Đối với DNNN hoạt động công ích: Được nhà nước cấp kinh phí theo dự toán hàng năm phù hợp với nhiệm vụ kế hoạch nhà nước giao cho doanh nghiệp; được huy động vốn, gọi vốn liên doanh, t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Ngô Thị Hồng Nhung
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC 7
1.1 hái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước 7
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước 7
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước 9
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước 13
1.2 Quản trị doanh nghiệp nhà nước 14
1.2.1 Khái niệm quản trị doanh nghiệp nhà nước 14
1.2.2 Đặc điểm quản trị doanh nghiệp nhà nước 16
1.3 Mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước 21
1.3.1 Mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có Hội đồng thành viên 21
1.3.2 Mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không có Hội đồng thành viên 22
1.4 Khái niệm, vai trò và nội dung của pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước 23
1.4.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước 23
Trang 51.4.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước 25
1.4.3 Quá trình phát triển của pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam 27
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 31
2.1 Quyền và nghĩa vụ của hội đồng thành viên trong quản trị doanh nghiệp nhà nước 31
2.1.1 Tiêu chuẩn và quyền, nghĩa vụ của thành viên Hội đồng thành viên 32
2.1.2 Tiêu chuẩn và quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch HĐTV 34
2.1.3 Trách nhiệm của Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng thành viên 34
2.2 Kiểm soát viên 37
2.2.1 Chế độ hoạt động của Kiểm soát viên 37
2.2.2 Tiêu chuẩn và điều kiện của KSV 37
2.2.3 Quyền và nghĩa vụ của KSV 38
2.2.4 Các trường hợp miễn nhiệm KSV 41
2.3 Giám đốc/Tổng giám đốc 41
2.3.1 Chế độ hoạt động của Giám đốc/Tổng giám đốc 41
2.3.2 Tiêu chuẩn và điều kiện bổ nhiệm Giám đốc/Tổng Giám đốc 42
2.3.3 Các trường hợp miễn nhiệm, cách chức đối với Giám đốc, Tổng giám đốc 42
2.3.4 Quyền và nghĩa vụ của Giám đốc/ Tổng giám đốc 43
2.4 Quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch công ty 44
2.5 Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về quản trị doanh nghiệp nhà nước 45
2.5.1 Những ưu điểm của quản trị doanh nghiệp nhà nước 45
Trang 62.5.2 Những hạn chế của quản trị doanh nghiệp nhà nước 62
2.6 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước 72
2.6.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước 72
2.6.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước 74
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7TĐKTNN: Tập đoàn kinh tế nhà nước
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn TNHHMTV: Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang 91
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Sau Đại hội Đảng VI năm 1986 Đảng và Nhà nước ta đã có 1 bước ngoặt đột phá chuyển đổi từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Sau
30 năm đổi mới và phát triển nền kinh tế của nước ta đã có nhiều chuyển biến
rõ rệt,đời sống xã hội được cải thiện đáng kể Cùng với sự thay đổi và phát triển của nền kinh tế là sự ra đời của các doanh nghiệp, các công ty, tập đoàn kinh tế Với định hướng xã hội chủ nghĩa,Việt Nam phát triển nền kinh tế đa thành phần trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và trở thành công cụ
để nhà nước định hướng điều tiết nền kinh tế thì các doanh nghiệp nhà nước luôn được coi là công cu ̣ chủ yếu để nhà nước thực hiện các chính sách ổn
đi ̣nh kinh tế vĩ mô , ứng phó mỗi khi có những biến động tiêu cực của thị trường, đặc biê ̣t trong thời kỳ khủng khoảng kinh tế thế giới nhằm kiềm chế lạm phát Không chỉ vậy , các doanh nghiệp nhà nước cũng được coi là lực lượng cần thiết, chủ yếu của Nhà nước để thực hiện các chính sách an sinh xã hội như cung cấp những di ̣ch vu ̣ công thiết yếu, tham gia cứu đói, cứu trợ cho các hộ nghèo vùng sâu , vùng xa, nhân dân vùng bi ̣ thiên tai , lũ lụt, tham gia giữ gìn an ninh, trật tự quốc phòng ở khu vực biên giới, hải đảo…
Tuy nhiên trong nhiều năm vừa qua các doanh nghiệp nhà nước phát triển về số lượng nhưng lại hoạt động kém hiệu quả thực trạng của các doanh nghiệp nhà nước đặt ra nhiều vấn đề, đặc biệt là các vấn đề sau:
Một là: Hiệu quả hoa ̣t động của các doanh nghiệp nhà nước chưa tương
xứng với nguồn lực nhà nước đầu tư Các doanh nghiệp nhà nước đã được nhận ưu đãi, không chỉ được sử du ̣ng nguồn vốn rất lớn của nhà nước, mà còn nhiều nguồn lực khác như thuâ ̣n lợi khi tiếp cận đất đai , quyền khai thác tài
Trang 102
nguyên hay quyền kinh doanh trong một số lĩnh vực đă ̣c thù kinh tế nhà nước giữ vai trò chi phối nền kinh tế quốc dân , hay giữ những vi ̣ trí then chốt , đi đầu ứng du ̣ng tiến bộ khoa ho ̣c công nghệ , hoặc là đòn bẩy đẩy nhan h tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội , mở đường , hướng dẫn các thành phần khác cùng phát triển , làm lực lượng vật chất để nhà nước điều tiết
và quản lý vĩ mô Tuy nhiên, trong thực tế các doanh nghiệp nh à nước chưa thể hiện được vai trò dẫn dắt nền kinh tế hay ta ̣o điều kiện cho các doanh nghiệp thuô ̣c thành phần kinh tế khác phát triển , thúc đẩy liên kết, hình thành chuỗi giá tri ̣ gia tăng Các doanh nghiệp nhà nước cũng chưa đa ̣t được đến trình độ cao trong những ngành , lĩnh vực có ảnh hưởng quyết định tới công cuộc công nghiệp hóa , hiện đa ̣i hóa đất nước Là lực lượng nòng cốt để nhà nước thực hiện cá c chính sách kinh tế vĩ mô , song có những t hời điểm các doanh nghiệp nhà nước la ̣i bi ̣ coi là “chất xúc tác” làm trầm tro ̣ng thêm những bất ổn bởi sự độc quyền và việc đầu tư tràn lan ra ngoài ngành nhưng không
có hiệu quả Kết quả là, nhiều doanh nghiệp đã bi ̣ thua lỗ , có cơ cấu tài chính bấp bênh, nợ phải trả cao gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu , không bảo đảm được khả năng thanh toán
Hai là: Trong vấn đề quản trị DNNN còn bộc lộ nhiều bất cập như:
Chưa rõ ràng quyền quản lý nhà nước đối với DNNN, vai trò của chủ sở hữu hay người đại diện chủ sở hữu, vai trò cơ chế trách nhiệm, quyền lợi của HĐTV, quyền lợi của người lao động; trong khi quyền chủ động điều hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước lại bị hạn chế Cơ chế tài chính và
cơ chế phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp, sự gắn kết lợi ích vật chất và trách nhiệm của người quản lý và đội ngũ lao động chưa được luật hóa
Quản trị DNNN đã được đề cập tại luật và các văn bản luật trước đây,tuy nhiên một số nội dung của quản trị DNNN đã bộc lộ những điểm chưa phù hợp với tình hình phát triển và hội nhập của đất nước ta hiện nay
Trang 113
Luật doanh nghiệp năm 2014 đã có những điểm đổi mới so với Luật doanh
nghiệp năm 2005 về vấn đề quản trị doanh nghiệp nhà nước Đề tài “Quản trị
doanh nghiệp nhà nước theo pháp luật Việt Nam hiện nay” sẽ đề cập những
