1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tài liệu ôn thi lịch sử các học thuyết kinh tế

26 534 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 165 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 3: TRƯỜNG PHÁI CỔ ĐIỂN ANH Câu 1: Phân tích đặc điểm phương pháp luận của trường phái cổ điển Anh. Câu 2: So sánh đặc điểm phương pháp luận của trường phái cổ điển Anh và cổ điển Pháp (trọng nông). A. Lí luận giá trị lao động Câu 1: Chứng minh W. Petty là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho nguyên lí giá trị lao động. Câu 2: Nhận xét câu nói của W.Petty: “Lao động là cha, đất đai là mẹ của của cải”. Câu 3: Nhận xét câu nói của W.Petty: “Giá trị của hàng hóa là sự phản ánh giá trị của tiền tệ cũng giống như ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời vậy”. Câu 4: Dựa vào lí luận giá trị của W.Petty chứng minh ông là nhà kinh tế học phản ánh bước chuyển từ chủ nghĩa trọng thương sang chủ nghĩa cổ điển Anh. Câu 5: Dùng lí luận giá trị của A.Smith chứng minh nhận xét của C. Mác, phương pháp luận của A.Smith là phương pháp 2 mặt trộn lân các yếu tố khoa học và tầm thường. Câu 6: Chứng minh rằng A.Smith là nhà lí luận giá trị lao động song những lí luận giá trị của ông còn chứa nhiều mâu thuẫn và sai lầm. Câu 7: Bình luận câu nói “ Tiền công – lợi nhuận – địa tô là 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập và do đó là 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị”. Câu 8: Tại sao nói Ricardo đã đưa trường phái cổ điển Anh tới đỉnh cao nhưng không thể tới tận cùng được.

Trang 1

CHƯƠNG 3: TRƯỜNG PHÁI CỔ ĐIỂN ANH

Câu 1: Phân tích đặc điểm phương pháp luận của trường phái cổ điển Anh

Câu 2: So sánh đặc điểm phương pháp luận của trường phái cổ điển Anh và cổ điểnPháp (trọng nông)

A Lí luận giá trị - lao động

Câu 1: Chứng minh W Petty là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho nguyên lígiá trị lao động

Câu 2: Nhận xét câu nói của W.Petty: “Lao động là cha, đất đai là mẹ của của cải”

Câu 3: Nhận xét câu nói của W.Petty: “Giá trị của hàng hóa là sự phản ánh giá trị củatiền tệ cũng giống như ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời vậy”.Câu 4: Dựa vào lí luận giá trị của W.Petty chứng minh ông là nhà kinh tế học phản ánhbước chuyển từ chủ nghĩa trọng thương sang chủ nghĩa cổ điển Anh

Câu 5: Dùng lí luận giá trị của A.Smith chứng minh nhận xét của C Mác, phương phápluận của A.Smith là phương pháp 2 mặt trộn lân các yếu tố khoa học và tầm thường.Câu 6: Chứng minh rằng A.Smith là nhà lí luận giá trị - lao động song những lí luận giátrị của ông còn chứa nhiều mâu thuẫn và sai lầm

Câu 7: Bình luận câu nói “ Tiền công – lợi nhuận – địa tô là 3 nguồn gốc đầu tiên củamọi thu nhập và do đó là 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị”

Câu 8: Tại sao nói Ricardo đã đưa trường phái cổ điển Anh tới đỉnh cao nhưng khôngthể tới tận cùng được

Câu 9: A.Smith và D.Ricardo bàn luận như thế nào về cơ cấu giá trị hàng hóa

Câu 10: Dựa vào lí luận giá trị - lao động của trường phái cổ điển Anh để CMR Trườngphái cổ điển dù có nhiều đóng góp trong việc xây dựng và phát triển lí luận giá trị songvẫn không thể phát triển lí luận đến cùng

Câu 4: Anh chị có sùng bái tiền tệ không? vì sao?

Câu 5: lí luận tiền tệ của D.Ricardo có gì phát triển so với các nhà kinh tế cổ điển Anhtrước

Trang 2

Câu 6: W.Petty, A.Smith, D.Ricardo đã đề cập ntn đến quy luật lưu thông tiền tệ?

Câu 7: Trình bày cống hiến và hạn chế của trường phái cổ điển Anh trong lí luận tiền tệ.C.Lí luận khác

Câu 1: Lí luận tiền công của W.Petty, A.Simth, D.Ricardo

Câu 2: Những thành tựu và hạn chế của Trường phái cổ điển Anh trong lí luận tiền công.Câu 3: Chứng minh rằng, A.Smith là nhà tiên tri của chủ nghĩa tự do kinh tế Những họcthuyết kinh tế nào kế thừa và phát huy tư tường tự do kinh tế của A.Smith Rút ra ýnghĩa lí luận và thực tiễn của lí thuyết “bàn tay vô hình”

Câu 4: Lí luận về khủng hoảng kinh tế của Ricardo

Câu 1: Phân tích đặc điểm phương pháp luận của trường phái cổ điển Anh.

