụ: nếu nhập khẩi vải về Việt Nam may thành áo sơ mi thì được công nhận cóxuất xứ tại Việt Nam với C/O From B Nhưng với C/O From A yêu cầu xuất xứ phải là:nhập sợi-dệt thành vải-may áo Do vậy, phần lớn các nưứoc khi quyết định dành ưu đãithuế quan cho nước nào đều quy định C/O From A phải do cơ quan có thẩm quyền củaChính phủ nước đó cấp Việt Nam cũng không nằm ngoài thông lệ này Tại điều 4 “ Bảnghi nhớ giữa Chính phủ Việt Nam và cộng đồng châu Âu về chống gian lận trong buônbán sản phẩm giầy dép” có ghi rõ : “giấy chứng nhận xuất xứ của Việt Nam nhằm đểđược hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập của cộng đồng châu Âu sẽ do cơ quan cóthẩm quyền của Chính phủ Việt Nam cấp” Ở Việt Nam từ 01/01/2000 trở về trước, cơquan cấp C/O From A là Phòng thương mại và côn nghiệp Việt Nam (VCCI) Nhưng từ01/01/2000 Chính phủ đã chỉ định Bộ thương mại là cơ quan cấp C/O From A Trong

Ngày đăng: 20/10/2017, 02:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w