điểm mới về quản trị DNNN theo luật doanh nghiệp năm 2014, so sánh với luật năm 2005 về vấn đề này để từ đó chúng ta sẽ nhận ra những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước theo pháp luật Việt Nam hiện nay và những vấn đề cần hoàn thiện
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đề tài về pháp luật “Quản trị về doanh nghiệp nhà nước theo pháp
luật Việt nam hiện nay” thể hiện trong các công trình nghiên cứu khoa học
như các công trình của:
Thạc sĩ Võ Thị Tuyết: “Giáo trình Quản trị doanh nghiệp”, NXB Đại
học Mở (năm 2010) Trong công trình này tác giả đưa ra những khái niệm về quản trị doanh nghiệp, vai trò của quản trị doanh nghiệp đối với sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp
PGS.TS Vũ Thành Hưng: “Chuyên đề về những vấn đề cơ bản của
Quản trị doanh nghiệp năm 2012” (năm 2012) tác giả đưa ra khái niệm về
quản trị doanh nghiệp và các mô hình quản trị doanh nghiệp
Thạc sĩ Ngô Thị Ngọc Hương: “Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước
sang Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ở Việt Nam hiện nay” (năm
2012) tác giả nêu ra tính cấp thiết của việc chuyển đổi DNNN sang Công ty TNHHMTV, tiến trình chuyển đổi, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sau chuyển đổi
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu, phân tích những vấn đề liên quan đến doanh nghiệp nhà nước và quản trị doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, sau khi Luật doanh nghiệp năm 2014 kèm theo những văn bản pháp luật liên quan đến quản trị DNNN được ban hành thì các
Trang 124
công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề trên chưa nhiều Chính vì vậy, trên
cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp lý về quản trị DNNN theo các quy định mới nhất, phân tích những ưu điểm và những thành tựu đã đạt được kể từ khi luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực
3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về quản trị doanh nghiệp nhà nước, thực trạng pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước, nêu ra những điểm vướng mắc, bất cập và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật Việt nam về quản trị doanh nghiệp nhà nước
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tập trung nghiên cứu các quy định của Luật doanh nghiệp năm 2014 về quản trị doanh nghiệp nhà nước và có so sánh với pháp luật ở Việt nam trong giai đoạn 1995 – 2014 để từ đó cho thấy những
ưu điểm của Luật doanh nghiệp 2014 về quản trị doanh nghiệp nhà nước
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp nhà nước và quản trị doanh nghiệp nhà nước và pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước
Luận văn phân tích đánh giá thực trạng pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam hiện nay, so sánh với pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 1995-2014 rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc hoàn thiện pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước
Luận văn đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam hiện nay
Trang 135
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ trên, luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học pháp lý bao gồm: Phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, lịch sử, tổng hợp
Phương pháp phân tích được dùng để làm rõ khái niệm, bản chất và những đặc điểm của DNNN làm rõ những điều chỉnh của pháp luật Việt Nam đối với quá trình phát triển và tồn tại của DNNN trong thời kì đổi mới và hội nhập
Phương pháp so sánh được sử dụng để xem xét, đối chiếu các quy định của pháp luật trước đây về DNNN và quản trị DNNN và các quy định của pháp luật hiện hành
Phương pháp lịch sử được sử dụng để xem xét quá trình hình thành và phát triển DNNN, quản trị DNNN cũng như quá trình hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp nhà nước và quản trị DNNN ở Việt Nam
Phương pháp thống kê được sử dụng nhằm mục đích đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của DNNN để tìm ra những bất cập
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để khái quát hóa nhằm đưa ra những đề xuất, kiến nghị của luận văn
7 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn là một công trình khoa học để nghiên cứu những vấn đề về quản trị DNNN theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay Đặc biệt đánh giá những quy định mới về quản trị doanh nghiệp nhà nước theo Luật doanh nghiệp 2014, so sánh những quy định mới của Luật doanh nghiệp 2014
so với các văn bản pháp luật trước đây để tìm ra những ưu điểm của pháp luật hiện nay và những vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn, đề xuất những kiến nghị giải pháp để nâng cao hiệu quả của pháp luật về quản trị DNNN Cụ thể luận văn có những đóng góp sau đây:
Trang 146
Thứ nhất: Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị DNNN theo
pháp luật Việt Nam hiện nay
Thứ hai: Nghiên cứu, đánh giá, phân tích mô hình quản trị DNNN theo
pháp luật Việt Nam hiện hành, nêu những ưu điểm và hạn chế của quản trị DNNN theo pháp luật Việt Nam hiện nay, thực tiễn áp dụng
Thứ ba: Nêu phương hướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam về quản trị DNNN
8 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản trị doanh nghiệp nhà nước và
pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước,
phương hướng và giải pháp hoàn thiện
Trang 157
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của doanh nghiệp nhà nước
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhà nước
Ở Việt Nam, loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước được thừa nhận về mặt pháp lý từ năm 1948 trong Sắc lệnh số 104-SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành 01/01/1948 Theo điều 2 của Sắc lệnh, DNNN lúc bấy
giờ được gọi là doanh nghiệp quốc gia:“Doanh nghiệp quốc gia là một doanh
nghiệp thuộc quyền sở hữu của quốc gia và do quốc gia điều khiển” Thời
điểm đó, các đơn vị kinh tế Nhà nước được gọi là Xí nghiệp quốc doanh (trong công nghiệp), nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh (trong nông nghiệp), cửa hàng quốc doanh (trong thương nghiệp)…
Đến cuối năm 1991, Thuật ngữ “DNNN” mới chính thức được sử dụng trong Quy chế về thành lập và giải thể DNNN ban hành kèm nghị định số 388-HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
Phủ).Theo điều 1 của Quy chế này:“DNNN là tổ chức kinh doanh do Nhà
nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu DNNN là một pháp nhân kinh tế; hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật”
Từ đó đến nay, thuật ngữ “DNNN” được dùng để nói lên đặc điểm sở hữu của doanh nghiệp, không dùng để chỉ hình thức pháp lý của doanh nghiệp
Thống nhất quan điểm của Nghị định 388-HĐBT ngày 20/11/1991, Điều 1, Luật DNNN năm 1995 quy định như sau:
DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập
và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích,
Trang 168
nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý DNNN có tên gọi, có con dấu riêng