Chủ nghĩa Trọng thương đã trở thành lỗi thời và bắt đầu tan rã ngay từ thế kỷ XVII,trước hết là Anh, một nước phát triển nhất về mặt kinh tế Tiền đề của việc đó được tạo

ra chủ yếu là do sự phát triển các công trường thủ công ở Anh, đặc biệt là trong nhànhdệt, sau đó là công nghiệp khai thác Giai cấp tư sản đã nhận thức được rằng: “muốn làmgiàu phải bóc lột lao động, lao động làm thuê của những người nghèo là nguồn gốc làmgiàu vô tận cho những người giàu” Tất cả những điều kiện kinh tế, xã hội khoa học củacuối thế kỷ XVII đã chứng tỏ thời kỳ tích luỹ ban đầu của tư bản đã kết thúc và thời kỳsản xuất tư bản chủ nghĩa bắt đầu Tính chất phiến diện của học thuyết trọng thương trởnên quá rõ ràng, đòi hỏi phải có lý luận mới để đáp ứng với sự vận động và phát triểncủa sản xuất tư bản chủ nghĩa Trên cơ sở đó, kinh tế chính trị học cổ điển Anh ra đời.Các đại biểu tiêu biểu: William Petty (1623-1687), Adam Smith (1723-1790), DavidRicardo (1772-1823)…

Về đối tượng nghiên cứu

: Kinh tế chính trị tư sản cổ điển chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thôngsang lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu các quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất, trìnhbày có hệ thống các phạm trù kinh tế trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa: hàng hoá, giátrị, tiền tệ, giá cả, tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô…để rút ra các quy luật vận độngcủa nền sản xuất tư bản chủ nghĩa

Về mục tiêu nghiên cứu:

Luận chứng cương lĩnh kinh tế và các chính sách kinh tế của giai cấp tư sản, cơ chế thựchiện lợi ích kinh tế trong xã hội tư bản nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản trên cơ

sở phát triển lực lượng sản xuất

Về nội dung nghiên cứu:

Lần đầu tiên đã xây dựng được một hệ thống phạm trù, quy luật của nền sản xuất hànghoá tư bản chủ nghĩa đặc biệt là lý luận Giá trị - Lao động

Trang 3

Tư tưởng bao trùm là ủng hộ tự do kinh tế, chống lại sự can thiệp của nhà nước, nghiêncứu sự vận động của nền kinh tế đơn thuần do các quy luật tự nhiên điều tiết.

Trường phái cổ điển Anh đặt cơ sở lí luận cho các lí luận sau: lí luận giá trị, lí luận vềthu nhập, lí luận về tiền tệ, về tư bản, về tái sản xuất…

Về phương pháp nghiên cứu: Thể hiện tính chất hai mặt:

Một là, sử dụng phương pháp trừu tượng hoá để tìm hiểu các mối liên hệ bản chất bêntrong các hiện tượng và các quá trình kinh tế, nên đã rút ra những kết luận có giá trịkhoa học

Hai là, do những hạn chế về mặt thế giới quan, phương pháp luận và điều kiện lịch sửcho nên khi gặp phải những vấn đề phức tạp, họ chỉ mô tả một cách hời hợt và rút ra một

Đều là học thuyết kinh tế sinh ra nhằm thay thế cho chủ nghĩa trọng thương đã tỏ ra lạchậu và bộc lộ những sai lầm làm cho nền sản xuất các nước bị đình đốn

Về chính trị, giai cấp tư sản phát triển trong lòng xã hội phong kiến một cách mạnh mẽđòi hỏi có những cương lĩnh, lí luận kinh tế riêng cho giai cấp mình

Về đặc điểm phương pháp luận

Đối tượng nghiên cứu: chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vựcsản xuất, nghiên cứu các quan hệ kinh tế trong quá trình sản xuất

Nội dung: Ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế, chống lại sự can thiệp của Nhà nước, nghiêncứu sự vận động của nền kinh tế đơn thuần do các quy luật tự nhiên điều tiết (VD: tưtưởng của P.Quesney – trường phái trọng nông, lí thuyết “bàn tay vô hình của A.Smith –

cổ điển Anh)

Ý nghĩa: Đặt nền móng cho sự ra đời của các lí luận về giá trị thặng dư (VD: lí luận vềsản phẩm thuần túy –trọng nông, lí luận về giá trị lao động – cổ điển Anh) về tái sảnxuất (VD: sơ đồ biểu kinh tế - trọng nông, lí luận về tái sản xuất của A.Smith, củaRicardo – Cổ điển Anh) về tiền tệ (lí luận về tiền tệ - cổ điển Anh, nội dung phê phánchủ nghĩa trọng thương – trọng nông)

Khác nhau:

Trang 4

Trường phái trọng nông đã đồng nhất sản xuất nông nghiệp với sản xuất vật chất, do đóđồng nhất địa tô vs sản phẩm ròng, sản phẩm thuần túy (sản phẩm thặng dư).

Còn trường phái cổ điển Anh khẳng định mọi thứ lao động sản xuất đều bình đẳng trongviệc tạo ra giá trị hàng hoá (đã khắc phục hạn chế của chủ nghĩa trọng thương và chủnghĩa trọng nông)

Chủ nghĩa trọng nông là một trong những trường phái đầu tiên phân tích sự vận độngcủa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa song vẫn chưa vượt qua khuôn khổ của xãhội phong kiến thì trường phái cổ điển Anh đã vượt qua những khuôn khổ đóđã lần đầutiên xây dựng được một hệ thống phạm trù, quy luật của nền sản xuất hàng hoá tư bảnchủ nghĩa

A Lí luận giá trị - lao động

Câu 1: Chứng minh W Petty là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho nguyên lí giá trị lao động.

William Petty (1623-1687) là một trong những người sáng lập ra học thuyết kinh tế cổđiển ở Anh Ông sinh ra trong một gia đình thợ thủ công, có trinh độ tiến sĩ vật lý, lànhạc trưởng, là người phát minh ra máy chữ Ông là người áp dụng phương pháp mớitrong nghiên cứu khoa học, được gọi là phương pháp khoa học tự nhiên

W.Petty không trực tiếp trình bày lý luận về giá trị nhưng thông qua những luận điểmcủa ông về giá cả có thể khẳng định ông là người đầu tiên đưa ra nguyên lý về giá trị laođộng Nghiên cứu về giá cả, ông cho rằng có hai loại giá cả: giá cả tự nhiên và giá cảchính trị Giá cả chính trị (giá cả thị trường) do nhiều yếu tố ngẫu nhiên chi phối, nên rấtkhó xác định chính xác Giá cả tự nhiên (giá trị) do hao phí lao động quyết định, và năngsuất lao động có ảnh hưởng tới mức hao phí đó Như vậy, W.Petty là người đầu tiên tìmthấy cơ sở của giá cả tự nhiên là lao động Ông xác định giá cả tự nhiên của hàng hoábằng cánh so sánh lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá với lượng lao độnghao phí để tạo ra bạc hay vàng

VD: Một người nào đó có thể sản xuất ra 1 bussel lúa mì hoặc khai thác 1 ounce vàngvới 1 công sức như nhau

Giá cả tự nhiên 1 bussel lúa mì = 1 ounce vàng

Nếu năng suất lao động của khai thác vàng tăng gấp đôi thì:

Giá cả tự nhiên 1 bussel lúa mì = 2 ounce vàng

Theo ông giá cả tự nhiên (giá trị của hàng hoá) là sự phản ánh giá cả tự nhiên của tiền tệ,cũng như ánh sáng mặt trăng là sự phản chiếu của mặt trời Nhưng ông lại chỉ thừa nhậnlao động khai thác vàng là lao động tạo ra giá trị còn giá trị của hàng hoá chỉ được xácđịnh khi trao đổi với tiền

Trang 5

Khi trình bày về mối quan của năng suất lao động đối với lượng giá trị hàng hoá: Ôngkhẳng định giá cả tự nhiên (giá trị) tỷ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác vàngbạc Một lý luận quan trọng của ông đó là: ông khẳng định: “lao động là cha của của cảicòn đất đai là mẹ của của cải”, luận điểm này đúng nếu xem của cải là giá trị sử dụng,song sẽ là sai nếu hiểu lao động và tự nhiên là nhân tố tạo ra giá trị Ông đã tìm thước đothống nhất của giá trị là thước đo chung đối với tự nhiên và lao động, ông đưa ra quanđiểm “thước đo thông thường của giá trị là thức ăn trung bình hàng ngày của mỗi người,chứ không phải là lao động hàng ngày của người đó” Với luận điểm này đã chứng tỏông chưa phân biệt được rõ giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, chưa biết đến tính chất xãhội của giá trị.

Ngoài ra ông còn có ý định giải quyết mối quan hệ giữa lao động phức tạp và lao độnggiản đơn nhưng không thành công Do là người đầu tiên đặt nền móng cho nguyên lí giátrị lao động nên lí luận của W.Petty không tránh khỏi còn nhiều hạn chế:

- Chưa phân biết được lao động cụ thể và lao động trừu tượng, chưa biết đến tính 2 mặtcủa lao động sản xuất hàng hóa

- Chưa phân biết được các phạm trù: giá trị hàng hóa, giá trị trao đổi và giá cả hàng hóa

- Chưa phân biệt được giá trị hàng hóa và các hình thái biếu hiện của nó nên ông đưa raluận điểm “Giá trị hàng hóa là sự phản ánh giá trị tiền tệ cũng như ánh sáng mặt trăng là

sự phản chiếu ánh sáng mặt trời vậy” Đây là câu nói ngược, ông lẫn lộn giữa nội dung

và hình thái biểu hiện, giữa cái phản ánh và cái đc phản ánh

Lí luận này của ông đã được Ađam Smith kế thừa và phát triển, ông đã đưa ra 1 quanđiểm rằng giá trị trao đổi là do lao động quyết định, giá trị là do hao phí lao động để sảnxuất ra hàng hoá quyết định Đây là quan niệm đúng đắn về giá trị nhưng ông vấp phảivấn đề về giá cả sản xuất

Đến Ricando, ông đã phân biệt được hai thuộc tính của hàng hoá và đã đưa ra đầy đủ :“giá trị của hàng hoá hay số lượng của một hàng hoá nào đó khác mà hàng hoá đó traođổi là do số lượng lao động tương đối cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định”ông thấy rõ nguyên nhân của hàng hóa có giá trị trao đổi Ông đã khẳng định một cáchthuyết phục rằng giá trị hàng hoá giảm khi năng suất lao động tăng lên (dự đoán thiên tàicủa W Petty đã được ông luận chứng )

Chỉ khi đến lí luận của C.Mác ra đời mới phân biệt số 2 thuộc tính của hàng hoá đó làgiá trị sử dụng và giá trị có sự thống nhất biện chứng Đây là chìa để khoá giải quyếtmột loạt các vấn đề trong kinh tế

Như vậy W Petty đã đặt nền móng cho nguyên lí giá trị - lao động Tuy lý thuyết giá trị

- lao động của ông còn có những hạn chế chưa phân biệt được các phạm trù giá trị, giá

Trang 6

trị trao đổi với giá cả Từ những lí luận của ông, các nhà kinh tế học đã kế thừa và pháttriển lí luận đó và khi được hoàn thiện bởi Mark.