và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam
Cho đến thời điểm trước khi Luật DNNN 2003 ban hành, DNNN vẫn được hiểu là Doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ Thuật ngữ DNNN tiếp tục được ghi nhận trong Luật DNNN 2003 nhưng cách hiểu
về DNNN đã có sự thay đổi Điều 1 Luật DNNN 2003 quy định “DNNN là tổ
chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn” Theo đó, DNNN không chỉ là những doanh
nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ mà còn là những doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước, có nghĩa là nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ
Với mục tiêu tạo lập khung khổ pháp lý áp dụng thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và đổi mới cơ chế quản trị DNNN theo nguyên tắc thị trường và thông lệ quốc tế, luật doanh nghiệp 2005 được ban hành thay thế cho luật doanh nghiệp năm 1999 Khoản
22 điều 4 luật doanh nghiệp 2005 định nghĩa: “DNNN là doanh nghiệp trong
đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ” Luật doanh nghiệp 2005 quy định
việc chuyển đổi DNNN được thực hiện theo lộ trình chuyển đổi hằng năm, nhưng chậm nhất trong thời hạn bốn năm kể từ ngày luật doanh nghiệp 2005
có hiệu lực (1/7/2006), các công ty nhà nước thành lập theo quy định của luật DNNN năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy định của luật doanh nghiệp 2005
Ngày 26/11/2014, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 179
đã thông qua luật doanh nghiệp 2014 Theo đó khái niệm DNNN trong luật doanh nghiệp 2014 có sự thay đổi đáng kể so với quy định trong luật doanh
nghiệp 2005 Khoản 8 Điều 4 luật doanh nghiệp 2014 quy định: “DNNN là
doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” luật doanh nghiệp
2014 có một chương riêng quy định về DNNN Theo đó, DNNN chỉ tồn tại dưới hình thức công ty TNHHMTV
Có thể thấy rằng, quan niệm DNNN theo luật doanh nghiệp 2014 tương đồng với khái niệm DNNN năm 1995 và trong quy chế thành lập và giải thể DNNN ban hành kèm theo Nghị định số 338-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 20/11/1991, đó là DNNN được hiểu là tổ chức kinh tế do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu Khi khái niệm mới của DNNN có hiệu lực, các công ty cổ phần, công ty TNHH trong đó vốn nhà nước chiếm ít hơn 100% thì không hưởng quy chế pháp lý của DNNN và không bị áp dụng các phương thức quản lý của DNNN Đây là một sự thay đổi cơ bản rất lớn dẫn đến sự thay đổi trong quản lý chiến lược của doanh nghiệp, từ đó góp phần thúc đẩy sự cải tiến doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa Đồng thời cũng sẽ hạn chế được sự chi phối của nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn của nhà nước
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước
Theo quy định tại khoản 8 điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2014 số
68/2014/QH13 thì: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước
nắm giữ 100% vốn điều lệ”
Những đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước theo luật doanh nghiệp nhà nước năm 2014:
Thứ nhất: Về vấn đề chủ sở hữu vốn của nhà nước đối với doanh nghiệp
Theo quy định của luật doanh nghiệp năm 2014 thì DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc toàn bộ số cổ phần, được
Trang 1810
tổ chức dưới hình thức công ty TNHH Đây là điểm khác biệt về quy định DNNN trong luật doanh nghiệp 2014 với các quy định pháp luật trước đây Ở luật doanh nghiệp nhà nước 2003, một doanh nghiệp được gọi là DNNN khi
sở hữu 50% vốn điều lệ trở lên, do đó DNNN có thể được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần
Chính vì DNNN là chủ đầu tư toàn bộ vốn điều lệ hay toàn bộ số cổ phần nên nhà nước được coi là thành viên sáng lập duy nhất và có quyền quyết định toàn bộ đến sự tồn tại và hoạt động của DNNN, nhà nước có các quyền sau đây:
Quyết định hình thành, tổ chức lại và định đoạt doanh nghiệp như thành lập, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn cho tổ chức, cá nhân khác, giải thể doanh nghiệp
Quyết định mục tiêu, chiến lược phát triển, kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư tài chính của doanh nghiệp, quyết định mô hình quản lý doanh nghiệp, phê duyệt điều lệ hoạt động, sửa đổi và bổ sung điều lệ hoạt động, quyết định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật người quản lý doanh nghiệp
Nhà nước giao vốn cho DNNN và DNNN chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc bảo toàn và phát triển số vốn mà nhà nước đã giao cho để duy trì khả năng kinh doanh của doanh nghiệp Tất cả các DNNN đều chịu sự quản lý trực tiếp của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo sự phân cấp của Chính phủ
Kiểm tra, giám sát thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp
đã được giao
Thứ hai: Về vấn đề sử dụng vốn
Đối với DNNN hoạt động kinh doanh: Được sử dụng vốn và các quỹ của doanh nghiệp để phục vụ kịp thời các nhu cầu trong kinh doanh theo
Trang 1911
nguyên tắc bảo toàn và có hoàn trả; DNNN có thể tự huy động vốn để hoạt động kinh doanh nhưng không thay đổi hình thức sở hữu; không được phát hành trái phiếu; được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp tại các ngân hàng Việt Nam để vay vốn kinh doanh theo quy định của pháp luật
Đối với DNNN hoạt động công ích: Được nhà nước cấp kinh phí theo
dự toán hàng năm phù hợp với nhiệm vụ kế hoạch nhà nước giao cho doanh nghiệp; được huy động vốn, gọi vốn liên doanh, thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của doanh nghiệp tại các ngân hàng của Việt Nam để vay vốn phục vụ hoạt động công ích theo quy định của pháp luật khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép
Thứ ba: Về cơ cấu tổ chức quản lý
Cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định tổ chức quản lý DNNN dưới hình thức công ty TNHH theo một trong hai mô hình quy định tại khoản 1 Điều 78 Luật doanh nghiệp 2014
Cụ thể, DNNN có thể tổ chức quản lý và hoạt động theo hai mô hình như sau:
Mô hình 1: Theo chế độ tập thể cơ quan có quyền quyết định cao nhất
không phải là cá nhân (chủ tịch công ty) mà là HĐT Dưới HĐTV có GĐ hoặc TGĐ, BKS
Mô hình 2: Theo chế độ thủ trưởng đứng đầu sẽ là chủ tịch công ty tiếp
đến là GĐ /TGĐ và BKS
Thứ tư: Về hình thức pháp lý và trách nhiệm tài sản
DNNN tồn tại dưới hình thức công ty TNHHMTV có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
DNNN được chia thành hai chủ thể pháp lý khác nhau đó là:
Một là: DNNN là một chủ thể có tư cách pháp nhân độc lập, có tài sản
Trang 2012
riêng và tự chịu trách nhiệm về tài sản riêng đó về mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
Hai là: Nhà nước với tư cách là chủ đầu tư vào DNNN có trách nhiệm,
quyền hạn của chủ đầu tư vì vậy nhà nước chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp
Thứ năm: Về lĩnh vực hoạt động
Chính phủ đã ban hành “Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng
10 năm 2015, về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp” áp dụng đối với cơ quan đại diện chủ sở hữu