Câu 2: Nhận xét câu nói của W.Petty: “Lao động là cha, đất đai là mẹ của của cải”.

Đây là câu nói nổi tiếng của W.Petty trong lí luận về giá trị lao động

Theo câu nói này, có 2 nhân tố tạo ra của cải là đất đai và lao đông Đất đai có vai tròtrực tiếp sinh ra của cải, còn lao động là điều kiện không thể thiếu để sản xuất ra của cải.Xét về mặt hiện vật thì câu nói này là chính xác, ông đã nêu được nguồn gốc của của cải

Đó chính là lao động của con người kết hợp với yếu tố tự nhiên Điều này phản ánh quátrình sản xuất ra của cải vật chất là quá trình con người tác động vào tự nhiên, cải biếnvật chất tự nhiên thành sản phẩm phục vụ con người

Nếu thiếu 1 trong 2 yếu tố này không thế coi là quá trình sản xuất ra của cải

Xét về phương diện giá trị thì câu nói này là sai Trên thực tế, giá trị hàng hóa khôngphải do đất đai và lao động cấu thành mà chỉ có lao động mới tạo ra giá trị Sau nàyC.Mác đã chứng minh được giá trị của hàng hóa là do lao động xã hội quyết định Bảnthân W.Petty trong lí luận về 2 loại giá cả (giá cả chính trị và giá cả tự nhiên) cũngkhẳng định: Giá cả tự nhiên (giá trị) do hao phí lao động quyết định, và năng suất laođộng có ảnh hưởng tới mức hao phí đó

Có lẽ khi đưa ra luận điểm này, W.Petty đã mắc phải sự nhầm lẫn khi chưa phân biệtđược lao động cụ thể và lao động trửu tượng, chưa biết đến tính 2 mặt của lao động sảnxuất hàng hóa

- Lao động cụ thể: lao động có ích dưới 1 hình thức cụ thể của những nghế nghiệpchuyên môn nhất định

- Lao động trừu tượng: sự hao phí trí óc, sức thần kinh và sức cơ bắp nói chung của conngười chứ không kể đến hình thức cụ thể của nó

Đồng thời, W.Petty cũng chưa phân biệt được các phạm trù: giá trị hàng hóa, giá trị traođổi và giá cả hàng hóa…Sở dĩ như vậy là do khi phát biểu câu nói này, tư tưởng của ôngvẫn mang nặng màu sắc của chủ nghĩa trọng thương đồng nhất tiển tệ với của cải Petty

đã lẫn lộn lao động với tư cách là nguồn gốc của giá trị với lao động với tư cách lànguồn gốc của giá trị sử dụng, nghĩa là ông đã đồng nhất lao động trừu tượng với laođộng cụ thể Từ đó Petty có ý định đo giá trị bằng hai đơn vị lao động và đất đai Ôngnêu ra câu nói nổi tiếng: “Lao động là cha, còn đất là mẹ của của cải” Về phương diệncủa cải nói như vậy là đúng, chỉ rõ nguồn gốc giá trị sử dụng Nhưng cái mà ông muốnnói đến là giá trị, ông nói: việc xem xét giá trị của tất cả mọi hàng hoá đều phải xuấtphát từ hai yếu tố tự nhiên, tức là đất đai và lao động Nói như vậy ông đã đi ngược lạikết luận đúng đắn của chính mình là giá trị được quyết định bởi thời gian lao động haophí trong quá trình sản xuất hàng hoá

Trang 7

Câu 3: Nhận xét câu nói của W.Petty: “Giá trị của hàng hóa là sự phản ánh giá trị của tiền tệ cũng giống như ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời vậy”.

Ông cho rằng giá trị hàng hóa là sự phản ánh của giá trị tiền tệ mà không phân biệt đcgiá trị hàng hóa và các hình thái biểu hiện của nó

Đây là câu nói ngược, ông đa lẫn lộn nội dung với hình thái biểu hiện, giữa cái đượcphản ánh và cái phản ánh

Trong mối quan hệ: H – T thì giá trị hàng hóa (H) là nội dung cơ sở giá trị tiền tệ (T) làhình thức biểu hiện

Giá cả tự nhiên 1 bussel lúa mì = 1 ounce vàng

Nếu năng suất lao động của khai thác vàng tăng gấp đôi thì:

Giá cả tự nhiên 1 bussel lúa mì = 2 ounce vàng

Theo ông giá cả tự nhiên (giá trị của hàng hoá) là sự phản ánh giá cả tự nhiên của tiền tệ,cũng như ánh sáng mặt trăng là sự phản chiếu của mặt trời Nhưng ông lại chỉ thừa nhậnlao động khai thác vàng là lao động tạo ra giá trị còn giá trị của hàng hoá chỉ được xácđịnh khi trao đổi với tiền

Khi trình bày về mối quan của năng suất lao động đối với lượng giá trị hàng hoá: Ôngkhẳng định giá cả tự nhiên (giá trị) tỷ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác vàngbạc

Một lý luận quan trọng của ông đó là: ông khẳng định: “lao động là cha của của cải cònđất đai là mẹ của của cải”, luận điểm này đúng nếu xem của cải là giá trị sử dụng, song

sẽ là sai nếu hiểu lao động và tự nhiên là nhân tố tạo ra giá trị Ông đã tìm thước đothống nhất của giá trị là thước đo chung đối với tự nhiên và lao động, ông đưa ra quanđiểm “thước đo thông thường của giá trị là thức ăn trung bình hàng ngày của mỗi người,chứ không phải là lao động hàng ngày của người đó” Với luận điểm này đã chứng tỏông chưa phân biệt được rõ giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, chưa biết đến tính chất xãhội của giá trị

Trang 8

Có thế thấy, lí luận giá trị lao động của W.Petty vẫn còn chịu ảnh hưởng một phần tưtưởng của chủ nghĩa Trọng thương.

Ông chỉ tập chung nghiên cứu mặt lượng, nghĩa là nghiên cứu về giá cả một bên là hànghóa, một bên là tiền tệ Ông giới hạn giả thiết đào tạo giá trị trọng lao động khai thácvàng và bạc Các loại lao động khác chỉ so sánh với lao động tạo ra tiền tệ Giá trị hànghoá là sự phản ánh giá trị tiền tệ Phải chăng tư tưởng của ông ra đời trong bối cảnh chủnghĩa trọng thương bắt đầu lụi tàn nên không tránh khỏi sự kế thừa việc coi trọng vàngbạc tiển tệ, lấy nó làm thước đo cho sự giàu có, cho giá trị…

Mặc dù bị ảnh hưởng bởi trường phái trọng thương, nhưng trong khi mà trường pháitrọng thương chỉ đơn thuần mô tả lại các hiện tượng kinh tế dựa trên kinh nghiệm chủquan từ đó đề ra các biện pháp kinh tế thì W.Petty đi xa hơn tìm cách giải quyết các hiệntượng đó, đã biết tiếp cận với các quy luật kinh tế khách quan, biết xây dựng hệ thốngphạm trù, khái niệm kinh tế mới như giá cả tự nhiên và giá cả chính trị…

Phương pháp trình bày lí luận của W.Petty cũng tiến bộ hơn chủ nghĩa trọng thương, ôngxuất phát từ hiện tượng kinh tế cụ thể, phức tạp lên đến hiện tượng trừu tượng Đó làphương pháo kinh tế học đặc trưng của thế kỉ XVII

Trong những tác phẩm đầu tiên, W.Petty còn mang nặng tư tưởng trọng thương song đếnnhững tác phẩm cuối cùng thì ông không còn dấu vết của CNTT nữa

Câu 5: Dùng lí luận giá trị của A.Smith chứng minh nhận xét của C Mác, phương pháp luận của A.Smith là phương pháp 2 mặt trộn lân các yếu tố khoa học và tầm thường.

Adam Smith(1723-1790) là 1 nhà Kinh tế chính trị học nổi tiếng thuộc trường phái cổđiển Anh.Học thuyết Kinh tế của ông đc thể hiện tập trung trong cuốn ‘của cải của cácdân tộc’ xuất bản năm 1776 Ông đã có công trong phát triển phương pháp trìu tượnghóa trong nghiên cứu Kinh tế CT, có nhiều đóng góp vào việc xây dựng các phạm trù,quy luật của linh tế thị trường và phân tích nền sản xuất TBCN Mặc dù vậy, rongphương pháp luận của ông bị lẫn lộn giữa 2 yếu tố khoa học và tầm thường Có thể thấytính chất này trong học thuyết giá trị của ông Ông là nhà tư tưởng tiên tiến của giai cấp

tư sản, ông muốn thủ tiêu tàn tích phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản pháttriển, kêu gọi tích luỹ và phát triển lực lượng sản xuất theo ý nghĩa tư bản, xem chế độ

tư bản chủ nghĩa là hợp lý duy nhất Marx coi A.Smith là nhà kinh tế học tổng hợp củacông trường thủ công

Tính khoa học:

Ông đã sử dụng phương pháp trừu tượng hóa để nghiên cứu làm rõ bản chất bên trongcủa các hiện tượng và quá trình kinh tế, qua đó đã rút ra đc những kết luận đúng đắnkhoa học và đã phát hiện ra các quy luật kinh tế

Trang 9

Đã phân biệt 2 thuộc tính của HH là gtri sử dụng và giá trị trao đổi.Khẳng định gtri sửdụng ko quyết định giá trị trao đổi và bác bỏ lí luận về sự ích lợi, cho rằng sự ích lợi ko

có quan hệ gì với giá trị trao đổi Ông nói: “Giá trị có hai nghĩa khác nhau, có lúc nóbiểu thị hiệu quả sử dụng như là một vật phẩm đặc biệt, có lúc biểu thị sức mua do chỗchiếm hữu một vật nào đó mà có được đối với vật khác Cái trước gọi là giá trị sử dụng,

và cái sau gọi là giá trị trao đổi” Cho rằng giá trị trao đổi do lđộng tạo ra bằng số lượnglao động hao phí gồm cả lđộng quá khứ và lđộng sống, lđộng chung ở tất cả các ngành