DNNN Công ty TNHHMTV do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công
ty mẹ của TĐKTNN, công ty mẹ của TCT nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty, công ty TNHHMTV độc lập do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Theo đó có quy định DNNN chỉ hoạt động trong các lĩnh vực sau đây:
Lĩnh vực cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu, bảo đảm an sinh xã hội gồm: Dịch vụ bưu chính công ích; xuất bản (không bao gồm in,
phát hành xuất bản phẩm); hoạt động trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, quản lý, khai thác công trình thủy lợi, thủy nông liên tỉnh, liên huyện; quản lý, khai thác, điều hành hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị, bảo đảm an toàn bay, an toàn hàng hải; trường hợp khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Lĩnh vực độc quyền tự nhiên của nhà nước, bao gồm: Hệ thống truyền
tải điện quốc gia, nhà máy thủy điện có quy mô lớn đa mục tiêu, nhà máy điện hạt nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; In, đúc tiền, sản xuất vàng miếng; doanh nghiệp nhà nước có chức năng đầu tư kinh doanh vốn nhà nước, mua bán, xử lý nợ phục vụ tái cơ cấu và hỗ trợ điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô; trường hợp khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Trang 2113
DNNN ứng dụng công nghệ cao đầu tư lớn tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhà nước
Vai trò trong việc ổn đi ̣nh kinh tế vĩ mô
Với định hướng Xã hội chủ nghĩa,Việt Nam phát triển nền kinh tế đa thành phần trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và trở thành công cụ
để nhà nước định hướng điều tiết nền kinh tế thì các DNNN luôn được coi là công cu ̣ chủ yếu để nhà nước thực hiện các chính sách ổn đi ̣nh kinh tế vĩ mô , ứng phó mỗi khi có những biến động tiêu cực của thị trường , đặc biê ̣t trong thời kỳ khủng khoảng kinh tế thế giới nhằm kiềm chế la ̣m phát
Vai trò thực hiện các chính sách an sinh xã hội
DNNN cũng được coi là lực lượng cần thiết , chủ yếu của nhà nước để thực hiện các chính sách an sinh xã hội như cung cấp những di ̣ch vu ̣ công thiết yếu, tham gia cứu đói, cứu trợ cho các hô ̣ nghèo vùng sâu, vùng xa, nhân dân vùng bi ̣ thiên tai , lũ lụt, tham gia giữ gìn an ninh , trật tự quốc phòng ở khu vực biên giới, hải đảo…
Vai trò trong việc thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế
DNNN đã tạo ra điều kiện vật chất kỹ thuật, là một trong những nhân tố
có tầm quan trọng quyết định đối với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp hàng hoá, chuyển từ thiếu sang đáp ứng được nhu cầu cơ bản nông sản, thực phẩm chất lượng ngày càng cao của nhân dân và có phần xuất khẩu chủ yếu thông qua xây dựng các đường giao thông huyết mạch, cung cấp giống cây con, chuyển giao kỹ thuật và bước đầu phát triển công nghiệp chế biến…
Vai trò trong việc tạo nguồn thu và ổn định ngân sách nhà nước
DNNN đóng góp nguồn thu tập trung lớn và ổn định cho ngân sách nhà nước Thông qua việc nộp các khoản thuế vào ngân sách nhà nước, trên cơ sở
đó nhà nước thực hiện được các nhiệm vụ được giao, bảo đảm an sinh xã hội
Trang 2214
1.2 Quản trị doanh nghiệp nhà nước
1.2.1 Khái niệm quản trị doanh nghiệp nhà nước
Năm 1999, Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh tế (OECD) đã xuất bản
một tài liệu mang tên “Các Nguyên tắc quản trị donh nghiệp” (OECD
Principles of Corporate Governance), trong đó đưa ra một định nghĩa chi tiết
về QTDN như sau:
QTDN là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát doanh nghiệp, liên quan tới các mối quan hệ giữa BGĐ, HĐQT và các cổ đông của một doanh nghiệp với các bên có quyền lợi liên quan.QTDN cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của doanh nghiệp và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty QTDN chỉ được cho là có hiệu quả khích lệ được BGĐ và HĐQT theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của doanh nghiệp và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của doanh nghiệp một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích doanh nghiệp
sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn [11, tr.6]
Nhìn từ góc nhìn bên trong (lấy bản thân doanh nghiệp làm trung tâm):
QTDN là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ cấu
và các quy trình: Mối quan hệ giữa các cổ đông và BGĐ bao gồm việc các cổ đông cung cấp vốn cho BGĐ để thu được lợi suất mong muốn từ khoản đầu
tư của mình, BGĐ có trách nhiệm cung cấp cho các cổ đông các báo cáo tài chính và các báo cáo hoạt động thường kỳ một cách minh bạch Các cổ đông cũng bầu ra một thể chế giám sát, thường được gọi là HĐQT hoặc BKS để đại diện cho quyền lợi của mình
Những mối quan hệ này nhiều khi liên quan tới các bên có các lợi ích khác nhau, đôi khi là những lợi ích xung đột: Sự khác biệt về lợi ích có thể
Trang 2315
tồn tại ngay giữa các bộ phận quản trị chính của doanh nghiệp, tức là giữa ĐHĐCĐ, HĐQT, TGĐ Điển hình nhất là những xung đột lợi ích giữa các chủ sở hữu vàcác thành viên BGĐ, thường được gọi là vấn đề Ông chủ - Người làm thuê [34] Xung đột lợi ích cũng có thể tồn tại ngay trong mỗi bộ phận quản trị và các thành viên HĐQT, các công ty cần phải xem xét và đảm bảo sự cân bằng giữa những lợi ích xung đột này
Tất cả các bên đều liên quan tới việc định hướng và kiểm soát doanh nghiệp: ĐHĐCĐ, đại diện cho các cổ đông, đưa ra các quyết định quan trọng, ví dụ về việc phân chia lãi lỗ HĐQT chịu trách nhiệm chỉ đạo và giám sát chung, đề ra chiến lược và giám sát BGĐ Cuối cùng, Ban GĐ điều hành những hoạt động hàng ngày, chẳng hạn như thực hiện chiến lược đã đề ra, lên các kế hoạch kinh doanh, quản trị nhân sự, xây dựng chiến lược marketing, bán hàng và quản lý tài sản [33]
Nhìn từ góc độ bên ngoài doanh nghiệp:
Quản trị doanh nghiệp tập trung giải quyết những mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các bên có quyền lợi liên quan, các bên có quyền lợi không chỉ có các nhà đầu tư mà còn bao gồm nhân viên, các chủ nợ, các nhà cung cấp, các khách hàng, các cơ quan pháp luật, các cơ quan chức năng của nhà nước và địa phương nơi công ty hoạt động
Quản trị doanh nghiệp được đặt trên cơ sở tách biệt giữa quản lý và chủ
sở hữu doanh nghiệp Doanh nghiệp là của chủ sở hữu nhưng để tồn tại và phát triển thì cần phải có sự dẫn dắt của HĐTV/HĐQT, sự điều hành của Ban giám đốc và sự đóng góp của người lao động, những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi QTDN tập trung xử lý những vấn
đề ủy quyền trong doanh nghiệp; ngăn ngừa và hạn chế những người quản lý lạm dụng quyền hành và nhiệm vụ được giao sử dụng tài sản và cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp vì mục đích tư lợi
Trang 2416
Từ những phân tích trên cho ta thấy:
QTDN là cân bằng và kiềm chế quyền lực giữa các bên liên quan của doanh nghiệp, nhằm đảm bảo sự phát triển dài hạn và bền vững của doanh nghiệp.Các hoạt động chính của quản trị doanh nghiệp gồm có: Công khai minh bạch thông tin; xử lý mâu thuẫn quyền giữa người quản lý doanh nghiệp; giải quyết những mối quan