SX chứ ko chỉ trong nông nghiệp hay thương nghiệp Lao động là thước đo duy nhấtcuối cùng của giá trị HH Ông còn chứng minh rõ quan hệ giữa giá trị sử dụng và giá trịtrao đổi Những thứ có giá trị sử dụng rất lớn thường có giá trị trao đổi cực nhỏ, thậmchí còn không có Ví dụ: “Không có gì hữu ích bằng nước, nhưng với nó thì không thểmua được gì” Ngược lại, những thứ có giá trị trao đổi rất lớn, thường có giá trị sử dụngcực nhỏ, thậm chí không có Việc phân biệt rõ ràng hai khái niệm giá trị sử dụng và giátrị trao đổi này đồng thời giải thích rõ là giá trị trao đổi lớn hay nhỏ không liên quan gìđến giá trị sử dụng, đó là công lao của A.Smith Nhưng ông cho rằng những thứ không

có giá trị sử dụng có thể có giá trị trao đổi thì lại sai lầm

Chỉ ra thước đo thực tế của giá trị trao đổi của HH đc tiến hành qua 3 bước:

B1: trao đổi HH vs lđộng

B2: trao đôỉ HH vs HH

B3: trao đổi HH thông qua tiền tệ

Như vậy giá trị trao đổi của HH có 2 thước đo là lđộng và tiền tệ Lđộng là thước đo bêntrong duy nhất chính xác và tiền tệ là thước đo bên ngoài và chỉ xác định trong 1 thờigian và ko gian nhất định

Giá trị trao đổi của HH đc thể hiện trong tương quan trao đổi giữa lượng HH này vslượng HH khác, còn trong nền Kinh tế HH phát triển, nó đc biểu hiện ở tiền

Cho rằng lượng giá trị HH do lao động hao phí trung bình cần thiết quyết định Lđộnggiản đơn và lđộng phức tạp có ảnh hưởng khác nhau đến lượng giá trị HH trong cùng 1thời gian, lđộng phức tạp tạo ra lượng giá trị nhiều hơn so vs lđộng đơn giản

Nêu 2 quan niệm về giá cả: giá cả tự nhiên và giá cả thực tế Giá cả tự nhiên là biểu hiệntiền tệ của giá trị, giá cả thực tế là giá bán HH trên thị trường Giá này phụ thuộc vào giá

cả tự nhiên, quan hệ cung cầu và độc quyền trong đó giá cả tự nhiên là trung tâm

Tính tầm thường:

Trước những vấn đề Kinh tế phức tạp,A.Smith đã tỏ ra bất lực nên mới chỉ dừng lại quansát,mô tả vẻ bề ngoài để rút ra KL

Trang 10

Trong khi đưa ra định nghĩa khoa học về giá trị ông lại đưa ra định nghĩa thứ 2: giá trịcủa HH là lđộng mà ng ta có thể mua đc HH đó quyết định

Dựa vào định nghĩa trên, ông cho rằng giá trị do lđộng quyết định chỉ đúng trong nềnKinh tế HH giản đơn còn trong nền Kinh tế HH phát triển (nền Kinh tếhàng hóa tư bảnchủ nghĩa) thì giá trị đc cấu thành bởi 3 nguồn thu nhập: tiền công,lợi nhuận va địa tô.Đến đây lại bị lẫn lộn giữa cấu thành giá trị và phân phối giá trị

Trong khi xác định cấu thành giá trị HH,chưa tính đến giá trị lđộng quá khứ Lí luận cònchịu ảnh hưởng bởi CNTN,như đã cho rằng năng suất lđộng nông nghiệp cao hơn côngnghiệp vì nông nghiệp đc sự trợ giúp của tự nhiên

Câu 6: Chứng minh rằng A.Smith là nhà lí luận giá trị - lao động song những lí luận giá trị của ông còn chứa nhiều mâu thuẫn và sai lầm.

Lí thuyết của A.Smith:

Adam Smith đã đưa ra thuật ngữ khoa học là giá trị sử dụng và giá trị traođổi, tuy nhiênchưa phân biệt được chúng và cho rằng giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi.Xét về giá trị hàng hoá, ông đưa ra hai định nghĩa Định nghĩa 1: “Giá trị hàng hóa là dolao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa quyết định Lao động là thước đo thực tế củamọi giá trị” Định nghĩa 2: “Giá trị hàng hóa bằng số lượng lao động mà người ta có thểmua đc bằng hàng hóa đó”

Adam Smith là người đưa ra quan niệm đúng đắn về giá trị hàng hoá đó là: giá trị hànghoá là do lao động hao phí tạo ra, ông còn chỉ rõ giá trị hàng hoá bằng số lượng lao động

đã chi phí bao gồm lao động quá khứ và lao động sống

Về cơ cấu giá trị hàng hóa, ông cho rằng “Tiền công, lợi nhuận, địa tô là 3 nguồn gốcđầu tiên của mọi thu nhập và do đó là 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị

Xét trao đổi hàng hoá với hàng hoá: Ông viết: “giá trị trao đổi của chúng bằng mộtlượng hàng hoá nào đó”

Như vậy giá trị traođổi của hàng hoá là quan hệ tỷ lệ về số lượng giữa các hàng hoá.Xét trao đổi hàng hoá thông qua tiền tệ: Theo ông, khi chấm dứt nền thương nghiệp vậtđổi vật thì giá trị hàng hoá được đo bằng tiền và giá cả hàng hoá là biểu hiện bằng tiềncủa giá trị, giá cả hàng hoá có hai loại thước đo đó là lao động và tiền tệ, trong đó thước

đo là lao động là thước đo chính xác nhất của giá trị, còn tiền tệ chỉ là thước đo trongmột thời gian nhất định mà thôi Hơn nữa “ giá cả tự nhiên là trung tâm còn giá cả thịtrường là giá bán thực tế của hàng hóa đó Giá cả thị trường sẽ nhất trí với giá cả tựnhiên khi mà số lượng hàng hóa đc bán trên thị trường thỏa mãn cầu thực tế nhưng dobiến động thị trường nên giá cả thị trường chênh lệch với giá cả tự nhiên”

Trang 11

Tóm lại trong lý luận giá trị - lao động A.Smithđã có những bước tiếnđáng kể so vớichủnghĩa trọng nông và W.Petty Cụ thể là:

Ông đã chỉ ra cơ sở của giá trị, thực thể của giá trị chính là do lao động Lao động làthước đo giá trị (theo ông: lao động là nguồn gốc của sự giàu có của các quốc gia, làthực thể giá trị của hàng hoá Không phải vàng hay bạc mà sức lao động mới là vốnliếng ban đầu và có khả năng tạo ra mọi của cải cần thiết)

-Trong khi phân biệt hai phạm trù giá trị sử dụng và giá trị, ông bác bỏ quan niệm chorằng giá trị sử dụng quyết định giá trị trao đổi Khi phân tích về giá trị, ông cho rằng giátrị được biểu hiện ở giá trị trao đổi trong mối quan hệ về số lượng với các hàng hoákhác, còn trong nền sản xuất hàng hoá phát triển nó được biểu hiện ở tiền

-Ông khẳng định mọi thứ lao động sản xuất đều bình đẳng trong việc tạo ra giá trị hànghoá (đã khắc phục hạn chế của chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa trọng nông)

Lượng giá trị: là do hao phí lao động trung bình cần thiết quyết định, không phải do laođộng chi phí thực tế để sản xuất hàng hoá Ở đây đã có sự trừu tượng hoá các dạng laođộng cụ thể, các chi phí lao động cá biệt để xem xét giá trị do lao động tạo ra như mộtđại lượng xác định mang tính chất xã hội Đã có sự phân biệt lao động giản đơn, laođộng phức tạp trong việc hình thành lượng giá trị hàng hoá

- Về giá cả: theo A.Smith, giá trị là cơ sởcủa giá cả và có giá cả tự nhiên và giá cả thịtrường Giá cả tự nhiên là giá trị thực của hàng hoá do lao động quyết định Giá cả thịtrường (hay giá cả thực tế) thì khác với giá cả tự nhiên, phụ thuộc vào quan hệ cung cầu

và các loại độc quyền khác (ông đã sớm nhận ra nhân tố độc quyền tư bản)

Lý luận giá trị - laođộng của A.Smith còn có hạn chế,đó là:

- Quan niệm về lượng giá trị chưa nhất quán: trên cơ sở lý luận giá trị lao động ông đã

có định nghĩa đúng giá trị là lao động hao phí để sản xuất hàng hoá Nhưng có lúc ônglại định nghĩa giá trị là do lao động mà người ta có thể mua được bằng hàng hoá nàyquyết định (gồm v+m), tức là không thấy vai trò của lao động quá khứ Vì vậy dẫn đến

sự bế tắc khi phân tích tái sản xuất

- Một quan điểm sai lầm của Adam Smith khi ông cho rằng: “tiền công, lợi nhuận, địa tô

là ba nguồn gốc đầu tiên của thu nhập cũng như của mọi giá trị trao đổi, là ba bộ phậncấu thành giá cả hàng hoá” Do đó giá trị do lao động tạo ra chỉ đúng trong nền sản xuấthàng hoá giản đơn còn trong kinh tế tư bản chủ nghĩa thì nó do các nguồn thu nhập tạothành là tiền công, lợi nhuận và địa tô Điều này biểu hiện sự xa rời học thuyết giá trị -lao động

- Ông cũng đã phân biệt được giá cả tự nhiên và giá trị thị trường, nhưng ông lại chưachỉ ra được giá cả sản xuất bao gồm chi phí sản xuất và lợi nhuận bình quân

Trang 12

Câu 7: Bình luận câu nói “ Tiền công – lợi nhuận – địa tô là 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập và do đó là 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị”.

Đây là câu nói nổi tiếng của A.Smith trong lí luận về giá trị lao động

Để bình luận câu nói này, trước tiên chúng ta phải hiểu ý nghĩa của nó trước đã Câu nóicủa A.Smith bao gồm 2 luận điểm chính:

Thứ nhất, ông cho rằng: Tiền công – lợi nhuận – địa tô là 3 nguồn gốc của mọi thu nhập.Thứ hai, đồng thời ông khảng định Tiền công – lợi nhuận – địa tô là 3 nguồn gốc củamọi giá trị

Tiền công: v

Lợi nhuận: p

Địa tô: r

Vậy, 2 luận điểm đó là đúng hay sai?