hệ giữa doanh nghiệp và các bên có quyền lợi liên quan…Quản trị doanh nghiệp tốt tạo động lực trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế lành mạnh, tạo nên sự hài hòa giữa các bên, tạo nên định hướng
và sự kiểm soát công ty
Từ những phân tích trên cho ta khái quát được về khái niệm Quản trị doanh nghiệp nhà nước như sau:
Quản trị Doanh nghiệp nhà nước nhằm cân bằng mối quan hệ giữa quản lý và sở hữu doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp nhà nước tập trung xử lý các vấn đề ủy quyền trong doanh nghiệp, ngăn ngừa và hạn chế những người quản lý lạm dụng quyền và nhiệm vụ được giao
sử dụng tài sản, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp phục vụ cho lợi ích riêng của bản thân hoặc của người khác; quản trị doanh nghiệp nhà nước giải quyết các mối quan hệ liên quan đến HĐTV, các thành viên của HĐTV và Ban GĐ Quản trị doanh nghiệp tốt có tác dụng đến quyết định của Ban GĐ thể hiện được đúng ý chí và nguyện vọng, lợi ích của những người lao động, nhà đầu tư, thành viên và những người
có quyền và lợi ích liên quan [11, tr.4]
1.2.2 Đặc điểm quản trị doanh nghiệp nhà nước
Thứ nhất: Quản trị doanh nghiệp nhà nước được thực hiện bởi các cơ
quan quản lý, điều hành và kiểm soát trong doanh nghiệp nhà nước
Theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014: “Doanh nghiệp nhà nước là
Trang 2517
doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” và được tổ chức dưới
hai mô hình đó là công ty TNHHMTV có HĐTV và công ty TNHHMTV không có HĐTV
Trong mô hình công ty TNHHMTV có HĐTV thì cơ quản lý điều hành
và kiểm soát của công ty gồm có: HĐTV, GĐ/TGĐ và BKS
Trong mô hình công ty TNHHMTV không có HĐTV thì cơ quan quản lý điều hành và kiểm soát công ty gồm có: Chủ tịch công ty, GĐ/TGĐ và BKS
Đây là điểm khác biệt giữa mô hình quản trị DNNN với các doanh nghiệp khác Việc quy định quản trị DNNN được thực hiện bởi các cơ quan quản lý, điều hành và kiểm soát sẽ giúp cho nhà nước quản lý doanh nghiệp được tập trung và hiệu quả, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, lơ là trong công việc quản lý điều hành, kiểm tra và giám sát tình hình sản xuất kinh doanh và sử dụng vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên, quản trị doanh nghiệp nhà nước được thực hiện bởi các cơ quan quản lý, điều hành và kiểm soát sẽ làm mất đi tính tự chủ, độc lập của DNNN, bó hẹp DNNN trong một khuôn khổ, tạo ra sự bất bình đẳng giữa DNNN và DN ngoài nhà nước, dẫn đến tình trạng DNNN khó có sự cạnh tranh trên thị trường so với các DN khác
Thứ hai: Quản trị doanh nghiệp nhà nước chịu sự chỉ đạo, điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước nên việc thành lập, tổ chức, sắp xếp và điều hành của DNNN đều chịu sự chi phối của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong đó có hoạt động của quản trị DNNN Những người giữ chức danh, chức vụ trong quản trị doanh nghiệp nhà nước đều phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật
Theo Nghị định 97/2015/NĐ – CP:
Quy định về thẩm quyền quyết định, thẩm định; kiêm nhiệm; đánh giá, bồi dưỡng kiến thức; quyhoạch; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại; từ
Trang 2618
chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển; khen thưởng, kỷ luật; thôi việc, nghỉ hưu và quản lý hồ sơ đối với người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Có quy định rõ những người giữ chức danh, chức vụ quản lý tại DNNN gồm: Chủ tịch HĐTV; Chủ tịch Công ty, thành viên HĐTV, KSV, TGĐ, Phó TGĐ, Giám đốc, PGĐ, Kế toán trưởng
Trong Nghị định 97/2015/NĐ-CP quy định về thẩm quyền quyết định
và thẩm định các nội dung quản lý người quản lý doanh nghiệp như sau:
Thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ: Thủ tướng Chính phủ quyết
định về quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu trên cơ sở đề nghị của
Bộ quản lý ngành và ý kiến thẩm định của Bộ Nội vụ đối với: Chủ tịch HĐTV tập đoàn; Chủ tịch HĐTV, TGĐ Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước
Thẩm quyền của Bộ quản lý ngành: Quyết định về quy hoạch, bổ
nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu trên cơ sở đề nghị của HĐTV tập đoàn,tổngcông ty, HĐTV hoặc Chủ tịch công ty thuộc Bộ quản lý ngành đối với: thành viên Hội đồng thành viên tập đoàn; chủ tịch HĐTV hoặc Chủ tịch công ty; thành viên HĐTV tổng công ty hoặc công ty; quyết định về quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối với KSV chuyên ngành tập đoàn, KSVtổngcông ty, công ty thuộc Bộ quản lý ngành; bộ tài chính quyết định về quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối với KSV tài chính tập đoàn, KSV Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước
Trang 2719
nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu trên cơ sở đề nghị của HĐTV tổng công ty, HĐTV hoặc Chủ tịch công ty thuộcỦy bannhân dân cấp tỉnh đối với: Chủ tịch HĐTV, Chủ tịch công ty; thành viên HĐTV tổng công ty hoặc công ty; quyết định về quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối với KSV tổng công ty, công ty thuộcỦy bannhân dân cấp tỉnh
Thẩm quyền của tập đoàn, tổng công ty, công ty thuộc Bộ quản lý
về quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối với: TGĐ trên cơ sở đề nghị của HĐTV và sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ quản lý ngành, của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phó TGĐ, Kế toán trưởng trên cơ sở đề nghị củaTGĐ; HĐTV hoặc Chủ tịch công ty quyết định về quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối với TGĐ hoặc GĐ công ty sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Bộ quản lý ngành, củaỦy bannhân dân cấp tỉnh; TGĐ tập đoàn, tổng công ty, GĐ công ty quyết định về quy hoạch,
bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối với các chức danh quản lý theo phân cấp thẩm quyền; cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ có trách nhiệm tham mưu, đề xuất với Chủ tịch HĐTV, Chủ tịch công ty, HĐTV, TGĐ, GĐ về các
nội dung quản lý đối với người quản lý doanh nghiệp
Thẩm quyền của Bộ Nội vụ: Thẩm định về quy hoạch, bổ nhiệm, bổ
nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu đối với các chức danh: Chủ tịch HĐTV tập đoàn; Chủ tịch HĐTV, TGĐ Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước
Trang 2820
Đây là điểm khác biệt giữa mô hình quản trị DNNN và các loại hình
DN khác, vì DNNN là DN hoạt động và sử dụng vốn đầu tư của nhà nước, có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đấy sự phát triển của nền kinh tế, do đó các chức danh quản lý trong DNNN do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ra quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, từ chức, điều động, luân chuyển…Quy định này sẽ giúp cho nhà nước dễ dàng quản lý được tình hình hoạt động của các DNNN tuy nhiên sẽ dẫn đến tình trạng khó phân tách
được “chức năng quản lý nhà nước và chức năng của chủ sở hữu nhà nước”
trong hoạt động của DNNN, dẫn đến việc các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp vì vậy hạn chế tính tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, không có tính sáng tạo và năng lực cạnh tranh trên thị trường so với các DN ngoài nhà nước
Thứ ba: Quản trị doanh nghiệp nhà nước chịu sự điều chỉnh bởi những quy định pháp luật đặc thù
Luật doanh nghiệp 2014 đã quy định tương đối rõ ràng những vấn đề mang tính đặc thù trong quản trị DNNN Đó là những quy định về cơ cấu của HĐTV, quyền và nghĩa vụ của HĐTV, chủ tịch HĐTV; miễn nhiệm, cách chức thành viên Hội đồng thành viên; chế độ làm việc của HĐTV; Quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch Công ty, của GĐ/ TGĐ, KSV, BKS Ngoài quy định của luật doanh nghiệp 2014, điều kiện bổ nhiệm, trình tự, thủ tục bổ nhiệm,
bổ nhiệm lại, đánh giá và bồi dưỡng kiến thức đối với người quản lý doanh nghiệp nhà nước còn phải tuân thủ theo những quy định rất chặt chẽ của nghị định 97/2015/NĐ-CP
Những quy định này được coi là đặc thù bởi lẽ các công ty TNHHMTV thông thường không được luật doanh nghiệp quy định cụ thể chi tiết mà chỉ quy định mang tính định hướng để công ty ghi nhận tại điều lệ công ty Điều lệ công ty là căn cứ để áp dụng quyền, nghĩa vụ đối với những người giữ chức danh quản lý trong Công ty TNHHMTV thông thường
Trang 2921
Sở dĩ luật quy định cụ thể như vậy là vì tính chất đặc thù của DNNN là
sử dụng vốn nhà nước nên yêu cầu phải có một bộ máy quản lý có đủ tiêu chuẩn và được quản lý giám sát chặt chẽ, tránh làm thất thoát tài sản của Nhà nước và nhân dân
1.3 Mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước
Theo Luật doanh nghiệp 2014 “Doanh nghiệp nhà nước là doanh
nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” Doanh nghiệp nhà nước được
cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định tổ chức quản lý dưới hình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo một trong hai mô hình sau:
Mô hình 1: Quản trị doanh nghiệp nhà nước được thực hiện bởi: Hội
đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Ban kiểm soát;
Mô hình 2: Quản trị doanh nghiệp nhà nước được thực hiện bởi Chủ
tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Ban kiểm soát;
1.3.1 Mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có Hội đồng thành viên
Thông thường các Công ty quy mô lớn được tổ chức quản lý theo mô hình công ty TNHHMTV có HĐTV Một khi công ty có quy mô lớn rất cần phải có sự thống nhất và chịu trách nhiệm tập thể nên cần phải có HĐTV
Hội đồng thành viên là cơ quan quản lý doanh nghiệp nhà nước, có toàn quyền nhân danh chủ sở hữu nhà nước tổ chức thực hiện các quyền của chủ sở hữu, nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến quản lý và hoạt động của công ty, trừ những vấn đề thuộc thâm quyền của chủ sở hữu công ty
Trang 3022
Cơ cấu quản trị DNNN theo mô hình có HĐTV được mô tả như sau:
Sơ đồ 1.1: Mô hình DNNN là công ty TNHHMTV có HĐTV
1.3.2 Mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không có Hội đồng thành viên
Mô hình doanh nghiệp nhà nước ngoài mô hình có HĐTV còn tồn tại theo mô hình công ty TNHH không có HĐTV Theo mô hình này, đứng đầu
là Chủ tịch Công ty sau đó đến Giám đốc/Tổng giám đốc và Ban kiểm soát
Chủ tịch Công ty
Chủ tịch công ty nhân danh chủ sở hữu công ty nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty được quy định tại luật doanh nghiệp năm 2014 và pháp luật có liên quan Chủ tịch công ty có quyền nhân danh công ty để quyết định và thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước chịu trách nhiệm trước chủ
sở hữu về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao Chế độ làm việc, quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch công ty được quy định tại điều lệ công ty và pháp luật có liên quan
Chủ tịch công ty do cơ quan đại diện chủ sở hữu bổ nhiệm theo quy
Hội đồng thành viên
Ban kiểm soát
Giám đốc (TGĐ)
PGĐ Nhân sự
PGĐ Đầu tư – Kế hoạch
PGĐ Thị trường
PGĐ Sản xuất-
Công nghệ - Kĩ
thuật
Trang 31Sơ đồ 1.2 Mô hình DNNN là công ty TNHHMTV không có HĐTV
1.4 Khái niệm, vai trò và nội dung của pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước
1.4.1 Khái niệm và vai trò của pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước
Quản trị được hiểu là sự thiết lập và vận hành hệ thống cơ quan quản lý điều hành ở từng doanh nghiệp để xử lý mâu thuẫn quyền giữa những người quản lý doanh nghiệp; giải quyết những mối quan hệ giữa doanh nghiệp và các bên có quyền lợi liên quan
Nhiệm vụ đặt ra cho các DNNN là phải xác định đúng đắn các chức năng quản lý để từ đó lựa chọn một cơ cấu quản trị hợp lý Đây là tiền đề cần thiết và khách quan để quản trị doanh nghiệp đạt hiệu quả cao về các mặt kỹ
Trang 3224
thuật - sản xuất và kinh tế - xã hội Hơn nữa, muốn tổ chức hệ thống cơ quan quản lý hợp lý và có hiệu quả không thể không phân tích sự phù hợp giữa cơ cấu tổ chức với các chức năng quản lý; bảo đảm quá trình quản lý trọn vẹn tạo điều kiện nghiên cứu tỉ mỉ khối lượng công việc quản lý và xác định chính xác số lượng cán bộ và nhân viên quản lý
Khi thiết lập và vận hành hệ thống quản trị, người quản lý cần tuân thủ các nguyên tắc chung và nguyên tắc riêng cho tổ chức
Cần phân biệt tổ chức quản lý trong nội bộ DNNN với quản lý nhà nước đối với DNNN
Quản lý đối với DNNN là phương thức tác động của nhà nước đối với các DNNN thông qua hệ thống luật pháp, các quy định, cách thức, phương tiện để DNNN hoạt động, thực hiện theo các mục tiêu kinh tế –xã hội mà nhà nước đề ra
Các phương thức tác động của Nhà nước đối với DNNN bao gồm: (i) Nhà nước tác động trực tiếp thông qua hình thức đầu tư, quản lý nhân sự, các chiến lược phát triển (ii) Nhà nước tác động gián tiếp thông qua hệ thống pháp luật, các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô, các định hướng phát triển chung của nền kinh tế,… (iii) Các phương tiện tác động của Nhà nước đối với DNNN: Hệ thống luật pháp: luật doanh nghiệp, luật đầu tư, luật phá sản…; các kế hoạch
Tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát…; chính sách kinh tế: chính sách chống độc quyền, tự do cạnh tranh; chính sách thuế, tín dụng, lãi suất…Vậy pháp luật
về quản trị doanh nghiệp nhà nước được hiểu bao gồm các qui phạm pháp luật
do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình quản trị doanh nghiệp nhà nước giữa các cơ quan quản lý, điều hành trong doanh nghiệp và những người có liên quan
Cũng như các quy định khác, pháp luật về quản trị DNNN cũng có vai trò quan trọng trong việc định hướng, điều tiết kinh tế - xã hội, cụ thể như sau:
Trang 3325
- Pháp luật về quản trị DNNN định hướng phát triển cho DNNN nói riêng và nền kinh tế nói chung Chức năng tổ chức quản lý kinh tế của nhà nước có phạm vi rộng, phức tạp trên nhiều lĩnh vực Mọi hoạt động tổ chức của DNNN đều đòi hỏi nhà nước phải hoạt động tích cực, tạo ra một cơ chế đồng