Vế thứ nhất, Tiền công – lợi nhuận – địa tô là 3 nguồn gốc của mọi thu nhập Điều này

là hoàn toàn đúng đắn, thu nhập có 3 hình thức biểu hiện chính là Tiền công là thu nhậpcủa người công nhân, của người trực tiếp sản xuất nhưng không sở hữu tư liệu sản xuất,Lợi nhuận là thu nhập của nhà tư bản do tước đoạt giá trị thặng dư do người nông dântạo ra, Địa tô là thu nhập của địa chủ do nông dân không có tư liệu sản xuất phải thuêđất đai của địa chủ và trả cho họ khoản thu nhập này

Vế thứ hai là một sai lầm về chất của A.Smith, chính bản thân ông khi đưa ra định nghĩa

về giá trị đã đưa ra 2 định nghĩa, trong đó định nghĩa thứ nhất là: Giá trị hàng hóa là dolao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa quyết định Lao động là thước đo thực tế củamọi giá trị Như vậy, chính lao động là nguồn gốc của giá trị chứ không phải thu nhập.Nguyên nhân của sự nhầm lẫn này có lẽ là do A.Smith lẫn lỗn quá trình hình thành vàphân phối của giá trị Giá trị được hình thành rồi mới tạo ra thu nhập cho nhóm người cóliên quan Tiền công – lợi nhuận – địa tô là kết quả của phân phối giá trị

Thêm nữa, việc cho rằng giá trị hàng hóa = v + p + r là thiếu về lượng khi đã bỏ quênmất sự đóng góp của tư bản bất biến (c)

Câu 8: Tại sao nói Ricardo đã đưa trường phái cổ điển Anh tới đỉnh cao nhưng không thể tới tận cùng được.

Lý luận về giá trị là lý luận chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống quan điểm kinh tế củaRicardo, là cơ sở của học thuyết của ông và được xây dựng trên cơ sở kế thừa, phê phán,phát triển lý luận giá trị của

A.Smith đưa nó lên đến đỉnh cao:

- Ông định nghĩa giá trị hàng hoá, hay số lượng của một hàng hoá nào khác mà hàng hoákhác trao đổi, là số lượng lao động tương đối cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó quyết

Trang 13

định Ông phê phán sự không nhất quán trong khi định nghĩa về giá trị của A.Smith.D.Ricardo bác bỏ quan điểm cho rằng tiền lương ảnh hưởng đến giá trị hàng hoá Ôngkhằng định tính đúng đăn của định nghĩa 1 về giá trị của A.Smith “giá trị hàng hóa là dolao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định Lao động là thước đo thực tếcủa mọi giá trị” và đồng thời bác bỏ định nghĩa 2 “tiền công cao hay thấp k ảnh hưởngtới giá trị mà chỉ ảnh hường đến lợi nhuận của tư bản vì không thu nhập quyết định giátrị mà giá trị được phân giải ra thành các nguồn thu nhập.

- Ông cũng là người đầu tiên mô tả đầy đủ cơ cấu lượng giá trị, bao gồm 3 bộ phận: c1(máy móc thiết bị nhà xưởng), v, m, tuy nhiên ông chưa phân biệt được sự chuyển dịchcủa c vào sản phẩm như thế nào, và không tính đến yếu tố c2 (lao động quá khứ kết tinhtrong nguyên vật liệu) Theo ông lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá không phảichỉ có lao động trực tiếp, mà còn có cả lao động cần thiết trước đó để sản xuất ra cáccông cụ, dụng cụ, nhà xưởng dùng vào việc sản xuất ấy

- Ông bác bỏ quan niệm của A.Smith khi cho rằng lao động trong nông nghiệp có năngsuất lao động cao hơn trong công nghiệp

Ông cũng đã có sự phân biệt rõ ràng dứt khoát hơn giữa giá trị sử dụng và giá trị traođổi, ông nhấn mạnh “ tính hữu ích không phải là thước đo giá trị trao đổi, mặc dầu nó rấtcần thiết cho giá trị này”; năng suất lao động tăng lên sẽ ảnh hưởng một cách khác nhauđến của cải và giá trị

- Ông phê phán sự đồng nhất hai khái niệm tăng của cải và tăng giá trị “Giá trị của hànghóa nhiều hay ít không phụ thuộc vào khối lượng của cải nhiều hay ít mà phụ thuộc điềukiện thuận lợi hay khó khăn”

- Ông phân biệt đc lao động cá biệt, lao động xã hội quyết định giá trị hàng hóa Xemxét đến lượng giá trị hàng hóa, ông nói: “trừ một số hàng hóa quý và hiếm còn đại bộphận lượng giá trị hàng hóa đc đo lường bằng thời gian lao động và năng suất lao độngảnh hưởng trực tiếp đến thời gian lao động”

Về thước đo giá trị, ông cho rằng cả vàng hay bất cứ một hàng hoá nào không bao giờ làmột thước đo giá trị hoàn thiện cho tất cả mọi vật Mọi sự thay đổi trong giá cả hàng hoá

là hậu quả của những thay đổi trong giá trị của chúng Ông nói: “Giá cả tự nhiên quyếtđịnh giá cả thị trường, không có 1 hàng hóa nào mà giá cả của nó ổn định trong thời giandài, xét tới cùng giá cả hàng hóa do chi phí sản xuất điều tiết

- Về giá cả ông khẳng định: giá cả hàng hoá là giá trị trao đổi của nó, những biểu hiệnbằng tiền, còn giá trị được đo bằng lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá, ôngcũng đã tiếp cận với giá cả sản xuất thông qua việc giải thích về giá cả tự nhiên

- Ricardo cũng đã đề cập đến lao động phức tạp và lao động giản đơn nhưng ông chưa lýgiải việc quy lao động phức tạp thành lao động giản đơn

Ngày đăng: 19/10/2017, 21:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w