bộ, thúc đẩy quá trình phát triển đúng hướng của DNNN và mang lại hiệu quả thiết thực Nhà nước chỉ thực hiện quản lý ở tầm vĩ mô vì vậy cần một hệ thống pháp luật quản trị DNNN hoàn thiện, đầy đủ, phù hợp với thực tiễn và quá trình phát triển kinh tế xã hội để giúp nhà nước quản lý và giúp DNNN hoạt động đúng hướng và vận hành một cách thuận lợi, linh hoạt, có hiệu quả
- Pháp luật về quản trị DNNN có vai trò đảm bảo quyền của chủ sở hữu đối với DNNN Pháp luật nói chung ngoài vai trò định hướng còn có vai trò đảm bảo quyền hợp pháp cho mọi người dân Pháp luật về quản trị DNNN cũng như vậy, những quy định này giúp cho chủ sở hữu nhà nước nắm giữ vai trò quyết định, kiểm tra, giám sát đối với doanh nghiệp do nhà nước đầu tư vốn, vừa đảm bảo chức năng quản lý nhà nước vừa đảm bảo chức năng quản lý nội bộ doanh nghiệp đối với DNNN
1.4.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước
Hiện nay, pháp luật về tổ chức quản lý DNNN được quy định trong các văn bản pháp luật chủ yếu sau:
- Luật doanh nghiệp 2014 số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014
- Luật quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại Doanh nghiệp số 69/2014/QH13 ngày 26/11/2014
- Nghị định 69/2014/NĐ-CP quy định về Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty Nhà nước ngày 15/7/2014
- Nghị định 81/2015/NĐ-CP ngày 18/9/2015 về Công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước
- Nghị định 87/2015/NĐ-CP quy định về giám sát đầu tư vốn nhà
Trang 3426
nước vào doanh nghiệp; giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước
- Nghị định 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp
- Nghị định 97/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định về quản lý người giữ chức danh, chức vụ tại Doanh nghiệp là Công ty TNHH một thành viên mà nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
- Quyết định số 35/2013/QĐ-TTg ngày 07/6/2013 về ban hành quy chế hoạt động của Kiểm soát viên công ty TNHH một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100 Vốn điều lệ
Trong các văn bản kể trên, quản trị DNNN được quy định với những nội dung cơ bản sau:
Quy định về cơ cấu tổ chức quản lý DNNN: DNNN được tổ chức theo hướng có HĐTV hoặc không có HĐTV, GĐ/ TGĐ, BKS
Quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nội bộ DNNN: quy định cụ thể quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng cơ quan trong tổ chức hoạt động của DNNN cũng như chế độ báo cáo đối đới cơ quan chủ sở hữu
Quy định về quyền hạn, trách nhiệm của chủ sở hữu đối với quản trị DNNN: quy định rõ những quyền và nghĩa vụ của các cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước và các đại diện chủ sở hữu nhà nước trực tiếp tại DNNN trong việc đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp, quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và giám sát việc quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp
Quy định về tiêu chuẩn của những người giữ chức danh quản lý trong DNNN và điều kiện bổ nhiệm, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, đánh
Trang 3527
giá và bồi dưỡng kiến thức đối với người quản lý DNNN: các chức danh quản lý trong DNNN bao gồm: Chủ tịch HĐTV, chủ tịch công ty, thành viên HĐTV, KSV, TGĐ, Phó TGĐ, GĐ Với mỗi chức danh đều có tiêu chuẩn riêng và được chủ sở hữu nhà nước quản lý rất gắt gao trong quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại… Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ này sẽ tập trung phân tích quyền
và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý, điều hành trong doanh nghiệp nhà nước
Quy định về hoạt động công khai minh bạch thông tin của DNNN, quy định về chủ thể công bố thông tin, phương tiện công bố tin, hình thức công bố thông tin, nội dung công bố thông tin
Quy định quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý nội bộ DNNN trong việc giám sát đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp; giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp nhà nước
1.4.3 Quá trình phát triển của pháp luật về quản trị doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Giai đoạn trước năm 1995
Giai đoạn trước năm 1995, mặc dù nước ta đã thừa nhận DNNN như một loại doanh nghiệp tuy nhiên không có quy định, hướng dẫn cụ thể về quản trị DNNN theo tiêu chuẩn chung Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 ban hành quy chế về thành lập và giải thể DNNN cũng không quy định về quản trị doanh nghiệp mà chỉ quy định Điều lệ quản trị doanh nghiệp là một thành phần của hồ sơ thành lập DNNN của cơ quan đề nghị thành lập Thường thì cơ quan
đề nghị thành lập là cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên trực tiếp của doanh nghiệp sẽ ra quyết định ban hành điều lệ quản trị doanh nghiệp
Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2004
Luật DNNN năm 1995 là bước khởi đầu hình thành khung tổ chức quản trị các doanh nghiệp có vốn nhà nước Cụ thể là,về mô hình quản trị,
Trang 3628
Luật DNNN năm 1995 đã phân biệt TCT nhà nước và DNNN độc lập có quy
mô lớn và doanh nghiệp khác Đối với TCT và DNNN độc lập có quy mô lớn,
mô hình quản trị bao gồm: HĐQT, BKS và TGĐ hoặc GĐ và bộ máy giúp việc.Đối với các doanh nghiệp khác thì có GĐ và bộ máy giúp việc
Luật DNNN năm 1995 cũng đã quy định Chính phủ là đại diện chủ sở hữu nhà nước Những quyền của chủ sở hữu cũng đã được quy định tại khoản
1, Điều 27 Luật DNNN 1995 Chính phủ không trực tiếp thực hiện quyền sở hữu đó mà phân cấp hoặc ủy quyền cho cán bộ thực hiện quyền sở hữu đối với doanh nghiệp thuộc quyền quản lý của họ
Theo Luật DNNN năm 1995, HĐQT được thiết lập tại các TCT và CT nhà nước độc lập có quy mô lớn Hàng loạt các nội dung phổ biến thường thấy liên quan đến HĐQT, như địa vị pháp lý, nhiệm vụ và quyền hạn, cơ cấu
tổ chức, quy mô và nhiệm kỳ, chế độ làm việc, tiêu chuẩn, thù lao và các lợi ích khác… của thành viên HĐQT đã được quy định.Về địa vị pháp lý, HĐQT được quy định là cơ quan quản lý doanh nghiệp (Điều 29, Luật DNNN năm 1995) Nhưng xét về chức năng, nhiệm vụ thì HĐQT là cơ quan tham mưu cho chủ sở hữu về chiến lược và kế hoạch phát triển dài hạn của doanh nghiệp; đồng thời, phê chuẩn những đề xuất, kiến nghị của TGĐ trong các vấn đề như: phương án sử dụng và bảo toàn vốn, quyết toán tài chính hàng năm, phương án vay vốn, tổ chức, bộ máy của doanh nghiệp; chỉ kiểm tra, giám sát TGĐ trong việc sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, chứ không phải trong toàn bộ hoạt động quản lý, điều hành kinh doanh ở doanh nghiệp TGĐ do Thủ tướng hoặc Bộ trưởng, chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm; là người đại diện theo pháp luật của công ty TGĐ vừa chịu trách nhiệm với người bổ nhiệm, vừa chịu trách nhiệm trước HĐQT trong quản lý, điều hành công ty TGĐ có quyền hạn và trách nhiệm khá nặng nề Trong số quyền hạn của TGĐ, có các quyền như: cùng với Chủ tịch HĐQT
Trang 3729
ký nhận vốn, bảo toàn và phát triển vốn được giao, xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển dài hạn, hàng năm, xây dựng dự án đầu tư, đề án tổ chức quản lý, định mức kinh tế kỹ thuật, đề nghị bổ nhiệm Phó TGĐ, GĐ đơn vị thành viên, bổ nhiệm những chức vụ quản lý khác… Như vậy, trên thực tế, TGĐ là người “trung tâm” đầy quyền lực trong quản lý doanh nghiệp, là người xây dựng và thực thi chiến lược, về cơ bản kiểm soát tài chính và nhân
sự ở doanh nghiệp
Ban kiểm soát do HĐQT bổ nhiệm, thay mặt HĐQT giám sát TGĐ trong quản lý điều hành kinh doanh của doanh nghiệp
Quản trị DNNN được hình thành và phát triển trong Luật DNNN năm
2003 không có thay đổi cơ bản so với Luật DNNN năm 1995 Xét về tổ chức quản lý nói chung, nó có quy định bổ sung thêm một số yếu tố Quyền của chủ sở hữu đã được quy định cụ thể và đầy đủ hơn Khác với trước đây, các quyền của chủ sở hữu đã được “phân công”, “phân cấp” thực hiện một cách phân tán giữa Chính phủ, các Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nhưng lại không có cơ chế và thể chế phối hợp giữa các cơ quan nói trên trong thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước [12]
Giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2013
Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 đã là một bước tiến lớn, tạo ra một thay đổi căn bản trong quá trình hoàn thiện về quản trị doanh nghiệp ở nước ta nói chung và DNNN nói riêng Lúc này, pháp luật áp dụng thống nhất
và không phân biệt đối xử đối với tất cả các doanh nghiệp, không phân biệt tính chất sở hữu; người trong nước và người nước ngoài có quyền tự chủ lựa chọn bất kỳ loại hình nào trong bốn loại hình doanh nghiệp do luật quy định: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần Như vậy, DNNN không còn được coi là một thành phần kinh
tế riêng biệt mà được coi bình đẳng với các doanh nghiệp khác
Trang 3830
Luật Doanh nghiệp 2005 đã xác định thời hạn bốn năm, kể từ khi luật
có hiệu lực, để DNNN chuyển đổi thành TNHH hay Công ty Cổ phần và tổ chức quản lý, hoạt động theo quy định tương ứng
Giai đoạn từ năm 2014 đến nay
Luật Doanh nghiệp 2014 ban hành thay thế luật doanh nghiệp 2005 đã tạo ra một sự khác biệt đáng kể về quản trị DNNN Theo quy định tại khoản 8
Điều 4 luật doanh nghiệp 2014 về giải thích từ ngữ, “DNNN là doanh nghiệp
do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ”
Như vậy, ta có thể hiểu DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc toàn bộ số cổ phần, được tổ chức dưới hình thức công
ty TNHH Đây là một điểm mới trong quy định pháp luật DNNN so với luật DNNN 2003 Ở Luật DNNN 2003, một doanh nghiệp được gọi là DNNN khi
sở hữu 50% vốn điều lệ trở lên, do đó DNNN có thể được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần Tuy nhiên, đến luật doanh nghiệp 2014 đã có sự thay đổi, DNNN phải là doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ
Luật doanh nghiệp 2014 có một chương riêng quy định những đặc thù trong quản trị DNNN Theo đó quản trị DNNN được thực hiện theo Chương
IV về DNNN, mục 2 Chương III về Công ty TNHHMTV và các quy định khác có liên quan Tuy nhiên ưu tiên áp dụng quy định tại chương 4 trong trường hợp có sai khác giữa quy định của các chương Theo đó, DNNN được
tổ chức quản lý dưới hình thức công ty TNHH MTV do Nhà nước là chủ sở hữu Cơ quan đại diện chủ sở hữu DNNN sẽ lựa chọn một trong hai mô hình quy định tại khoản 1 Điều 78 Luật Doanh nghiệp 2014 là DNNN có HĐTV
và DNNN không có HĐTV
Trang 3931
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC, PHƯƠNG HƯỚNG
VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
2.1 Quyền và nghĩa vụ của hội đồng thành viên trong quản trị doanh nghiệp nhà nước
Hội đồng thành viên có các quyền và nghĩa vụ cơ bản như quyết định như chiến lược quyết định chiến lược phát triển công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức GĐ hoặc TGĐ và cán bộ quản lý quan trọng khác của công
ty, quyết định mức lương và lợi ích khác của cán bộ quản lý, quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý công ty, quyết định lập chi nhánh, văn phòng đại diện, trình báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên chủ sở hữu công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ sở hữu công ty về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao
Để thực hiện chức năng quản lý hoạt động kinh doanh của công ty với
tư cách là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại công ty, HĐTV
có những nhiệm vụ và quyền hạn như sau:
Đề nghị cấp có thẩm quyền như: Chính phủ,Thủ tướng Chính phủ quyết định vốn điều lệ; sửa đổi, bổ sung điều lệ; tổ chức lại, chuyển đổi
sở hữu, giải thể, phá sản doanh nghiệp; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các quyền lợi khác đối với Chủ tịch và Hội đồng thành viên
Quyết định sau khi cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt các nội dung: Chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển 5 năm và kế hoạch sản xuất, kinh doanh hằng năm của doanh nghiệp; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng
kỷ luật đối với TGĐ, GĐ; huy động vốn, đầu tư, xây dựng, mua, bán đầu tư tài
Trang 4032
sản cố định, dự án đầu tư ra ngoài doanh nghiệp, dự án đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp; góp vốn, tăng, giảm vốn góp, chuyển nhượng vốn đầu tư của doanh nghiệp đầu tư tại công ty cổ phần, công ty TNHH 2 thành viên trở lên; tiếp nhận công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên thành công ty con, công ty liên kết của doanh nghiệp; báo cáo tài chính, phân phối lợi nhuận, trích lập các quỹ hằng năm của doanh nghiệp
Quyết định các nội dung như: Quy chế nội bộ của doanh nghiệp; tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các quyền lợi khác đối với TGĐ hoặc GĐ, hay các chức danh do HĐTV bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, khen thưởng,
kỷ luật, tiền lương, thù lao, tiền thưởng và các quyền lợi khác đối với Phó tổng giám đốc hoặc Phó giám đốc, Kế toán trưởng; quyết định hoặc ủy quyền cho TGĐ hoặc GĐ quyết định phương án huy động vốn, dự án đầu tư, xây dựng, mua, bán tài sản cố định thuộc thẩm quyền; quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể chi nhánh,văn phòng đại diện và các đơn vị hoạch toán phụ thuộc; quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể chi nhánh, văn phòng đại diện và các đơn vị hạch toán phụ thuộc; quyết định kế hoạch sản xuất kinh doanh hằng năm, chủ trương phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ của công ty; tổ chức hoạt động kiểm toán nội bộ và quyết định thành lập đơn vị kiểm toán nội bộ của công ty; quyền và nghĩa vụ khác theo quy định pháp luật
có liên quan và Điều lệ công ty; chịu trách nhiệm trước cơ quan đại diện chủ
sở hữu trong quản lý, sử dụng, bảo toàn, phát triển vốn; báo cáo kịp thời cơ quan đại diện chủ sở hữu khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ; không đảm bảo khả năng thanh toán, không hoàn thành nhiệm vụ được giao và những trường hợp sai phạm khác; chịu trách nhiệm trước pháp luật về vi phạm gây tổn thất vốn, tài sản của doanh nghiệp
2.1.1 Tiêu chuẩn và quyền, nghĩa vụ của thành viên Hội đồng thành viên
Thành viên HĐTV làm việc theo chế độ chuyên trách và do cơ quan đại